Chi phí vượt tuyến ngoại tỉnh phát sinh khi người bệnh tự đến khám chữa bệnh tại các cơ sở tuyến trên mà vấn đề sức khỏe của người đó không phải là cấp cứu, có thể khám và điều trị tại c
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TRƯƠNG ĐĂNG THỤY
Trang 3Tôi xin cam đoan chịu trách nhiệm về những lời cam đoan này là đúng sự thật
Học viên thực hiện
Nguyễn Ngọc Trúc Ly
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề : 1
1.1.1 Mục tiêu nghiên cứu : 2
1.1.2 Mục tiêu chung : 2
1.1.3 Mục tiêu cụ thể : 2
1.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.2.1 Không gian 3
1.2.2 Thời gian 3
1.2.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3 Phương pháp nghiên cứu 3
1.4 Kết cấu luận văn 3
CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
2.1 Lý thuyết liên quan 6
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan : 8
2.3 Khung nghiên cứu 13
Trang 53.2 Các định nghĩa và lựa chọn biến 17
3.2.1 Hệ thống cơ sở y tế Việt Nam 17
3.2.1.1 Mạng lưới y tế được tổ chức theo tổ chức hành chính Nhà- nước 17
3.2.1.2 Mạng lưới y tế tổ chức theo theo thành phần kinh tế 17
3.2.1.3 Mạng lưới y tế tổ chức theo các lĩnh vực hoạt động : 17
3.2.1.4 Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh : 19
3.2.1.5 Mạng lưới cung ứng dịch vụ y tế : 20
3.2.2 Hình thức điều trị 21
3.2.2.1 Điều trị nội trú được thực hiện trong các trường hợp : 21
3.2.2.2 Điều trị ngoại trú được thực hiện trong các trường hợp: 22
3.2.3 Quan hệ lao động 22
3.2.4 Vốn xã hội 22
3.2.5 Đặc điểm cá nhân : 22
3.3 Phương pháp và Dữ liệu nghiên cứu 24
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu : 24
3.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 24
CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - THỰC TRẠNG QUÁ TẢI TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ TUYẾN TRÊN VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH 26
4.1 Quá tải và các nguyên nhân 26
Trang 64.2 Mô tả mẫu nghiên cứu: 30
4.3 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của 300 người dân tại Thị Trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre 488
CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 566
5.1 Các kết quả chính và kiến nghị 566
5.2 Hạn chế và hướng nghiên cứu mới 5959 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TIẾNG VIỆT BKLN Bệnh không lây nhiễm
BHYT Bảo hiểm y tế
BHXH Bảo hiểm xã hội
DS-KHHGĐ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
WHO World Health Oganization Tổ chức y tế thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3 1 Số lượng cơ sở khám chữa bệnh tại Việt Nam……… 18
Bảng 3 2 Thông tin nguồn dữ liệu được trích lọc……… 23
Bảng 4 1 Trình độ học vấn của người dân 31
Bảng 4 2 Số người phụ thuộc của mỗi cá nhân trong nghiên cứu 33
Bảng 4 3 Tỉ lệ tôn giáo của người dân 33
Bảng 4 4 Vấn đề sức khỏe của người dân 36
Bảng 4 5 Thống kê lựa chọn cơ sở y tế 388
Bảng 4 6 Vấn đề sức khỏe và sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân 389
Bảng 4 7 Lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh theo giới tính 40
Bảng 4 8 Lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh theo giáo dục 41
Bảng 4 9 Lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh theo tuổi 42
Bảng 4 10 Lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh theo thu nhập 433
Bảng 4 11 Lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh và BHYT 444
Bảng 4 12 Lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh và quan hệ lao động 455
Bảng 4 13 Lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh với vốn xã hội 466
Bảng 4 14 Lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh với số người phụ thuộc 477
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 2 1: Khung phân tích của đề tài 13
Hình 3 1 Sơ đồ hệ thống y tế dự phòng Việt Nam 19
Hình 3 2 Sơ đồ tổ chức hệ thống cơ sở y tế Việt Nam 20
Hình 3 3 Nhu cầu KCB, mô hình chuyển tuyến và cơ cấu tổ chức KCB hiện nay ở Việt Nam 21
Hình 4 1 Xu hướng mô hình bệnh tật đo lường bằng DALY, 1990 -2010 27
Hình 4 2 Gánh nặng bệnh tật của các nhóm bệnh không lây nhiễm , 2010 27
Hình 4 3 Xu hướng cơ cấu số lượt khám chữa bệnh theo nhóm bệnh, 2010 28
Hình 4 4 Nguyên nhân tử vong trong nhóm người sử dụng dịch vụ y tế, 1986- 2010 29 Hình 4 5 Phân bố độ tuổi của người dân trong nghiên cứu 30
Hình 4 6 Tỉ lệ nam, nữ trong nghiên cứu 31
Hình 4 7 Thu nhập của người dân trong nghiên cứu 32
Hình 4 8 Quan hệ lao động và BHYT của người dân trong nghiên cứu 34
Hình 4 9 Vốn xã hội của người dân được khảo sát 35
Hình 4 10 Hình thức điều trị của người dân được khảo sát 35
Trang 10CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề :
Quá tải - hình ảnh này không còn lạ gì với ngành y tế, với người dân cả nước Những cảnh tượng người bệnh chen chúc nhau để chờ khám bệnh, có khi nhiều người phải cùng nằm trên một chiếc giường bệnh hay phải nằm cả ngoài hành lang Nhưng không phải bất kỳ cơ sở y tế nào cũng vậy Việc quá tải thường tập trung ở các bệnh viện tỉnh, bệnh viện tuyến cuối tại các thành phố, trung ương Tình trạng người bệnh vượt tuyến không những gây tốn kém cho bản thân do các chi phí y tế phải tự thanh toán kéo theo chi phí ăn ở, đi lạị mà còn dẫn đến tình trạng bội chi quỹ bảo hiểm y tế ( BHYT), cụ thể như tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có tỉnh Bến Tre (Báo cáo ủy ban thường vụ Quốc hội, 2013)
Bến Tre- là vùng đất được tạo thành từ 3 dãy cù lao chính - những khoảng đất nổi lên giữa biển, sông – đó là cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa Năm 2014, Bến Tre có tổng chi phí vượt tuyến ngoại tỉnh là 149 tỉ đồng, chiếm 29% quỹ BHYT của địa phương Chi phí vượt tuyến ngoại tỉnh phát sinh khi người bệnh tự đến khám chữa bệnh tại các cơ sở tuyến trên mà vấn đề sức khỏe của người đó không phải là cấp cứu, có thể khám và điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh ban đầu Theo nghiên cứu của Viện chiến lược và chính sách y tế, số người không qua cơ sở khám chữa bệnh ban đầu
mà đến khám tại các cơ sở tuyến tỉnh là 55.8% và ở tuyến trung ương là 66% (JAHR, 2012) Đây là một trong nhiều lý do gây quá tải tại các bệnh viện tuyến trên Cụ thể công suất sử dụng giường bệnh chung của tuyến trung ương là 118% (JAHR, 2012) Rời thành phố Bến Tre, đi về phía đông là vùng đất mũi phía biển đông của đất nước, huyện Thạnh Phú xuất hiện với những khu rừng ngập mặn hay làm cho người nông dân vất vả Thạnh Phú khó khăn vốn ít được thiên nhiên ưu đãi như các huyện còn lại trong tỉnh, con người nơi đây lại chịu tác động của biến đổi khí hậu lên sức khỏe (Đặng Ngọc Chánh, 2012) Năm 2014, tại Bệnh viện đa khoa Thạnh Phú đã có 221.829 lượt khám
Trang 11bệnh, công suất sử dụng giường chỉ đạt 90.1% Vậy khi sức khỏe có vấn đề, người dân Thạnh Phú đã lựa chọn nơi khám chữa bệnh như thế nào? Những lựa chọn của họ có góp phần trong sự quá tải tại các cơ sở y tế tuyến trên không? Những yếu tố nào làm người dân khi đối mặt với vấn đề sức khỏe đã đưa ra những lựa chọn như vậy? Và nên can thiệp vào những yếu tố nào để làm người dân tiếp cận nhiều hơn với sự chăm sóc sức khỏe ban đầu , phần nào giảm tải cho các cơ sở y tế ? Chính vì lý do đó, tác giả chọn đề tài : “ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỰA CHỌN CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA NGƯỜI DÂN TẠI THỊ TRẤN THẠNH PHÚ – BẾN TRE” làm đề tài nghiên cứu
1.1.1 Mục tiêu nghiên cứu : 1.1.2 Mục tiêu chung :
Xác định các yếu tố tác động đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
1.1.3 Mục tiêu cụ thể :
Phân tích các yếu tố giới tính, tuổi tác, thu nhập, bảo hiểm y tế, số người phụ thuộc, vốn xã hội , điều trị ngoại trú, điều trị nội trú tác động như thế nào đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
Đề xuất các biện pháp đảm bảo người dân được chăm sóc sức khỏe vừa đảm bảo giảm quá tải tại các bệnh viện
Trang 121.2 Phạm vi nghiên cứu 1.2.1 Không gian
Đề tài được thực hiện tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
1.2.2 Thời gian
Số liệu được thu thập trong khoảng thời gian từ 25/3/2015 đến ngày 20/4/2015
1.2.3 Đối tượng nghiên cứu
300 người dân từ 18 tuổi trở lên tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, hệ thống và tóm tắt những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được thực hiện trong nước cũng như ngoài nước
1.4 Kết cấu luận văn
Để nội dung của đề tài được liên tục, đảm bảo tính chặt chẽ và gúp người đọc có thể tham khảo các vấn đề và kết quả của quá trình nghiên cứu, nội dung đề tài được trình bày thành 5 chương như sau:
Trang 13Chương 1 : Giới thiệu
Chương này trình bày các nội dung tổng quát của đề tài, đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cũng như giới thiệu sơ lược về phương pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chương 2 : Cơ sở lý luận
Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, các nghiên cứu có liên quan
để từ đó xây dựng khung phân tích
Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu
Chương này sẽ trình bày các khái niệm có liên quan và lựa chọn các biến đại diện đã được nêu ở khung phân tích Trong chương này, mô hình của đề tài cũng được lựa chọn, sau đó là những trình bày về phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Chương 4 : Kết quả nghiên cứu
Trong phần đầu của chương này, nhóm nghiên cứu mô tả thực trạng quá tải của ngành y tế Sau đó tập trung mô tả bộ dữ liệu trên cơ sở xây dựng các bảng thống kê
mô tả, đưa ra một số nhận xét ban đầu về một số yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Phân tích ý nghĩa của các hệ số trong mô hình kết quả sau chạy mô hình hồi quy trên phần mềm Stata
Chương 5 : Kết luận và kiến nghị
Chương này sẽ tóm lược lại những kết quả quan trọng của đề tài và đặc biệt là
mô hình nghiên cứu Từ đó có những kiến nghị nhằm gia tăng sự chọn lựa , sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân tại cơ sở y tế tuyến địa phương, giúp giảm
Trang 14tải các cơ sở y tế tuyến trên Ngoài ra , chương này còn đánh giá những hạn chế của đề tài để từ đó mở ra những hướng nghiên cứu sâu hơn
Sau cùng, phần phụ lục được đưa vào để chứng minh cho những kết quả phân tích được trình bày trong các chương
Trang 15CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN
“Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế”(WHO,1946) Còn với
cách nhận định của các nhà kinh tế, sức khỏe là vốn quý của con người, một loại nguồn vốn rất đặc biệt, tuy có thể tăng lên khi được đầu tư nhưng chỉ ở những giai đoạn nhất định và đến một thời điểm nguồn vốn này sẽ cạn kiệt hoàn toàn và cái chết diễn ra Mỗi người tự chọn chiều dài cho cuộc sống của họ (Michael Grossman ,1999) Do đó , tác giả chọn những đặc điểm cá nhân - là giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, giáo dục, thu nhập, tôn giáo, số người phụ thuộc- làm các biến trong khảo sát – thêm vào đó là BHYT , vốn xã hội và đặc điểm bệnh, điều trị ngoại trú, điều trị nội trú Với tính chất đặc biệt đó, chăm sóc sức khỏe đã trở thành vùng đất mới của những nhà kinh tế, những người rất quan trọng vì họ vừa giúp nhân viên y tế yên tâm vào chuyên môn không bị phân tâm về kinh tế, vừa chăm lo cho sức khỏe tài chánh của cơ sở y tế bằng cách cải thiện dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và chính đáng của người bệnh
về dịch vụ y tế , về quyền lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân ( Kui-Son- Choi, 2004)
2.1 Lý thuyết liên quan
Nghiên cứu về hành vi của con người là một lĩnh vực đa ngành, bao gồm kinh tế học, tâm lý học và xã hội học, tuy phức tạp nhưng có tính ứng dụng cao trong nhiều hoạt động kinh doanh, ngoại giao Khoảng 50 năm gần đây, lĩnh vực này đã mở rộng nghiên cứu về hành vi của con người đối với việc chọn lựa trong mảng kinh tế sức khỏe Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm câu trả lời cho câu hỏi: tại sao người tiêu dùng có những lựa chọn về bảo hiểm y tế và dịch vụ y tế như vậy?
Trong đó có Daniel L McFadden, với “ Lý thuyết và phương pháp phân tích lựa chọn rời rạc” đã nhận được giải Nobel kinh tế năm 2000 Khởi nguồn từ lý thuyết kinh
Trang 16năng hữu hạn cho trước để tối đa hóa lợi ích của mình Mà lợi ích có được sau sử dụng dịch vụ y tế mà người dùng mong muốn là sức khỏe - phần quan sát được - và một phần hữu dụng không quan sát được
Với U ij : hữu dụng của cá nhân với lựa chọn cơ sở y tế j
h ij : sức khỏe của cá nhân sau khi lựa chọn cơ sở y tế j
C ij : chi phí cá nhân khác sau lựa chọn cơ sở y tế j
h 0 : sức khỏe cá nhân trước khi sử dụng dịch vụ y tế
Q ij : chất lượng dịch vụ y tế mà cá nhân i sử dụng tại cơ sở y tế j Trong đó Q khác nhau giữa mỗi cá nhân, mỗi hình thức điều trị
P i : các đặc tính cá nhân i
D j : hình thức điều trị tại cơ sở y tế j Đặc tính quan sát được của cá nhân có thể tác động đến lựa chọn cơ sở y tế có thể là giới tính, tuổi tác, tôn giáo, giáo dục, thu nhập, số người phụ thuộc, quan hệ lao động, BHYT ; Các thuộc tính không quan sát được có thể là vốn xã hội của cá nhân
Từ (2.1), (2.2), (2.3) ta có :
U ij = U (P i , D j , ε ij ) Với ε ij : hữu dụng của các yếu tố không quan sát được
Trang 17Viết lại dưới dạng tham số ước lượng , ta có
U ij = β pj P i + β D D j + ε ij , với β pj , β D là các tham số ước lượng
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan :
- Muriithi -2013, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn cơ sở y tế ở Nairobi, Kenya Dữ liệu được thu thập vào năm 2008, bằng cách thu thập các đặc điểm của cá nhân như: giới tính, tuổi, giáo dục, thu nhập, nghề nghiệp, quy mô hộ gia đình
Và thuộc tính về cơ sở y tế : khoảng cách, chất lượng và chi phí điều trị Tiến hành hồi quy Multinomial Logit (MNL) sẽ có các hệ số ước lượng khác nhau với các lựa chọn khác nhau Có năm sự lựa chọn cho biến phụ thuộc, bao gồm: tự điều trị, phòng khám
tư, phòng khám công, bệnh viện công, bệnh viện tư nhân Nghiên cứu đã đưa ra mô hình :
-V ij = V( X i , Z j , I i ) + ε ij Với X i : các đặc tính cá nhân
Z j : các đặc tính của cơ sở y tế
I i : thông tin về dịch vụ y tế Nghiên cứu này còn đưa ra sự tác động của những thông tin về chất lượng dịch
vụ y tế của cơ sở khám chữa bệnh đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe Kết quả nghiên cứu cho thấy ngoài khoảng cách, giá dịch vụ y tế còn có giới tính, thu nhập, chất lượng dịch vụ và cả thông tin về chất lượng dịch vụ đều có ảnh hưởng đến sự chọn lựa của người bệnh trong lựa chọn phương pháp điều trị
Kết quả mô hình MNL cho thấy , khoảng cách càng xa, giá dịch vụ càng tăng thì xác suất chọn tự điều trị tăng lên so với lựa chọn đến cơ sở y tế Chất lượng dịch vụ tác động đến xác suất chọn cơ sở y tế nhiều hơn là tự điều trị Sự tin tưởng vào cơ sở y tế
Trang 18càng cao thì xác suất lựa chọn các cơ sở y tế tăng so với tự điều trị Tăng thông tin về chất lượng dịch vụ sẽ làm giảm xác suất tự điều trị so với lựa chọn đến cơ sở y tế Giới tính cũng ảnh hưởng đến lựa chọn này như sau : nam giới thích hình thức tự điều trị hơn trong khi nữ giới thích chọn cơ sở y tế Người dân có giáo dục càng cao thì xác suất chọn đến cơ sở y tế càng tăng so với tự điều trị
- Audibert et al – 2011, đã tiến hành nghiên cứu về tác động của sự gia tăng thu nhập
và giá dịch vụ y tế đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh tại nông thôn Trung Quốc trong 2 khoảng thời gian 1989-1993 (giai đoạn 1) và 2004-2006 ( giai -đoạn 2) Đồng thời sử dụng hai mô hình - Multinominal Logit và Mixed Multinominal Logit (MMNL)– nghiên cứu này phân tích thông tin của 2117 người bị bệnh vào năm 1989,
1991 hoặc 1993, và 2594 người vào năm 2004 hoặc 2006 Vấn đề của nghiên cứu này
là phải có giá của tất cả các cơ sở y tế được thay thế chứ không chỉ là giá của các cơ sở khám chữa bệnh mà cá nhân lựa chọn Để xử lý vấn đề này, tác giả đã gán giá trị cho giá của các cơ sở y tế thay thế bằng chương trình Stata ICE của Royston -2004 Trong
đó các biến tuổi tác, giới tính, trình độ, nghề nghiệp, thu nhập, bảo hiểm được dùng để ước tính giá bị thiếu Nghiên cứu có mô hình sau :
V ij = α j + β 1 P ij +β 2 D ij + β 3j y i + β 4j R i + ε ij
V ij : hữu dụng của cá nhân i với lựa chọn j
P j : giá chăm sóc y tế của cơ sở y tế j
D ij : khoảng cách từ cá nhân i đến cơ sở y tế j
Y i : thu nhập bình quân của cá nhân trong hộ gia đình
R i : đặc tính cá nhân khác
Trang 19Mỗi cá nhân đối mặt với năm lựa chọn : trạm y tế xã, trung tâm y tế thị trấn, bệnh viện thành phố và trung ương, các cơ sở y tế khác hoặc tự điều trị - sẽ lựa chọn sao cho tối đa hóa lợi ích của mình
Sau khi hồi quy MMNL, kết quả cho thấy trong cả 2 giai đoạn khi giá dịch vụ y
tế tăng lên thì người dân đều có khuynh hướng giảm sự lựa chọn đến cơ sở y tế Nhưng
từ năm 2004-2006, hồi quy MNL cho kết quả biến giá không có ý nghĩa thống kê ; chỉ trong giai đoạn 1989-1993, biến giá dịch vụ y tế mới có tác động đến lựa chọn Tuổi càng cao , cá nhân có khuynh hướng chọn tự điều trị càng cao Sống càng gần thành phố, cá nhân càng chọn tự điều trị hơn là đến cơ sở y tế
- Ntembe – 2009, tiến hành khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn các nhà cung cấp dịch vụ y tế tại Cameroon tại 10 tỉnh, với 12000 hộ gia đình – trong đó phỏng vấn được 10922 hộ Đối tượng nghiên cứu là những người có bệnh và tìm kiếm cơ sở khám chữa bệnh trong 2 tuần trước phỏng vấn, đối mặt với 3 lựa chọn : cơ sở y tế công, cơ sở y tế tư nhân và tự điều trị Bằng phương pháp Multinominal Probit, dựa trên sự lựa chọn sao cho lợi ích là lớn nhất, nhóm nghiên cứu đã xây dựng mô hình từ các thông tin thu thập được như : thu nhập, tuổi tác, giới tính, quy mô gia đình
Mô hình U ij = β 1j Xi + β 1j Z j+ α 1 (-P j /Y) + α 2 [2ln(Y) (P j /Y)] + ε ij Với U ij : hữu dụng cá nhân
X i : các đặc tính cá nhân
Z j : các đặc tính của cơ sở y tế
P j : mức giá chi trả của cá nhân cho lựa chọn j Y: thu nhập
Trang 20Kết quả cho thấy ngoài sự ảnh hưởng mạnh mẽ của giá dịch vụ y tế đối với sự chọn lựa cơ sở y tế ; các đặc điểm cá nhân như thu nhập, giáo dục , giới cũng có tác động Người có thu nhập càng cao, giáo dục tăng thì khuynh hướng chọn điều trị tại các cơ sở y tế nhiều hơn là tự điều trị Tuổi tác không có tác động gì đến các lựa chọn này
- Nguyễn Thị Bích Thuận – 2008, nghiên cứu về sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh sau cải cách ở Việt Nam Bài viết này sử dụng mô hình hồi quy logistic đa thức
Sử dụng cách lấy mẫu đa tầng với tổng số mẫu bao gồm 11.089 hộ gia đình, cứ cách
18 hộ gia đình sẽ lấy 01 hộ, có được mẫu với 629 hộ Tiến hành phỏng vấn chủ hộ từ tháng 7 năm 2001 đến tháng 6 năm 2002, những người được phỏng vấn có thu nhập thấp thường có xu hướng tự điều trị -không đến các cơ sở y tế 100 % bệnh nhân trong nghiên cứu này thường được sử dụng dịch vụ tư nhân trước công lập Giáo dục của bệnh nhân ảnh hưởng tương đối đến quyết định chăm sóc sức khỏe, nếu học cao hơn thì xu hướng chọn các tự điều trị thấp lại
- Erlyana -2008, khảo sát sự ảnh hưởng của bảo hiểm đến lựa chọn cơ sở y tế của cá nhân tại Indonesia Tiến hành khai thác dữ liệu của 39000 người sống trong
10400 hộ gia đình, tại 13 tỉnh của Indonesia Những yếu tố tác động được phân tích bằng mô hình Alternative-specific conditional logit (ASCL)
Mô hình : U ij = βZ ij + α j X ij + ε ij
U ij : hữu dụng của cá nhân i với lựa chọn cơ sở y tế j
Z ij : đặc tính của các lựa chọn thay thế
X ij : đặc tính của cá nhân, hộ gia đình
Trang 21Giả định rằng, quyết định lựa chọn phụ thuộc vào hai nhóm đặc tính quan sát được và không quan sát được của các nhân, hộ gia đình và cơ sở y tế Mỗi cá nhân đối mặt với 4 lựa chọn : tự điều trị, y tá, y tế tư nhân và cơ sở y tế công
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ngoài việc khoảng cách đến cơ sở y tế gần hay xa ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của cá nhân mà giới tính, học vấn, thu nhập cũng
có tác động Khi thu nhập tăng lên thì xác suất chọn cơ sở y tế công giảm xuống Cá nhân có trình độ đại học và cao hơn thì lựa chọn cơ sở y tế tư nhân nhiều hơn Quãng đường đến cơ sở y tế và gía các dịch vụ y tế có ảnh hưởng khác nhau đến các nhóm đối tượng : những người không có BHYT và ở nông thôn, có độ nhạy cao với khoảng cách đến các cơ sở khám chữa bệnh trong khi những người không có BHYT sống ở thành thị thì nhạy cảm với giá dịch vụ y tế hơn
- Canaviri – 2007, dùng mô hình Random Parameter Logit để nghiên cứu sự lựa chọn cơ sở y tế ở Bolivia Tiến hành trong năm 1999 và 2000, các đối tượng khảo sát không trùng nhau trong 2 năm Sắp xếp các đối tượng phỏng vấn vào 3 nhóm : trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ có con dưới 12 tháng tuổi và nhóm người trưởng thành , mỗi cá nhân đối mặt với các các lựa chọn cơ sở y tế công, cơ sở y tế tư nhân và tự điều trị, mỗi
cá nhân sẽ lựa chọn sao cho tối đa hóa lợi ích của mình:
Mô hình Uij = θ j +β i X ij +υ ij
U ij : Hữu dụng của cá nhân i với lựa chọn j
X ij : Các đặc tính cá nhân và cơ sở y tế
υ ij : Các đặc tính không quan sát được Nghiên cứu này lựa chọn các đặc tính quan sát được của cá nhân và cơ sở y tế lần lượt là : giới tính, tuổi tác, giáo dục, thu nhập, giá, sự sẵn có của các dịch vụ y tế,
Trang 22khoảng cách và thời gian đi đến cơ sở y tế Những đặc tính không quan sát được như
sở thích của cá nhân, y hiệu của cơ sở y tế,…
Kết quả nghiên cứu cho thấy giá và thu nhập tác động nhiều đến sự lựa chọn cơ
sở khám chữa bệnh Cụ thể khi thu nhập tăng lên, nhóm trẻ em và phụ nữ có con dưới
12 tháng tuổi có khuynh hướng chọn cơ sở y tế tư nhân nhiều hơn so với y tế công Khi
bị bệnh, nam giới có khuynh hướng chọn đến cơ sở y tế nhiều hơn nữ giới Những cá nhân lớn tuổi trong mỗi nhóm chọn tự điều trị nhiều hơn là đến các cơ sở y tế để điều trị Giáo dục cũng tác động cùng chiều đến xác suất chọn cơ sở y tế với xác suất tự điều trị
2.3 Khung nghiên cứu
- Cơ sở khám, chữa bệnh: là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp phép hoạt động
và cung cấp dịch vụ KCB ( Luật Khám Chữa Bệnh, 2009)
Sơ đồ 2 1: Khung phân tích của đề tài
Trang 23Với mục tiêu của nghiên cứu là tìm mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc choice, từ đó tính xác xuất lựa chọn của biến choice, tuy nhiên vì các biến giải thích và biến phụ thuộc là biến định định danh nomial với nhiều hơn 2 thuộc tính, nên ta không thể dùng mô hình logit mà phải sử dụng mô hình Multinomial Logit để hồi quy Kế thừa từ kết quả các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, thu nhập là yếu tố tác động đến lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh Các yếu tố khác như giới tính, tuổi, nghề nghiệp, BHYT, khu vực sống có tác động không giống nhau giữa các nghiên cứu Nguyên nhân có thể do sự khác nhau về quốc gia, dân tộc
Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại Thị trấn Thạnh Phú - tỉnh Bến Tre, tác giả chỉ chọn các thuộc tính của cá nhân đưa vào mô hình mà không đưa các thuộc tính của cơ sở khám chữa bệnh do các thuộc tính của hệ thống cơ sở khám chữa bệnh Việt Nam chưa được chuẩn hóa hay công nhận đồng bộ, mặc dù 2 năm gần đây Bộ Y tế có ban hành Bộ tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện Việt Nam nhưng chỉ mới triển khai thí điểm tại một số địa phương như Tp.HCM, Hà Nội ( Báo cáo Bộ y tế, 2014) Mô hình trong nghiên cứu này được chọn như sau :
Trang 24CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sau khi xây dựng được khung phân tích các yếu tố có khả năng tác động đến quyết định chọn cơ sở khám chữa bệnh , tác giả tiến hành triển khai xây dựng mô hình nghiên cứu và xem xét các biến đại diện đưa vào mô hình nghiên cứu
3.1 Mô hình
Sự chọn lựa cơ sở y tế được dự đoán sẽ chịu ảnh hưởng của những đặc điểm cá nhân, hình thức điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh và các thuộc tính không quan sát được của cá nhân Biến quyết định chọn cơ sở khám chữa bệnh được xác định với các khả năng :
1 = Trạm y tế
2 = Phòng khám tư nhân
3 = Bệnh viện huyện
4 = Bệnh viện tỉnh
5 = Bệnh viện tuyến thành phố/ trung ương
Mô hình cụ thể được viết tổng quát như trong chương 2 đã đề cập, như sau :
Trang 25ε ij : hữu dụng các yếu tố không quan sát đƣợc của cá nhân i khi chọn cơ sở khám chữa bệnh j
Với mục đích tối đa lợi ích, mỗi cá nhân có năm lựa chọn : trạm y tế, phòng khám tƣ nhân, bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh, bệnh viện tuyến thành phố/ trung - ƣơng Dùng hồi quy Multinomial Logit để tiến hành phân tích sự tác động của các yếu
tố trên mô hình với sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của cá nhân
Pi j : xác suất lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh j của cá nhân i
Vi j1 : Hàm thỏa dụng của cá nhân với lựa chọn trạm y tế
Vi j2 : Hàm thỏa dụng của cá nhân với lựa chọn phòng khám tƣ nhân
Vi j3 : Hàm thỏa dụng của cá nhân với lựa chọn bệnh viện huyện
Vi j4 : Hàm thỏa dụng của cá nhân với lựa chọn bệnh viện tỉnh
Vi j5 : Hàm thỏa dụng của cá nhân với lựa chọn bệnh viện tuyến thành phố/ -trung ƣơng
Vij = β 0 + β 1 tuoi + β 2 gioi + β 3 thunhap + β 4 giaoduc + β 5 tongiao +
Trang 26+ β 6 quanhelaodong + β 7 vandesuckhoe + β 8 songuoipt + β 9 bhyt + β 10 vonxahoi +
β 11 dieutringoaitru + β 12 dieutrinoitru Phần tiếp theo tác giả sẽ trình bày một số khái niệm liên quan cũng như sẽ thảo luận về các biến số được lựa chọn để sử dụng trong mô hình
3.2 Các định nghĩa và lựa chọn biến 3.2.1 Hệ thống cơ sở y tế Việt Nam 3.2.1.1 Mạng lưới y tế được tổ chức theo tổ chức hành chính Nhà- nước
- Y tế tuyến Trung ương
- Y tế địa phương bao gồm:
+ Y tế tuyến Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương
+ Y tế tuyến cơ sở: Phòng y tế huyện, quận, thị xã; Trạm y tế xã, phường, cơ quan, trường học
3.2.1.2 Mạng lưới y tế tổ chức theo theo thành phần kinh tế
13562 cơ sở khám chữa bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng với 280700 giường
Trang 27bệnh (chưa kể các cơ sở của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các cơ sở điều dưỡng thương binh nặng do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý) Tỷ lệ giường
bệnh chung của Việt Nam là 24.96/10 000 dân ( Niên giám Tổng cục thống kê, 2013)
Nhìn chung số lượng cơ sở y tế tăng lên phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của người dân
Bảng 3 1 Số lượng cơ sở khám chữa bệnh tại Việt Nam
Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng 59 60
Trạm y tế của cơ quan, xí nghiệp 710 710
Nguồn : Niên giám Tổng cục thống kê 2013(chưa kể cơ sở tư nhân)
- Y tế dự phòng, y tế công cộng: Xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, gồm có các viện Trung ương, viện khu vực, phân viện ,trung tâm Y tế dự phòng Ngoài ra còn
có các Trung tâm y tế các ngành: công nghiệp, giao thông, xây dựng, nông nghiệp và bưu điện
Trang 28Hình 3 1 Sơ đồ hệ thống y tế dự phòng Việt Nam
- Đào tạo nhân lực y tế : Bao gồm các trường đào tạo nhân lực y tế cả nước
- Thêm vào là các lĩnh vực : giám định, kiểm định, kiểm nghiệm, dược, thiết bị y tế, giáo dục truyền thông và chính sách y tế
3.2.1.4 Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh :
- Là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
Trang 29Hình 3 2 Sơ đồ tổ chức hệ thống cơ sở y tế Việt Nam 3.2.1.5 Mạng lưới cung ứng dịch vụ y tế :
Chia làm 3 cấp bậc, Việt Nam xây dựng mạng lưới theo mô hình của quốc tế với mục đích thỏa mãn nhu cầu khám chữa bệnh của người dân trên cơ sở hệ thống có chuyển tuyến hiệu quả mà lại phù hợp với hệ thống y tế hiện nay của Việt Nam
Trang 30Hình 3 3 Nhu cầu KCB, mô hình chuyển tuyến và cơ cấu tổ chức KCB hiện nay ở Việt Nam
Nguồn : JAHR 2010
3.2.2 Hình thức điều trị 3.2.2.1 Điều trị nội trú được thực hiện trong các trường hợp :
- Có chỉ định điều trị nội trú của người hành nghề thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
- Có giấy chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác
Trang 313.2.2.2 Điều trị ngoại trú được thực hiện trong các trường hợp:
- Người bệnh không cần điều trị nội trú;
- Người bệnh sau khi đã điều trị nội trú ổn định nhưng phải theo dõi và điều trị tiếp sau khi ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
3.2.3 Quan hệ lao động
Là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương
giữa người lao động và người sử dụng lao động Trong khảo sát này, người phỏng vấn
có quan hệ lao động, tức là có hợp đồng lao động, có các ràng buộc về BHYT, BHXH thì biến quan hệ lao động sẽ bằng 1
3.2.4 Vốn xã hội
Có nhiều nghiên cứu nước ngoài mô tả khái niệm về vốn xã hội - là những mối quan hệ cá nhân trong xã hội (Yli-Renko, Autio & Sapienza, 2001), vốn xã hội kết nối với mạng lưới xã hội tương đối bền vững (Bourdieu, 1986), vốn xã hội nằm trong quan
hệ xã hội, vốn xã hội thường được hình thành từ các mối quan hệ trong gia đình, bạn
bè, hàng xóm, các tổ chức đoàn thể (Coleman, 1988) Theo quan điểm của Fukuyama (2002), vốn xã hội được cá nhân tạo ra và sử dụng để phục vụ mục đích của mình Còn Portes (1998) thì khẳng định cá nhân sử dụng vốn xã hội có thể thu được lợi ích Trong nghiên cứu này, chúng tôi muốn đề cập đến sự quen biết, người thân của các đối tượng được khảo sát làm việc trong các cơ sở khám chữa bệnh Nếu có thì biến vốn xã hội sẽ
có giá trị bằng 1
3.2.5 Đặc điểm cá nhân :
Các biến đặc điểm của người được phỏng vấn như giới tính, tôn giáo, quan hệ lao động là những biến giả chỉ mang giá trị 0 và 1 Người dân là nam thì biến giới tính
Trang 32thì biến tôn giáo mang giá trị là 1, hoặc đối tượng là người lao động có quan hệ lao động thì biến quan hệ lao động có giá trị là 1
Bảng 3 2 Thông tin nguồn dữ liệu được trích lọc
Tên biến Ý nghĩa Gioi Giới tính người được phỏng vấn,: dummy , 1= nam
Tuoi Tuổi của người được phỏng vấn
giaoduc Số năm đi học
thunhap Thu nhập bình quân hàng tháng của người được phỏng vấn (triệu
đồng/tháng)
tongiao Có theo tôn giáo ( Phật, Công giáo, Cao đài) : dummy, 1 = có
quanhelaodong Có hợp đồng lao động : dummy , 1= có
vandesuckhoe Sự bất thường về sức khỏe phải giải quyết, có thể hiểu là sự
không thoải mái của cơ thể về vật chất, tinh thần và xã hội
songuoipt Số người mà người được phỏng vấn có trách nhiệm nuôi dưỡng
bhyt Bảo hiểm y tế : dummy, 1 = có
vonxahoi Vốn xã hội : dummy, 1= có
dieutringoaitru Điều trị ngoại trú : dummy, 1 = có dieutrinoitru Điều trị nội trú : dummy, 1 = có
cosokcbluachon
Lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người được quan sát, 1 = Trạm y tế ; 2 = Phòng khám tư nhân ; 3 = Bệnh viện huyện ; 4 = Bệnh viện tỉnh ; 5 = Bệnh viện thành phố, trung ương
Trang 333.3 Phương pháp và Dữ liệu nghiên cứu 3.3.1 Phương pháp nghiên cứu :
Chúng tôi sử dụng cả phương pháp định lượng kết hợp thống kê mô tả các yếu
tố có khả năng ảnh hưởng đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân Thống kê mô tả được thực hiện trên phần mềm Excel, Stata Sử dụng hồi quy Multinomial Logit để xử lý số liệu
Phần mềm thống kê STATA (Statistical data) là một phần mềm thống kê của Statcorp, được thiết kế tạo thuận lợi cho người dùng khi sử dụng với cấu trúc của ngôn ngữ lập trình và các câu lệnh dễ nhớ, dễ thực hiện
3.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
Khảo sát được tiến hành từ 25 tháng 3 – 20 tháng 4 năm 2015 với 300 người dân được phỏng vấn ngẫu nhiên bằng bảng câu hỏi, bao gồm các thông tin :
Số năm đi học ( trình độ học vấn), giới tính, tuổi, thu nhập trung bình của cá nhân trong tháng
Số người phụ thuộc
BHYT
Có hay không có quan hệ lao động
Vốn xã hội của cá nhân ( người quen làm việc trong các cơ sở y tế) Hình thức điều trị : khám và điều trị nội trú, khám và điều trị ngoại trú
Khảo sát này sử dụng loại phiếu phỏng vấn cá nhân bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp Điều tra viên đến mỗi hộ gia đình , gặp từng người dân để phỏng vấn
Trang 34trực tiếp và ghi thông tin vào phiếu phỏng vấn Để bảo đảm tính khách quan cho nghiên cứu , cuộc khảo sát không dùng phương pháp khảo sát gián tiếp
Trang 35CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - THỰC TRẠNG QUÁ TẢI TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ TUYẾN TRÊN VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH
Mục đích của chương này là mô tả hiện thực về vấn đề quá tải của hệ thống y tế Việt Nam và mô hình bệnh tật tại Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre ; đồng thời đi sâu vào phân tích các yếu tố tác động đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
4.1 Quá tải và các nguyên nhân
Trong những năm gần đây, mô hình bệnh tật tại Việt Nam đã có sự thay đổi từ nhóm Bệnh truyền nhiễm, vấn đề sức khỏe bà mẹ, giai đoạn chu sinh và rối loạn dinh - dưỡng chiếm đa số sang nhóm Bệnh không lây nhiễm (BKLN) Các BKLN gây ra gánh nặng về bệnh tật vì tử vong sớm và chi phí lớn như bệnh tim mạch, ung bướu trong khi một số lại gây ra sự suy giảm chất lượng sống do bệnh kéo dài mà lại đau đớn, bất tiện như bệnh xương khớp, tâm thần Đây cũng là một trong những yếu tố dẫn đến sự thay đổi về tình trạng quá tải của hệ thống y tế Việt Nam
Trang 36Hình 4 1 Xu hướng mô hình bệnh tật đo lường bằng DALY, 1990 -2010
Với DALY = Số năm bị mất đi do tử vong (Years of lost life: YLL) + Số năm bị mất đi
do chất lượng sống bị suy giảm vì bệnh tật (Years lost to disability : YLD)
Hình 4 2 Gánh nặng bệnh tật của các nhóm bệnh không lây nhiễm , 2010
Trang 37Theo khảo sát của Cục quản lý khám chữa bệnh vào tháng 5/2014, hiện nay quá tải tập trung chủ yếu ở các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế - tiêu biểu như bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Phụ sản trung ương, bệnh viện Ung bướu trung ương, bệnh viện Nhi trung ương, bệnh viện Bạch Mai – và một số bệnh viện tuyến cuối của thuộc Sở Y tế Tp.HCM như bệnh viện Ung bướu, bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, bệnh viện Nhi đồng Có thể nhận thấy sự quá tải tập trung trong 5 chuyên khoa : ung bướu, tim mạch, ngoại – chấn thương, sản và nhi ( JAHR 2014) Tại các bệnh viện này , công suất sử dụng giường vẫn ở mức cao 120%, so với công suất sử dụng giường chung các tuyến là 99.2% (JAHR 2013) Không những vậy, khoa khám bệnh của các bệnh viện không ít cảnh chen chúc nhau để chờ khám khi nhu cầu là quá cao
Hình 4 3 Xu hướng cơ cấu số lượt khám chữa bệnh theo nhóm bệnh, 2010
Nguồn : Bộ Y tế, Niên giám thống kê y tế 2010
Trang 38Tuy nhiên số người tử vong do nhóm BKLN lại cao nhất trong các nhóm bệnh Khiến người dân có tâm lý xấu khi được báo tin là mắc các bệnh thuộc nhóm BKLN
Hình 4 4 Nguyên nhân tử vong trong nhóm người sử dụng dịch vụ y tế, 1986-
2010
Nguồn : Bộ Y tế, Niên giám thống kê y tế 2010
Khi kinh tế phát triển, thu nhập gia tăng giúp đời sống cá nhân được cải thiện, đi cùng với nó là các vấn đề về ô nhiễm và bệnh tật Ngay cả vấn đề thiết yếu là dinh dưỡng hàng ngày cũng trở nên đáng ngại với nhiều loại hóa chất thực phẩm không an toàn cho sức khỏe, những chế độ ăn không lành mạnh cũng làm tăng nguy cơ bị mắc các bệnh không lây nhiễm Nhất là khi thu nhập tăng, cá nhân dễ dàng chọn đến cơ sở
y tế - thậm chí là các cơ sở y tế tuyến trên, chỉ với các vấn đề sức khỏe không phải là cấp cứu, có thể xử lý tại y tế địa phương Theo ghi nhận tại bệnh viện Phụ sản trung ương, 66% số người nhập viện với chẩn đoán là những bệnh có thể xử trí ở tuyến dưới
Bỏ qua y tế ban đầu mà chọn khám chữa bệnh ở tuyến bệnh viện tỉnh là 55.8% , người bệnh còn đi thẳng đến bệnh viện đa khoa tuyến trung ương với tỉ lệ 59.4% (JAHR - 2012)
Trang 39Tại Bến Tre, chi phí vượt tuyến ngoại tỉnh năm 2014 là 149.077.764.953 đồng, một khoản chi phí không nhỏ trong nguồn quỹ BHYT của tỉnh, gây khó khăn cho việc phân phối ngân sách y tế cho các cơ sở y tế trong tỉnh Trong khi công suất sử dụng giường tại bệnh viện tỉnh đạt khoảng 110%, riêng tại Thạnh Phú, công suất sử dụng giường đạt 90.1% Số lượt khám chữa bệnh tại bệnh viện huyện Thạnh Phú là 221.829 lượt so với 2.691.571 lượt của cả tỉnh Hệ thống y tế tại Thạnh Phú bao gồm: Bệnh viện đa khoa huyện Thạnh Phú, phòng khám ĐKKV Tân Phong , 100% trạm y tế ở 17
xã và 01 thị trấn
4.2 Mô tả mẫu nghiên cứu:
Trước khi đi vào tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh, ta tìm hiểu về đặc điểm của 300 người dân được khảo sát tại Thị Trấn Thạnh Phú, Bến Tre
Về tuổi tác, những người được khảo sát có tuổi từ 18 đến 72, với độ tuổi trung bình là 39,4 tuổi
Trang 40Về giới tính thì có sự chênh lệch nhỏ với phần nhiều hơn thuộc về đối tượng là nữ với
tỉ lệ : 50,33% so với các đối tượng nam là 49,67%
Đơn vị tính : %
Hình 4 6 Tỉ lệ nam, nữ trong nghiên cứu
Nguồn : Bảng câu hỏi phỏng vấn người dân
Về giáo dục thì người dân trong khảo sát có trình độ từ cao đẳng trở lên chiếm tỉ
lệ khá cao : 52,7% Số người học từ lớp 5 trở xuống chỉ có 11% Điều này cho thấy người dân đã nhận thấy vai trò quan trọng của giáo dục trong cuộc sống, là kết quả của các chương trình phổ cập giáo dục quốc gia , của phong trào xây dựng nông thôn mới trong điều kiện kinh tế mới
Bảng 4 1 Trình độ học vấn của người dân Giáo dục Số lượng Tỉ lệ(%)
Từ lớp 5 trở xuống
Từ lớp 6 đến lớp 12 Cao đẳng, Đại học, Sau đại học
33
109
158
11 36.3 52.7