Vì vậy, sự ra đời của các định chế tài chính đa dạng bên cạnh hệ thống NHTM như các công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty CTTC, các quỹ đầu tư, quỹ hỗ trợ phát triển đã giảm gánh
Trang 1HUỲNH QUANG DŨNG
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013
Trang 2HUỲNH QUANG DŨNG
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÁC
CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: Tài chính-Ngân hàng
Trang 3và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 1
TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1
1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CTTC 1
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển hoạt động CTTC 1
1.1.2 Khái niệm, đặc trưng của hoạt động CTTC 2
1.1.3 Các phương thức CTTC 5
1.1.4 Rủi ro trong hoạt động CTTC của công ty CTTC 9
1.2 PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CTTC CỦA CÔNG TY CTTC 12
1.2.1 Khái niệm phát triển hoạt động CTTC 12
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá phát triển hoạt động CTTC của Công ty CTTC 12
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển hoạt động CTTC của Công ty CTTC 17
1.3 NHỮNG YẾU TỐ CẦN THIẾT CHO SỰ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY CTTC 20
1.3.1 Môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi 20
1.3.2 Hệ thống các quy định rõ ràng và thuận lợi 21
1.4 TÌNH HÌNH CTTC TRÊN THẾ GIỚI 23
1.4.1 Hoạt động CTTC phát triển nhanh chóng trên thế giới 23
1.4.2 Công ty CTTC rất phù hợp trong việc hỗ trợ DNNVV 24
1.4.3 Kinh nghiệm phát triển hoạt động CTTC ở một số nước 24
1.4.3.1 Trung Quốc 24
1.4.3.2 Hàn Quốc 26
1.4.3.3 Indonesia 28
1.4.3.4 Malaysia 29
CHƯƠNG 2 30
Trang 52.1.2.2 Chính sách phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro 35
2.1.2.3 So sánh với các hoạt động kinh doanh của NHTM 36
2.1.3 Thực trạng hoạt động CTTC và kết quả kinh doanh của các công ty CTTC 37
2.1.3.1 Tình hình nguồn vốn hoạt động 37
2.1.3.2 Dư nợ và thị phần của các công ty 38
2.1.3.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty 39
2.1.3.4 Nợ xấu của các công ty CTTC 41
2.2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CTTC CỦA CÁC CÔNG TY CTTC TẠI VIỆT NAM 42
2.2.1 Hạn chế trong hoạt động CTTC tại Việt Nam 42
2.2.1.1 Quy mô và thị phần tín dụng nhỏ hẹp 42
2.2.1.2 Lãi suất cao 44
2.2.1.3 Sản phẩm thuê tài chính không đa dạng 45
2.2.1.4 Nợ xấu lớn và việc thu hồi nợ xấu, xử lý tài sản khó khăn 45
2.2.1.5 Phương thức tài trợ đơn điệu 48
2.2.2 Nguyên nhân gây ra những hạn chế trong hoạt động CTTC tại Việt Nam 48
2.2.2.1 Nguyên nhân từ cơ chế, chính sách 48
2.2.2.2 Nguyên nhân từ nội tại của các công ty CTTC 53
CHƯƠNG 3 55
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM 55
3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM 55
3.1.1 Thực trạng về các DN Việt Nam hiện nay 55
3.1.1.1 DN ngoài nhà nước phát triển nhanh về số lượng 55
3.1.1.2 Phần lớn DN Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa 56
3.1.1.3 Các DN Việt Nam khó tiếp cận tín dụng đầu tư đổi mới trang thiết bị 57
3.1.1.4 Trang bị máy móc công nghệ cũ kỹ, lạc hậu 59 3.1.2 Sự cần thiết phải phát triển họat động CTTC tại các công ty CTTC tại Việt
Trang 63.2.1 Giải quyết nhanh nợ xấu 64
3.2.2 Nâng cao năng lực tài chính 65
3.2.2.1 Đa dạng hóa nguồn vốn hoạt động 65
3.2.2.2 Thực hiện các biện pháp phòng chống rủi ro 69
3.2.2.3 Gia tăng cạnh tranh lãi suất 71
3.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 71
3.2.3.1 Tiêu chuẩn hóa cán bộ các cấp trong các công ty CTTC 72
3.2.3.2 Đào tạo nguồn nhân lực 72
3.2.4 Hoàn thiện tổ chức và phương thức quản trị điều hành 73
3.2.4.1 Gia tăng năng lực quản trị điều hành 73
3.2.4.2 Phát triển mạng lưới và định hướng địa bàn cho thuê 73
3.2.4.3 Đẩy mạnh công tác quảng bá tiếp thị 74
3.2.5 Phát triển sản phẩm 75
3.2.5.1 Cho vay các DN trong những ngành nghề có tiềm năng phát triển tốt 75
3.2.5.2 Công ty CTTC cần triển khai các hoạt động kinh doanh bổ trợ phục vụ cho hoạt động kinh doanh chính 79
3.3 CÁC KIẾN NGHỊ VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ CÁC CƠ QUAN CHÍNH PHỦ 80
3.3.1 Về Quy định nâng hạn mức cấp tín dụng của Ngân hàng mẹ cho công ty con 80
3.3.2 Về nâng tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động 80
3.3.3 Có quy định về đánh giá phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro phù hợp riêng cho các công ty CTTC 80
3.3.4 Công ty quản lý và khai thác tài sản Việt Nam mua nợ xấu CTTC 81
3.3.5 Có cơ chế hỗ trợ công ty CTTC được tham gia vào các chương trình hỗ trợ lãi suất và vốn của Chính phủ 81
3.3.6 Hướng dẫn thực hiện hoạt động CTTC theo Luật các TCTD 2010 82
3.3.7 Nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng 82
3.3.8 Hoàn thiện hệ thống luật liên quan đến hoạt động CTTC 82
Trang 73.3.10 Mở rộng danh mục tài sản đƣợc phép CTTC: 84
3.3.11 Về chính sách thuế nhập khẩu 84
3.3.12 Quy định về chính sách khấu hao 85
3.3.13 Sửa đổi các văn bản pháp lý để cải thiện hiệu lực công tác thu hồi tài sản 85
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển châu Á CTTC Cho thuê tài chính
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừaNHNN Ngân hàng nhà nước NHTM Ngân hàng thương mại TCTD Tổ chức tín dụng VAT Thuế giá trị gia tăng
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các công ty CTTC đang hoạt động tại Việt NamBảng 2.2: Tỷ lệ tài sản đảm bảo
Bảng 2.3: Tổng nguồn vốn của các công ty CTTC tại tp Hồ Chí Minh
Bảng 2.5: Dư nợ CTTC Bảng 2.6: Kết quả hoạt động kd 2012 các công ty thuộc Hiệp hội CTTC Bảng 2.7 : Nợ xấu các công ty CTTC
Bảng 2.8: Quy mô của hệ thống TCTD Việt Nam tại thời điểm tháng 6/2013 Bảng 2.9: Chỉ tiêu hoạt động của các TCTD năm 2012
Bảng 3.1: Số DN đang hoạt động tại thời điểm 31/12
Bảng 3.3: Tỷ lệ DN năm 2011 chia theo quy mô nguồn vốn (%)Bảng 3.4: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá hiện hành Bảng 3.5: Hiệu suất sinh lời của DN năm 2006 và 2011Bảng 3.6: Số lượt hành khách phân theo ngành vận tải Bảng 3.7: Doanh thu du lịch theo giá hiện hành của ngành kinh tế Bảng 3.8: Các ngành nghề tăng trưởng khác
Sơ đồ 1.1 CTTC hai bên
Sơ đồ 1.2: CTTC ba bên
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trước sự phát triển kinh tế thị trường cùng với quá trình hội nhập của Việt Nam, dịch vụ tài chính ngân hàng đã không ngừng phát triển, hình thức tài trợ truyền thống của hệ thống ngân hàng không đáp ứng được hết nhu cầu vốn cho nền kinh tế Vì vậy, sự ra đời của các định chế tài chính đa dạng bên cạnh hệ thống NHTM như các công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty CTTC, các quỹ đầu tư, quỹ hỗ trợ phát triển đã giảm gánh nặng về vốn cho ngân hàng, trong đó hoạt động của các công ty CTTC cũng là một kênh dẫn vốn hữu hiệu
Hoạt động của công ty CTTC hiện nay có nhiều ưu điểm, lợi thế cạnh tranh so với các hình thức cấp vốn khác và thuận lợi cho các DN đặc biệt DNNVV trong việc tiếp cận nguồn vốn, máy móc, thiết bị, khoa học công nghệ
Hoạt động của các công ty CTTC tại Việt Nam bước đầu có hiệu quả tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, nhận thức của khách hàng về dịch vụ này còn khá mơ
hồ, hiệu quả thu được chưa cao, số lượng và chất lượng dịch vụ chưa thực sự thu hút được các DN, hoạt động CTTC đang là sản phẩm duy nhất Để các công ty CTTC có thể đứng vững và phát triển, khắc phục những tồn tại và có bước phát triển thì Công ty buộc phải phát triển đa dạng các hoạt động CTTC Nhằm đáp ứng
yêu cầu đó, đề tài “Phát triển các công ty CTTC tại Việt Nam” được lựa chọn để
nghiên cứu nhằm chỉ ra những hạn chế, chỉ ra những nguyên nhân và đề xuất các giải pháp để giúp phát triển hoạt động của các công ty CTTC tại Việt Nam trong
thời gian tới
2 Mục đích nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả kỳ vọng sẽ thống kê, khái quát được những vấn đề lý luận cốt yếu về hoạt động CTTC giúp cho người đọc có cái nhìn cơ bản về hoạt động CTTC và hiểu thêm về xu hướng phát triển của loại hình này trong tương lai
Đề tài này cũng đưa ra cái nhìn tổng thể về thực trạng hoạt động CTTC nói chung thấy đPIược những ưu điểm và hạn chế; thuận lợi và khó khăn, cơ hội phát triển
Trang 11trong tương lai; thấy được nguyên nhân từ bối cảnh chung của hoạt động CTTC; từ
đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị phù hợp để các công ty CTTC phát triển, góp một phần vào kênh cung ứng tín dụng giúp nền kinh tế đất nước phát triển
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các hoạt động CTTC của các công ty CTTC tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu là các hoạt động CTTC của các công ty CTTC tại Việt Nam trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên lý thuyết chung về CTTC, tác giả tham khảo tình hình CTTC trên thế giới, tìm hiểu môi trường pháp lý tại Việt Nam, phân tích số liệu kinh doanh của các công ty CTTC thời gian qua để chỉ ra tồn tại hạn chế trong hoạt động CTTC Bên cạnh đó tác giả phân tích số liệu các DN và các ngành nghề kinh tế liên quan đề ra những giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển các công ty CTTC tại Việt Nam
5 Đóng góp mới của đề tài
Góp phần hệ thống hóa các lý luận liên quan đến CTTC, từ đó đưa ra cái nhìn khái quát nhất có thể đối với hoạt động của các công ty CTTC và các vấn đề khác
có liên quan tới sự phát triển hoạt động này
Đánh giá, phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động CTTC; đề xuất các giải pháp và những kiến nghị để góp phần phát triển hoạt động CTTC tại các công ty CTTC Việt Nam
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu theo 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động CTTC tại công ty CTTC
Chương 2: Thực trạng hoạt động CTTC tại các công ty CTTC tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động CTTC tại các công ty CTTC tại Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH
TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CTTC 1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển hoạt động CTTC
Những ghi chép sớm nhất về CTTC đã có ở thành phố Sumerian vào khoản năm 2010 trước Công nguyên, với việc các linh mục cho nông dân thuê các công cụ sản xuất nông nghiệp được các nhân viên chính phủ xác nhận Ur là một trung tâm thương mại rất thịnh vượng, cả đất đai và công cụ đều có thể cho thuê Những giao dịch này được ghi chép trên các bản ghi bằng đất sét tìm thấy vào năm 1984 Sau đó vào khoảng năm 1750 trước Công nguyên vua Hammurabi của xứ Babylone tên đã ban hành luật thừa nhận việc cho thuê các tài sản cá nhân
Người Ai Cập cổ đại, người Hy Lạp và người La Mã đã cho thuê cả tài sản cá nhân và bất động sản Vào khoảng năm 550 bộ luật của hoàng đế La Mã Justinian
đã tiến xa đến mức phân biệt được CTTC và cho thuê tài sản ngắn hạn Từ thời của nền văn minh Phoenician đã có hoạt động cho thuê tàu bè Tàu được cho thuê dưới hình thức cho thuê tài sản thuần túy Cho thuê ngắn hạn theo thời gian và cho thuê theo chuyến chính là hình thức cho thuê vận hành trong đó thủy thủ đoàn được giao cùng với con tàu Cho thuê tàu trần dài hạn tương đương với hình thức CTTC thuần
vì thời gian cho thuê gần bằng thời gian hữu dụng của tài sản và người thuê có nhiều quyền lợi và nghĩa vụ của người sở hữu Điều khoản bên thuê chịu các khoản phí liên quan đến vận hành tài sản trong cho thuê hiện đại chính được là điều khoản bất di bất dịch bắt nguồn từ các thỏa thuận cho thuê tàu Chủ tàu là bên cho thuê, bên sử dụng tàu là bên thuê đã thỏa thuận nhiều trách nhiệm nghĩa vụ và quyền hạn khác nhau đối với việc thuê tàu và việc này đã diễn ra trong hàng ngàn năm Những vấn đề phát sinh trong các giao dịch đó qua nhiều năm không khác gì lắm với những vấn đề phát sinh trong việc cho thuê tài sản hiện nay (Peter K Nevitt and Frank J Fabozzi, 2000)
Trang 131.1.2 Khái niệm, đặc trưng của hoạt động CTTC 1.1.2.1 Khái niệm
Theo Hội đồng tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASB- Internationai Accounting Standards Board), bất cứ một giao dịch thuê tài sản nào thoả mãn ít nhất một trong bốn tiêu chuẩn dưới đây đều được gọi là CTTC:
Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao khi chấm dứt thời hạn hợp đồng
Hợp đồng có quy định quyền chọn mua tài sản tại thời điểm chấm dứt hợp đồng
Thời hạn hợp đồng bằng phần lớn thời gian hoạt động của tài sản
Hiện giá của các khoản tiền thuê lớn hơn hoặc gần bằng giá trị của tài sản thuê
Trên cơ sở phân loại của IASB, mỗi quốc gia sẽ đưa ra những khái niệm cụ thể về CTTC dựa trên điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia đó, có thể nhấn mạnh tiêu chuẩn này hay giảm bớt tiêu chuẩn khác nhưng về cơ bản không có điều gì mâu thuẫn với các tiêu chuẩn chung (International Accounting Standard 17 Leases, 2009)
Nghị định số 65/2005/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 19 tháng 05 năm
2005, khái niệm này như sau:
CTTC là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết
bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữu quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và
thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận
1.1.2.2 Đặc trưng của hoạt động CTTC
Hoạt động CTTC cũng có những đặc trưng riêng, từ đó có cơ sở để so sánh CTTC với các hoạt động khác của Công ty CTTC và hoạt động cho vay vốn của các
Trang 14- Đối tượng cho thuê là những tài sản (thường có giá trị lớn) phục vụ cho sản xuất kinh doanh
- Người thuê có quyền được lựa chọn tài sản từ nhà cung cấp để đề nghị bên cho thuê mua tài sản đó về cho mình thuê
- Người thuê sử dụng phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản
- Người cho thuê giữ quyền sở hữu tài sản trong suốt thời gian cho thuê
- Khi kết thúc thời hạn thuê, người thuê có thể được chuyển giao quyền sở hữu tài sản từ người cho thuê
Dựa trên những đặc điểm đó mà ta có thể nhận biết một giao dịch CTTC thông thường trong vô vàn các quan hệ giao dịch kinh tế tài chính trong xã hội Tuy nhiên, quan niệm về CTTC hiện nay được nới rộng hơn bằng việc giảm bớt một hay một vài đặc điểm nêu trên, nhờ đó mà hoạt động CTTC có thể phát triển mạnh, linh hoạt và phù hợp với yêu cầu của hoạt động kinh doanh
Những điểm ưu việt của hoạt động CTTC:
* Đối với người đi thuê:
- Không cần vốn lớn một lúc
- Chi phí thuê được tính vào chi phí hợp lý của DN
- Tiết giảm được công sức cho công tác hành chính
- Đối phó được với việc máy móc trở nên lỗi thời, cũ kỹ (thời gian thuê tài chính ngắn hơn thời gian sử dụng thông thường)
- Dễ tính toán, lên kế hoạch chi phí (do được chọn lựa trả phí thuê cố định hoặc giảm dần trong suốt thời gian thuê)
- Thủ tục đơn giản
* Đối với nhà sản xuất:
- Đa dạng hóa được phương pháp bán sản phẩm
- Có thể thu hồi tiền bán một cách thuận lợi từ việc kết hợp với các công ty CTTC
- Dễ dàng triển khai kế hoạch bán sản phẩm
Phân biệt giữa CTTC và cho thuê vận hành
Trang 15Về hình thức bên ngoài, CTTC và cho thuê vận hành đều giống nhau là bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng Nhưng xét về bản chất thì hai hoạt động này hoàn toàn khác nhau Sự khác biệt giữa CTTC và cho thuê vận hành được thể hiện tại bảng 1.1 (Trần Tô Tử và Nguyễn Hải Sản, 1996)
Bảng 1.1: Phân biệt CTTC và cho thuê vận hành
Tiêu thức so sánh Cho thuê vận hành CTTC
1 Giống nhau
Quyền sở hữu Tách biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng
Ưu đãi về thuế Bên cho thuê hưởng và khấu trừ vào tiền thuê Bồi thường bảo hiểm Bên cho thuê hưởng
2 Khác nhau
Thời hạn thuê Rất ngắn so với thời gian sử
dụng hữu ích của tài sản
Thời hạn dài bằng phần lớn thời gian sử dụng hữu ích của tài sản
Quyền hủy ngang hợp đồng
Được quyền hủy ngang hợp đồng
Không được quyền hủy ngang hợp đồng
Rủi ro về tài sản Bên cho thuê chịu mọi rủi ro Bên thuê chịu mọi rủi ro Bảo trì, bảo dưỡng,
sửa chữa và bảo hiểm
Bên cho thuê chịu toàn bộ chi phí này
Bên thuê chịu toàn bộ chi phí này
Lựa chọn tài sản Bên cho thuê lựa chọn Bên thuê lựa chọn Tiền bán tài sản Thuộc quyền sử dụng của
bên thuê
Có thể được chia cho bên thuê sau khi bên cho thuê đã thu hồi đủ vốn và phí
Phân biệt giữa hoạt động CTTC với hoạt động cho vay của ngân hàng
Trong cho vay thông thường, ngân hàng tài trợ vốn bằng tiền cho khách hàng
để khách hàng dùng số tiền đó mua tài sản phục vụ cho sản xuất kinh doanh Còn trong CTTC, bên cho thuê tài trợ cho khách hàng trực tiếp bằng các tài sản máy móc thiết bị mà khách hàng đang cần dùng Như vậy, tài trợ bằng CTTC đảm bảo
Trang 16Trong giao dịch cho vay thông thường của ngân hàng chỉ có sự tham gia của hai bên là người đi vay và ngân hàng Còn trong CTTC, bên cạnh sự tham gia của bên thuê và công ty CTTC còn có sự tham gia rất quan trọng của chủ thể thứ ba là các nhà cung cấp tài sản
Trong cho vay, người đi vay có quyền định đoạt đối với tài sản đầu tư bằng tiền vay (tài sản đó thuộc sở hữu của người vay), do đó khi cần thu nợ thường khó khăn vì xử lý tài sản thế chấp rất phức tạp Đối với CTTC, quyền sở hữu tài sản vẫn
do bên cho thuê nắm giữ và bên thuê chỉ có quyền sử dụng tài sản trong thời gian thuê nên khi xảy ra tình huống phải xiết nợ thì điều đó dễ dàng cho Công ty CTTC
để thu hồi tài sản về ngay
Tín dụng ngân hàng thường yêu cầu người vay phải có tài sản đảm bảo và kéo theo nhiều thủ tục giấy tờ Trong CTTC, tài sản thuê vẫn thuộc sở hữu của bên cho thuê nên người thuê không bị đòi hỏi có tài sản thế chấp và do đó giảm bớt được một số công đoạn thủ tục và giấy tờ
1.1.3 Các phương thức CTTC
Hiện nay, CTTC đã trở thành một trong những hình thức tài trợ vốn trung dài hạn cho các DN, không chỉ ở các nước phát triển mà cả các nước đang phát triển Về cơ bản, việc áp dụng các hình thức tài trợ này không có sự khác biệt lớn giữa các nước
phát triển và các nước đang phát triển
Theo số đối tác tham gia giao dịch, CTTC thường có hai phương thức chủ yếu sau:
1.1.3.1 Phương thức cho thuê có sự tham gia của hai bên
Là hình thức mà bên cho thuê dùng tài sản sẵn có của mình đem cho người có nhu cầu sử dụng thuê lại Người cho thuê có thể là các nhà sản xuất, người có tài sản, các định chế tài chính hoặc các Công ty CTTC Tài sản thuê của hình thức cho thuê này thường có giá trị không quá lớn và thuộc loại máy móc thiết bị Với hình thức này, các bên tham gia chỉ bao gồm bên thuê và bên cho thuê, vốn hoàn toàn là của người cho thuê và người cho thuê có thể mua lại thiết bị khi chúng bị lạc hậu (thường là các nhà sản xuất) với mục đích đẩy mạnh tiêu thụ những sản phẩm do
Trang 17chính họ sản xuất ra
Sơ đồ 1.1: CTTC HAI BÊN
Ký hợp đồng thuê (1)
Bàn giao tài sản thuê (2) Thanh toán tiền thuê (3) (1) Bên cho thuê và Bên đi thuê ký hợp đồng thuê tài sản
(2) Bên cho thuê bàn giao tài sản (quyền sử dụng) cho Bên đi thuê
(3) Theo định kỳ Bên đi thuê thanh toán tiền thuê cho Bên cho thuê
1.1.3.2 Phương thức cho thuê có sự tham gia của ba bên
Đây là hình thức ngoài sự tham gia của bên cho thuê, bên đi thuê còn có sự tham gia của các nhà cung ứng tài sản Đây là hình thức cho thuê thông thường nhất, là hình thức CTTC thuần (net lease) được áp dụng phổ biến hiện nay tại các công ty CTTC ở Việt Nam
Loại hình cho thuê này có các ưu điểm sau:
- Bên cho thuê không phải mua tài sản trước và như vậy sẽ làm cho vòng quay của vốn nhanh hơn vì không phải dự trữ tồn kho
- Việc chuyển giao tài sản được thực hiện trực tiếp giữa Bên cung ứng và Bên thuê và giữa họ cũng chịu trách nhiệm trực tiếp về tình trạng hoạt động của tài sản, cũng như thực hiện việc bảo hành và bảo dưỡng tài sản Như vậy, Bên cho thuê trút
bỏ được gánh nặng về tình trạng hoạt động của tài sản
- Bên cho thuê không trực tiếp nhận tài sản rồi sau đó chuyển giao cho Bên thuê và như vậy sẽ hạn chế được rủi ro liên quan đến việc từ chối nhận tài sản của Bên thuê nếu như có sự sai sót về mặt kỹ thuật
Chính vì những ưu điểm trên đây mà các Công ty CTTC đã áp dụng hình thức này là chủ yếu để tài trợ cho các DN, đặc biệt là đối với cho thuê thiết bị Trên thế giới, 80% hợp đồng thuê tài chính áp dụng theo hình thức này
Trang 18Sơ đồ 1.2: CTTC BA BÊN
Ký hợp đồng thuê (1)
Thanh toán tiền thuê (4)
Ký hợp đồng mua tài sản (2) Bàn giao tài sản (3)
(1) Bên cho thuê và Bên thuê ký hợp đồng thuê tài sản
(2) Bên cho thuê và Bên cung ứng thực hiện việc mua bán tài sản thuê theo các điều kiện mà Bên thuê đã thoả thuận với Bên cung ứng
(3) Bên cung ứng bàn giao tài sản thuê cho Bên cho thuê và Bên thuê
(4) Theo định kỳ Bên thuê thanh toán tiền thuê cho Bên cho thuê
1.1.3.3 Các phương thức CTTC khác
Ngoài 2 phương thức CTTC cơ bản trên đây, trên thực tế còn có một số dạng cho thuê đặc biệt, biến tướng của 2 loại cho thuê trên Đó là cho thuê hợp vốn, cho thuê giáp lưng, cho thuê bắc cầu, mua và cho thuê lại
* Phương thức cho thuê hợp vốn
Đây là phương thức mà nhiều bên CTTC cùng tài trợ cho một bên thuê, trong đó có một bên cho thuê đứng ra làm đầu mối Phương thức CTTC hợp vốn này thường được áp dụng khi nhu cầu thuê tài chính của Bên thuê vượt quá giới hạn cho thuê của một Công ty CTTC (Theo quy định pháp luật của Việt Nam, tổng dư nợ CTTC của một công ty CTTC không được vượt quá 25% vốn tự có đối với một khách hàng, và không được vượt quá 50% vốn tự có đối với nhóm khách hàng có liên quan); khả năng tài chính, nguồn vốn và tài sản của công ty CTTC không đáp ứng được nhu cầu thuê tài chính Phương thức này còn được áp dụng khi các công ty CTTC có nhu cầu phân tán rủi ro hoặc bản thân Bên thuê
có nhu cầu thuê tài chính từ nhiều công ty CTTC
CTTC hợp vốn có thể xảy ra theo chiều ngang (giữa các Công ty CTTC khác
Bên cung ứng
Trang 19nhau) hoặc theo chiều dọc (giữa các công ty mẹ với các chi nhánh của mình hoặc giữa các công ty CTTC trong cùng hệ thống)
* Phương thức cho thuê giáp lưng
Đây là phương thức cho thuê mà trong đó với sự thỏa thuận của người cho thuê, người thuê thứ nhất cho người thuê thứ hai thuê lại tài sản mà người cho thuê thứ nhất đã thuê từ người cho thuê
Kể từ thời điểm hợp đồng thuê lại được ký kết, mọi quyền lợi và nghĩa vụ cùng tài sản thuê được chuyển giao từ người thuê thứ nhất sang người thuê thứ hai Các chi phí pháp lý, di chuyển tài sản phát sinh từ hợp đồng này do người thuê thứ nhất và người thuê thứ hai thỏa thuận với nhau Tuy nhiên, người thuê thứ nhất vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới đối với những rủi ro và thiệt hại liên quan đến tài sản
vì họ là người trực tiếp ký kết hợp đồng với người cho thuê ban đầu
Phương thức cho thuê này thường được thực hiện dưới dạng hợp đồng hoàn trả toàn bộ được ký kết giữa người cho thuê và người thuê thứ nhất Nhưng khi thực hiện được một phần hợp đồng, người thuê thứ nhất còn nhu cầu đối với tài sản đã thuê hay vì một lý do nào đó nên họ phải tìm người thuê thứ hai để chuyển giao hợp đồng Trong trường hợp này họ sẽ tránh được những láng phí không đáng có do không sử dụng tài sản mà vẫn phải trả tiền
* Phương thức cho thuê bắc cầu
Là phương thức thức cho thuê mà người cho thuê (Công ty CTTC) đi vay từ bên thứ 3 (từ một hoặc nhiều nguồn tín dụng) để mua tài sản rồi cho thuê Bên cho thuê phải trả nợ từ tiền cho thuê và hưởng các khoản chênh lệch từ tiền cho thuê và tiền trả nợ Việc cho thuê theo phương thức này xuất phát từ nhu cầu thực tế của khách hàng đi thuê ngày một tăng lên trong khi các Công ty CTTC với tiềm lực vốn
là có hạn
Theo quy định của hầu hết các quốc gia, giá trị khoản vay này không được vượt quá 80% tổng giá trị của tài sản cho thuê Khoản thế chấp cho phần vay nợ chính là quyền sở hữu tài sản cho thuê và các khoản tiền thuê mà người thuê sẽ thanh toán trong tương lai Phương thức cho thuê này đem lại lợi nhuận và mở rộng
Trang 20khả năng trài trợ ra khỏi phạm vi năng lực tài chính của người cho thuê
Phương thức cho thuê này thường sử dụng trong những giao dịch thuê mua đòi hỏi một quy mô vốn lớn, giá trị cho thuê cao chẳng hạn như thuê mua một chuyên
cơ, một tàu chở hàng lớn…
* Phương thức mua và cho thuê lại
Mua và cho thuê lại là việc Công ty CTTC mua tài sản thuộc sở hữu của bên thuê và cho thuê lại chính tài sản đó theo hình thức CTTC để bên thuê tiếp tục sử dụng phục vụ cho hoạt động của mình
- Tài sản mua và cho thuê lại giống như tài sản CTTC bao gồm: Phương tiện vận chuyển, máy móc, thiết bị thi công, dây chuyền sản xuất, thiết bị gắn liền với bất động sản, các động sản khác không bị pháp luật cấm
- Giá mua tài sản cho thuê được xác định phù hợp với quy định của pháp luật
về mua bán tài sản (Trần Tô Tử và Nguyễn Hải Sản, 1996)
1.1.4 Rủi ro trong hoạt động CTTC của công ty CTTC
Cũng như các TCTD khác, là một TCTD phi ngân hàng, hoạt động trong lĩnh vực tín dụng trung và dài hạn nên công ty CTTC cũng ẩn chứa các rủi ro tín dụng nói chung và các loại rủi ro đặc thù của hoạt động CTTC nói riêng Việc nắm bắt được những rủi ro tiềm ẩn cũng như việc quản trị rủi ro một cách hiệu quả cũng ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển hoạt động CTTC của các công
* Rủi ro về tài sản cho thuê
Loại rủi ro này xảy ra khi có giao dịch mua bán giữa bên cho thuê và bên cung
Trang 21ứng tài sản Tài sản thuê khi mua về không đáp ứng đuợc các tính năng, yêu cầu phục vụ cho hoạt động của bên thuê làm ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn thu của khách hàng Hoặc là khi có yếu tố không tích cực dẫn đến việc thu hồi tài sản thuê trước thời hạn nhưng tài sản cho thuê khi thu hồi về bị hỏng, lỗi thời hoặc là tài sản đặc chủng không được sử dụng thông dụng trên thị trường nên khó chuyển nhượng, tài sản bị mất, hư hỏng mà không có bảo hiểm,…
* Rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng
Hiệu quả của dự án đầu tư quyết định đến khả năng trả nợ của khách hàng, đặc biệt
là chất lượng thẩm định dự án và yếu tố lãi suất phải đảm bảo rằng việc cho thuê phải bù đắp được lãi suất huy động đầu vào, các chi phí liên quan khác và có lãi
* Rủi ro về môi trường kinh doanh trong nền kinh tế
Nền kinh tế thị trường Việt nam đang trong giai đoạn hoàn thiện và phát triển Vì vậy việc tồn tại, phát triển hay suy thoái của một dòng sản phẩm, ngành nghề, lĩnh vực nào đó trong nền kinh tế là điều không tránh khỏi Do đó việc cho thuê các tài sản, thiết bị phục vụ trong ngành nghề này đều ẩn chứa những rủi ro
* Rủi ro do cơ chế, pháp lý
Việc thay đổi cơ chế trong nền kinh tế kéo theo hàng loạt sự thay đổi mà một trong các thay đổi đó là pháp luật Việc đồng bộ hóa pháp luật theo các cấp từ cao xuống thấp, từ trung ương xuống địa phương, và đặc biệt là việc hiện thực các điều luật đó phải cần một thời gian nhất định mới đi vào ổn định Chính các yếu tố đó đã ảnh hưởng đến các hoạt động của công ty CTTC
1.1.4.2 Quản trị rủi ro trong hoạt động CTTC
Quản trị rủi ro là một trong những khái niệm khá mới mẻ trong nền kinh tế nói chung và lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng Có nhiều khái niệm chưa thống
Trang 22nhất về quản trị rủi ro, đó là do cách tiếp cận, nghiên cứu và đặc biệt là các trường phái quan điểm khác nhau
Ta có thể tạm hiểu quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro
Từ khái niệm quản trị rủi ro được trình bày ở phần trên cho thấy, quản trị rủi ro bao gồm các nội dung sau:
- Nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro
Hoạt động nhận dạng rủi ro này nhằm thu thập các thông tin về nguồn gốc của các rủi ro, đối tượng rủi ro và ước đoán các tổn thất có thể xảy ra Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc như theo dõi, xem xét, nghiên cứu các yếu tố môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động của tổ chức nhằm thống kê tất cả các loại rủi ro đã
và đang xảy ra mà còn có cả các loại rủi ro có thể xảy ra trong tương lai
Sau quá trình nhận dạng rủi ro là đến quá trình phân tích và đo lường rủi ro nhằm phát hiện những nguyên nhân gây ra rủi ro, tần suất xuất hiện rủi ro, mức độ nghiêm trọng hay không nghiêm trọng, trên cơ sở đó mới có thể tìm ra các biện pháp phòng ngừa rủi ro
- Kiểm soát, phòng ngừa rủi ro
Công việc trọng tâm của quản trị rủi ro là kiểm soát rủi ro Kiểm soát rủi ro là việc
sử dụng các biện pháp kỹ thuật, công cụ, quy trình, quy chế hoạt động … để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi
có thể xảy ra
Phòng ngừa và phân tán rủi ro có thể là xây dựng các hệ thống máy móc, thiết
bị, thông tin dự phòng ngoài ra trong hoạt động chính của mình các tổ chức kinh tế cố gắng đa dạng hóa các sản phẩm của mình, phân khúc thị trường để định hướng kinh doanh, đa dạng hóa khách hàng để phân chia rủi ro
- Xử lý rủi ro
Để có thể khắc phục rủi ro có hiệu quả thì các công ty này cần phải lập quỹ tự bảo hiểm, quỹ dự phòng xử lý rủi ro và có kế hoạch sử dụng quỹ này một cách hợp lý
Trang 23nhất Đối với rủi ro trong hoạt động tín dụng, các tổ chức bị rủi ro có thể tìm kiếm các khách hàng khác hoạt động có hiệu quả có thể đứng ra nhận lại nợ, sử dụng lại tài sản hình thành từ vốn vay, tài sản thế chấp cầm cố hay tài sản thuê tài chính có hiệu quả hơn Hoặc khả năng cuối cùng là mua bán các khoản nợ cho một công ty mua bán nợ …
1.2 PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CTTC CỦA CÔNG TY CTTC 1.2.1 Khái niệm phát triển hoạt động CTTC
Phát triển hoạt động CTTC của công ty CTTC được hiểu là sự phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Phát triển theo chiều rộng nghĩa là sự mở rộng về quy mô,
số lượng các loại hình hoạt động cho thuê của công ty (thể hiện ở sự đa dạng hóa hoạt động CTTC); sự gia tăng dư nợ, nâng cao thị phần; mở rộng quy mô khách hàng Phát triển theo chiều sâu được hiểu là sự phát triển theo chiều rộng với một cơ cấu cho thuê hợp lý, hiệu quả và chất lượng hoạt động CTTC ngày càng được nâng cao
Trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, việc công ty CTTC phát triển hoạt động CTTC là rất cần thiết nhưng cũng không phải là điều dễ dàng Thực tế trong vài năm gần đây, các công ty cho thuê tài chính đa số đều hoạt động kém hiệu quả, không tương xứng với nguồn lực sẵn có Nguyên nhân phần lớn là do các công ty này không biết tận dụng hết mọi nguồn lực, phát triển kinh doanh theo chiều rộng (mở rộng quy mô khách hàng, tăng dư nợ và thị phần), nhưng lại không phát triển kinh doanh theo chiều sâu (cho thuê với cơ cấu không hợp lý, chính sách cho thuê không phù hợp dẫn đến hiệu quả hoạt động không cao, nợ xấu và lãi treo nhiều,…)
Do vậy, để phát triển hoạt động CTTC một cách hiệu quả nhất cần phải chú trọng phát triển cả theo chiều rộng và chiều sâu
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá phát triển hoạt động CTTC của Công ty CTTC 1.2.2.1 Tăng trưởng dư nợ và thị phần
- Chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ
Dư nợ tăng lên là một dấu hiệu cho thấy sự tăng trưởng và phát triển trong hoạt động CTTC của các công ty CTTC Dư nợ của công ty CTTC là số tiền gốc mà
Trang 24khách hàng đang nhận nợ tại công ty CTTC
Sự tăng trưởng về dư nợ được tính toán theo công thức sau :
Dư nợ cuối kỳ =
Dư nợ đầu kỳ +
Số tiền giải ngân trong kỳ -
Doanh số thu nợ gốc trong kỳ (1.1) Công thức trên khi được áp dụng cho từng loại hình hoạt động kinh doanh của Công ty CTTC thì dư nợ của cả công ty khi đó sẽ là tổng dư nợ của tất cả các loại hình kinh doanh của công ty đó
Dư nợ cuối kỳ - Dư nợ đầu kỳ Tốc độ tăng trưởng dư nợ (%) = x100% (1.2)
Dư nợ đầu kỳ Công thức (1.2) ở trên được áp dụng khi muốn phân tích tốc độ tăng trưởng dư
nợ của từng loại hình kinh doanh của công ty và tốc độ tăng trưởng dư nợ của cả công ty qua các thời kỳ
Dư nợ lớn phản ánh quy mô hoạt động cho thuê phát triển theo chiều rộng Sự tăng quy mô theo chiều rộng được thể hiện qua số lượng khách hàng quan hệ với công ty tăng lên, đồng thời đó là điều kiện để mối quan hệ của công ty với các nhà cung ứng được liên kết chặt chẽ thúc đẩy nghiệp vụ cho thuê phát triển
Dư nợ của một hợp đồng cao (có thể là hợp đồng CTTC, cho thuê vận hành, hay vay vốn lưu động…) phản ánh năng lực về chiều sâu của công ty Công ty có khả năng tiếp cận và tài trợ các dự án cho thuê/vay lớn mà vẫn đảm bảo an toàn về mặt tài chính, uy tín trên thị trường
Như vậy, gia tăng dư nợ CTTC phản ánh sự phát triển của hoạt động CTTC
cả chiều rộng lẫn chiều sâu, để phát triển hoạt động CTTC của Công ty thì chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ là rất cần thiết
- Chỉ tiêu thị phần hoạt động:
Thị phần của một công ty CTTC được hiểu là thị trường hoạt động của công ty
đó chiếm bao nhiêu phần trăm (%) trong thị trường hoạt động của toàn hệ thống các công ty CTTC, xét trên một lĩnh vực hoạt động nào đó hay xét trên toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty đó Do đó, thị phần của một công ty CTTC được biểu
Trang 25hiện qua dư nợ của một loại hình hoạt động kinh doanh của công ty đó trên tổng dư
nợ về loại hình hoạt động kinh doanh đó của toàn bộ hệ thống các công ty CTTC và
dư nợ của cả công ty trên tổng dư nợ của toàn hệ thống các công ty CTTC trong một thời kỳ nhất định
Công thức xác định thị phần của một công ty CTTC như sau:
Dư nợ của công ty CTTC Thị phần công ty (%) = x 100% (1.3) Tổng dư nợ cho thuê toàn
thị trường Thị phần của một công ty CTTC càng lớn phản ánh vị thế của công ty trước đối thủ cạnh tranh, uy tín của công ty trên thị trường CTTC càng lớn, nó cũng phản ánh khả năng thu hút khách hàng và các đối tác tham gia của công ty đó Việc xác định được vị trí của công ty thông qua thị phần trên thị trường cho thuê sẽ giúp công ty CTTC có những chính sách định hướng hợp lý để phát triển hoạt động trong tương lai
1.2.2.2 Đa dạng về đối tượng khách hàng
Cơ cấu hoạt động và cơ cấu khách hàng là một trong những nhân tố quyết định mức độ hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty CTTC Công ty có cơ cấu hoạt động và cơ cấu khách hàng hợp lý sẽ góp phần hạn chế rủi ro và hoạt động kinh doanh sẽ đạt hiệu quả tốt hơn, ngược lại nếu điều này bất hợp lý sẽ tiềm ẩn rủi ro rất cao dẫn đến công ty kinh doanh thua lỗ hoặc phá sản
Hiện nay, trong môi trường cạnh tranh ác liệt, các công ty CTTC hoạt động càng đơn điệu, không biết đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa đối tượng khách hàng thì hoạt động của công ty đó càng tiềm ẩn nhiều rủi ro Việc đa dạng hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa đối tượng khách hàng đang là tiêu chí mà các công ty CTTC đang đặt ra và cố gắng thực hiện Bên cạnh hoạt động CTTC đơn thuần, các công ty CTTC đang xúc tiến mở rộng và hoàn thiện thêm các hoạt động kinh doanh khác như: cho thuê vận hành, cho thuê uỷ thác, cho vay vốn lưu động,
… Nhìn chung, dù là CTTC đơn thuần hay là các hoạt động kinh doanh khác, cơ
Trang 26cấu cho thuê có thể chia làm 02 loại chính như sau:
- Cơ cấu cho thuê theo loại hình DN: Là tỷ trọng cho thuê đối với các DN quốc doanh lớn và các DNNVV ngoài quốc doanh Xu hướng cho thuê của công ty CTTC là giảm tỷ trọng cho thuê đối với các DN quốc doanh lớn và tăng tỷ trọng cho thuê đối với các DNNVV nhằm phân tán rủi ro và phù hợp với năng lực tài trợ của các công ty CTTC
- Cơ cấu cho thuê theo nhóm tài sản: Là tỷ trọng cho thuê đối với từng nhóm tài sản trên tổng dư nợ Cơ cấu này cho biết nếu tỷ trọng của một nhóm tài sản nào
đó quá cao trong tổng dư nợ sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, ảnh hưởng xấu tới hoạt động kinh doanh của công ty khi những ngành liên quan đến nhóm tài sản đó gặp khủng hoảng, suy thoái
1.2.2.3 Hiệu quả hoạt động
Thông thường các nhà phân tích tài chính sử dụng các chỉ tiêu về khả năng sinh lời để đánh giá hiệu quả hoạt động của một công ty CTTC vì trong nền kinh tế thị trường, một trong những mục tiêu chính của các công ty là lợi nhuận
Khả năng sinh lời của công ty CTTC thể hiện một đồng vốn công ty bỏ ra trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm) sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận
Khả năng sinh lời của công ty CTTC được thể hiện qua một số chỉ tiêu cơ bản như sau: Lợi nhuận hàng năm, tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
- Lợi nhuận hàng năm của công ty thể hiện kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Nếu lợi nhuận hàng năm của công ty tăng lên, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận đều đặn và cao qua các năm thể hiện hiệu quả hoạt động của công
ty ngày càng được nâng cao, quy mô hoạt động của công ty ngày càng được mở rộng Lợi nhuận là nguồn quan trọng để tăng quy mô vốn trong tương lai của công
ty
- Tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE- Return on Equity): Thể hiện một đồng vốn chủ sở hữu của công ty sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một
Trang 27thời gian nhất định (thuờng là 1 năm)
Lợi nhuận sau thuế ROE (%) = x 100% (1.4) Vốn chủ sở hữu
ROE là một thông số phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty, nó chỉ ra khả năng của công ty trong quá trình khai thác, sử dụng vốn chủ sở hữu của công ty để tạo ra thu nhập ròng
- Tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản (ROA-Return on Assets): Thể hiện một đồng tài sản của công ty sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm)
Lợi nhuận sau thuế ROA (%) = x 100% (1.5) Tổng tài sản
ROA là một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý, nó chỉ ra khả năng của công ty trong quá trình khai thác, sử dụng tài sản của công ty để tạo ra thu nhập ròng ROA đối với công ty CTTC có sự khác biệt với các DN khác Tài sản của các công ty CTTC bao gồm cả vốn chủ sở hữu và vốn huy động mà thông thường vốn huy động chiếm tỷ trọng khá lớn thậm chí là chủ yếu Do đó ROA thể hiện khả năng sử dụng nguồn tài sản huy động được để tạo ra thu nhập ròng
1.2.2.4 Mức độ rủi ro trong hoạt động CTTC
Nhận diện rủi ro, qua đó có những giải pháp tối ưu giúp ngăn ngừa và xử lý các khoản cho thuê có rủi ro là khâu quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của Công ty CTTC Một số chỉ tiêu chính thường được áp dụng để đánh giá mức độ rủi ro trong hoạt động CTTC là :
- Tỷ lệ nợ xấu:
Nợ xấu là các khoản nợ được phân vào các nhóm 3,4,5, bao gồm các khoản
nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới
90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại, các khoản nợ kể cả các khoản nợ trong hạn và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại mà
Trang 28công ty cho thuê có đủ cơ sở đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm
Nợ xấu càng ít phản ánh chất lượng và sự phát triển của hoạt động kinh doanh càng cao Tỷ lệ nợ xấu được tính theo công thức sau:
Nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu (%) = x 100% (1.6) Tổng dư nợ cho thuê
Chỉ tiêu cho biết trong một trăm đồng dư nợ cho thuê có bao nhiêu nợ gốc là
nợ xấu Chỉ tiêu là căn cứ đánh giá chất lượng CTTC Tỷ lệ nợ xấu càng cao chứng
tỏ các khoản cho thuê đang gặp nhiều rủi ro, ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn của công ty
1.2.2.5 Các tỷ lệ bảo đảm an tòan trong hoạt động :
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu : TCTD, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro của TCTD (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ) (Thông tư 13/TT-NHNN, 2010)
Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ = Vốn tự có
Tổng tài sản “Có” rủi ro
Giới hạn CTTC (Luật các TCTD, 2010) Tổng dư nợ CTTC đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự
Trang 29công ty CTTC là những nhân tố xuất phát từ chính bên trong công ty đó, như quy
mô vốn tự có, khả năng sinh lời, khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro, khả năng huy động vốn, phát triển sản phẩm dịch vụ, năng lực quản trị điều hành, năng lực công nghệ thông tin đều ảnh hưởng đến hoạt động CTTC của Công ty CTTC
Quy mô vốn không những quan trọng đối với mỗi công ty CTTC ở khía cạnh
nó quyết định và đáp ứng quy mô hoạt động của công ty CTTC đó mà quy mô vốn còn là một yếu tố quan trọng cùng với những yếu tố khác tạo ra uy tín cho công ty CTTC Cũng giống như hệ thống ngân hàng và các TCTD khác, các công ty CTTC
sẽ tạo được lòng tin ban đầu cho khách hàng khi quyết định lực chọn TCTD cho mình nếu quy mô vốn của nó đủ lớn so với các đối thủ cạnh tranh của nó Ngoài ra, hoạt động trong lĩnh vực nhiều rủi ro, tình hình tài chính tốt giúp công ty CTTC chống đỡ những rủi ro, là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng và các nhà quản lý, tạo sức mạnh và vị thế trên thị trường tài chính cho công ty CTTC
Vốn tự có là yếu tố cơ bản quyết định sức mạnh tài chính của công ty CTTC Để
đảm bảo an toàn hoạt động trước hết các công ty CTTC phải đảm bảo có đủ một số vốn
tự có nhất định theo quy định của pháp luật Ngoài những yếu tố luật định đó, một ý tưởng xây dựng một trụ sở khang trang, hoặc hiện đại hoá công nghệ luôn gắn liền với việc đầu tư mua sắm trang thiết bị máy móc mới, mặt khác công ty CTTC sẽ không thể thực hiện được nếu không có đủ vốn tự có
Vốn huy động bao gồm tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân và các tổ
chức tín dựng khác, tiền vay các TCTD khác, phát hành trái phiếu và các công cụ
nợ khác vốn tài trợ uỷ thác đầu tư, Nhìn chung trong cơ cấu nguồn vốn của các công ty CTTC thì nguồn vốn huy động luôn chiếm một tỷ trọng lớn hơn vốn tự có
Nguồn nhân lực và hệ thống quản lý có vai trò hết sức quan trọng đối với sự
phát triển và thành công của một công ty CTTC Trong mỗi tổ chức con người cung cấp dữ liệu đầu vào để hoạch định mục tiêu: phân tích bối cảnh môi trường, lựa chọn, thực hiện và kiểm tra các chiến lược của tổ chức Cho dù các quan điểm của
hệ thống kế hoạch hoá tổng quát có đúng, công nghệ có hiện đại và tiên tiến, nguồn vốn của các công ty CTTC có dồi dào thì chúng cũng không thể mang lại hiệu quả
Trang 30cho công ty CTTC nếu không có những con người làm việc có hiệu quả Nguồn nhân lực của mỗi công ty CTTC cần được phân tích và xem xét trên các yếu tố cơ bản như: Số lượng nhân viên đáp ứng được quy mô hoạt động của công ty; cơ cấu
tổ chức và cơ cấu quản lý hợp lý, đảm bảo hiệu quả giảm thiểu chi phí; kỹ năng, năng lực trình độ cán bộ, nhân viên; chính sách tuyển chọn, đào tạo, bố trí và sử dụng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực…
Hệ thống quản lý và chất lượng của hệ thống quản lý có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của các TCTD Hệ thống quản lý tiên tiến không những nâng cao hiệu quả hoạt động của TCTD mà nó còn giảm thiểu rủi ro hoạt động của tổ chức - một vấn đề sống còn đối với mỗi TCTD Có rất nhiều yếu tố của hệ thống quản lý có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các công ty CTTC Chẳng hạn như phương thức, cách thức thông qua quyết định sẽ xác lập khả năng nắm bắt thời cơ của công ty CTTC, giúp công ty có các quyết định đúng đắn và kịp thời và nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh
Năng lực công nghệ, khả năng quản trị rủi ro,… cũng là những nhân tố quan
trọng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty CTTC Sự yếu kém của bất
kỳ một nhân tố nào cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kinh doanh của Công ty CTTC Các nhân tố đó không tồn tại tách rời mà đan xen, bổ trợ lẫn nhau
Vì vậy, muốn phát triển hoạt động CTTC của công ty CTTC, cần phải phát triển đồng thời và bền vững tất cả các nhân tố nêu trên
1.2.3.2 Nhân tố khách quan
Về môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý mang tính chất quyết định bước đầu
trong vấn đề phát triển hoạt động CTTC của tất cả các công ty CTTC tại Việt Nam Mọi hoạt động kinh doanh của các công ty CTTC hay bất kỳ một tổ chức nào đều chịu
sự kiểm soát, quản lý của Nhà nước thông qua các luật và văn bản dưới luật Có thể nói, Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển của các công
ty CTTC thông qua việc tạo dựng, duy trì và thúc đẩy môi trường kinh tế xã hội, môi trường pháp lý cần thiết, tạo điều kiện cho các công ty CTTC hoạt động có hiệu quả
Các điều kiện kinh tế xã hội trong nước: Tốc độ tăng trưởng GDP là yếu tố
Trang 31đầu tiên của nền kinh tế trong nước ảnh hưởng đến ngành tài chính ngân hàng Khi nền kinh tế tăng trưởng cao sẽ tạo nhiều cho đầu tư mở rộng, hoạt động của các DN sôi động hơn, các DN sẽ sẵn sàng đi vay vốn với số tiền lớn hơn, lãi suất cao hơn và
kỳ hạn dài hơn để đầu tư vào các dự án có lợi Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến giảm tiêu dùng và giảm đầu tư toàn xã hội, các khách hàng sẽ ít sử dụng các sản phẩm-dịch vụ của ngành ngân hàng tài chính hơn Vì vậy, sẽ kéo theo sự sa sút của ngành ngân hàng - tài chính trong nước
Lạm phát là một nhân tố ảnh hưởng đến nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát cao thì việc kiểm soát giá cả và đồng tiền càng khó Đặc biệt là đối với các DN, lạm phát tăng thì rủi ro từ các dự án đầu tư cũng tăng lên
Khách hàng: Với chủ trương khuyến khích và thu hút đầu tư, khuyến khích các
DN thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển thì đối tượng khách hàng của công ty CTTC ngày càng mở rộng nhưng do đặc thù sản phẩm cung cấp nên đối tượng chủ yếu vẫn là các DNNVV chưa có được uy tín trên thị trường, còn những DN lớn các công ty CTTC chỉ cung cấp sản phẩm dưới hình thức đồng tài trợ hoặc cho vay hợp vốn
Thị trường càng phát triển thì số lượng khách hàng càng nhiều không chỉ tập trung ở những thành phố lớn, khu công nghiệp mà tiến tới cung cấp sản phẩm cho những hộ sản xuất gia đình, DN tư nhân , sản phẩm đòi hỏi cung cấp càng đa dạng
sẽ là cơ hội cho các công ty CTTC khuếch trương quy mô hoạt động của mình
1.3 NHỮNG YẾU TỐ CẦN THIẾT CHO SỰ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY CTTC
Theo tác giả Teresa Barger và Irving Kuczynsk (1996) để các công ty CTTC
phát triển hoạt động rất cần thiết phải có một nền kinh tế vĩ mô ổn định và môi trường pháp lý thuận lợi
1.3.1 Môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi
Để có một ngành CTTC khỏe mạnh cần có môi trường vĩ mô thuận lợi với nền tài chính cũng như giá cả ổn định giúp cho việc đầu tư vào kinh tế tư nhân có tác
Trang 32dụng tích cực Cần có một thị trường cạnh tranh và sự sẵn sàng đáp ứng của các nguồn tài trợ trung và dài hạn bằng đồng nội tệ Các công ty CTTC đặc biệt cần: + Khả năng tiếp cận được nguồn vốn nội tệ thời hạn ít nhất 3 năm (từ các ngân hàng hoặc các định chế khác như công ty bảo hiểm nhân thọ)
+ Khả năng cung ứng ngoại tệ Trong hầu hết các quốc gia đang phát triển, ngọai tệ rất cần thiết để nhập khẩu máy móc nhưng các công ty vừa và nhỏ lại không sẵn lòng chịu rủi ro vể tỷ giá để thuê tài chính bằng đồng đôla Vì vậy công
ty CTTC cần có khả năng được chuyển đổi ngoại tệ để có thể CTTC bằng đồng nội
tệ tài trợ đối với máy móc thiết bị nhập khẩu (Teresa Barger and Irving Kuczynsk, 1996)
1.3.2 Hệ thống các quy định rõ ràng và thuận lợi
Những quy định cho ngành thuê tài chính được coi là đúng đắn và phù hợp khi
nó đưa ra những nguyên tắc hoạt động của ngành sao cho tương đương hoặc thuận lợi hơn so với các loại hình đầu tư tài sản khác Những quy định phù hợp cho hoạt động của CTTC cần được tạo thành dựa trên ba yếu tố: Pháp lý, các quy định và thuế
+Về pháp lý:
Quyền hạn và nghĩa vụ của bên cho thuê là chủ sở hữu tài sản và trách nhiệm
và nghĩa vụ của bên thuê là người sử dụng phải được định nghĩa rõ ràng Người chủ sở hữu tài sản cần một quy định rõ ràng, đơn giản, có hiệu lực và kịp thời để có thể thu hồi một tài sản nếu bên thuê vi phạm hợp đồng CTTC, bao gồm quyền thu hồi ngay tài sản mà không cần có thủ tục quyết định của tòa án và quyền đòi tiền thanh toán nợ đến hạn phải trả hoặc các thiệt hại khác Nếu quyền thu hồi tài sản được luật pháp công nhận và thực thi dễ dàng công ty CTTC có thể mạnh dạn tài trợ hơn, đánh giá khoản thuê ít rủi ro hơn và nhờ thế có thể cho thuê với mức lãi suất thấp hơn
Bên thuê có quyền sử dụng tài sản mà không bị ngăn trở và sử dụng hết công suất của tài sản Đặc biệt người thuê có thể thực hiện được quyền sở hữu tài sản thông qua việc trả giá chọn mua đã được thỏa thuận trước Cùng lúc đó bên thuê
Trang 33phải có nghĩa vụ trả tiền thuê đúng hạn, mua bảo hiểm và bảo quản tài sản thuê Trong các nền kinh tế đang chuyển đổi, cần thiết phải nói rõ rằng bên thuê không hề
có quyền cầm cố tài sản thuê tài chính
+ Sự giám sát và các quy định:
Vì các công ty CTTC không nhận tiền gửi từ công chúng và không tham gia thị trường liên ngân hàng của ngân hàng trung ương do vậy chúng ít chịu các quy định từ ngân hàng trung ương hơn các ngân hàng.thương mại Sự độc lập với chính phủ như thế này chính là một chìa khóa cho thành công của các công ty CTTC Chính phủ sẽ ít sử dụng các công ty CTTC như là một phương tiện để đạt được các mục đích xã hội phi thương mại hay các mục tiêu chính trị (Teresa Barger and Irving Kuczynsk, 1996)
Ở các nước dùng các cơ quan giám sát hoạt động CTTC (thường là ngân hàng trung ương hoặc bộ tài chính) các cơ quan này thường giám sát các điều kiện an tòan trong hoạt động của công ty CTTC, như tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hũu tối đa, tỷ
lệ vốn tốn thiểu, các công ty CTTC có nên là một pháp nhân độc lập hay không (đối với trường hợp công ty CTTC là một bộ phận của ngân hàng hoặc là một công ty con của ngân hàng), các điều khoản bắt buộc về tính minh bạch và tiêu chuẩn hóa của hệ thống báo cáo tài chính Cần khuyến khích việc xây dựng các chính sách an toàn để bảo vệ cho cả những người cho vay các công ty CTTC và những người thuê khỏi những công ty CTTC yếu kém, nhờ đó thúc đẩy sự phát triển của các công ty CTTC (Teresa Barger and Irving Kuczynsk, 1996)
+ Thuế và kế toán:
Thuế và kế toán áp dụng khác nhau giữa các nước phụ thuộc phần lớn vào quan điểm khác nhau về quyền sở hữu tài sản hay quyền sử dụng tài sản định nghĩa bên nào chịu khấu hao tài sản Thông thường hệ thống kế tóan và thuế của công ty CTTC sẽ phản ánh những mục đích khác nhau của hai tài khoản:
Tài khoản tài chính: giúp cho các cổ đông nắm được một cách chân thực tình trạng sức khỏe của công ty CTTC
Tài khoản thuế: nhằm giúp các ủy ban thuế của chính phủ khả năng linh hoạt
Trang 34để khuyến khích việc đầu tƣ vốn Hầu hết các quốc gia có chế độ thuế khuyến khích đầu tƣ vốn và các DN nhỏ sẽ hỗ trợ đầu tƣ thông qua các công ty nhƣ công ty CTTC để tài trợ gần nhƣ độc quyền cho việc đầu tƣ tài sản thiết bị và tài trợ cho các
DN mới và DN nhỏ (Teresa Barger and Irving Kuczynsk, 1996)
1.4 TÌNH HÌNH CTTC TRÊN THẾ GIỚI 1.4.1 Hoạt động CTTC phát triển nhanh chóng trên thế giới
Theo báo cáo 2011 của White Clarke Group về tình hình CTTC toàn cầu, năm
2010 có khoảng 616.8 tỷ đô la Mỹ vốn đầu tƣ đã đƣợc thực hiện thông qua hình thức CTTC
Growth 2009–10 (%)
Percentage
of world market volume
2009
Percentage
of world market volume
2010
Change in market share 2009–10
Source: White Clarke Global Leasing Report
Nguồn: White Clarke Group, Global leasing report 2011 Trong đó các quốc gia công nghiệp phát triển nhƣ Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Anh, Canada, Thụy Điển đầu tƣ bằng hình thức thuê tài chính chiếm khoảng 15%
so với tổng các nguồn tín dụng đầu tƣ cho việc mua sắm tài sản tƣ nhân (White Clark Group, 2011) Theo báo cáo của Hiệp hội CTTC và đầu tƣ tài sản của các quốc gia thuộc Liên Hịệp Anh FLA, tỷ lệ đóng góp của CTTC vào tổng giá trị đầu
tƣ tài sản cố định đạt cao nhất 33.8% vào năm 2008 và mức trung bình năm 2ng 011 vào khoảng 25.4% (FLA Asset Finance, 2012) Trên phạm vi toàn châu Âu, theo báo cáo của LeaseEurope (2011) thì năm 2011, các công ty CTTC đã tài trợ các hợp đồng mới lên đến 256 tỷ Euro chiếm 20.8% trong tổng đầu tƣ thiết bị trên toàn
Trang 35712 tỷ Euro (LeaseEurope, 2011)
1.4.2 Công ty CTTC rất phù hợp trong việc hỗ trợ DNNVV
Lý do chính là công ty CTTTC cho phép các DNNVV được tài trợ toàn bộ giá mua tài sản mà không yêu cầu bất kỳ tài sản thế chấp nào, lý do là chính tài sản cho thuê là tài sản bảo đảm vì công ty CTTC có quyền sở hữu, có thể cho người khác thuê, hoăc bán phát mãi nếu bên thuê vi phạm hợp đồng thuê tài chính Những DNNVV không có điểm xếp hạng tín dụng tốt, hay không có tài sản bảo đảm, hoặc kinh doanh trong những lĩnh vực có độ rủi ro cao thì CTTC là đem lại sự thuận lợi hơn so với các lọai hình tài trợ khác Công ty CTTC cũng đáp ứng được nhu cầu của những DN siêu nhỏ vốn khó tiếp cận vốn ngân hàng nhất Cuối cùng trong khi một số các hình thức tài trợ khác chỉ thích hợp với một giai đoạn nào đó trong vòng đời của các công ty, thì CTTC lại phù hợp suốt suốt tuổi đời của DN (FLA Asset Finance, 2012)
Cũng theo nghiên cứu của LeaseEurope (2011) đã chỉ ra rằng phần lớn các DN nhỏ đạt được những tiến triển trong kết quả kinh doanh của mình là nhờ có sử dụng thuê tài chính Ngoài ra các DNNVV có thuê tài chính đầu tư trumg bình 57% cao hơn những DN không thuê tài chính CTTC vì thế không những là nguồn tài trợ đáng tin cậy trong điều kiện bất ổn nhất của nền kinh tế mà còn đóng góp vào thành công của các DN và giúp DN nâng cao mức đầu tư của mình (LeaseEurope, 2011, page 6)
1.4.3 Kinh nghiệm phát triển hoạt động CTTC ở một số nước
Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Thanh Hằng (2012) “Phát triển hoạt động CTTC của một số nước và bài học cho Việt Nam” ở Tạp chí Phát triển và hội nhập trang 25-27 hầu hết các quốc gia đều hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động cho thuê tài chính tạo điều kiện cho hoạt động này phát triển vững chắc Chính phủ theo từng giai đoạn luôn có sự quan tâm và có những chính sách hỗ trợ kịp thời và tháo
gỡ khó khăn như chính sách ưu đãi về thuế, hoạt động xuất nhập khẩu
1.4.3.1 Trung Quốc
Hoạt động CTTC ở Trung Quốc được triển khai từ đầu thập niên 80 nhờ có
Trang 36chính sách mở cửa, cải cách đầu tư mà sau 10 năm ngành CTTC ở Trung Quốc phát triển nhanh chóng về số lượng cũng như loại hình công ty CTTC rất đa dạng Trong
60 công ty CTTC thì có 25 liên doanh với nước ngoài Các công ty tài chính đầu tư, công ty tài chính tư vấn vẫn được phép thực hiện hoạt động CTTC như là một nghiệp vụ phụ bên cạnh hoạt động kinh doanh chính Doanh thu từ hoạt động CTTC tăng đáng kể qua các năm cụ thể chỉ sau khi thành lập 1 năm thì doanh số CTTC là 13,2 triệu USD (năm 1981) thì đến năm năm 1987 con số này gần 1 tỷ USD Như vậy chỉ sau 6 năm đưa vào vận hành hoạt động CTTC doanh số CTTC đã đạt 3 tỷ USD
Trong nghiệp vụ CTTC, các công ty CTTC ở Trung Quốc thực hiện tài trợ toàn bộ giá trị của tài sản thuê trong đó bên thuê được quyền chọn những tài sản cho thuê cho đến hết thời hạn hợp đồng và được trích khấu hao tài sản thuê
Điều đặc biệt là hoạt động CTTC chịu sự chi phối bởi kế hoạch và chính sách của Nhà nước Ngay cả nguồn vốn đưa ra và lịch thanh toán nợ đều dựa trên kế hoạch nhà nước Và để tránh việc đầu tư vào những máy móc thiết bị lạc hậu, lỗi thời và không phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, Chính phủ quy định thiết bị cho thuê phải được đưa vào danh mục quản lý của Nhà nước hoặc kế hoạch của địa phương và là đối tượng phải được sự chấp thuận của Nhà nước hoặc các cơ quan quản lý Đồng thời Chính phủ quy định tất cả các công ty CTTC phải tìm một nhà cung cấp thích hợp, nắm được giá cả cung ứng thiết bị cũng như chất lượng, công nghệ và các đặc tính kỹ thuật khác của các máy móc thiết bị đó Thậm chí, công ty CTTC còn phối hợp với bên cung ứng để huấn luyện cho bên thuê cách sử dụng và vận hành tài sản
Với những quy định như trên, Chính phủ đã dẫn dắt và định hướng đối với hoạt động CTTC như hạn chế các hoạt động mang tính chất tự phát của các công ty CTTC, đồng thời hạn chế được việc mua bán tài sản, thiết bị CTTC không đúng so với giá trị của thiết bị đó Những vấn đề này nếu không được quy định chặt chẽ sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đối với hoạt động CTTC nói riêng và nền kinh tế nói chung Ngoài ra, Chính phủ thực hiện cải tổ, sắp xếp lại toàn diện nền kinh tế, khuyến
Trang 37khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực tài chính dưới hình thức các công ty CTTC liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài nhằm tận dụng nguồn vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến
Mặt khác, bằng việc tạo dựng được môi trường pháp lý thuận lợi và ban hành chính sách khuyến khích sự phát triển của loại hình dịch vụ này thích hợp như: Các công ty CTTC được miễn thuế thu nhập DN trong hai năm đầu và sau năm thứ ba nếu có lợi nhuận mới phải nộp thuế, quy định thuế suất thuế lợi tức ưu đãi đối với dịch vụ CTTC và một loạt các văn bản khác đã làm cho thị trường CTTC phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng
Để thúc đẩy hoạt động CTTC, ở Trung Quốc đã nhanh chóng hình thành hiệp hội CTTC với mục đích bảo vệ lợi ích của hoạt động CTTC, đồng thời tăng cường quan hệ hợp tác của các thành viên trong hiệp hội Thông qua hiệp hội, các thành viên sẽ nhận được sự hỗ trợ, hợp tác phát triển, học hỏi lẫn nhau và đưa ra những vướng mắc chung kêu gọi chính phủ quan tâm giải quyết
1.4.3.2 Hàn Quốc
Hoạt động CTTC được áp dụng ở Hàn Quốc vào những năm 1970 và được coi
là một trong những quốc gia đầu tiên tại châu Á áp dụng hoạt động này để tài trợ vốn cho nền kinh tế Ở Hàn Quốc những năm 1970, tình hình kinh tế ở trạng thái nhu cầu đầu tư thiết bị vượt quá tiền vốn đòi hỏi cần bổ sung loại hình tài trợ mới và hoạt động CTTC được đưa vào áp dụng dưới sự giám sát của Bộ Tài chính, ngay sau khi đưa vào áp dụng CTTC đã trở thành công cụ để thúc đẩy đầu tư trong nước cho tăng trưởng kinh tế Năm 1995, có 25 công ty CTTC hoạt động với quy mô thị trường là 18 tỷ USD, chiếm 30% so với toàn bộ thiết bị trong nước và đứng thứ 4 thế giới về doanh số CTTC
Điều chỉnh hoạt động CTTC tại Hàn Quốc bởi “Luật khuyến khích ngành cho thuê” được ban hành vào năm 1973 và được sửa đổi liên tục do thị trường CTTC được mở rộng và đến năm 1993 được đổi tên thành “Luật kinh doanh cho thuê” Điều này thể hiện tính tự do hoá của thị trường tài chính Hàn Quốc và đến 1998 cùng với sự cơ cấu lại thị trường tài chính Luật kinh doanh cho thuê được thay thế
Trang 38bằng “Luật kinh doanh tài trợ tín dụng đặc biệt”
Hoạt động CTTC đã đóng góp rất lớn đối với nền kinh tế Hàn Quốc trong việc cung cấp khoản tài trợ vốn thay thế Trong quá trình phát triển kinh tế, CTTC đã đóng góp đáng kể cho đầu tư quốc gia vào thiết bị Chẳng hạn năm 1996, quy mô thị trường CTTC đạt 16,9 tỷ USD, chiếm 28,5% tổng đầu tư quốc gia vào thiết bị trong những năm 1990
Hỗ trợ một cách đáng kể cho các DNNVV đầu tư vào thiết bị với số tiền là 4,9
tỷ USD chiếm 52,7% tổng doanh số CTTC trong năm 1993 Theo Luật khuyến khích cho thuê thì bên cho thuê được hướng dẫn duy trì mức tối thiểu 50% tổng cho thuê dành cho DNNVV
Cũng trong Luật khuyến khích cho thuê hướng dẫn các công ty CTTC phải duy trì mức tối thiểu 40% tổng cho thuê dành cho ngành sản xuất trong nước Cũng trong năm 1993, tổng số cho thuê máy móc thiết bị, ngành sản xuất máy móc trong nước chiếm 59,1% với số tiền 5,4 tỷ USD Điều này đã nói CTTC đã đóng góp vào
sự phát triển của ngành sản xuất máy móc trong nước
Tiêu chuẩn xử lý kế toán trong CTTC được Chính phủ ban hành vào ngày 01/01/1985 và được sửa đổi vào tháng 3/1993, trường hợp giá trị hiện tại của phí cho thuê áp dụng là trên 90% giá chính thức thì có khả năng khấu hao thiết bị trong thời gian thuê Một trong những nhân tố giúp hoạt động CTTC tại Hàn Quốc thoát
ra khó khăn quản lý bằng việc tăng cường tiêu chuẩn kế toán Ngày 18/03/2005, Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán- Viện nghiên cứu kế toán Hàn Quốc công bố và thông qua bản tiêu chuẩn kế toán DN và tiêu chuẩn này cũng áp dụng đối với bản hợp đồng cho thuê Như vậy, có thể khẳng định hoạt động CTTC ở Hàn Quốc phát triển nhanh là do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, có sự tham gia của Chính phủ trong việc có định hướng về cơ cấu tài sản cho thuê, áp dụng chính sách tiền tệ chặt chẽ, hạn chế tín dụng ngân hàng đối với các tập đoàn kinh tế lớn nên những quy định thông thoáng của CTTC giúp ngành này trở nên hấp dẫn
Thứ hai, thực hiện khuyến khích đầu tư và ưu đã thuế Chính phủ chủ động hỗ
Trang 39trợ ngành công nghiệp này phát triển bằng những chính sách thuế, hạch toán khấu hao tài sản và quy định nhiều quyền có lợi cho bên cho thuê
Thứ ba, có hệ thống pháp lý điều chỉnh hoạt động CTTC và được cụ thể hoá thành luật Đồng thời quy định rõ ràng việc xử lý kế toán nghiệp vụ kế toán CTTC Thứ tư, khuyến khích phát triển các DNNVV cùng với nền kinh tế phát triển như vũ bão kéo theo nhu cầu lớn về vốn cho việc đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất
Thứ năm, khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư của người nước ngoài
1.4.3.3 Indonesia
Hoạt động CTTC ở Indonesia được hình thành và phát triển vào năm 1974 trên cơ sở một pháp lệnh liên Bộ Tài chính – Công nghiệp – Thương mại Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ năm 1974 đến năm 1988, trong thời gian này, hoạt động CTTC chưa thật sự phát triển Chỉ đến khi Tổng thống ban hành pháp lệnh số 61/1188 và pháp lệnh của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì hoạt động CTTC có một bước phát triển đáng ghi nhận Các pháp lệnh trên đã thay đổi một các đáng kể hoạt động của công ty CTTC, nó cho phép các công ty CTTC hoạt động rộng hơn Theo pháp lệnh này, một công ty CTTC có thể cung cấp cả hợp đồng CTTC và hợp đồng cho thuê vận hành Nếu công ty muốn mở rộng hoạt động tài chính khác thì có thể xin giấy phép của Bộ trưởng Bộ Tài chính để trở thành công ty tài chính hoạt động trong lĩnh vực sau: CTTC, cho thuê vận hành, đầu tư dài hạn, kinh doanh chứng khoán, mua nợ, thẻ tín dụng, tài trợ tiêu dùng
CTTC ở Indonesia đã đáp ứng một khối lượng lớn đầu tư máy móc thiết bị đáng kể cho nền kinh tế Trị giá hợp đồng cho thuê năm 1998 là 4.061.600 triệu Rupi, tăng gấp 6,2 lần năm 1986 Số lượng các công ty tài chính cũng phát triển rất nhanh chóng từ 79 công ty năm 1986 đến 100 công ty năm 1990 Thị trường CTTC phát triển được là do chính phủ có nhiều chính sách ưu đãi như: Miễn giảm thuế đối với tài sản cho thuê cả khi nhập cũng như khi bán tài sản, hệ thống tài chính và ngân hàng luôn cải cách có lợi cho công ty CTTC, điều kiện vay trung -dài hạn của ngân hàng ngặt nghèo hơn làm cho các DN khó có đủ điều kiện để được vay vốn ngân
Trang 40hàng và nếu có cho vay được thì thời hạn cho vay rất ngắn Chính vì vậy CTTC trở nên hấp dẫn với các DN
1.4.3.4 Malaysia
Ở Malaysia, hoạt động CTTC cũng được thành lập năm 1974 và phát triển nhanh chóng vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ trước Tuy nhiên, đến năm 1985-1986, với những kinh nghiệm còn yếu và sự sửa đổi các biện pháp hành chính của Chính phủ nhằm xóa bỏ những lổ hỗng về thuế và thắt chặt việc sử dụng thuật ngữ “Cho thuê” đã ảnh hưởng đến hoạt động CTTC Và đến năm 1989-1990, nền kinh tế của Malaysia phục hồi, phần lớn các khu vực kinh tế được
mở rộng, đặc biệt là khu vực công nghiệp, điều đó lại thúc đẩy hoạt động CTTC phát triển Ở Malaysia, công ty CTTC chủ yếu thực hiện các dịch vụ cho thuê thiết
bị và tiến hành cả hai hình thức CTTC và cho thuê vận hành Cho thuê vận hành có chiều hướng tăng lên: Năm 1989, CTTC chiếm 86%, cho thuê vận hành chiếm 14% trong tổng số hợp đồng cho thuê thì đến năm 1990, tỉ lệ này tương ứng là 79,3% và 20,7% Như vậy, hoạt động ở Malaysia phát triển là do có sự quan tâm của Chính phủ trong việc khuyến khích phát triển hoạt động này thông qua các chính sách thuế
và các quy định liên quan đến hoạt động CTTC Ngoài ra, các công ty CTTC đã đẩy mạnh các hoạt động của mình thông qua việc đa dạng hoá các sản phẩm và loại hình cho thuê
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1, luận văn đã nghiên cứu tổng quan về hoạt động CTTC bằng cách khái quát quá trình ra đời của CTTC và thực tiễn hoạt động CTTC trên thế giới, và tại Việt Nam Đưa ra các khái niệm, các tiêu chuẩn xác định giao dịch CTTC và ý kiến riêng của tác giả về CTTC; phân biệt CTTC với các hình thức tài trợ vốn trung dài hạn khác; thống kê một số phương thức CTTC và quan điểm phát triển hoạt động CTTC của công ty CTTC và các chỉ tiêu đánh giá Đây chính là cơ sở lý luận
để tác giả nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động CTTC của các công ty CTTC tại Chương 2