Khi trao đổi nhanh với khách hàng, thấy vụ án đơn giản, Luật sư A nhận tư vấn và thỏa thuận thù lao không cần ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý cho khách hàng (chị Hoa) về khởi kiện ly hôn với mức thù lao trọn gói là 15 triệu đồng. Sau một thời gian, nhận thấy tính chất vụ việc phức tạp, thù lao thấp nên Luật sư A đã đề nghị chị Hoa ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng văn bản với mức thù lao cao hơn. Theo Luật sư A, nếu chị Hoa không đồng ý thì Luật sư A sẽ giúp giới thiệu để chị Hoa chọn luật sư khác. Chị Hoa không đồng ý thay đổi Luật sư tư vấn. Luật sư A nêu lý do còn bận giải quyết nhiều công việc cho khách hàng khác của công ty nên từ chối việc tiếp tục tư vấn cho chị Hoa và chuyển vụ việc cho luật sư C (cùng công ty luật) tiếp tục giải quyết. Câu hỏi: Anh (chị) hãy nhận xét về hoạt động hành nghề của luật sư A?
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
BÀI TẬP NHÓM
LỚP:
MÔN HỌC: LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ
LUẬT SƯ
THTH.B1/PLLS
HÀ NỘI – 2023
Trang 2TÌNH HUỐNG:
Khi trao đổi nhanh với khách hàng, thấy vụ án đơn giản, Luật sư A nhận
tư vấn và thỏa thuận thù lao không cần ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý cho khách hàng (chị Hoa) về khởi kiện ly hôn với mức thù lao trọn gói là 15 triệu đồng Sau một thời gian, nhận thấy tính chất vụ việc phức tạp, thù lao thấp nên Luật
sư A đã đề nghị chị Hoa ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng văn bản với mức thù lao cao hơn Theo Luật sư A, nếu chị Hoa không đồng ý thì Luật sư A
sẽ giúp giới thiệu để chị Hoa chọn luật sư khác Chị Hoa không đồng ý thay đổi Luật sư tư vấn Luật sư A nêu lý do còn bận giải quyết nhiều công việc cho khách hàng khác của công ty nên từ chối việc tiếp tục tư vấn cho chị Hoa và chuyển vụ việc cho luật sư C (cùng công ty luật) tiếp tục giải quyết
Câu hỏi: Anh (chị) hãy nhận xét về hoạt động hành nghề của luật sư A?
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG:
1 Tóm tắt vụ việc, yêu cầu, câu hỏi của tình huống
- Chủ thể liên quan đến vụ việc: Chị Hoa (Người có nhu cầu cung cấp dịch
vụ tư vấn pháp lý); Luật sư A (Người tiếp nhận và giao kết hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn); Luật sư C (người tiếp nhận vụ việc tư vấn cho chị Hoa sau khi được Luật sư A chuyển giao), Công ty Luật nơi Luật sư A và Luật sư C làm việc
- Nội dung vụ việc: Luật sư A nhận cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý cho chị Hoa sau khi trao đổi nhanh với chị Hoa nhưng không ký hợp đồng dịch
vụ pháp lý bằng văn bản, với mức thù lao trọn gói 15 triệu đồng Sau một thời gian tư vấn, nhận thấy vụ việc phức tạp, Luật sư A đề nghị ký kết hợp đồng bằng văn bản và tăng thù lao, nếu không sẽ giới thiệu chị Hoa chọn luật sư khác Do chị Hoa không đồng ý, luật sư A chuyển vụ việc cho luật sư
C (cùng công ty) với lý do còn bận giải quyết việc của khách hàng khác
Trang 32 Cơ sở pháp lý:
- Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012(sau đây gọi là Luật Luật sư năm 2006);
- Bộ luật dân sự năm 2015;
- Luật Thương mại năm 2005;
- Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư ban hành theo Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019 của Hội đồng luật sư toàn quốc (sau đây gọi là Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư);
- Quy định nội bộ của Công ty Luật nơi Luật sư A hành nghề
3 Các vấn đề pháp lý đặt ra từ tình huống:
(1) Xác định quan hệ pháp luật trong vụ việc, từ đó xác định các văn bản pháp luật điều chỉnh
(2) Xác định chủ thể của hợp đồng, từ đó xác định được chính xác quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên phát sinh từ hợp đồng: (i) Hợp đồng giữa chị Hoa - Luật sư A hay (ii) Hợp đồng giữa chị Hoa - Công ty Luật nơi Luật sư
A hành nghề
(3) Xác định hình thức và hiệu lực của hợp đồng dịch vụ pháp lý: Hợp đồng xác lập bằng lời nói, vi phạm về hình thức thì có hiệu lực pháp lý không? (4) Về ứng xử của luật sư trong quá trình thực hiện dịch vụ pháp lý:
(i) Luật sư có thể nhân danh cá nhân mình nhận tư vấn cho khách hàng
để hưởng thù lao không?
(ii) Luật sư có thể yêu cầu thay đổi mức thù lao theo hướng đòi mức cao hơn so với thỏa thuận trước đó với khách hàng không?
(iii) Luật sư có thể tự mình chuyển vụ việc của khách hàng cho luật sư khác mà không có sự đồng ý của khách hàng và Công ty Luật nơi luật sư làm việc không?
Trang 4(5) Về kỹ năng hành nghề (nhận việc) và phẩm chất, đạo đức của Luật sư
A trong quá trình hành nghề?
4 Phân tích tình huống, nhận xét về hoạt động hành nghề và nhận diện sai phạm:
4.1 Xác định quan hệ pháp luật trong vụ việc:
Đây là quan hệ pháp luật hợp đồng dịch vụ pháp lý được thiết lập giữa chị Hoa (khách hàng) với Công ty luật/Luật sư A nhằm đáp ứng nhu cầu được cung cấp dịch vụ pháp lý của khách hàng Quan hệ pháp luật này chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại và các quy phạm pháp luật khác trong hệ thống pháp luật về luật sư (Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành);
Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghệ nghiệp luật sư,…
4.2 Chủ thể của hợp đồng và giá trị pháp lý của hợp đồng đối với các bên
có liên quan:
Có hai khả năng để xác định chủ thể và giá trị pháp lý của hợp đồng trong tình huống này:
(1) Hợp đồng được giao kết giữa chị Hoa và Luật sư A Trường hợp này cần xác định chính xác hai bên mong muốn và tin tưởng mình giao kết hợp đồng với ai Do hợp đồng giao kết bằng lời nói, vì vậy, ai là chủ thể của hợp đồng sẽ được xác định từ các minh chứng cụ thể Để xác định nội dung này, địa điểm gặp mặt hay nội dung trao đổi cụ thể, thông tin được hai bên cung cấp về chức năng, nhiệm vụ, vai trò của mình trong giao kết là hết sức quan trọng Nếu chị Hoa gặp Luật sư A bên ngoài Công ty Luật, chị Hoa không biết và không được cung cấp thông tin về hình thức hành nghề của Luật sư A tại Công ty Luật Điều này chứng tỏ chị Hoa mong muốn và tin tưởng chủ thể ký kết hợp đồng với mình là cá nhân Luật sư A Về phía Luật sư A, nếu luật sư A không thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý, cố tình ký hợp đồng dịch vụ pháp lý
Trang 5hiệu do luật sư A hành nghề tại tổ chức hành nghề luật, không có quyền hành nghề luật sư với tư cách cá nhân (Điều 23 Luật Luật sư năm 2006), không thể
là một bên chủ thể của hợp đồng cung cấp dịch vụ pháp lý Vì vậy không đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (điều kiện về chủ thể) quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2015
Trong trường hợp này, Luật sư A có thể bị xử phạt vi phạm hành chính như sau: Phạt tiền theo quy định tại Điều 6 Khoản 3 (d), (e), (g) “Hành nghề luật sư không đúng hình thức hành nghề theo quy định”, “Không thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý”; “Ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng không thông qua tổ chức hành nghề luật sư” với mức phạt từ 7-10 triệu đồng/hành vi vi phạm; Bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung “Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư từ 01 tháng đến 03 tháng”; Bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm gây ra (nếu có)”
(2) Hợp đồng được giao kết giữa chị Hoa và Công ty Luật: Trong trường hợp này, hợp đồng này có giá trị pháp lý đối với công ty luật nơi luật sư A hành nghề hay không sẽ phụ thuộc vào thẩm quyền đại diện của Luật sư A (Điều 142
Bộ luật Dân sự năm 2015) và điều kiện về hình thức hợp đồng sẽ được trình bày ở Mục 4.3:
+ Nếu Luật sư A có thẩm quyền đại diện hợp đồng dịch vụ pháp lý được xác lập giữa chị Hoa và công ty luật
+ Nếu Luật sư A không có thẩm quyền đại diện, nhưng sau khi hai bên giao kết hợp đồng, đại diện theo pháp luật của công ty luật biết nhưng vẫn chấp nhận hợp đồng Hợp đồng giữa chị Hoa và luật sư Avẫn có hiệu lực với công
ty luật
+ Nếu Luật sư A không có thẩm quyền đại diện, công ty luật không chấp nhận hợp đồng này hợp đồng giữa chị Hoa và luật sư A không có hiệu lực
Trang 6của giao dịch dân sự (điều kiện về chủ thể) quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân
sự năm 2015
4.3 Về hình thức và hiệu lực của hợp đồng dịch vụ pháp lý:
Theo tình huống, luật sư A nhận vụ việc của chị Hoa theo hình thức hợp đồng bằng lời nói Theo quy định của pháp luật, hợp đồng dịch vụ pháp lý phải được lập thành văn bản và có những nội dung chính theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật Luật sư năm 2006: (i) Tên, địa chỉ của khách hàng hoặc người đại diện của khách hàng, đại diện của tổ chức hành nghề luật sư hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân, (ii) Nội dung dịch vụ; thời hạn thực hiện hợp đồng, (iii) Quyền, nghĩa vụ của các bên, (iv) Phương thức tính và mức thù lao
cụ thể; các khoản chi phí (nếu có), (v) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, và (vi) Phương thức giải quyết tranh chấp
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Luật sư năm 2006 việc hành nghề luật sư còn phải “Tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam” Trong đó, liên quan đến việc tiếp nhận vụ việc của khách hàng, quy tắc 10.5 Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư quy định: “Khi nhận vụ việc của khách hàng, luật sư phải ký kết hợp đồng dịch
vụ pháp lý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Trong hợp đồng dịch
vụ pháp lý phải xác định rõ yêu cầu của khách hàng, mức thù lao và những nội dung chính khác mà hợp đồng dịch vụ pháp lý phải có theo quy định của pháp luật”
Như vậy, hoạt động hành nghề của luật sư A trước hết đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật Luật sư năm 2006 và quy tắc 10.5 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam khi nhận vụ việc của khách hàng, thực hiện dịch vụ pháp lý mà không ký hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng văn bản
Về hiệu lực của hợp đồng: nếu hai bên (chị Hoa và công ty Luật) không
Trang 7hiệu, trừ trường hợp một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó
4.4 Về ứng xử của luật sư trong vụ việc:
(1) Việc luật sư A nhân danh cá nhân mình nhận tư vấn cho khách hàng để hưởng thù lao:
Theo quy định tại Điều 23 Luật Luật sư năm 2006, Luật sư chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề: (i) Hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư và (ii) Hành nghề luật sư với tư cách cá nhân Trong trường hợp này, Luật sư A hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư, vì vậy không được nhân danh cá nhân mình để giao kết hợp đồng nhận tư vấn cho khách hàng để hưởng thù lao cá nhân Nếu có căn cứ để chứng minh cho hành vi này, Luật sư A sẽ
bị xử lý theo các hình thức như đã phân tích ở Mục 4.2 (1) ở trên
(2) Về yêu cầu thay đổi mức thù lao theo hướng đòi mức cao hơn so với thỏa thuận trước đó với khách hàng:
Trong trường hợp hợp đồng có hiệu lực pháp lý, cần xác định đây là hợp đồng dịch vụ, do đó, các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về thù lao mà bên sử dụng dịch vụ trả cho bên cung ứng dịch vụ, miễn là thỏa thuận giữa các bên không trái quy định của pháp luật Quyền thỏa thuận của các bên bao gồm
cả quyền được thỏa thuận về thay đổi mức thù lao Do đó, mức thù lao có thể tăng hoặc giảm nếu đó là kết quả của sự đồng thuận của các bên (Công ty luật
và chị Hoa) Nếu luật sư A nhân danh cá nhân để yêu cầu tăng thêm thù lao cho
cá nhân mình thì vi phạm điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư năm 2006:
“Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý” – là hành vi bị nghiêm cấm
Tuy nhiên, trong tình huống cho thấy luật sư A “ép” chị Hoa chấp nhận
Trang 8luật sư A không tiếp tục thực hiện việc tư vấn cho chị A nữa) điều này là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, không đảm bảo nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân
sự (xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận,…), vi phạm nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ (cung ứng các dịch vụ và thực hiện những công việc có liên quan một cách đầy
đủ, phù hợp với thoả thuận) theo quy định tại Điều 78 Khoản 1 Luật Thương mại năm 2005 Chị Hoa có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật
Dưới góc độ đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, cách ứng xử trên của Luật sư A vi phạm Quy tắc 12.3 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam: “Khi thực hiện vụ việc, luật sư phải có thái độ ứng xử phù hợp, tránh làm phát sinh tranh chấp với khách hàng Nếu có bất đồng giữa luật
sư và khách hàng hoặc có khiếu nại của khách hàng, luật sư cần có thái độ đúng mực, tôn trọng khách hàng, chủ động thương lượng, hòa giải với khách hàng”
(3) Về việc chuyển vụ việc cho luật sư khác giải quyết:
Trong trường hợp hợp đồng có hiệu lực pháp lý, Khoản 3 Điều 24 Luật Luật sư năm 2006 quy định: “Luật sư không chuyển giao vụ, việc mà mình đã nhận cho luật sư khác làm thay, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc trường hợp bất khả kháng” Bản chất đây là hợp đồng dịch vụ, chất lượng dịch
vụ gắn với cá nhân cụ thể Vì vậy, việc chuyển giao nghĩa vụ cần có sự đồng ý của bên có quyền là chị Hoa (khách hàng) là phù hợp với nguyên tắc được quy định trong pháp luật dân sự Luật sư A không thể lấy lý do vì bận giải quyết công việc của khách hàng khác để từ chối việc tiếp tục tư vấn cho chị Hoa và chuyển vụ việc cho luật sư C (cùng công ty luật) tiếp tục giải quyết Hành vi này của luật sư A vi phạm nghiêm trọng quy định tại khoản 3 Điều 24 Luật Luật sư năm 2006 khi chị Hoa không đồng ý thay đổi luật sư tư vấn theo đề
Trang 9chối tiếp tục tư vấn cũng không thuộc trường hợp quy định tại Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam (Quy tắc số 13 về từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc của khách hàng)
Hành vi này của luật sư A vi phạm Quy tắc 6 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng
xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam về việc tôn trọng khách hàng: “Luật sư thực hiện việc cung cấp dịch vụ pháp lý trên cơ sở yêu cầu hợp pháp của khách hàng, tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp và sự lựa chọn của khách hàng” 4.5 Về kỹ năng nhận việc và vấn đề phẩm chất, đạo đức của Luật sư A:
- Kỹ năng nhận việc: Luật sư A chưa tìm hiểu đầy đủ thông tin về vụ việc (mới trao đổi nhanh với khách hàng), chưa đánh giá đúng tính chất vụ việc (thấy vụ án đơn giản nhưng sau này mới nhận thấy vụ việc phức tạp hơn dự kiến ban đầu) mà đã nhận việc và chốt giá hợp đồng trọn gói (15 triệu đồng) để giải quyết vụ việc cho thấy, Luật sư A chưa thực hiện tốt kỹ năng tiếp nhận vụ việc
- Vấn đề đạo đức, phẩm chất của Luật sư A:
+ Việc “thấy vụ án đơn giản, Luật sư A nhận tư vấn và thỏa thuận thù lao không cần ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý cho khách hàng với mức thù lao trọn gói 15 triệu đồng” cũng là vấn đề cần lưu ý khi đánh giá tư cách đạo đức và phẩm giá của luật sư A, nếu chứng minh được Luật sư A cố tình nhận vụ việc với tư cách cá nhân để thu lợi riêng Ảnh hưởng đến quyền và lợi ích, uy tín của Công ty Luật nơi Luật sư A hành nghề
+ Hành vi yêu cầu khách hàng trả thêm thù lao do nhận thấy vụ việc phức tạp ngoài dự liệu ban đầu và đặt điều kiện mang tính ép buộc khách hàng phải thực hiện yêu cầu này nếu muốn Luật sư A tiếp tục tư vấn đã thể hiện thái độ không tuân thủ và chịu trách nhiệm trước khách hàng, gây ảnh hưởng đến hình ành, danh dự, uy tín của Luật sư A nói riêng và giới luật sư nói chung vi phạm Quy tắc 3 về giữ gìn danh dự, uy tín và phát huy truyền thống của luật
Trang 105 Bài học kinh nghiệm:
- Đối với tổ chức hành nghề luật: Cần ban hành quy định nội bộ để quản
lý hoạt động hành nghề của luật sư; quy định cụ thể quy trình tiếp nhận và giải quyết vụ việc của luật sư; quy định cụ thể mối quan hệ giữa luật sư tư vấn với khách hàng, giữa luật sư tư vấn với tổ chức hành nghề luật, giữa khách hàng với tổ chức hành nghề luật; những việc luật sư tư vấn không được làm; các mẫu hợp đồng cung cấp dịch vụ pháp lý và nguyên tắc tính thù lao,… nhằm quản lý tốt hoạt động hành nghề của luật sư tư vấn thuộc tổ chức và bảo vệ tốt uy tín của tổ chức hành nghề luật
- Đối với cá nhân luật sư: Cần phân tích, nắm bắt đầy đủ các thông tin liên quan vụ việc khi tiếp nhận từ khách hàng; thảo luận cụ thể, chi tiết về thù lao
và các vấn đề khác có thể thay đổi trong thực tiễn cung cấp dịch vụ tư vấn; tuân thủ nghiêm túc Luật Luật sư năm 2006, Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, Quy định nội bộ của tổ chức hành nghề; không ngừng nâng cao kỹ năng giao tiếp với khách hàng nói riêng và kỹ năng hành nghề luật
sư nói chung
- Đối với khách hàng: Tìm hiểu kỹ thông tin về tổ chức hành nghề luật, yêu cầu lập hợp đồng bằng văn bản, xác định rõ thù lao, luật sư tư vấn giải quyết vụ việc, các trường hợp thay đổi nội dung đã thỏa thuận phải có sự nhất trí bằng văn bản của cả hai bên,…