Học tiếng trung qua tác phẩm văn học Cố hương của nhà văn Lỗ Tấn. Thông qua tác phẩm văn học quen thuộc bạn sẽ có nhiều hứng thú hơn trong việc học tập tiếng trung, cải thiện khả năng nghe nói đọc viết của bản thân. Tài liệu bao gồm tiếng trung, pinyin và tiếng việt. Có file nghe nếu các bạn có nhu cầu ib mình sẽ gửi file cho các bạn
Trang 1CỐ HƯƠNG – LỖ TẤN
–
故乡 – 鲁迅 鲁迅我冒着严寒,回到相隔二千余里,别了二十余年的故乡 – 鲁迅去。
Wǒ màozhe yánhán, huí dào xiānggé èrqiān yú lǐ, biéle èrshí yú nián de gùxiāng qù.Tôi không quản trời lạnh giá, về thăm làng cũ, xa những hai ngàn dặm mà tôi đã từ biệt hơn hai mươi năm nay
时候既然是深冬;渐近故乡 – 鲁迅时,天气又阴晦了,冷风吹进船舱中,呜呜的响,从篷隙向外一望,苍黄的天底下,远近横着几个萧索的荒村,没有一些活气。我的心禁不住悲凉起来了。
Shíhòu jìrán shì shēn dōng; jiàn jìn gùxiāng shí, tiānqì yòu yīn huìle, lěngfēng chuī jìn chuáncāng zhōng, wū wū de xiǎng, cóng péng xì xiàng wài yīwàng, cānghuáng detiān dǐxia, yuǎnjìn héngzhe jǐ gè xiāosuǒ de huāngcūn, méiyǒu yīxiē huóqì Wǒ de xīn jīnbuzhù bēiliáng qǐláile
Đang độ giữa đông Gần về đến làng, trời lại càng u ám Gió lạnh lùa vào khoang thuyền, vi vu Nhìn qua các khe hở mui thuyền, thấy xa gần thấp thoáng mấy thôn xóm tiêu điều, hoang vắng, nằm im lìm dưới vòm trời màu vàng úa, không nén được, lòng tôi se lại
Wǒ suǒ jìdé de gùxiāng quán bù rúcǐ Wǒ de gùxiāng hǎo dé duōle Dàn yào wǒ jì qǐ
tā dì měilì, shuō chū tā de jiā chù lái, què yòu méiyǒu yǐngxiàng, méiyǒu yáncíle Fǎngfú yě jiù rúcǐ
Hình ảnh làng cũ trong ký ức tôi không giống hẳn như thế này Làng cũ tôi đẹp hơn kia! Nhưng nếu phải nhớ rõ đẹp như thế nào, nói rõ đẹp ở chỗ nào thì thật không có hình ảnh, ngôn ngữ nào diễn tả cho được Phảng phất thì cũng có hơi giống đấy
——
于是我自己解释说:故乡 – 鲁迅本也如此, 虽然没有进步,也未必有如我所感的悲凉,这只是我自己心情的改变罢了,因为我这次回乡 – 鲁迅,本没有什么好心绪。Yúshì wǒ zìjǐ jiěshì shuō: Gùxiāng běn yě rúcǐ,——suīrán méiyǒu jìnbù, yě wèibì yǒurú wǒ suǒgǎn de bēiliáng, zhè zhǐshì wǒ zìjǐ xīnqíng de gǎibiàn bàle, yīnwèi wǒ zhè cì huí xiāng, běn méiyǒu shé me hǎo xīnxù
Trang 2Tôi nghĩ bụng: Hẳn làng cũ mình vốn chỉ như thế kia thôi, tuy chưa tiến bộ hơn xưa, nhưng cũng vị tất đến nỗi thê lương như mình tưởng Chẳng qua là tâm hồn mình đã đổi khác, bởi vì về thăm chuyến này, lòng mình vốn đã không vui.
我这次是专为了别他而来的。我们多年聚族而居的老屋,已经公同卖给别姓了,交屋的期限,只在本年,所以必须赶在正月初一以前,永别了熟识的老屋,而且远离了熟识的故乡 – 鲁迅,搬家到我在谋食的异地去。
Wǒ zhè cì shì zhuān wèile bié tā ér lái de Wǒmen duōnián jù zú ér jū de lǎo wū,
yǐjīng gōng tóng mài gěi bié xìngle, jiāo wū de qíxiàn, zhǐ zài běn nián, suǒyǐ bìxū gǎn zài zhēngyuè chū yī yǐqián, yǒngbiéle shúshí de lǎo wū, érqiě yuǎnlíle shúshí de gùxiāng, bānjiā dào wǒ zài móu shí de yìdì qù
Về thăm chuyến này, ý định là để từ giã lần cuối cùng ngôi nhà cũ nơi cả đại gia đìnhchúng tôi đời đời ở chung với nhau, mà chúng tôi đã phải đồng tình bán cho người ta rồi, nội năm nay phải giao cho họ Vì thế, tôi cần phải về trước Tết vĩnh biệt ngôi nhàyêu dấu và từ giã làng cũ thân mến, đem gia đình đến nơi đất khách, nơi tôi đang làm
ăn, sinh sống
第二日清早晨我到了我家的门口了。瓦楞上许多枯草的断茎当风抖着,正在说明这老屋难免易主的原因。
Dì èr rì qīng zǎochén wǒ dàole wǒjiā de ménkǒule Wǎléng shàng xǔduō kūcǎo de duàn jīng dāng fēng dǒuzhe, zhèngzài shuōmíng zhè lǎo wū nánmiǎn yì zhǔ de
yuányīn
Tinh mơ sáng hôm sau, tôi về tới cổng nhà Trên mái ngói, mấy cọng tranh khô phất phơ trước gió Đủ rõ nhà không đổi chủ không được
几房的本家大约已经搬走了,所以很寂静。我到了自家的房外,我的母亲早已迎着出来了,接着便飞出了八岁的侄儿宏儿。
Jǐ fáng de běnjiā dàyuē yǐjīng bān zǒule, suǒyǐ hěn jìjìng Wǒ dàole zìjiā de fáng wài,
wǒ de mǔqīn zǎoyǐ yíngzhe chūláile, jiēzhe biàn fēi chūle bā suì de zhí er hóng er.Những gia đình khác có lẽ đã dọn đi rồi cho nên cảnh tượng càng hiu quạnh Tôi vừa bước vào gian nhà chúng tôi ở thì mẹ tôi đã chạy ra đón Hoằng, đứa cháu mới lên tám tuổi, cũng chạy theo sau
我的母亲很高兴,但也藏着许多凄凉的神情,教我坐下,歇息,喝茶,且不谈搬家的事。宏儿没有见过我,远远的对面站着只是看。
Wǒ de mǔqīn hěn gāoxìng, dàn yě cángzhe xǔduō qīliáng de shénqíng, jiào wǒ zuò xià, xiēxī, hē chá, qiě bù tán bānjiā de shì Hóng er méiyǒu jiànguò wǒ, yuǎn yuǎn de duìmiàn zhànzhe zhǐshì kàn
Mẹ tôi rất mừng rỡ, nhưng nét mặt vẫn ẩn một nỗi buồn thầm kín Mẹ tôi bảo tôi ngồixuống, nghỉ ngơi, uống trà, không đả động gì đến chuyện dọn nhà cả Cháu Hoằng chưa gặp tôi bao giờ chỉ dám đứng đằng xa nhìn tôi chòng chọc
Trang 3Dàn wǒmen zhōngyú tán dào bānjiā de shì Wǒ shuō wàijiān de yùsuǒyǐjīng zū
dìngle, yòu mǎile jǐ jiàn jiājù, cǐwài xū jiāng jiālǐ suǒyǒu de mùqì mài qù, zài qù
zēngtiān
Nhưng rồi chúng tôi cũng bàn đến chuyện dọn nhà Tôi nói nhà trên kia đã thuê xong,cũng đã sắm được ít đồ đạc, giờ hãy đem các thứ đồ gỗ ở nhà này bán đi hết lấy tiền mua thêm sau
母亲也说好,而且行李也略已齐集,木器不便搬运的,也小半卖去了,只是收不起钱来。
Mǔqīn yě shuō hǎo, érqiě xínglǐ yě lüè yǐ qíjí, mùqì bùbiàn bānyùn de, yě xiǎobàn mài qùle, zhǐshì shōu bù qǐ qián lái
Mẹ tôi cho cũng phải và bảo hành lý đã thu xếp gọn gàng đâu vào đấy cả rồi, đồ gỗ không tiện chuyên chở nhưng tiền chưa thu vén được đủ
“Hái yǒu rùn tǔ, tā měi dào wǒjiā lái shí, zǒng wèn qǐ nǐ, hěn xiǎngjiàn nǐ yī huí
miàn Wǒ yǐjīng jiāng nǐ dàojiā de dàyuē rìqí tōngzhī tā, tā yěxǔ jiù yào láile.”
- Có anh Nhuận Thổ lần nào đến chơi cũng nhắc nhở đến con và rất mong có ngày được gặp con Mẹ đã nhắn tin cho anh ấy biết chừng ngày nào con về Có lẽ anh ấy cũng sắp đến thôi
这时候,我的脑里忽然闪出一幅神异的图画来:深蓝的天空中挂着一轮金黄的圆月,下面是海边的沙地,都种着一望无际的碧绿的西瓜,其间有一个十一二岁的少年,项带银圈,手捏一柄钢叉,向一匹猹尽力的刺去,那猹却将身一扭,反从他的胯下逃走了。
Zhè shíhòu, wǒ de nǎo lǐ hūrán shǎn chū yī fú shényì de túhuà lái: Shēnlán de
tiānkōng zhōng guàzhe yī lún jīnhuáng de yuán yuè, xiàmiàn shì hǎibiān de shā dì, dōu zhǒngzhe yīwàngwújì de bìlǜ de xīguā, qíjiān yǒu yīgè shíyī'èr suì de shàonián,
Trang 4xiàng dài yín quān, shǒu niē yī bǐng gāng chā, xiàng yī pǐ chá jìnlì de cì qù, nà chá què jiāng shēn yī niǔ, fǎn cóng tā de kuà xià táozǒule.
Lúc bấy giờ trong ký ức tôi bỗng hiện ra một cảnh tượng thần tiên, kỳ dị: Một vừng trăng tròn vàng thắm treo lửng lơ trên nền trời xanh đậm, dưới là một bãi cát bên bờ biển, trồng toàn dưa hấu, bát ngát một màu xanh rờn Giữa ruộng dưa, một đứa bé trạc mười một, mười hai tuổi, cổ đeo vòng bạc, tay lăm lăm cầm chiếc đinh ba, đang
cố sức đâm theo một con "tra".32 Con vật bỗng quay lại, luồn qua háng đứa bé, chạy mất
这少年便是闰土。我认识他时,也不过十多岁,离现在将有三十年了;那时我的父亲还在世,家景也好,我正是一个少爷。那一年,我家是一件大祭祀的值年。
Zhè shàonián biàn shì rùn tǔ Wǒ rènshí tā shí, yě bùguò shí duō suì, lí xiànzài jiāng yǒu sānshí niánle; nà shí wǒ de fùqīn hái zàishì, jiā jǐng yě hǎo, wǒ zhèng shì yīgè shàoyé Nà yī nián, wǒjiā shì yī jiàn dà jìsì de zhí nián
Đứa bé ấy chính là Nhuận Thổ Khi tôi quen Nhuận Thổ, cách đây khoảng chừng ba mươi năm, Nhuận Thổ chỉ độ lên mười Lúc đó thầy tôi hãy còn, cảnh nhà sung túc, tôi đàng hoàng là một cậu ấm Năm ấy là năm đến lượt nhà tôi lo giỗ tổ
这祭祀,说是三十多年才能轮到一回,所以很郑重;正月里供祖像,供品很多,祭器很讲究,拜的人也很多,祭器也很要防偷去。
Zhè jìsì, shuō shì sānshí duō nián cáinéng lún dào yī huí, suǒ yǐ hěn zhèngzhòng; zhēngyuè lǐ gōng zǔ xiàng, gòngpǐn hěnduō, jìqì hěn jiǎngjiù, bài de rén yě hěnduō, jìqì yě hěn yào fáng tōu qù
Nghe nói thì cứ hơn ba mươi năm mới đến lượt lo giỗ này một lần, cho nên rất linh đình Giỗ vào tháng giêng; lễ vật rất nhiều, các đồ tế rất sang, người đến lễ cũng rất đông, vì thế phải đề phòng mất cắp
我家只有一个忙月(我们这里给人做工的分三种:整年给一定人家做工的叫长工;按日给人做工的叫短工;自己也种地,只在过年过节以及收租时候来给一定人家做工的称忙月),忙不过来,他便对父亲说,可以叫他的儿子闰土来管祭器的。
Wǒjiā zhǐyǒu yīgè máng yuè (wǒmen zhèlǐ jǐ rén zuògōng de fēn sān zhǒng: Zhěng nián gěi yīdìng rénjiā zuògōng de jiào chánggōng; àn rì jǐ rén zuògōng de jiào
duǎngōng; zìjǐ yě zhòng dì, zhǐ zài guònián guòjié yǐjí shōu zū shíhòu lái gěi yīdìng rénjiā zuògōng de chēng máng yuè), máng bùguò lái, tā biàn duì fùqīn shuō, kěyǐ jiào
tā de érzi rùn tǔ lái guǎn jìqì de
Nhà tôi chỉ nuôi một người ở tháng (địa phương tôi, người đi làm thuê chia làm ba hạng, ở năm gọi là "trường niên", làm thuê từng ngày gọi là "đoản công", nhà mình cũng có cày, chỉ giỗ tết, hay vụ thu tô, đến làm mướn cho người ta thì gọi là "ở
Trang 5tháng") Người ở bận quá, làm không hết việc, liền xin thầy tôi cho gọi thằng con là Nhuận Thổ đến để nó trông coi các thứ đồ cho
我的父亲允许了;我也很高兴,因为我早听到闰土这名字,而且知道他和我仿佛年纪,闰月生的,五行缺土,所以他的父亲叫他闰土。他是能装弶捉小鸟雀的。
Wǒ de fùqīn yǔnxǔle; wǒ yě hěn gāoxìng, yīnwèi wǒ zǎo tīng dào rùn tǔ zhè míngzì, érqiě zhīdào tā hé wǒ fǎngfú niánjì, rùnyuè shēng de, wǔháng quē tǔ, suǒyǐ tā de fùqīn jiào tā rùn tǔ Tā shì néng zhuāng jiàng zhuō xiǎo niǎo què de
Thầy tôi bằng lòng Tôi cũng rất thích vì đã có nghe nói đến Nhuận Thổ, lại biết Nhuận Thổ với tôi tuổi cũng suýt soát bằng nhau Hắn sinh tháng nhuận, ngũ hành khuyết thổ33nên bố hắn đặt tên là Nhuận Thổ Hắn bắt chim tước thì tài lắm
我于是日日盼望新年,新年到,闰土也就到了。好容易到了年末,有一日,母亲告诉我,闰土来了,我便飞跑的去看。
Wǒ yúshì rì rì pànwàng xīnnián, xīnnián dào, rùn tǔ yě jiù dàole Hǎo róngyì dàole niánmò, yǒuyī rì, mǔqīn gàosù wǒ, rùn tǔ láile, wǒ biàn fēi pǎo de qù kàn
Vì vậy ngày nào tôi cũng mong cho mau đến năm mới Năm mới đến thì Nhuận Thổ cũng đến mà! Chờ mãi mới hết năm Một hôm, mẹ tôi bảo: "Thằng Nhuận Thổ đến rồi đấy!" Tôi liền chạy ra xem
他正在厨房里,紫色的圆脸,头戴一顶小毡帽,颈上套一个明晃晃的银项圈,这可见他的父亲十分爱他,怕他死去,所以在神佛面前许下愿心,用圈子将他套住了。
Tā zhèngzài chúfáng lǐ, zǐsè de yuán liǎn, tóu dài yī dǐng xiǎo zhān mào, jǐng shàng tào yīgè mínghuànghuǎng de yín xiàngquān, zhè kějiàn tā de fùqīn shífēn ài tā, pà tā sǐqù, suǒyǐ zài shén fó miànqián xǔ xià yuànxīn, yòng quānzi jiāng tā tào zhùle Hắn đang đứng trong bếp, khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên bé tí tẹo, cổ đeo vòng bạc sáng loáng Đủ biết bố hắn quý hắn như thế nào: sợ hắn khó nuôi, bố hắn đã nguyện trước thần phật làm vòng xích, xích lại
他见人很怕羞,只是不怕我,没有旁人的时候,便和我说话,于是不到半日,我们便熟识了。
Tā jiàn rén hěn pàxiū, zhǐshì bùpà wǒ, méiyǒu pángrén de shíhòu, biàn hé wǒ
shuōhuà, yúshì bù dào bànrì, wǒmen biàn shúshíle
Hắn thấy ai là bẽn lẽn, chỉ không bẽn lẽn với một mình tôi thôi Khi vắng người, hắn mới nói chuyện với tôi Vì thế chưa đầy nửa ngày, chúng tôi đã thân nhau
我们那时候不知道谈些什么,只记得闰土很高兴,说是上城之后,见了许多没有见过的东西。
Wǒmen nà shíhòu bù zhīdào tán xiē shénme, zhǐ jìdé rùn tǔ hěn gāoxìng, shuō shì shàng chéng zhīhòu, jiànle xǔduō méiyǒu jiànguò de dōngxī
Trang 6Không biết bấy giờ chúng tôi nói với nhau những gì, chỉ nhớ rằng Nhuận Thổ thích chí lắm Hắn bảo lên tỉnh hắn mới được trông thấy những điều hắn chưa bao giờ trông thấy cả.
第二日,我便要他捕鸟。他说:
Dì èr rì, wǒ biàn yào tā bǔ niǎo Tā shuō:
Hôm sau, tôi rủ hắn bẫy chim Hắn nói:
“这不能。须大雪下了才好。我们沙地上,下了雪,我扫出一块空地来,用短棒支起一个大竹匾,撒下秕谷,看鸟雀来吃时,我远远地将缚在棒上的绳子只
……”一拉,那鸟雀就罩在竹匾下了。什么都有:稻鸡,角鸡,鹁鸪,蓝背……”
“Zhè bùnéng Xū dàxuě xiàle cái hǎo Wǒmen shā dìshàng, xiàle xuě, wǒ sǎo chū yīkuài kòngdì lái, yòng duǎn bàng zhī qǐ yīgè dàzhú biǎn, sā xià bǐ gǔ, kàn niǎo què lái chī shí, wǒ yuǎn yuǎn dì jiāng fù zài bàng shàng de shéngzi zhǐ yī lā, nà niǎo què jiù zhào zài zhú biǎn xiàle Shénme dōu yǒu: Dào jī, jiǎo jī, bó gū, lán bèi……”
Không được đâu! Phải chờ tuyết xuống cho nhiều đã Làng em toàn đất cát, hễ tuyết xuống là em quét lấy một khoảng đất trống, dùng một cái que ngắn chống một cái nong lớn, rắc ít lúa lép, thấy chim tước xuống ăn, đứng đằng xa giật mạnh sợi dây buộc vào cái que, thế là chim bị chụp vào cái nong hết Thứ nào cũng có: sẻ đồng, chào mào, "bột cô", sẻ xanh lưng
我于是又很盼望下雪。
wǒ yúshì yòu hěn pànwàng xià xuě
Vì thế, tôi lại càng chờ ngày tuyết xuống
闰土又对我说:
Rùn tǔ yòu duì wǒ shuō:
Nhuận Thổ lại nói:
“现在太冷,你夏天到我们这里来。我们日里到海边检贝壳去,红的绿的都有,
”鬼见怕也有,观音手也有。晚上我和爹管西瓜去,你也去。
“Xiànzài tài lěng, nǐ xiàtiān dào wǒmen zhèlǐ lái Wǒmen rì lǐ dào hǎibiān jiǎn bèiké
qù, hóng de lǜ de dōu yǒu, guǐ jiàn pà yěyǒu, guānyīn shǒu yěyǒu Wǎnshàng wǒ hé diē guǎn xīguā qù, nǐ yě qù.”
Bây giờ trời đang rét lắm Đến mùa hè, anh xuống nhà em chơi Ban ngày, chúng mình ra biển nhặt vỏ sò, màu đỏ có, màu xanh có, đủ cả Có cả sò "mặt quỷ", sò "tay phật" Tối đến, em và thầy em đi canh dưa thì anh cũng đi
“管贼吗?”
“Guǎn zéi ma?”
Canh trộm à?
Trang 7……”
地走去
“Bùshì Zǒulù de rén kǒu kěle zhāi yīgè guā chī, wǒmen zhèlǐ shì bù suàn tōu de Yàoguǎn de shì huān zhū, cìwèi, chá Yuèliàng dǐxia, nǐ tīng, lā lā de xiǎngle, chá zài yǎo guāle Nǐ biàn niēle hú chā, qīng qīng de zǒu qù……”
Không phải Ở làng em, người ta đi qua đường khát nước hái một quả dưa ăn, không
kể là lấy trộm Canh là canh lợn rừng, nhím, tra Này nhé! Sáng trăng Có tiếng sột soạt Tra đang ngốn dưa đấy! Thế là cầm đinh ba khe khẽ tiến lên
Hồi đó - và cho đến cả bây giờ nữa -, tôi vẫn chưa biết con tra là con gì Chẳng căn
cứ vào đâu, tôi cứ tưởng tượng hình thù nó như con chó con nhưng dữ tợn hơn
我素不知道天下有这许多新鲜事:海边有如许五色的贝壳;西瓜有这样危险的经历,我先前单知道他在水果店里出卖罢了。
wǒ sù bù zhīdào tiānxià yǒu zhè xǔduō xīnxiān shì: Hǎibiān yǒu rúxǔ wǔsè de bèiké; xīguā yǒu zhèyàng wéixiǎn de jīnglì, wǒ xiānqián dān zhīdào tā zài shuǐguǒ diàn lǐ chūmài bàle
Tôi chưa hề biết trên đời này có những chuyện mới lạ như vậy: bên bờ có những vỏ
sò đủ màu sắc như thế kia, và có được quả dưa hấu ăn cũng phải trải qua bao nhiêu lànguy hiểm Trước đây tôi chỉ biết quả dưa hấu bán ở hàng hoa quả mà thôi!
“我们沙地里,潮汛要来的时候,就有许多跳鱼儿只是跳,都有青蛙似的两个
……”
脚……”
Trang 8“Wǒmen shā dì lǐ, cháoxùn yào lái de shíhòu, jiù yǒu xǔduō tiào yú er zhǐshì tiào, dōu yǒu qīngwā shì de liǎng gè jiǎo……”
Ở đất cát chúng em, lúc thủy triều dâng lên, có rất nhiều những con "cá nhảy", cứ nhảy lung tung, hai chân như chân nhái
阿!闰土的心里有无穷无尽的稀奇的事,都是我往常的朋友所不知道的。他们不知道一些事,闰土在海边时,他们都和我一样只看见院子里高墙上的四角的天空。
ā! Rùn tǔ de xīn li yǒu wúqióng wújìn de xīqí de shì, dōu shì wǒ wǎngcháng de péngyǒu suǒ bù zhīdào de Tāmen bù zhīdào yīxiē shì, rùn tǔ zài hǎi biān shí, tāmen dōu hé wǒ yīyàng zhǐ kànjiàn yuànzi lǐ gāo qiáng shàng de sìjiǎo de tiānkōng
Trời ơi! Nhuận Thổ hắn biết nhiều chuyện lạ lùng lắm, kể không xiết! Những chuyện
đó, bạn bè tôi từ trước đến nay, không ai biết cả Chúng nó không biết là vì trong khi Nhuận Thổ sống bên bờ biển thì chúng nó, cũng như tôi, chỉ nhìn thấy một mảnh trời vuông trên bốn bức tường cao bao bọc lấy cái sân mà thôi!
可惜正月过去了,闰土须回家里去,我急得大哭,他也躲到厨房里,哭着不肯出门,但终于被他父亲带走了。
Kěxí zhēngyuè guòqùle, rùn tǔ xū huí jiā lǐ qù, wǒ jí dé dà kū, tā yě duǒ dào chúfáng
lǐ, kūzhe bù kěn chūmén, dàn zhōngyú bèi tā fùqīn dài zǒule
Nhưng tiếc thay, đã hết tháng giêng Nhuận Thổ phải về quê hắn Lòng tôi rộn ràng, tôi khóc to lên Hắn lẩn trong bếp, cũng khóc mà không chịu về Nhưng rồi bố hắn cũng lôi hắn đi
他后来还托他的父亲带给我一包贝壳和几支很好看的鸟毛,我也曾送他一两次东西,但从此没有再见面。
Tā hòulái hái tuō tā de fùqīn dài gěi wǒ yī bāo bèiké hé jǐ zhī hěn hǎokàn de niǎo máo, wǒ yě céng sòng tā yī liǎng cì dōngxī, dàn cóngcǐ méiyǒu zài jiànmiàn
Sau đó, hắn có nhờ bố hắn mang lên cho tôi một bọc vỏ sò và mấy thứ lông chim rất đẹp Tôi cũng có vài lần gửi cho hắn ít quà Nhưng từ đấy chúng tôi không hề gặp mặt nhau nữa
现在我的母亲提起了他,我这儿时的记忆,忽而全都闪电似的苏生过来,似乎看到了我的美丽的故乡 – 鲁迅了。我应声说:
Xiànzài wǒ de mǔqīn tíqǐle tā, wǒ zhè'er shí de jìyì, hū'ér quándōu shǎndiàn shì de sū shēng guòlái, sìhū kàn dàole wǒ dì měilì de gùxiāngle Wǒ yìngshēng shuō:
Bây giờ mẹ tôi nhắc đến Nhuận Thổ, ký ức tôi bỗng dưng như bừng sáng lên trong chốc lát Tôi cảm thấy tựa hồ tôi đã tìm ra được quê hương tôi đẹp ở chỗ nào rồi Tôi trả lời mẹ tôi:
“这好极!他,——怎样?……”
Trang 9“Zhè hǎo jí! Tā,——zěnyàng?……”
Thế thì hay quá! Anh ta ra sao?
“他?……他景况也很不如意…………"母亲说着,便向房外看,"这些人又来了。说
”是买木器,顺手也就随便拿走的,我得去看看。
“Tā?……Tā jǐngkuàng yě hěn bùrúyì……"mǔqīn shuōzhe, biàn xiàng fáng wài kàn,"zhèxiē rén yòu láile Shuō shì mǎi mùqì, shùnshǒu yě jiù suíbiàn ná zǒu de, wǒ
dé qù kàn kàn.”
Anh ta ấy à? Tình cảnh cũng chẳng ra gì - Mẹ tôi vừa nói vừa nhìn ra phía ngoài - Mấy người kia lại đến! Nói mua đồ gỗ nhưng cứ tiện tay, mang bừa đi Mẹ phải ra xem sao
母亲站起身,出去了。门外有几个女人的声音。我便招宏儿走近面前,和他闲话:问他可会写字,可愿意……出门。
Mǔqīn zhàn qǐshēn, chūqùle Mén wài yǒu jǐ gè nǚrén de shēngyīn Wǒ biàn zhāo hóng er zǒu jìn miànqián, hé tā xiánhuà: Wèn tā kě huì xiězì, kě yuànyì chūmén
Mẹ tôi đứng dậy, đi ra Ngoài cửa có tiếng đàn bà đang hỏi chuyện Tôi gọi cháu Hoằng đến gần, hỏi vớ vẩn: hỏi nó đã biết viết chưa, có thích đi xa không
“我们坐火车去么?”
“Wǒmen zuò huǒchē qù me?”
Chúng ta có đi tàu hỏa không, bác?
“我们坐火车去。”
“Wǒmen zuò huǒchē qù.”
Có, chúng ta đi tàu hỏa
“船呢?”
“Chuán ne?”
Thế có đi thuyền không, bác?
“先坐船,……”
“Xiān zuò chuán,……”
Có, đi thuyền trước
Trang 10Wǒ chīle yī xià, gǎnmáng tái qǐtóu, què jiàn yīgè tū quán gǔ, báo zuǐchún, wǔshí suì shàngxià de nǚrén zhàn zài wǒ miànqián, liǎngshǒu dā zài bì jiān, méiyǒu xì qún, zhāng zháo liǎng jiǎo, zhèng xiàng yīgè huàtú yíqì lǐ xì jiǎo língdīng de yuánguī.Tôi giật mình, vội ngửng đầu lên thì trông thấy một người đàn bà, trên dưới năm mươi tuổi, lưỡng quyền nhô ra, hai tay chống nạnh, không buộc thắt lưng, chân đứng chạng ra, giống hệt cái compa trong bộ đồ vẽ, có hai chân bé tí
我愕然了。
Wǒ èránle
Tôi rất lấy làm ngạc nhiên
“不认识了么?我还抱过你咧!”
“Bù rènshíle me? Wǒ hái bàoguò nǐ liě!”
Không nhận ra à? Ngày bé tôi vẫn bế anh đấy!
我愈加愕然了。幸而我的母亲也就进来,从旁说:
Wǒ yùjiā èránle Xìng'ér wǒ de mǔqīn yě jiù jìnlái, cóng páng shuō:
Tôi lại càng ngạc nhiên hơn May mà lúc đó mẹ tôi bước vào đỡ lời cho:
Dànshì cāzhe báifěn, quán gǔ méiyǒu zhème gāo, zuǐchún yě méiyǒu zhème báo, érqiě zhōngrì zuòzhe, wǒ yě cóng méiyǒu jiànguò zhè yuánguī shì de zīshì