Đây là tài liệu tiểu luận liên quan tới học phần Luật Quốc tế của Khoa Quốc tế học, trường Đại học Ngoại Ngữ Đại học Đà Nẵng. Đây là tài liệu được phân tích và kiểm tra kỹ về đạo văn nên các bạn yên tâm sử dụng. Tuy nhiên, đây chỉ là bài tiểu luận của sinh viên nên không thể tránh khỏi vài thiếu sót, chủ yếu dùng để tham khảo là chính.
Trang 1NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ
CỦA CÁC QUỐC GIA KHÁC
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA CÁC QUỐC GIA KHÁC 2
1.1 Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc 2
1.2 Vai trò của nguyên tắc 2
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ THỰC TIỄN QUỐC TẾ VỀ VIỆC ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA CÁC QUỐC GIA KHÁC 3
2.1 Nội dung của các nguyên tắc 3
2.2 Những ngoại lệ của nguyên tắc 5
2.3 Áp dụng thực tiễn của các nguyên tắc trong từng vụ việc 6
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGUYÊN TẮC 11
3.1 Những điểm tích cực của nguyên tắc 11
3.2 Những điểm hạn chế của nguyên tắc 12
3.3 Bài học cho Việt Nam 14
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
Từ viết tắt Viết đầy đủ bằng Tiếng
Anh
Viết đầy đủ bằng Tiếng Việt
AL League of Arab States Liên đoàn Arab
ASEAN Association of South East
Asian Nations Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
HRW Human Rights Watch Tổ chức theo dõi Nhân
quyền
ICC International Criminal Court Tòa án hình sự Quốc tế
ICTY International Criminal
Tribunal for the former Yugoslavia
Tòa hình sự Quốc tế vè Liên bang Nam Tư cũ
IDC International Data
Corporation Trung tâm Nghiên cứu và Lưu giữ tài liệu
HĐBA United Nations Security
Council
Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc
LQT International Laws Luật Quốc Tế
NATO North Atlantic Treaty
Organization
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
Trang 5MỞ ĐẦU
Gần cuối thế kỉ XVIII và đầu thế kỉ XXI, tình hình trật tự thế giới
có nhiều sự thay đổi Sự cạnh tranh về các mặt quân sự, khoa học kỹthuật lẫn công nghệ của nhiều quốc gia đã dẫn đến một thời kì cáchmạng làm nên những đổi mới to lớn trong lịch sử toàn cầu Thếnhưng đi kèm với sự phát triển ấy là những mối lo về một tương laikhông bền vững trước các mối đe dọa như nạn đói, bệnh dịch, cácvấn đề môi trường hay giá trị của con người không được bảo vệ.Trong số đó, đặc biệt nhất là những cuộc chiến tranh triền miên bắtnguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, thamvọng thống trị, áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranhchấp quốc tế Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch
sử, ngộ nhận và hiểu lầm Chính vì những lý do kể trên mà Luật quốc
tế đã ra đời nhằm phòng ngừa những nguy cơ đang và sẽ diễn ra ởhiện tại và tương lai Và một trong những nguyên tắc cơ bản củaLuật quốc tế góp phần quan trọng trong việc giữ gìn hòa bình, an
ninh thế giới không thể không nhắc đến nguyên tắc Không can
thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác.
Xuất phát từ thực tiễn muốn biết rõ hơn về nguyên tắc nàycùng những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam chúng ta có thể họchỏi nhằm xây dựng đường lối chính sách ngoại giao của mình trongcác mối quan hệ quốc tế, đồng thời nghiên cứu những đề xuất trênphạm vi khu vực Nhận thấy đây là một đề tài hấp dẫn và được sựđồng ý của cô giáo Trần Thị Ngọc Sương, nhóm chúng em mạnh dạn
chọn đề tài “Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ
của các quốc gia khác” làm bài tiểu luận của nhóm Bài tiểu luận
này được trình bày một cách chi tiết, đầy đủ theo một quá trình nhấtđịnh Toàn bộ những sự kiện giới thiệu được tập hợp từ nhiều nguồn
tư liệu đã chọn lọc, mang tính khoa học cao Ngoài phần mở đầu, kết
Trang 6luận, danh mục tài liệu tham khảo; tiểu luận có kết cấu gồm 3chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về nguyên tắc
Chương II: Nội dung và thực tiễn của nguyên tắc.
Chương III: Những phương hướng phát triển của nguyên tắc.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA CÁC QUỐC GIA KHÁC
1.1 Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc
Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốcgia khác xuất hiện trong thời kì cách mạng tư sản ở cuối thể kỷ XVIII
và được một số nước tư bản ghi nhận Trong số đó, Hiến pháp củaCộng hòa Pháp năm 1973 đã tuyên bố rằng: “nước Pháp, dân tộcPháp không cam chịu để các dân tộc khác can thiệp vào công việcnội bộ của mình” (Ngô Hữu Phước, 2010, tr.151) Tuy nhiên xét tạithời điểm đó, thì nguyên tắc còn vấp phải nhiều hạn chế do chịu sựảnh hưởng của những nước lớn – các quốc gia áp dụng nguyên tắc
vũ lực “ Chân lý thuộc về kẻ mạnh” và cho mình cái quyền can thiệpvào công việc nội bộ của các quốc gia khác (Trường Đại học Luật HàNội, 2019, tr.48)
Kể từ khi tổ chức Liên hợp quốc (LHQ) ra đời, nguyên tắc đã có
sự thay đổi và được giải thích cụ thể hơn ở trong Hiến chương của tổchức này Dựa theo khoản 7 Điều 2 “Tổ chức Liên hợp quốc không cóquyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộcủa bất kì quốc gia nào” Đồng thời, nó cũng được ghi nhận trongcác văn bản pháp lý quốc tế khác như Định ước Henxinki ngày 1-8-
Trang 71975, Tuyên bố Kulalămpua năm 1971 (Trường Đại học Luật Hà Nội,
2019, tr.48-49)…
1.2 Vai trò của nguyên tắc
Nguyên tắc đóng vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn vàphát triển đất nước vì nó là cơ sở để mọi quốc gia tôn trọng lãnh thổcủa nhau về vùng trời, vùng đất và vùng biển Là cách để mọi quốcgia đạt ra mục tiêu cho giới hạn đất nước của mình Nhờ có nguyêntắc nên các nước nhỏ sẽ không bị các nước lớn mạnh hơn hăm he,
đe dọa, nguyên tắc gồm 4 nội dung cơ bản sau (Hồng Yến & AnhĐào, 2020, tr.101):
1 Cơ sở xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế
2 Cơ sở để xây dựng, duy trì trật tự pháp lý quốc tế
3 Công cụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể,nhất là các quốc gia đang phát triển khi tham gia quan hệpháp lý quốc tế
4 Cơ sở để giải quyết các tranh chấp quốc tế và đấu tranh chốngcác hành vi vi phạm pháp luật quốc tế
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ THỰC TIỄN QUỐC TẾ VỀ VIỆC ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC KHÔNG CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA CÁC QUỐC GIA KHÁC
2.1 Nội dung của các nguyên tắc
Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia
là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế nhưng khôngkém phần quan trọng để đảm bảo giữ gìn an ninh quốc gia, an ninhthế giới, đồng thời nó còn thể hiện sự tôn trọng giữa các quốc gia vềquyền tự quyết của các dân tộc trong khu vực mà không bị các chủthể khác chi phối, kiểm soát dựa trên cơ sở cam kết thực hiện và đã
Trang 8được ghi nhận trong nhiều văn bản quốc tế quan trọng từ xưa đếnnay.
Đầu tiên để có thể hiểu rõ về nguyên tắc không can thiệp vàocông việc nội bộ, ta phải hiểu rõ được những công việc nào được coi
là việc nội bộ Xét về phương diện pháp lý quốc tế, theo Ths NgôHữu Phước (2010, tr.151) cho rằng “công việc nội bộ trong nguyêntắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác đượchiểu là mọi công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của một quốcgia, không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế” Tuy nhiên,
ở thời điểm hiện nay, trong hệ thống công pháp quốc tế chưa quyđịnh và giải thích cụ thể công việc nội bộ là như thế nào Nghĩa là đểxác định được được công việc nào mà được coi là thuộc nội bộ củamột quốc gia thì cần phải nghiên cứu và đánh giá một cách phù hợpdựa trên pháp luật của quốc gia sở tại cũng như các quy định củaluật quốc tế, mà đặc biệt là các quy phạm mệnh lệnh mang tính bắtbuộc chung Jus Cogens (Hồng Yến & Anh Đào, 2020, tr.121)
Và cũng theo Hồng Yến và Anh Đào (2020, tr.121) đã giải thíchrằng “công việc nội bộ là tất cả những vấn đề thuộc thẩm quyền củacác quốc gia trên cơ sở chủ quyền, ngoại trừ các nghĩa vụ quốc tế
mà quốc gia cam kết”; cụ thể là về lĩnh vực nhân quyền, nhân đạo,kinh tế quốc tế, môi trường Có thể hiểu, công việc nội bộ của quốcgia chính là công việc đối nội lẫn đối ngoại, gắn liền với hai chứcnăng cơ bản của nhà nước:
Việc lựa chọn và tiến hành đường lối chính trị và cácchính sách kinh tế - văn hóa - xã hội để phát triển đấtnước
Việc thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của nhànước và thiết lập quan hệ hợp tác với các chủ thể luậtquốc tế
Trang 9 Việc xây dựng và duy trì hoạt động của bộ máy nhànước.
Việc quản lý và điều hành hoạt động của xã hội tuântheo quy định của pháp luật quốc gia
Và theo Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày24/10/1970, nguyên tắc này bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
1 Các hình thức can thiệp hoặc mưu toan, đe dọa nhằm chống lạiphẩm cách của quốc gia hoặc chống lại cơ sở chính trị, kinh tế
và văn hóa của quốc gia đó sẽ được coi là vi phạm luật phápquốc tế
2 Không một quốc gia nào có thể sử dụng hoặc khuyến khíchviệc sử dụng các biện pháp kinh tế - chính trị hoặc bất kỳ cáchthức nào khác nhằm cưỡng ép quốc gia khác để từ đó có được
sự lệ thuộc vào việc thực hiện các quyền chủ quyền của mình
và bảo đảm lợi thế của mình dưới bất kỳ hình thức nào Ngoài
ra, không một quốc gia nào có thể tổ chức, trợ giúp, xúi giục,giúp đỡ tài chính, khuyến khích hoặc ngầm đồng ý các hoạtđộng khủng bố, lật đổ hoặc hoạt động quân sự trực tiếp nhằmlật đổ chế độ hiện hành của một quốc gia khác, hoặc can thiệpvào cuộc nội chiến của một quốc gia khác
3 Việc sử dụng vũ lực nhằm loại bỏ bản sắc riêng của các dân tộc
sẽ là sự vi phạm các quyền không thể tách rời của các dân tộc
đó và vi phạm nguyên tắc không can thiệp
4 Mỗi quốc gia có quyền không thể tách rời trong việc lựa chọnchế độ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mình mà không
có bất kỳ sự can thiệp của các quốc gia khác
5 Không một điều nào được nói đến ở trên sẽ được hiểu là sựphản ánh những điều khoản có liên quan của Hiến chương LHQtrong việc giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới
Trang 10Tóm lại, thực hiện nội dung của nguyên tắc này, các quốc gia khôngđược tiến hành các hành động sau:
1 Can thiệp vũ trang và các hình thức can thiệp hoặc đe dọa canthiệp khác chống lại các quốc gia
2 Sử dụng các biện pháp kinh tế, chính trị và các biện pháp khác
để buộc quốc gia khác phụ thuộc vào mình
3 Tổ chức khuyến khích, giúp đỡ các băng đảng, nhóm vũ trangvào hoạt động phá hoại, khủng bố trên lãnh thổ nước khácnhằm lật đổ chính quyền nước đó
4 Can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ của các quốc gia khác
5 Đồng thời khẳng định rằng, tất cả các quốc gia trên thế giớiđều có quyền tự do lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội mà không có sự can thiệp bên ngoài
2.2 Những ngoại lệ của nguyên tắc
Về nguyên tắc, can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia là
vi phạm luật quốc tế ngoại trừ can thiệp được thực hiện trong nhữngtrường hợp sau:
Ngoại lệ thứ nhất, trường hợp nếu các cuộc xung đột của nội
bộ quốc gia đạt đến mức độ nghiêm trọng, và có thể gây ra mất ổnđịnh trong khu vực, đe dọa đến hòa bình và an ninh trên quốc tế, thìcộng đồng quốc tế - thông qua Hội đồng bảo an Liên hợp quốc(HĐBA) – được quyền can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào cuộcxung đột này (Điều 39 – Chương VII, Hiến chương LHQ) bằng cácbiện pháp:
Cấm vận (Điều 41 Hiến chương LHQ)
Can thiệp quân sự (Điều 42 Hiến chương LHQ)
Ngoại lệ thứ hai, trường hợp nếu có vi phạm nghiệm trọng về
nhân quyền (phân biệt chủng tộc, tội ác chiến tranh, diệt chủng,…)tại quốc gia nào đó thì HĐBA có quyền can thiệp bằng cách:
Trang 11 Cấm vận (Điều 41 Hiến chương LHQ)
Can thiệp quân sự (Điều 42 Hiến chương LHQ)
Thành lập tòa hình sự đặc biệt xét xử công dân củaquốc gia đó
Đặc biệt đối với cả ba trường hợp thì khi HĐBA muốn can thiệpvào đều cần phải có nghị quyết và các nghị quyết này phải đượcthông qua Điều 27 – Khoảng 3
2.3 Áp dụng thực tiễn của các nguyên tắc trong từng vụ việc
Điển hình cho việc mỗi quốc gia đều tự do lựa chọn cho mìnhchế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà không có sự can thiệpbên ngoài có thể kể đến thực tiễn quốc tế về vi phạm nguyên tắckhông can thiệp công việc nội bộ của các quốc gia của tổ chứcHuman Rights Watch (HRW) có trụ sở chính đặt tại Mỹ để chứngminh cho nội dung cơ bản của nguyên tắc được đề cập trong luậtpháp quốc tế
Minh chứng: Tổ chức HRW được thành lập năm 1988 với mục
đích ban đầu là theo dõi và thu thập các tin tình báo về Liên Xô cũngnhư cổ vũ và bảo vệ cho các hoạt động nhân quyền Tuy nhiên, khi
đề cập tới vấn đề phát triển nhân quyền, nhìn vào những hoạt độngcủa tổ chức này người ta không khó để nhận ra những hành độngmập mờ và những “lời nói không đi đôi với việc làm”, và thậm chí đingược với tôn chỉ, mục đích mà tổ chức này theo đuổi (Phùng KimLân, 2020)
Tổ chức này thường lợi dụng mục đích nhân quyền để canthiệp và xâm phạm vào công việc nội bộ của các nước Nhiều quốcgia trên thế giới đã cáo buộc tổ chức này, hoạt động không đúng tônchỉ, mục đích ban đầu đề ra Chẳng hạn Liên bang Nga đã nhiều lầnchỉ trích HRW về những động thái tuyên truyền, xuyên tạc, kích
Trang 12động tạo cớ can thiệp vào những vấn đề nội bộ của nước này Tương
tự, do có những hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế
và các quy tắc cơ bản của quan hệ quốc tế, cũng như can thiệp vàocác vấn đề nội bộ của Trung Quốc nên chính phủ nước này đã ápdụng các biện pháp trừng phạt đối với HRW Không phải ngẫu nhiên
mà trang web của HRW lại bị cấm hoạt động tại Thái Lan Chính phủnước này buộc phải làm điều ấy là vì thông qua trang web này tổchức HRW thường xuyên đội lốt "theo dõi nhân quyền" để tuyêntruyền xuyên tạc, tán phát những thông tin sai lệch, kích động, viphạm các quy định về an ninh quốc gia của họ Ngoài ra HRW còn bịnhiều quốc gia, như: Đức, Cuba, Sri Lanka, Triều Tiên, Ethiopia,Syria chỉ trích, phản đối với những nội dung và mức độ khác nhau
vì đã can thiệp làm phức tạp tình hình, gây khó khăn cho việc bảođảm nhân quyền ở các nước này (Phùng Kim Lân, 2020)
Không là ngoại lệ, HRW đã nhiều lần đưa ra những thông tinthiếu khách quan, không chính xác, mang tính xuyên tạc, phủ nhậnthành quả, bôi nhọ bức tranh nhân quyền Việt Nam Những việc làmmang dụng ý xấu của HRW ít nhiều khiến cộng đồng quốc tế hiểuchưa đúng về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam Có thể thấy HRW đã
lộ nguyên hình là "con rối" đội lốt "thúc đẩy nhân quyền" phục vụcho mục tiêu chính trị của các thế lực thù địch
Từ những bằng chứng trên, cho thấy hành động của tổ chứcnày đã và đang vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế về cấm canthiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác Quy định này đã được
đề cập trong điều ước quốc tế Mà minh chứng rõ ràng nhất là đãđược xuất hiện trong Hiến chương LHQ năm 1945, quy định ở Điều2: “Hiến chương này hoàn toàn không cho phép LHQ được can thiệpvào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứquốc gia nào, và không đòi hỏi các thành viên của LHQ phải đưanhững công việc loại này ra giải quyết theo quy định của Hiến
Trang 13chương; tuy nhiên, nguyên tắc này không liên quan đến việc thihành những biện pháp cưỡng chế nói ở chương VII” cũng như là làmtrái với Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại hội đồng LHQ ngày24/10/1970 về nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ củaquốc gia khác.
Và cơ sở pháp lý của nguyên tắc được thực hiện dựa trênnhững cam kết của các quốc gia, các tổ chức quốc tế phải có nghĩa
vụ tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và toàn vẹn chính trị của một quốcgia Nội dung chính của nguyên tắc theo Nghị quyết 2625 là: “Khôngquốc gia nào hay nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếphay gián tiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoạicủa bất kỳ quốc gia nào khác” Theo đó: “Can thiệp vũ trang và tất
cả các hình thức can thiệp hay đe dọa chống lại tư cách của quốc giahay chống lại các đặc trưng chính trị, kinh tế và văn hóa của quốcgia đó, đều là vi phạm luật pháp quốc tế”; “không quốc gia nào cóthể sử dụng hay khuyến khích sử dụng các biện pháp cưỡng ép bằngkinh tế, chính trị hay các hình thức khác nhằm buộc quốc gia khácphải phụ thuộc mình khi thực hiện các quyền chủ quyền và nhằmbảo đảm các lợi thế ở bất kỳ hình thức nào” Ngoài ra Nghị quyết
2625 còn đề cập cụ thể: Không quốc gia nào được tổ chức, hỗ trợ,khuyến khích, tài trợ, kích động hay dung thứ cho hành vi lật đổ,khủng bố hay các hoạt động vũ trang trực tiếp nhằm lật đổ bằng bạolực thể chế của quốc gia khác, hoặc can thiệp vào các cuộc bạođộng dân sự ở quốc gia khác”; Theo Nghị quyết 2625, việc sử dụngbất cứ hình thức nào nhằm ngăn cản các dân tộc có bản sắc quốcgia cấu thành hành vi vi phạm các quyền không thể tách rời của cácdân tộc đó và vi phạm nguyên tắc không can thiệp…
Đối với Việt Nam, trong nhiều văn bản pháp luật Nhà nước ViệtNam cũng quy định rõ các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh
sự nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và
Trang 14thành viên của những cơ quan đó phải: Tôn trọng pháp luật vàphong tục, tập quán của Việt Nam; không can thiệp vào công việcnội bộ của Việt Nam;
Bên cạnh thực tiễn quốc tế về vụ việc vi phạm nguyên tắckhông can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác thìnguyên tắc này còn được áp dụng ở nhiều văn kiện và công ướcquốc tế khác mà điển hình nhất có thể nói đến là Hiến chương củaHiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN mà cụ thể nguyên tắcnày được nhắc đến trong điểm e khoản 2 Điều 2: “Không can thiệpvào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên ASEAN” Và ViệtNam, một trong những quốc gia thành viên ASEAN đã thực hiệnnhững nguyên tắc được đề ra một cách tích cực và mang tính xâydựng nhất trong khu vực Nguyên tắc trên đã được Việt Nam ápdụng và làm tôn chỉ cho các đường lối chính sách đối ngoại và ngoạigiao trong khu vực quốc tế và được thể hiện rõ ràng qua Hiệp ướcbiên giới đất liền giữa Việt Nam - Trung Quốc (ký ngày 30-12-1999),Hiệp định quy chế biên giới Quốc gia giữa Việt Nam - Lào 1990 vàcác văn bản quan trọng khác…
Từ những ví dụ về thực tiễn kể trên, có thể nhận định rằng bất
kì biện pháp hay cách thức nào mà các quốc gia hay tổ chức quốc tế
sử dụng để cản trở chủ thể của luật quốc tế giải quyết những côngviệc thuộc thẩm quyền nội bộ của mình đều bị coi là vi phạm phápluật quốc tế Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp ngoại lệ đượcthừa nhận can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác bởicác chủ thể luật quốc tế:
Đối với trường hợp nếu các cuộc xung đột của nội bộ quốc giađạt đến mức độ nghiêm trọng, và có thể gây ra mất ổn định trongkhu vực, đe dọa đến hòa bình và an ninh trên quốc tế thì phải nóiđến cuộc nội chiến Libya – cuộc xung đột vũ trang bắt nguồn từ cáccuộc biểu tình chống Chính phủ từ ngày 15/2/2011 Bất ổn này đã