1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai

69 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Ảnh Hưởng Của Đào Tạo Nghề Nông Nghiệp Đến Thu Nhập Của Hộ Nông Dân Trên Địa Bàn Huyện Trảng Bom Tỉnh Đồng Nai
Tác giả Bùi Hoàng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoàng Bảo
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 (8)
    • 1.1. Đặt vấn đề (8)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (9)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (9)
    • 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (9)
      • 1.4.3 Thời gian nghiên cứu (10)
    • 1.5 Cấu trúc của luận văn (10)
  • CHƯƠNG 2 (12)
    • 2.1. Các khái niệm có liên quan (12)
  • CHƯƠNG 3 (19)
    • 3.1. Khung nghiên cứu (19)
      • 3.3.1 Phương pháp thống kê mô tả (21)
        • 3.3.2.1 Phương pháp hồi quy Binary Logistic (21)
        • 3.3.2.2. Phương pháp hồi quy đa biến (22)
    • 3.4. Chọn mẫu và thu thập số liệu (23)
      • 3.4.1 Dữ liệu thứ cấp (23)
        • 3.4.2.1 Chọn điểm điều tra (24)
        • 3.4.2.2 Phương pháp thu dữ liệu sơ cấp (24)
        • 3.4.2.3 Cỡ mẫu điều tra (24)
  • CHƯƠNG 4 (25)
    • 4.1. Điều kiện tự nhiên (25)
    • 4.2. Điều kiện xã hội (25)
    • 4.3. Hiện trạng đào tạo nghề nông nghiệp (26)
    • 4.4. Thu nhập (27)
  • CHƯƠNG 5 (29)
    • 5.1. Thống kê mô tả (29)
      • 5.1.1 Đặc điểm chủ hộ (29)
      • 5.1.2 Đặc điểm của hộ (30)
      • 5.1.3 Thực trạng về việc đào tạo nghề (33)
      • 5.1.4 Thực trạng về tiếp cận vốn và tham gia đoàn thể của hộ nông dân (38)
    • 5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai (40)
      • 5.2.1 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu (40)
      • 5.2.2 Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai (41)
    • 5.3 Ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ trên địa bàn huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai (44)
      • 5.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai (44)
      • 5.3.2 Kiểm định tác động của chương trình đào tạo nghề nông nghiệp đối với (46)
  • CHƯƠNG 6 (48)
    • 6.1. Kết luận (48)
    • 6.2. Gợi ý chính sách (49)
    • 6.3. Hạn chế của nghiên cứu (50)
  • PHỤ LỤC (53)

Nội dung

Tôi xin cam đoan luận văn “Phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai” là do tôi tự nghiên cứu và hoàn thành

Đặt vấn đề

Đào tạo nghề và tạo việc làm luôn là những nội dung quan trọng, không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia để hướng tới sự phát triển của nông thôn Tỉnh Đồng Nai coi công tác đào tạo nghề cho nông dân là nhiệm vụ quan trọng nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của đất nước, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, đáp ứng được những yêu cầu của sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ hội nhập Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn được quan tâm triển khai mạnh trên địa bàn

Theo Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (2015) qua 05 năm từ năm 2010 đến năm 2014, có 38.694 lao động nông thôn tham gia học nghề, tỷ lệ lao động có việc làm sau khi được học nghề đạt từ 70%, số lượng lao động nông thôn tham gia đào tạo giảm dần theo các năm (năm 2010 có 7.000 lao động, năm 2014 4.500 lao động), tỷ lệ lao động đã tham gia đào tạo chỉ chiếm 35% Tuy số lượng lao động chưa tham gia đào tạo nghề còn đông (65%) nhưng tỷ lệ tham gia đào tạo giảm dần theo từng năm

Lý do gì khiến cho 65% lao động nông thôn chưa tham gia đào tạo nghề Vì vậy để đánh giá được hiệu quả của chương trình đào tạo nghề vẫn là một câu hỏi lớn Chính sách đào tạo nghề có thật sự tác động đến thu nhập, cải thiện đời sống của người nông dân Kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy tính hiệu quả của chương trình đào tạo nghề, từ đó giúp các cơ quan nhà nước có bằng chứng khoa học để xây dựng các chương trình đào tạo nghề giúp phát triển nông thôn một cách hiệu quả Vì vậy đề tài “Phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai” được chọn là vấn đề nghiên cứu.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là đánh giá tác động của tham gia đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập nông hộ trên địa bàn huyện Trảng Bom

Với mục tiêu tổng quát trên, các mục tiêu cụ thể đặt ra :

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai

- Phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ.

Câu hỏi nghiên cứu

- Những lý do nào ảnh hưởng đến quyết định có hay không tham gia đào tạo nghề nông nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom ?

- Liệu việc tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp có ảnh hưởng của đến thu nhập của người nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom hay không ?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề và ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai Đối tượng khảo sát là các hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, mục tiêu khảo sát nhằm lấy ý kiến, thu thập thông tin làm cơ sở khoa học cho vấn đề nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài được thực hiện trong phạm vi thời gian nghiên cứu các hộ nông dân tham gia đào tạo nghề nông nghiệp từ năm 2014 đến năm 2016

Về không gian do hạn chế về nhân lực, thời gian nên chỉ nghiên cứu trên địa bàn huyện Trảng Bom và chọn 08 xã (các xã Sông Trầu, Hưng Thịnh, Tây Hòa, Thanh Bình, Trung Hòa, Cây Gáo, Đồi 61, Sông Thao) để nghiên cứu Huyện Trảng Bom là huyện có tiềm năng phát triển cả nông nghiệp và công nghiệp, có điều kiện tương đồng với tỉnh Đồng Nai nên phù hợp với nghiên cứu và những kiến nghị đề xuất có thể suy rộng và áp dụng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Số liệu sơ cấp được thu thập bằng việc phỏng vấn trực tiếp các nông hộ trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Cuộc điều tra được thực hiện từ tháng 03/2017 đến tháng 06/2017

Số liệu thứ cấp được lấy trong 3 năm, từ năm 2014 - 2016, thông qua các báo cáo của các cơ quan ban ngành có liên quan.Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu từ tháng 12/2016 đến tháng 10/2017, kể cả thời gian tổng hợp và xử lý số liệu được thu thập.

Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm 5 chương và phần kết luận:

Chương 1 - Mở đầu: Giới thiệu về sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu Bên cạnh đó là các nội dung về phạm vi nghiên cứu và đối tượng của đề tài nghiên cứu

Chương 2 - Cơ sở lý thuyết: Chương này trình bày các lý thuyết có liên quan đến đào tạo nghề và mối quan hệ đào tạo và thu nhập Đồng thời, chương này trình bày các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây có liên quan đến vấn đề đào tạo nghề Từ đó, thừa kế và phát triển dựa trên nền tảng của các nghiên cứu trước

Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Trình bày khung nghiên cứu, phương pháp phân tích và mô tả phương pháp chọn mẫu khảo sát

Chương 4 - Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu; Phân tích thực trạng đào tạo nghề trên địa bàn nghiên cứu; Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai; Phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ; Thảo luận kết quả nghiên cứu

Chương 5 - Kết luận và gợi ý chính sách: Tóm tắt lại các kết quả đạt được trong nghiên cứu, những hạn chế của đề tài, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo; Khuyến nghị một số gợi ý chính sách nhằm giúp cơ quan quản lý Nhà nước nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp.

Các khái niệm có liên quan

Giáo trình Kinh tế lao động, trường Đại học Kinh tế quốc dân (2002), nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động xã hội, là toàn bộ kiến thức kỹ năng và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả công việc chuyên môn Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả

Dạy nghề (theo Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2013) là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp Dạy nghề có ba trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề Dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên Để tổ chức dạy nghề Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Quyết định 971/QĐ-TTg ngày 01/7/2015 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Để cụ thể hóa các chính sách trên cho phù hợp với địa bàn tỉnh Đồng Nai, UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 2577/QĐ-UBND ngày 29/09/2010; Quyết định 1418/QĐ-UBND ngày 16/5/2016 phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” tỉnh Đồng Nai với mục tiêu nâng cao chất lượng hiệu quả trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Đồng Nai đến năm 2020

Các lĩnh vực đào tạo nghề nông nghiệp gồm: Trồng trọt (các loại cây); kỹ thuật trồng nấm; kỹ thuật chăn nuôi gia cầm, gia súc, nuôi thủy sản, chế biến nông, lâm - thủy sản; quản lý trang trại (hợp tác xã, tổ hợp tác); kỹ thuật chăm sóc cây Phương thức đào tạo là đào tạo tập trung tại địa bàn dân cư ấp, xã; kèm cặp trực tiếp tại các mô hình thực tế sản xuất nông nghiệp, tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp; tại các cơ sở đào tạo tùy theo chương trình đào tạo đặc thù của từng nghề; đồng thời tạo điều kiện và khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo và cam kết sử dụng lao động sau tốt nghiệp, quy mô của một lớp học nghề tối đa không quá 35 người/lớp Trình độ đào tạo: Thường xuyên (dưới 03 tháng), sơ cấp (3 tháng)

Theo Tổng cục thống kê (2010), Thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm, bao gồm: Thu nhập từ tiền công, tiền lương; Thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); Thu nhập từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); Thu khác được tính vào thu nhập ( không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì nông hộ là gia đình nông dân ở nông thôn, sinh sống bằng nghề nông hoặc một số ngành nghề phụ khác Nông hộ là đơn vị sản xuất quan trọng đối với nông nghiệp Liên hợp quốc (1993) khái niệm về “Hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, làm chung và có chung một ngân quỹ Như vậy, nông hộ là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, nông hộ còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp

(như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ…) ở các mức độ khác nhau

2.2 Các lý thuyết có liên quan

Mincer (1974) cho rằng vốn con người phải đầu tư qua tích lũy thông qua giáo dục, rèn luyện trong lao động và mang lại cho người sở hữu một khoản thu nhập Mức vốn con người tích lũy nhiều hay ít tương ướng với năng lực, lượng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của mỗi người nhận được trong quá trình đào tạo, rèn luyện

Nó thể hiện qua số năm đi học và số năm làm việc

Becker (1993) đã khẳng định không có đầu tư nào mang lại hiệu quả lớn như đầu tư vào con người, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục và đào tạo Bất kỳ hoạt động nào làm tăng năng suất lao động đều được xem là đầu tư cho vốn con người Về mặt lợi ích cá nhân người lao động có trình độ học vấn và nghề nghiệp cao hơn có thu nhập cao hơn, người có kinh nghiệp, thâm niên công tác cao hơn có mức thu nhập cao hơn

Borjas (2005) cho rằng, người lao động quyết định học ngành nghề gì và đến mức nào giống như đưa ra quyết định đầu tư gắn với lý thuyết cơ bản trong kinh tế học Quyết định đầu tư vào giáo dục cũng như đầu tư vào vốn hữu hình, khi đó người ta xem xét những dòng thu nhập quy về giá trị hiện tại ròng giữa các phương án khác nhau, đi học nghề hay không đi và lựa chọn các ngành nghề với nhau Phương án đi học sẽ được lựa chọn khi nó đem lại dòng thu nhập cao nhất có thể

Nguyễn Bá Ngọc (2008) cho rằng khi đi học chúng ta phải trả mức phí trước mắt và thu lợi từ các dòng thu nhập cao hơn trong tương lai Giả sử bạn đang gửi khoản tiền “P” trong ngân hàng và nhận một mức lãi suất “r”, đến năm thứ n thì giá trị tương lai “V” của khoản tiền nay là: V = P*(1+r) n Với một người đi học 4 năm, anh ta có chi phí cho 4 năm học (C0,C1,C2,C3) mức thu nhập dự kiến trong tương lai là ∆𝑊 và số năm làm việc trước khi về hưu là “T” thì có thể tính được giá trị hiện tại của tấm bằng là:

Như vậy về mặt lý thuyết, người đó chỉ nên đi học khi giá trị hiện P(v) >0 Hình 1 Quyết định đi học

Nguồn: Harvey B.King, 2006 Đường (1): thể hiện dòng thu nhập khi tốt nghiệp đại học (giả định sinh viên tốt nghiệp đại học phải mất một vài năm mới có thể đuổi theo kịp kinh nghiệm làm việc của những người chỉ tốt nghiệp trung học đã đi làm trước đó) Đường (2): thể hiện dòng thu nhập khi tốt nghiệm phổ thông trung học

Vùng (I): chi phí cho sách vở, đồ dùng học tập, học phí và những khoản chi phí khác không phải là chi phí sinh hoạt

Vùng (II): phần thu nhập bị mất nhìn thấy (do không đi làm và dành thời gian đi học), đây chính là chi phí cơ hội của thời gian bỏ ra đi học

Vùng (III): thu nhập có được với tấm bằng đại học

Người đó nên đi học khi: giá trị hiện tại của vùng (III) > giá trị hiện tại của vùng (I) + vùng (II)

Như vậy, giáo dục đào tạo làm tăng thu nhập cho người lao động và giúp cải thiện triển vọng nghề nghiệp của họ theo 3 hướng tác động sau:

- Tích lũy vốn con người mới (kiến thức, kỹ năng và phẩm chất);

- Chứng thực năng lực của người lao động ở một trình độ nhất định;

Thu nhập, chi tiêu Đại học (1)

- Tích lũy vốn kiến thức để họ có thể tìm được công việc thích hợp hơn

2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan

Theo Becker (1976), nghiên cứu ở 21 quốc gia trong những năm từ 1991-2005 đã khẳng định: Học là một quyết định đầu tư tối ưu hóa, qua việc học sẽ làm tăng năng suất lao động của các cá nhân và người lao động có tay nghề cao hơn sẽ được trả lương cao hơn nếu thị trường lao động là hoàn hảo và lao động được trả lương theo giá trị biên của nó Kết quả chạy hồi quy, đã nhận định IRR (suất sinh lợi) tăng lên rõ rệt ở Ireland, Bồ Đào Nha và Canađa

Theo Mincer (1974), thực hiện phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu, trong đó sử dụng logarit tự nhiên của thu nhập làm biến phụ thuộc và số năm đi học, số năm kinh nghiệm và bình phương của nó là biến độc lập Thông qua giả định các cá nhân không khác nhau về năng lực bẩm sinh, hệ số ước lượng số năm đi học cho ta biết phần trăm gia tăng của tiền lương khi thời gian đi học tăng lên một năm

Dumas va Hance (2010) đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo nghề được hỗ trợ bởi chính phủ Marốc lên kết quả của các công ty Các chương trình đào tạo việc làm làm tăng khả năng cạnh tranh và hiệu suất của các công ty Nghiên cứu cũng chỉ ra các công ty có nhận thức khác nhau về vai trò của chính sách đào tạo của nhà nước Hiệu quả đào tạo cao hơn đối với các công ty xem đào tạo là một phần của chiến lược phát triển nguồn nhân lực và ngược lại các công ty xem chương trình hỗ trợ của chính phủ như là một cơ hội tài chính thì không đạt được kết quả

Theo Johnson, E., and Gregory C Chow* (1997) đã sử dụng bộ dữ liệu thu thập thông tin từ 51.352 cá nhân và 10.258 hộ gia đình nông thôn và 31.827 cá nhân và 9.009 hộ gia đình ở thành thị của Trung Quốc, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ lợi nhuận mỗi năm để đi học ở Trung quốc (4,02% ở vùng nông thôn và 3,99% ở các đô thị), và cũng chỉ ra rằng tỷ lệ lợi nhuận để đi học cho người có thu nhập ở khu vực nông thôn cao hơn so với thành thị; tỷ lệ lợi nhuận để đi học cho phụ nữ cao hơn đáng kể đối với nam ở các đô thị

Khung nghiên cứu

dựa theo các bước được thiết kế ở Hình 3.1 sau đây

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Từ những nhận định được rút ra dựa trên các nghiên cứu có liên quan về khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ, các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập Hai mô hình nghiên cứu trong luận văn này được được đề xuất như sau: a) Các nhân tố ảnh hưởng đến tham giađào tạo nghề nông nghiệp b) Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ

3.3 Phương pháp phân tích Để thực hiện các mục tiêu đề ra, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp đồ thị để phân tích thực trạng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, mô tả mẫu khảo sát Bên cạnh đó, để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai và phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến

- Am hiểu về chương trình đào tạo

- Nhận thức được lợi ích từ đào tạo

Khả năngtham gia đào tạo nghề nông nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom

- Tổng tiết kiệm của hộ/tháng

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ trên địa bàn huyện Trảng Bom thu nhập của nông hộ, đề tài sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic và hồi quy đa biến và hàm kiểm định

3.3.1 Phương pháp thống kê mô tả

Các phương pháp thống kê được sử dụng trong đề tài như: tần suất, tỷ lệ, trung bình, độ lệch chuẩn kết hợp với phân tích bảng chéo

Phương pháp phân tích thống kê mô tả là các phương pháp có liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu Các đại lượng thường được dùng mô tả như: trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn

Phân tích tần số nhằm mô tả và tìm hiểu về đặc tính phân phối của một mẫu số liệu thô thông qua bảng phân phối tần số Bảng phân phối tần số là bảng tóm tắt các dữ liệu được sắp xếp các dữ liệu theo một thứ tự nào đó, tăng dần hoặc giảm dần theo tần số và phần trăm

3.3.2 Phương pháp hồi quy Binary Logistic và hồi quy đa biến

3.3.2.1 Phương pháp hồi quy Binary Logistic

Hồi quy Binary Logistic được dùng để xem xét mối liên hệ tuyến tính giữa nhiều biến độc lập và một biến phụ thuộc Trong đó, biến phụ thuộc là biến nhị phân.Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Binary logistic để ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai

Trong đó: Y là biến phụ thuộc, thể hiện học nghề của người lao động, là một biến nhị phân, nhận giá trị 1 nếu lao động học nghề và nhận giá trị 0 nếu người lao động không học nghề.Các biến: Trình độ học vấn, Giới tính chủ hộ, Tuổi chủ hộ, Nghề nghiệp, Sức khỏe, Tiếp cận vốn vay, Am hiểu về chương trình đào tạo, Nhận u X

10 thức được lợi ích từ chương trình đào tạo là các biến độc lập (biến giải thích) trong mô hình

Bảng 3.1: Diễn giải biến trong mô hình Binary Logistic

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, 2017

3.3.2.2 Phương pháp hồi quy đa biến

Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy đa biến để xác định mối liên hệ giữa các yếu tố đến thu nhập của nông hộ

Biến phụ thuộc (thu nhập), là biến thể hiện thu nhập thực của hộ gia đình

Các biến độc lập đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm các đặc điểm kinh tế xã hội của hộ như: trình độ học vấn (hocvan), tuổi của chủ hộ (Tuoi), số nhân khẩu của hộ (sonhankhau), nghề nghiệp của hộ (nnghiep), tiết kiệm của hộ/tháng (tietkiem), tình trạng sức khỏe của hộ (skhoe) và biến tham gia đào tạo (thamgiadaotao)

Tên biến Diễn giải Kỳ vọng

Thamgiadaotao Tham gia đào tạo (có = 1, không = 0) + hocvan Trình độ học vấn (số năm đi học) + gioitinh Giới tính chủ hộ (nam =1, nữ =0) + tuoi Tuổi chủ hộ (số tuổi) + nnghiep Nghề nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi = 1, Khác = 0) + skhoe Sức khỏe (tốt = 1, không tốt = 0) ? tiepcanvon Tiếp cận vốn vay (có vay = 1, không vay = 0) ? amhieu Am hiểu về chương trình đào tạo (có = 1, không = 0) + Loiich Nhận thức được lợi ích từ chương trình đào tạo (có = 1, không = 0) + i ki k i i i X X X

Bảng 3.2: Diễn giải biến trong mô hình hồi quy đa biến

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, 2017

Chọn mẫu và thu thập số liệu

Kích thước mẫu điều tra 160 hộ gia đình trên địa bàn huyện Chọn 08 xã /16 xã (các xã Sông Trầu, Hưng Thịnh, Tây Hòa, Thanh Bình, Trung Hòa, Cây Gáo, Đồi

61, Sông Thao) , diện tích chiếm 59,8%, dân số chiếm 39,8% và đại diện cho sản xuất nông nghiệp của huyện Sử dụng phương pháp phỏng vấn, khảo sát trực tiếp các nông dân trên địa bàn các xã Tổng số hộ phỏng vấn là 160 hộ/14.247 hộ (1,12% tổng số hộ nông dân trên địa bàn huyện

Dữ liệu thứ cấp bao gồm kết quả các nghiên cứu liên quan đến đề tài; số liệu thống kê về đào tạo nghề giai đoạn 2014 - 2016; tình hình phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2015 - 2016 và quy hoạch, định hướng phát triển kinh tế của huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đến năm 2025

Dữ liệu thứ cấp được thu thập qua sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; Niên giám thống kê, các báo cáo của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND huyện, Phòng Kinh tế huyện huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Tên biến Diễn giải Kỳ vọng hocvan Trình độ học vấn (số năm đi học) + tuoi Tuổi chủ hộ (số tuổi) + sonhankhau Số người trong gia đình + nnghiep Nghề nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi = 1, Khác = 0) +

Tietkiem Số tiền tiết kiệm hàng tháng hộ ? skhoe Sức khỏe (tốt = 1, không tốt = 0) ? thamgiadaotao Tham gia đào tạo (có = 1, không = 0) +

3.4.2 Dữ liệu sơ cấp 3.4.2.1 Chọn điểm điều tra Đề tài chọn ra 08 xã mang tính đặc trưng nông thôn, tập trung chủ yếu sản xuất nông nghiệp của huyện là 08 xã để nghiên cứu (xã Sông Trầu, Hưng Thịnh, Tây Hòa, Thanh Bình, Trung Hòa, Cây Gáo, Đồi 61, Sông Thao) Các xã này có diện tích chiếm 59,8%, dân số chiếm 39,8% và đại diện cho tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện

3.4.2.2 Phương pháp thu dữ liệu sơ cấp

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp nông hộ bằng bảng câu hỏi được thiết kế sẵn Điều tra viên đến nhà và phỏng vấn trực tiếp chủ hộ hoặc người đại diện của hộ gia đình Nội dung Bảng câu hỏi phỏng vấn các thông tin như: Giới thiệu mục đích của cuộc phỏng vấn, yêu cầu phỏng vấn và cam kết bảo mật thông tin của cuộc phỏng vấn

Kích thước mẫu điều tra 160 nông hộ Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nghiên, các hộ được chọn khảo sát dựa theo danh sách tên hộ gia đình được thống kê ở UBND xã Chọn hộ khảo sát theo bước nhảy 1:20, tức là khảo sát 1 hộ bỏ

20 hộ và khảo sát tiếp, cứ thực hiện như thế cho đến khi đảm bảo đủ kích cỡ mẫu phục vụ nghiên cứu.

Điều kiện tự nhiên

Huyện Trảng Bom có một vị trí địa lý khá thuận lợi, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với các điểm mạnh đáng kể về thị trường, tiềm lực về vốn, khoa học công nghệ và hệ thống cơ sở hạ tầng Dân số đông, nguồn lao động chiếm trên 66,3% dân số Huyện Trảng Bom được hình thành từ việc chia tách huyện Thống Nhất (cũ) theo Nghị định 97/2003/NĐ.CP của Chính phủ Huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 32.541 ha, chiếm 5,52% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh Huyện nằm trong vùng địa hình đồi thấp, thoải; cao độ thấp dần từ Bắc xuống Nam Địa hình của huyện có thể chia thành ba khu vực: (1) khu vực có địa hình thấp nằm ở phía Nam và ven Quốc lộ 1A; (2) khu vực địa hình cao nằm ở phía Bắc của huyện; (3) khu vực có địa hình trung bình nằm ở phía Bắc của Quốc lộ 1A

Ranh giới hành chính huyện Trảng Bom, được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu

- Phía Nam giáp huyện Long Thành

- Phía Tây giáp TP Biên Hòa

- Phía Đông giáp huyện Thống Nhất

Huyện có 17 đơn vị hành chính, bao gồm: 16 xã và 1 thị trấn; dân số 72.727 hộ, 295.703 nhân khẩu; đồng bào có đạo chiếm 63,4% dân số, trong đó: đạo Công giáo chiếm 52,65%, Phật giáo chiếm 10,14%, Tin lành chiếm 0,33%.

Điều kiện xã hội

Huyện Trảng Bom có 04 khu công nghiệp (KCN) tập trung là: Hố Nai 3, Sông Mây, Giang Điền và Bàu Xéo Tính đến nay, đã có 168 dự án đầu tư vào các KCN trên địa bàn huyện, với tổng số vốn đầu tư đạt 2,031 tỷ USD Ngoài các KCN, huyện còn mở thêm 04 cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở Hố Nai 3, Hưng Thịnh, Thanh Bình và An Viễn với quy mô bình quân 35- 50 hecta/cụm, trong đó cụm công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Hố Nai 3 (50 hecta) đã đăng ký lấp đầy 100% diện tích

+ Lực lượng lao động tham gia vào lĩnh vực công nghiệp – TTCN đến nay đạt trên 100.000 lao động, cơ cấu lao động công nghiệp 61,7%, tăng 1,4% so năm 2011 Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt mức tăng trưởng bình quân 15%/năm giai đoạn 2011-2015 Trong đó: Công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng bình quân 15%/năm; Công nghiệp địa phương tăng bình quân 15,1%/năm Công nghiệp địa phương từng bước tăng dần tỷ trọng, chiếm tỷ trọng 9,4% Các ngành sản xuất thủ công mỹ nghệ, chế biến gỗ, cơ khí, chế biến nông sản, thực phẩm, dệt may, ngành nguyên liệu giấy, sản xuất gạch nung phát triển mạnh

+ Toàn huyện có khoảng 520 doanh nghiệp thương mại và dịch vụ; 15.600 hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động trên địa bàn Giá trị sản xuất ngành dịch vụ đạt mức tăng trưởng bình quân 16,4%/năm giai đoạn năm (2011-2015) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng bình quân 18,7%/năm Trong đó: Kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng 95,9%; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng 0,74%

+ Thị trường hàng hoá trên địa bàn huyện rất phong phú và đa dạng đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân Hiện trên địa bàn huyện có 13/24 chợ theo qui hoạch đã được đầu tư đạt chuẩn, trong đó có 5 chợ loại 2 và 8 chợ loại 3 cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu mua sắm của nhân dân

+ Hoạt động du lịch: Các khu du lịch sân Golf, thác Giang Điền, thác đá hàn…trên địa bàn diễn ra sôi nổi vào các thời điểm trong những dịp lễ 30/4, 1/5; tết nguyên đán, lễ quốc khánh 2/9…thu hút hơn 350.000 lượt du khách đến tham quan, vui chơi giải trí hàng năm.

Hiện trạng đào tạo nghề nông nghiệp

Trong giai đoạn 2010-2016 huyện Trảng Bom đã tổ chức dạy nghề nông nghiệp cho 1.096 người Phân theo nhóm đối tượng được hỗ trợ:

+ Nhóm laođộng diện chính sách: Có 364 người

+ Nhóm lao động khác: Có 732 người

- Số người tốt nghiệp các khóa đào tạo: 1.054 người, trong số người tốt nghiệp sau khoá học có việc làm là 1.047 người, chiếm tỷ lệ 99,3%.Trong đó:

+ Tự giải quyết việc làm (tạo việc làm mới) :107 người, chiếm 25,92% + Làm việc tại cơ sở sản xuất và doanh nghiệp: 25 người, chiếm 18,76% + Làm tại hộ gia đình (nâng cao thu nhập): 915 người, chiếm 52,08%

- Số người thuộc hộ nghèo, sau học nghề có việc làm, thu nhập đã thoát nghèo là 6 người

- Số người thuộc hộ thu nhập trung bình, sau học nghề trở thành hộ có thu nhập khá là 8 người

- Tỷ lệ người làm việc trên dân số trong độ tuổi lao động đạt 96,1% (196.622/204.612) Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 46,86% Thời gian sử dụng lao động khu vực nông thôn đạt > 96,7%.

Thu nhập

- Tốc độ tăng GRDP của huyện giai đoạn 2011-2015 bình quân đạt 13,1%/năm; Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng và phát triển toàn diện, đến nay tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 68,94%, dịch vụ 25,23%, nông nghiệp 5,83% Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 52,5 triệu đồng/người/năm

Về trồng trọt: Huyện Trảng Bom đã đẩy mạnh công tác quy hoạch, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, sử dụng các giống mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và từng bước hình thành và phát triển 13 vùng sản xuất tập trung trên địa bàn của 16 xã, với 8 đối tượng cây trồng chính là tiêu, cà phê, điều, chuối, mía, lúa, bắp, mỳ với tổng diện tích là 12.717ha Diện tích đất nông nghiệp mặc dù bị giảm (mỗi năm giảm từ 150-200 ha) do chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệpphục vụ phát triển công nghiệp-dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng; nhưng giá trị sản xuất vẫn duy trì mức tăng trưởng bình quân hàng năm đạt trên 3,9%/năm Giá trị bình quân thu nhập

01 hađất (trồng trọt và nuôi trồng thủy sản) đạt 110,6triệu đồng, tăng 39,5triệu đồng/ha so với năm 2011 (năm 2011 là 71,1 triệu đồng/ha), cá biệt có nhiều diện tích giá trị thu nhập từ 500- 800 triệu đồng/ha/năm Huyện đã triển khai mô hình chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, như dự án xây dựng cánh đồng lớn liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm cây điều tại xã An Viễn; mô hình cánh đồng lúa chất lượng cao tại xã Sông Thao góp phần giải quyết đầu ra cho sản phẩm, giải quyết việc làm cho địa phương, tăng thêm thu nhập cho người dân

Về chăn nuôi: Với lợi thế có nguồn nguyên liệu dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn, Huyện đang từng bước tái cơ cấu ngành theo hướng chuyển chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi trang trại Đồng thời, duy trì chăn nuôi theo quy mô nông hộ nhưng theo hình thức công nghiệp và ứng dụng công nghệ cao Bên cạnh đó, khuyến khích các tổ chức sản xuất khép kín, liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị để cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng Đến nay trên địa bàn huyện có 483 trang trại, tăng 105 trang trại so với năm 2011; quy mô tổng đàn: Trâu, bò 4.358 con, heo 264.337 con, gia cầm 3.014.327 con.

Thống kê mô tả

Qua nghiên cứu những thông tin liên quan đến chủ hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai như giới tính chủ hộ, tuổi và trình độ học vấn được thể hiện quả hình 5.1 và bảng 5.1 dưới đây:

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Hình 5.1 Đặc điểm giới tính của chủ hộ trong mẫu khảo sát

Kết quả từ hình 5.1 cho thấy, giới tính của chủ hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai được khảo sát với tỷ lệ nam chiếm nhiều hơn nữ Cụ thể, trong 160 hộ được khảo sát thì chủ hộ là nam có đến 126 người, chiếm tỷ lệ là 78,75%

; với nữ chủ hộ là 34 người, chiếm tỷ lệ là 21,25%

Các thông tin về tuổi và trình độ học vấn của chủ hộ nông dân được khảo sát trên địa bàn huyện Trảng Bom, được thể hiện qua bảng 5.1 sau:

Bảng 5.1: Tuổi và trình độ học vấn của chủ hộ nông dân

Chỉ tiêu Quan sát Trung bình Độ lệch chuẩn Nhỏ nhất Lớn nhất

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Bảng 5.1 cho thấy, tuổi chủ hộ nông dân được khảo sát là tương đối thấp, cụ thể mức tuổi nhỏ nhất là 25 tuổi; lớn nhất là 65 tuổi; với mức trung bình là 42,73 tuổi và có độ lệch chuẩn khá thấp là 9,51 Điều này chứng tỏ, tuổi chủ hộ nông dân có sự phân bổ đều nhau và tương đối thấp Bên cạnh đó, trình độ học vấn của chủ hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai được khảo sát như sau: chủ hộ có trình độ thấp nhất hay số năm đi học ít nhất là 1 năm, nhiều nhất 12 năm, với mức trung bình là 8,12 và có độ lệch chuẩn khá thấp là 2,80 Như vậy, trình độ của các chủ hộ nông dân được khảo sát tương đối thấp và có sự phân đều nhau giữa các hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom

Những thông tin sau đây mô tả đặc điểm của các hộ nông dân được khảo sát tại huyện Trảng Bom như: số thành viên trong hộ, tổng tài sản của hộ, diện tích sản xuất của hộ được thể hiện qua bảng 5.2 sau đây

Bảng 5.2: Mô tả đặc điểm của hộ

Trung bình Độ lệch chuẩn

Diện tích đất sản xuất

Tài sản (Triệu đồng) 160 211,50 131,66 85 972 Thu nhập (Triệu đồng/tháng) 160 9,67 2,47 5,00 18,00

Chi tiêu (Triệu đồng/tháng) 160 5,82 1,26 3,60 9,90

Tiết kiệm (Triệu đồng/tháng) 160 3,53 2,39 0 16,20

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Kết quả từ Bảng 5.2 cho thấy, số thành viên trong gia đình của các hộ nông dân như sau: hộ có số thành viên ít nhất là 1 người, nhiều nhất là 12 người, với mức trung bình là 4,05 người và có độ lệch chuẩn thấp là 1,56 Điều này cho thấy, số lượng thành viên trong gia đình của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom là không nhiều và phân bổ đều nhau giữa các hộ Đồng thời, tổng diện đất sản xuất của các hộ như sau: hộ có diện tích đất nhỏ nhất là 110 m 2 ; hộ có diện tích nhiều nhất là 50.000 m 2 ; trung bình là 4.529 m 2 và có độ lệch chuẩn rất cao là 8.032 Điều đó cho thấy, diện tích đất sản xuất của các hộ nông dân là không đều nhau và tương đối thấp Bên cạnh đó, tổng giá trị tài sản của hộ tương đối nhiều, cụ thể hộ có giá trị tài sản thấp nhất là 85 triệu đồng; nhiều nhất là 972 triệu đồng; với mức giá trị tài sản trung bình là 211,50 triệu đồng và có độ lệch chuẩn thấp là 131,66 Từ đó cho thấy, giá trị tài sản có sự phân bổ đều nhau giữa các hộ nông dân Như vậy, các hộ có diện tích đất sản xuất thấp nhưng có giá trị tài sản lớn có thể do tài sản được hình thành từ những nguồn khác ngoài đất sản xuất hay có thể là những loại tài sản có giá trị lớn khác

Bên cạnh đó, thu nhập của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom tương đối cao, cụ thể hộ có thu nhập thấp nhất là 5 triệu đồng/tháng; hộ có thu nhập cao nhất là 18 triệu đồng/tháng; với mức trung bình là 9,67 triệu đồng/tháng và có độ lệch chuẩn thấp so với mức trung bình là 9,57 Như vậy, thu nhập của các hộ nông dân tương đối cao và phân bổ đều nhau giữa các hộ Thu nhập của các hộ cao, nguyên nhân có thể do có nhiều nguồn thu nhập khác nhau như tiền lương tiền công của các thành viên trong hộ, thu nhập từ nguồn sản xuất nông nghiệp,….vì vậy, thu nhập của các hộ ảnh hưởng đến việc hình thành giá trị tài sản của các hộ cao, đó là hoàn toàn phù hợp với thực tế

Mặt khác, việc chi tiêu của các hộ nông dân như sau: hộ có mức chi tiêu thấp nhất là 3,60 triệu đồng/tháng; hộ chi tiêu nhiều nhất là 9,90 triệu đồng/tháng; chi tiêu trung bình là 5,82 triệu đồng/tháng và có độ lệch chuẩn thấp là 1,26 Chứng tỏ việc chi tiêu giữa các hộ tương đối đều nhau và tương đối nhiều Điều này hoàn toàn có thể, do phần lớn các hộ nông dân được khảo sát có thu nhập cao nên mức chi tiêu trên đối với mỗi hộ là không có vấn đề Bên cạnh đó, ngoài việc chi tiêu các hộ nông dân có một khoảng tiết kiệm để tích lũy cho hộ nhưng không nhiều Cụ thể, số tiền tiết kiệm của các hộ nông dân như sau hộ có số tiền tiết kiệm ít nhất là 0 triệu đồng/tháng, nhiều nhất là 16,20 triệu đồng/tháng; với số tiền tiết kiệm trung bình là 3,53 triệu đồng/tháng và có độ lệch chuẩn thấp là 2,39 Điều này chứng tỏ, số tiền tiết kiệm của các hộ nông dân không nhiều nhưng khá đều nhau Nguyên nhân dẫn đến tiết kiệm ít là do các hộ chuyển về tài sản khi có thu nhập hoặc có thể do mức chi tiêu tương đối lớn

Những thông tin về nghề nghiệp của hộ tham gia sản xuất kinh doanh tạo nguồn thu nhập cho hộ tại huyện Trảng Bom, thể hiện qua hình 5.2 sau

Hình 5.2: Nghề nghiệp của hộ nông dân

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Kết quả từ hình 5.2 cho thấy, ngành nghề của các hộ nông dân tham gia sản xuất kinh doanh như sau: có 74 hộ với ngành nghề là trồng trọt, chiếm tỷ lệ là 46,25%; ngành nghề chăn nuôi có 62 hộ và chiếm tỷ lệ 38,75%; có 23 hộ với ngành nghề tự kinh doanh chiếm tỷ lệ là 14,38% và chỉ có 1 hộ với công việc là làm công ăn lương với tỷ lệ là 0,63% Như vậy, các hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom với các ngành nghề chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi tạo nguồn thu nhập chủ yếu cho gia đình Mặt khác, tỷ lệ hộ với công việc làm công ăn lương là thấp nhất Nguyên nhân có thể do điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội của địa phương, phù hợp với những ngành nghề mà các hộ nông dân đang theo làm Bên cạnh đó, các hộ nông dân tham gia những ngành nghề đó có thể làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình, góp phần ổn định vào tình hình kinh tế xã hội của địa phương

5.1.3 Thực trạng về việc đào tạo nghề

Sau đây là những thông tin về việc tham gia đào tạo các nghề cho các thành viên trong hộ, được thể hiện qua bảng 5.3 dưới đây

Bảng 5.3: Thực trạng về việc tham đào tạo nghề của hộ

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Kết quả từ Bảng 5.3 cho thấy, việc tham gia đào tạo nghề của các hộ như sau: trong 160 hộ có đến 90 hộ tham gia đào tạo nghề và chiếm tỷ lệ là 56,25%; còn lại

70 hộ không có tham gia đào tạo nghề, chiếm tỷ lệ 43,75% Trong tổng số hộ có tham gia đào tạo nghề thì nam giới có đến 70 và nữ giới chỉ có 20 Điều này chứng tỏ, phần lớn nam giới là chủ hộ đại diện cho hộ có tham gia đào tạo nghề nhiều hơn nữ là chủ hộ Như vậy, việc tham gia đào tạo nghề góp phần tạo nên việc ý thức về ngành nghề kinh tế gia đình, cải thiện tình hình sản xuất cho hộ và góp phần cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống gia đình cho hộ Khi so sánh với nam giới, đối tượng nữ giới chưa được tham gia đào tạo nghề nông nghiệp nhiều điều này phù hợp với số liệu tổng hợp kết quả đào tạo nghề nông nghiệp từ 2012-2016 (Tỷ lệ nữ tham gia đào tạo là 40%).Dưới đây là môt tả về ngành nghề được tham gia đào tạo của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom thể hiện qua hình 5.3 sau

Hình 5.3: Ngành nghề được đào tạo

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Theo hình 5.3 cho thấy, ngành nghề khi các hộ tham gia đào tạo được cụ thể như sau: nghề chăn nuôi gia súc có 41 hộ chiếm tỷ lệ 25,63%; nghề chăn nuôi gia cầm có 40 hộ và chiếm tỷ lệ là 25,00%; nghề trồng cây công nghiệp có 40 hộ, chiếm tỷ lệ là 25,00%; nghề trồng cây ăn trái có 39 hộ và chiếm tỷ lệ là 24,38% Nhìn chung, các hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia đào tạo nghề với tỷ lệ đều nhau giữa các ngành nghề đào tạo

Mô tả về việc đánh giá chất lượng đào tạo nghề cho hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom được thể hiện qua bảng 5.4 sau

Bảng 5.4: Đánh giá chất lượng đào tạo nghề của hộ nông dân

Chất lượng đào tạo Tần suất Tỷ lệ (%)

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Kết quả từ Bảng 5.4 cho thấy, các hộ nông dân đánh giá chất lượng đào tạo nghề khi tham gia đào tạo nghề tại địa phương như sau: có 7 hộ đánh giá chất lượng đào tạo rất kém và chiếm tỷ lệ rất thấp là 4,38%; có đến 23 hộ chiếm tỷ lệ là 14,38% đánh giá chất lượng đào tạo kém Nguyên nhân có thể là do cách nhìn nhận và khả năng tiếp thu khi tham gia đào tạo của hộ hoặc do trong quá trình đào tạo các vấn đề được đề cập trong chương trình đào tạo không phù hợp với đặc điểm kinh tế của hộ, do đó việc đánh giá của hộ nông dân về chất lượng đào tạo kém là phù hợp Tuy nhiên, theo các hộ nông dân khác đánh giá chất lượng đào tạo theo chiều hướng tốt hơn, cụ thể có 26 hộ đánh giá chất lượng đào tạo trung bình và chiếm tỷ lệ là 16,25%; trong khi đó có đến 74 hộ nông dân và chiếm tỷ lệ cao là 46,25% đánh giá chất lượng đào tạo nghề là tốt; và có đến 30 hộ đánh giá chất lượng đào tạo nghề là rất tốt với tỷ lệ là 18,75% Nguyên nhân có thể do chương trình đào tạo phù hợp với đặc điểm của mỗi hộ nông dân, thích hợp ứng dụng chương trình đào tạo vào cuộc sống và điều kiện sản xuất kinh doanh của gia đình Do đó, các hộ nông dân phần lớn đánh giá chất lượng đào tạo nghề tốt, giúp cải thiện được kinh tế hộ và cải thiện thu nhập cũng như đời sống gia đình

Thực trạng chung về chương trình đào tạo nghề cho hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom như những đánh giá của hộ nông dân về sự phù hợp của chương trình đào tạo, khả năng am hiểu về chương trình đào tạo của hộ nông dân, lợi ích của chương trình đào tạo đem lại như thế nào, áp dụng vào sản xuất và việc tư vấn hỗ trợ sau khi được đào tạo, được thể hiện qua bảng 5.5 sau đây:

Bảng 5.5: Thực trạng về chương trình đào tạo

Chỉ tiêu Tần suất Tỷ lệ (%)

Chương trình đào tạo phù hợp Không 67 41,87

Am hiểu về chương trình Không 49 30,63

Tổng 160 100,00 Áp dụng vào sản xuất Không 58 36,25

Lợi ích của chương trình đào tạo Không 57 35,63

Tư vấn hỗ trợ sau đào tạo Không 69 43,13

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Kết quả từ Bảng 5.5 cho thấy, việc đánh giá về sự phù hợp của chương trình đào tạo nghề cho hộ nông dân như sau: có 67 hộ đánh giá chương trình đào tạo không phù hợp và chiếm tỷ lệ 41,87%; còn lại có đến 93 hộ đánh giá chương trình đào tạo là phù hợp và chiếm tỷ lệ là 58,13% Bên cạnh đó, việc am hiểu về chương trình đào tạo đối với các hộ nông dân tương đối tốt, có đến 111 hộ nông dân am hiểu về chương trình đào tạo và chiếm tỷ lệ 69,37%; còn lại chỉ có 49 hộ không am hiểu về chương trình đào tạo với tỷ lệ là 30,63% Việc chương trình đào tạo có áp dụng vào sản xuất được hay không còn tùy thuộc vào việc am hiểu và nhận định của các hộ nông dân, cụ thể có 58 hộ nông dân đánh giá là chương trình đào tạo không áp dụng được vào sản xuất và chiếm tỷ lệ 36,25%; trong khi đó có đến 102 hộ nông dân đánh giá chương trình đào tạo áp dụng được vào sản xuất giúp cho hộ cải thiện đời sống gia đình, chiếm tỷ lệ là 63,75% Chương trình đào tạo đem lại lợi ích như thế nào và được các hộ nông dân đánh giá ra sao, cụ thể có 57 hộ đánh giá là chương trình đào tạo không đem lại lợi ích trong sản xuất kinh doanh và chiếm tỷ lệ là 35,63%; có đến 103 hộ đánh giá chương trình đào tạo đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho đời sống, chiếm tỷ lệ là 64,37% Nhìn chung, qua các đánh giá của hộ nông dân về sự phù hợp của chương trình đạo tạo, mức độ am hiểu về chương trình, đánh giá việc áp dụng từ chương trình vào sản xuất và những lợi ích của chương trình đào tạo đem lại, do đó nghiên cứu nhận thấyđào tạo nghề nông nghiệp có những nội dung, hình thức, phương pháp đào tạo chưa phù hợp, khó áp dụng đối vớicác hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp Đây cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến việc các hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai không gia đào tạo nghề nông nghiệp

Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai

hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai

5.2.1 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu

Cuộc khảo sát được thực hiện với 160 nông hộ tại 8 xã của huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai Bảng 5.6 mô tả các yếu tố được đưa vào mô hình nghiên cứu, bao gồm: Trình độ học vấn (hocvan), Giới tính (gioitinh), Tuổi (tuoi) của chủ hộ, lĩnh vực nghề nghiệp (nnghiep), sức khỏe (skhoe), khả năng tiếp cận vốn (tiepcanvon), sự am hiểu về chương trình đào tạo (amhieu) và nhận thức về lợi ích từ chương trình đào tạo (loiich) của hộ Đơn vị đo lường các biến được mô tả chi tiết ở Bảng 5.6 sau đây

Bảng 5.6 Thống kê mô tả các biến trong mẫu khảo sát

Tên biến Diễn giải Trung bình Độ lệch chuẩn

Thamgiad aotao Tham gia đào tạo (có = 1, không = 0) 0,56 0,50 0 1 hocvan Trình độ học vấn (số năm đi học) 8,11 2,80 1 12 gioitinh Giới tính chủ hộ (nam =1, nữ =0) 0,79 0,41 0 1 tuoi Tuổi chủ hộ (số tuổi) 42,73 9,51 25 65 nnghiep Nghề nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi = 1, Khác = 0) 0,71 0,45 0 1 skhoe Sức khỏe (tốt = 1, không tốt = 0) 0,81 0,39 0 1 tiepcanvon Tiếp cận vốn vay (có vay = 1, không vay = 0) 0,32 0,47 0 1 amhieu Am hiểu về chương trình đào tạo (có = 1, không = 0) 0,69 0,46 0 1 loiich Nhận thức được lợi ích từ chương trình đào tạo (có 1, không = 0) 0,64 0,48 0 1

Nguồn: Tác giả xử lý từ số liệu khảo sát tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, 2017

Kết quả thống kê mô tả các biến trong mẫu khảo sát cho thấy, có khoảng 56% hộ có tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp Về trình độ học vấn, chủ hộ có số năm đi học trung bình là 8,12 năm, chủ hộ tham gia khảo sát chủ yếu là nam chiếm tỷ lệ khoảng 79%, còn lại khoảng 21% là nữ Về độ tuổi, chủ hộ có độ tuổi trung bình là 42,73 tuổi Phần lớn nông hộ trong mẫu khảo sát tham gia sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, với tỷ lệ khoảng 71%, còn lại khoảng 29% hộ trồng cây công nghiệp hoặc làm thuê, v.v Tình trạng sức khỏe của hộ trong thời gian qua khá tốt, với khoảng 81% hộ có sức khỏe tốt để tham gia sản xuất Khả năng tham tiếp cận tín vốn vay của hộ không cao, chỉ khoảng 32% hộ có tham gia vay vốn Bên cạnh đó, mức độ am hiểu về chương trình đào tạo nghề nông nghiệp và khả năng nhận thức về lợi ích của chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của hộ khá tốt với trên 60% Để kiểm định các yếu tố trên có ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp nghề của nông hộ ở huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, tác giả sử dụng mô hình hồi quy Binary logistic

5.2.2 Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai

Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Binary logistic thể hiện ở Bảng 5.7 sau đây

Bảng 5.7 Kết quả mô hình hồi quy Binary logistic

Tên biến Diễn giải Hiệu ứng biên

Hocvan Trình độ học vấn 0,074 *** 0,001 0,030

Gioitinh Giới tính chủ hộ -0,062 0,615 0,303

Tuoi Tuổi chủ hộ 0,003 0,613 0,009 nnghiep Nghề nghiệp 0,624 *** 0,000 0,483 skhoe Sức khỏe 0,153 0,305 0,140 tiepcanvon Tiếp cận vốn vay 0,466 *** 0,000 0,310 amhieu Am hiểu về chương trình đào tạo 0,389 *** 0,001 0,163 loiich

Nhận thức được lợi ích từ chương trình đào tạo 0,232 * 0,054 0,003

Xác suất dự báo trúng (%) 78,75

Ghi chú: * ; *** tương ứng với các mức ý nghĩa 10% và 1%

Nguồn: Tác giả xử lý từ số liệu khảo sát tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, 2017

Trước khi ước lượng mô hình thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp, các kiểm định đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi đã được phát hiện và khắc phục nhằm kiểm tra độ tin cậy của mô hình Để thực hiện kiểm định đa cộng tuyến và phương sai sai số thay đổi trong Stata, trước tiên tác giả thực hiện hồi quy gốc Hiện tượng đa cộng tuyến được xác định dựa vào nhân tố phóng đại phương sai VIF, kết quả kiểm định cho thấy hệ số VIF = 1,17< 5, do đó không có hiện tương đa cộng tuyến Bên cạnh đó, hiện tượng phương sai sai số thay đổi được thực hiện bằng cách kiểm định Breusch-Pagan bằng câu lệnh “hettest” Kết quả kiểm định cho thấy, giá trị kiểm định chi2(1) = 0,01 và Prob > chi2 = 0,933 > 10%, chấp nhận giả thiết H0, tức là có xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi Sau khi khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi bằng vòng lặp robustness, mô hình Binary Logistic được ước lượng lại Kết quả ước lượng cho thấy, giá trị kiểm định Wald chi2 (9) = 61,48 và Pro > chi2 = 0,000 cho phép ta bác bỏ giả thiết H0 ở mức ý nghĩa 1%, có nghĩa là các yếu tố trong mô hình có thể được sử dụng để giải thích cho khả năng chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai Bên cạnh đó, tỷ lệ dự báo của mô hình là 78,75% cho thấy mô hình là phù hợp và khả năng dự báo của mô hình là khá tốt, với khoảng 78,75% trường hợp được dự báo đúng

Kết quả ước lượng cho thấy, trong 8 biến đưa vào mô hình nghiên cứu có 5 biến tác động có ý nghĩa thống kê đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp, các biến bao gồm: trình độ học vấn (hocvan), nghề nghiệp (nnghiep), tiếp cận vốn vay (tiepcanvon), am hiểu (amhieu) về chương trình đào tạo nghề nông nghiệp và biến nhận thức được lợi ích (loiich) từ chương trình đào tạo nghề nông nghiệp Các biến đều tác động cùng chiều với khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp Hầu hết các biến đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, chỉ có biến nhận thức được lợi ích từ chương trình đào tạo nghề nông nghiệp tác động có ý nghĩa thống kê ở mức 10% Kết quả này khá tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Công Toàn và Bùi Lan Anh (2014) Bên cạnh đó, kết quả tác động của yếu tố thu nhập đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của luận văn này cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu của Phạm Đức Thuần và Dương Ngọc Thành

(2015), Nguyễn Quang Tuyến và Nguyễn Hữu Lộc (2014) Để xác định mức độ tác động của các yếu tố trên đối với khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp, hệ số tác động biên (dy/dx) được sử dụng để giải thích với mức độ tác động theo đơn vị tính là % Cụ thể, trong 5 biến tác động có ý nghĩa thống kê nêu trên, biến nghề nghiệp (nnghiep) có hệ số tác động biên cao nhất (0,624) điều này có nghĩa là khi các yếu tố khác không thay đổi, nếu yếu tố nghề nghiệp thuộc lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi tăng lên 1 đơn vị thì khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của hộ sẽ tăng lên 62,4%.Kết quả này hoàn toàn phù hợp với thực tế vì chương trình đào tạo nghề nông nghiệp nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp, do đó, những hộ gia đình tham gia sản xuất nông nghiệp sẽ có khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp nhiều hơn những hộ khác Tiếp theo là biến tiếp cận vốn vay (tiepcanvon) có hệ số tác động biên cao thứ hai với mức tác động biên dy/dx là 0,466, điều này có nghĩa là khi các yếu tố khác không thay đổi, nếu số hộ vay vốn tăng thêm 1 hộ thì khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp sẽ tăng lên 46,6% Kết quả này khá hợp lý, khi nông hộ vay vốn phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp thì hộ sẽ mong muốn hoạt động sản xuất mang lại hiệu quả tốt nhất để trả nợ vay và tăng thêm thu nhập cho gia đình, do đó hộ có khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp nhiều hơn để ứng dụng vào sản xuất Kế đến là biến am hiểu về chương trình đào tạo nghề nông nghiệp (amhieu), có hệ số tác động biên dy/dx là 0,389, tức là khi cố định các yếu tố khác, nếu số hộ am hiểu về chương trình đào tạo nghề nông nghiệp tăng lên 1 hộ thì khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp sẽ tăng lên 38,9% Điều này là đương nhiên, khi hộ đã tìm hiểu và am hiểu về chương trình đào tạo nghề nông nghiệp thì họ sẽ dễ dàng quyết định có tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp hay không Tiếp đến, biến nhận thức được lợi ích từ chương trình đào tạo nghề nông nghiệp xếp xếp thứ 4, với hệ số tác động biên dy/dx là 0,232 tức là khi các yếu tố khác không thay đổi, nếu số hộ nhận thức đươc lợi ích từ chương trình đào tạo nghề nông nghiệp tăng lên 1 đơn vị tính thì khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp sẽ tăng lên 23,2% Tiếp theo là biến trình độ học vấn, với hệ số tác động biên dy/dx là 0,074, tức là nếu trình độ học vấn của chủ hộ tăng thêm 1 đơn vị tính thì khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp sẽ tăng lên 7,4% Kết quả này cho thấy, khi hộ có trình độ học vấn càng tốt và nhận thức được lợi ích của chương trình đào tạo nghề nông nghiệp thì hộ sẽ tham gia chương trình nhiều hơn Như vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai bao gồm 5 yếu tố: trình độ học vấn, nghề nghiệp, tiếp cận vốn vay, am hiểu về chương trình đào tạo nghề nông nghiệp và biến nhận thức được lợi ích từ chương trình đào tạo nghề nông nghiệp Trong đó, yếu tố tác động mạnh nhất là yếu tố nghề nghiệp của hộ.

Ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ trên địa bàn huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai

5.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai Để xác định mối liên hệ giữa các yếu tố đến thu nhập của nông hộ, tác giả ước lượng mô hình hồi quy đa biến Các biến độc lập đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm các đặc điểm kinh tế xã hội của hộ như: trình độ học vấn (hocvan), tuổi của chủ hộ (Tuoi), số nhân khẩu của hộ (sonhankhau), nghề nghiệp của hộ (nnghiep), số tiền tiết kiệm hộ (tietkiem)và tình trạng sức khỏe của hộ (skhoe) Bên cạnh đó, để xem xét chương trình đào tạo nghề nông nghiệp có tác động đến thu nhập của hộ hay không, biến tham gia đào tạo (thamgiadaotao) cũng được đưa vào mô hình nghiên cứu để kiểm định Kết quả ước lượng mô hình thể hiện ở Bảng 5.8 Sau đây

Bảng 5.8 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy đa biến

Tên biến Diễn giải Hệ số Giá trị P

Sai số chuẩn hocvan Trình độ học vấn 83,659 0,149 57,736 tuoi Tuổi chủ hộ 34,911 0,041 16,903 sonhankhau Số người trong gia đình -367,954 *** 0,000 101,185 nnghiep Nghề nghiệp -596,862 0,113 374,679

Tietkiem Số tiền tiết kiệm hàng tháng hộ 0,720 *** 0,000 0,063 skhoe Sức khỏe -953,035 0,018 397,367 thamgiadaotao Tham gia chương trình đào tạo nghề 935,254 *** 0,008 345,463

Ghi chú: *** tương ứng với các mức ý nghĩa 1%

Nguồn: Tác giả xử lý từ số liệu khảo sát tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, 2017

Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến cho thấy hệ số VIF = 1,26< 5, do đó không có hiện tương đa cộng tuyến Bên cạnh đó, kiểm định Breusch-Pagan cho thấy, giá trị kiểm định chi2(1) = 7,29 và Prob > chi2 = 0,0069

Ngày đăng: 21/12/2023, 06:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Kết quả đào tạo nghề tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010 - 2014 - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Bảng 2.1. Kết quả đào tạo nghề tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010 - 2014 (Trang 18)
Hình 3.1 Khung nghiên cứu - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Hình 3.1 Khung nghiên cứu (Trang 19)
Bảng 3.1: Diễn giải biến trong mô hình Binary Logistic - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Bảng 3.1 Diễn giải biến trong mô hình Binary Logistic (Trang 22)
Bảng 3.2: Diễn giải biến trong mô hình hồi quy đa biến - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Bảng 3.2 Diễn giải biến trong mô hình hồi quy đa biến (Trang 23)
Hình 5.1 Đặc điểm giới tính của chủ hộ trong mẫu khảo sát - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Hình 5.1 Đặc điểm giới tính của chủ hộ trong mẫu khảo sát (Trang 29)
Bảng 5.2: Mô tả đặc điểm của hộ - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Bảng 5.2 Mô tả đặc điểm của hộ (Trang 31)
Hình 5.2: Nghề nghiệp của hộ nông dân - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Hình 5.2 Nghề nghiệp của hộ nông dân (Trang 33)
Bảng 5.3: Thực trạng về việc tham đào tạo nghề của hộ - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Bảng 5.3 Thực trạng về việc tham đào tạo nghề của hộ (Trang 34)
Bảng 5.4: Đánh giá chất lượng đào tạo nghề của hộ nông dân - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Bảng 5.4 Đánh giá chất lượng đào tạo nghề của hộ nông dân (Trang 35)
Bảng 5.5: Thực trạng về chương trình đào tạo - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Bảng 5.5 Thực trạng về chương trình đào tạo (Trang 36)
Hình 5.4 Tình hình tiếp cận vay vốn của nông hộ tại huyện Trảng Bom,  tỉnh Đồng Nai - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Hình 5.4 Tình hình tiếp cận vay vốn của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (Trang 38)
Hình 5.5 Tình hình tham gia hiệp hội đoàn thể của nông hộ tại huyện  Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Hình 5.5 Tình hình tham gia hiệp hội đoàn thể của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (Trang 39)
Bảng 5.6 Thống kê mô tả các biến trong mẫu khảo sát - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Bảng 5.6 Thống kê mô tả các biến trong mẫu khảo sát (Trang 40)
Bảng 5.7 Kết quả mô hình hồi quy Binary logistic - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Bảng 5.7 Kết quả mô hình hồi quy Binary logistic (Trang 41)
Bảng 5.8 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy đa biến - (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai
Bảng 5.8 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy đa biến (Trang 45)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w