1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập lớn Tổ chức học

20 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trong Bối Cảnh Hiện Nay Nên Ưu Tiên Xây Dựng Tổ Chức Học Theo Lý Thuyết Cơ Học Hay Lý Thuyết Hữu Cơ
Trường học Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội
Chuyên ngành Quản Trị Văn Phòng
Thể loại Bài Tập Lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 466,83 KB
File đính kèm tổ chức học.zip (377 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY NÊN ƯU TIÊN XÂY DỰNG TỔ CHỨC HỌC THEO LÝ THUYẾT CƠ HỌC HAY LÝ THUYẾT HỮU CƠ CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN. 1. Lý thuyết tổ chức cơ học: Chúng ta hãy đến một cơ quan nào đó hiện nay và có ngay nhận xét rằng mọi nhân viên đều đến đúng giờ, ngồi vào đúng vị trí, làm những thao tác định trước, lặp đi lặp lại ngày này qua tháng khác rồi nghỉ ngơi vào giờ nhất định sau đó đúng giờ lại ngồi vào vị trí cũ và lại làm những thao tác quá quen thuộc cho đến hết ngày làm việc. Công việc thực hiện như một cái máy, lặp đi lặp lại. Việc điều hành những cơ quan như vậy chẳng khác gì điều hành một cỗ máy. Các nơi làm việc như vậy được thiết kế như những cỗ máy và người nhân viên như những bánh xe của cỗ máy. Ngày nay người ta gọi tổ chức quan liêu là những tổ chức được thiết kế như những cỗ máy. Song ở các mức độ khác nhau, phần lớn các tổ chức đều mang dấu ấn của quan liêu, vì với tư duy máy móc đã hình thành trong chúng ta những quan niệm về một tổ chức mang tính quan liêu như vậy. Khi nói đến tổ chức là người ta tưởng tượng ra một tập hợp các mối liên hệ hài hoà, chặt chẽ giữa các phần tử được xác định rõ ràng và theo một trật tự nhất định. Cỗ máy được thiết kế chính xác, được vận hành theo quy trình xác định chặt chẽ, hoạt động nhịp nhàng, sản xuất ra sản phẩm định trước và cứ thế lặp đi lặp lại và những lô sản phẩm sau như lô sản phẩm trước, cứ thế đều đặn sản sinh ra. Một tổ chức như vậy thật là hiệu quả. Tuy nhiên nó cũng có thể trở nên kém hiệu quả hoặc không hoạt động được. a. Nguồn gốc của lý thuyết tổ chức cơ học. Một tổ chức ít khi mang trong nó mục tiêu tự thân, mà chỉ là một công cụ được tạo dựng nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức mà thôi, điều đó được thể hiện ngay trong định nghĩa về tổ chức nói trên. Và vì vậy, mục tiêu là khái niệm cơ bản của tổ chức, để tiến đến mục tiêu cần định ra nhiệm vụ của mình, từ đó xác định cơ cấu, bố trí nguồn lực và lựa chọn cách đi ngắn nhất đến mục 3 tiêu sớm nhất và hiệu quả nhất. Như vậy ý niệm về công cụ gắn liền với khái niệm về tổ chức, Cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu đã làm cho nền sản xuất được cơ khi hoá và nhờ đó mà nền kinh tế thế giới có sự phát triển vượt bậc đem lại lợi ích to lớn cho nhân loại. Việc sử dụng máy móc đòi hỏi con người gắn bó với máy móc, tổ chức thích nghi với nhu cầu của máy móc và quản lý theo lý thuyết cơ học. Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp ta thấy sự hình thành và phát triển lý thuyết tổ chức cơ học. Nhiều doanh nghiệp, gia đình, cùng nhiều thợ thủ công tự do đã từ bỏ quyền tự chủ và sự tự do của mình để vào làm việc trong các xí nghiệp công nghiệp. Cùng lúc đó các chủ nhà máy thấy cần có những thay đổi trong quản lý và giám sát lao động để đảm bảo hiệu quả hoạt động của xí nghiệp. Nhu cầu đó thúc đẩy sự phân công lao động triệt để hơn và sử dụng

Trang 1

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG

TÊN ĐỀ TÀI:

TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY NÊN ƯU TIÊN XÂY DỰNG TỔ CHỨC HỌC THEO LÝ THUYẾT CƠ HỌC HAY LÝ THUYẾT HỮU

BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Học phần: TỔ CHỨC HỌC

Mã phách:

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

2

Chủ đề: Trong bối cảnh hiện nay nên ưu tiên xây dựng lý thuyết cơ học hay

lý thuyết hữu cơ

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Lý thuyết tổ chức cơ học:

- Chúng ta hãy đến một cơ quan nào đó hiện nay và có ngay nhận xét

rằng mọi nhân viên đều đến đúng giờ, ngồi vào đúng vị trí, làm những thao tác định trước, lặp đi lặp lại ngày này qua tháng khác rồi nghỉ ngơi vào giờ

nhất định sau đó đúng giờ lại ngồi vào vị trí cũ và lại làm những thao tác quá quen thuộc cho đến hết ngày làm việc Công việc thực hiện như một cái máy, lặp đi lặp lại Việc điều hành những cơ quan như vậy chẳng khác gì điều hành một cỗ máy Các nơi làm việc như vậy được thiết kế như những cỗ máy và

người nhân viên như những bánh xe của cỗ máy Ngày nay người ta gọi tổ

chức quan liêu là những tổ chức được thiết kế như những cỗ máy Song ở các mức độ khác nhau, phần lớn các tổ chức đều mang dấu ấn của quan liêu, vì với tư duy máy móc đã hình thành trong chúng ta những quan niệm về một tổ chức mang tính quan liêu như vậy Khi nói đến tổ chức là người ta tưởng

tượng ra một tập hợp các mối liên hệ hài hoà, chặt chẽ giữa các phần tử được xác định rõ ràng và theo một trật tự nhất định Cỗ máy được thiết kế chính

xác, được vận hành theo quy trình xác định chặt chẽ, hoạt động nhịp nhàng, sản xuất ra sản phẩm định trước và cứ thế lặp đi lặp lại và những lô sản phẩm sau như lô sản phẩm trước, cứ thế đều đặn sản sinh ra Một tổ chức như vậy thật là hiệu quả Tuy nhiên nó cũng có thể trở nên kém hiệu quả hoặc không hoạt động được

a Nguồn gốc của lý thuyết tổ chức cơ học

- Một tổ chức ít khi mang trong nó mục tiêu tự thân, mà chỉ là một công

cụ được tạo dựng nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức mà thôi, điều đó được thể hiện ngay trong định nghĩa về tổ chức nói trên Và vì vậy, mục tiêu là khái niệm cơ bản của tổ chức, để tiến đến mục tiêu cần định ra nhiệm vụ của mình,

từ đó xác định cơ cấu, bố trí nguồn lực và lựa chọn cách đi ngắn nhất đến mục

Trang 3

3

tiêu sớm nhất và hiệu quả nhất Như vậy ý niệm về công cụ gắn liền với khái niệm về tổ chức,

- Cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu đã làm cho nền sản xuất được

cơ khi hoá và nhờ đó mà nền kinh tế thế giới có sự phát triển vượt bậc đem lại lợi ích to lớn cho nhân loại Việc sử dụng máy móc đòi hỏi con người gắn bó với máy móc, tổ chức thích nghi với nhu cầu của máy móc và quản lý theo lý thuyết cơ học Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp ta thấy

sự hình thành và phát triển lý thuyết tổ chức cơ học Nhiều doanh nghiệp, gia đình, cùng nhiều thợ thủ công tự do đã từ bỏ quyền tự chủ và sự tự do của mình để vào làm việc trong các xí nghiệp công nghiệp Cùng lúc đó các chủ nhà máy thấy cần có những thay đổi trong quản lý và giám sát lao động để đảm bảo hiệu quả hoạt động của xí nghiệp Nhu cầu đó thúc đẩy sự phân công lao động triệt để hơn và sử dụng nhân lực hiệu quả hơn và người lao động cần chấp nhận lối mòn của các thao tác và chụi sự phân công và quản lý rất khe trong nhà máy

-Ngoài khu vực công nghiệp, người ta còn nhìn đến khu vực quân sự với

tổ chức quân đội Từ năm 1786 Frédéric Đại đế đã tổ chức lại quân đội của nước Phổ, xây dựng từ những đám quân cực kỳ ô hợp thành đội quân hùng mạnh được tổ chức hết sức chặt chẽ trên cơ sở áp dụng kinh nghiệm tổ chức các quân đoàn thời La Mã và đặc biệt là dựa theo những khuôn mẫu cơ khí trong cuộc cách mạng công nghiệp vào tổ chức quân đội Trong nỗ lực cải tổ quân đội, Frédéric đã biến quân đội thành công cụ vững chắc, hoạt động có hiệu quả và cả quân đội là một cỗ máy khổng lồ, từng người lính là một chi tiết trong cỗ máy đó Những chi tiết đó được tiêu chuẩn hoá từ việc chế tạo đến bố trí vị trí và nhiệm vụ trong bộ máy Ông đã xây dựng cấp bậc, quân hảm, đồng phục, tất cả được tiêu chuẩn hoá và hình thành nên ngôn ngữ chỉ huy Quy chế đào tạo cho phép sản xuất ra các chi tiết bất kỳ nguồn nguyên liệu nào và có thể dễ dàng thay thế khi cần thiết trong thời chiến Để đảm bảo đặc thù của bộ máy quân sự Frédéric đã huấn luyện và đào tạo làm cho người lính phải sợ sỹ quan của mình hơn là sợ kẻ địch Để làm được việc đó ông vừa

Trang 4

4

thực hiện mục tiêu tập trung chỉ huy vừa để nghiên cứu dự báo và tổ chức điều chỉnh hoạt động quân sự trong thời chiến

-Ở Châu Âu suốt thế kỷ XIX các chủ doanh nghiệp đã cố tìm ra hình

thức tổ chức phù hợp với cơ giới hoá công việc Năm 1832 Charles Bubbage - một trong những người phát minh ra máy tính cơ học đã công bố 1 chuyên

luận ca tụng cách tiếp cận khoa học đối với việc tổ chức và quản lý, nhấn

mạnh tầm quan trọng của kế hoạch hoá và phân công lao động Max Weber - một nhà xã hội học Đức có đóng góp rất quan trọng cho lý thuyết này khi đối chiếu giữa cơ khí hoá và hình thành máy móc của tổ chức, chức cơ học coi

trọng tính chính xác tính nhanh chóng, tính sáng sủa , tính đều đặn, độ tin cậy

và xây dựng các quy chế hoạt động rất chi tiết Cũng theo ông tổ chức cơ học đồng nghĩa với tổ chức quan liêu, với tổ chức ấy bệnh quan liêu thật khó tránh

và ngày càng trở nên trầm trọng, nó xói mòn nền dân chủ và biến tư duy con người trở nên quan liêu Bên cạnh lo ngại của Weber thì nhiều nhà lý luận tổ chức tìm thấy sự hữu hiệu của loại hình tổ chức này và các nhà lý luận quản lý xây dựng trường phái lý thuyết quản lý cho loại hình tổ chức cơ học và quan liêu

đó Họ xây dựng nên ”Trường phái lý thuyết cổ điển về quản lý ” Trường phái này đã biệt hộ mạnh mẽ cho tình trạng quan liêu hóa khi thực hiện hóa tổ chức

cơ học với những nguyên lý và phương pháp ngày càng hoàn thiện và từ đó các nguyên tắc tổ chức máy móc dần dần chiếm vị trí quan trong trong mọi suy nghĩ của chúng ta

b Đặc trưng của tổ chức cơ học:

- Tổ chức cơ học được xem như một tập hợp các vị trí công tác được xác định roc ràng, sắp xếp thành thứ bậc và quy định rõ mối quan hệ giữa chúng Tổ chức này xem như một cỗ máy Trong tổ chức các bộ phận chức năng được chia nhỏ thành mạng lưới và sắp xếp trật tự theo thứ bậc Loại hình tổ chức này thường

có những đặc trung sau:

+ Sự phân công lao động tỉ mỉ và chặt chẽ, vị trí công tác của từng cá nhân được phân định chính xác, nhiệm vụ chính thức mà tổ chức giao cho họ đồng thời

Trang 5

5

cũng là những công việc hàng ngày Những nhiệm vụ này được quy định rõ ràng, cụ thể bằng văn bản hành chính Số lượng vị trí được cấp trên quy định rõ ràng và chúng ta thường hiểu nó là định biến trong tổ chức Khi khuyết một vị trí, người quản lý thay vào đó là một nhân viên có đủ điều kiện và tiêu chuẩn như người tiền nhiệm không khác gì thay thế một chi tiết trong cỗ máy

+ Cấu trúc bậc thang quyền lực: Các thành viên được sắp xếp vào các vị trí công tác theo đẳng cấp của bậc thang cấu trúc của tổ chức cùng đồng thời là bậc thang quyền lực Mỗi thành viên chịu sự chỉ đạo của một thành viên cấp cao hơn, đồng thời chỉ đạo một số thành viên ở cấp thấp hơn Mô hình quyền lực điều phối mội hoạt dộng của tổ chức, nó làm cho mệnh lệnh ở cấp cao nhấtsẽ đi xuyên suốt tổ chức một cách chính xác đến người thực hiện tạo ra hiệu quả cao của việc thực hiện quyết định Tuy nhiên với mô hình bậc thang nhiều nấc nên nhiều khi quyết định đến người thực hiện bị sai lệch do sự điều chỉnh hoặc truyền đạt thiếu chính xác của cấp trung gian Cũng vì điều này, nhiều lãnh đạo giảm nấc trung gian nhưng do sự phát triên của tổ chức nên lại rất cần nhiều nấc trung gian Sự mâu thuẫn sự phát triển, giải pháp duy nhastakhawsc phục mâu thuẫn này là nâng cao trình độ lãnh đạo và quản lý của cấp cao nhất trong hệ thống

+ Mọi hoạt động và quan hệ của bộ máy được xác định rõ ràng bằng văn bản: , mọi sự thay đổi phải do người ra văn bản đó thực hiện Điều hành bộ máy bằng văn bản và dựa theo các văn bản đã quy định, các cấp và đến nhân viên thực hiện báo cáo định kỳ hoặc báo cáo theo yêu cầu bằng văn bản "bệnh quan liêu giấy tờ" là đặc trưng cho tổ chức này, nếu không có giấy tờ thì không còn là tổ chức máy móc nữa Nếu lãnh đạo ngại đọc văn bản và ra văn bản, cấp dưới và nhân viên ngại làm văn bản thì không nên làm việc ở loại hình tổ chức này Đây

là cơ quan hành chính nên hành chính bao giờ cũng gắn với giấy tờ Mọi thủ tục hoạt động trong tổ chức này được quy định rõ ràng, chặt chẽ và qua nhiều cấp vì vậy cải cách thủ tục hành chính bao giờ cũng được đặt ra song mỗi ngày một phức tạp hơn lại có nhu cầu cải cách cao hơn

Trang 6

6

+ Thăng tiến nghề nghiệp cá nhân thường được gắn với việc leo lên bậc cao hơn trong cấu trúc bậc thang quyền lực: Nhưng do số vị trí ở mỗi nấc thang đã được xác định nên việc thăng tiến theo chiều thẳng đứng có nhiều khó khăn vì khi trống một chỗ người ta phải tổ chức thi tuyển, chỉ trong trường hợp đặc biệt mới cất nhắc một người nào đó ở cấp thấp hơn Việc thăng tiến nghề ngiệp trong tổ chức này thuận lợi cho nhân viên là tăng bậc nhưng không tăng ngạch, tuy điều này không thực hấp dẫn vì sẽ có thêm thu nhập không có thêm quyền lực còn thăng tiến theo chiều thẳng đứng thì được cả hai Thăng tiến nghề nghiệp trong

tổ chức này vừa là động cơ làm việc tốt hơn cho tổ chức nhưng cũng đề ra không ít điều phiền toái cho tổ chức

+ Người quản lý và người bị quản lý đều xác định được rõ ràng nhiệm vụ, quyền

hạn và trách nhiệm của mình Điều này tạo ra cấu trúc hành chính ổn định và đoán trước được Mọi cá nhân hành động theoquy định phụ thuộc vào những nguyên tắc đã được xác định trong các luật lệ được ban hành trong tổ chức chứ không phụ thuộc vào mong muốn của người có địa vị cao hơn trong tổ

chức.Người lãnh đạo cũng được xác định rõ quyền hạn của mình, không thể tuỳ tiến hành động hoặc ban hành quyết định vượt quá thẩm quyền cho phép Như vậy rõ ràng quan hệ giữa người lãnh đạo và bị lãnh đạo không phải là quan hệ cá nhân giữa 2 con người mà là quan hệ của công việc Vì thế việc phục tùng mệnh lệnh của cá nhân trong tổ chức không phải đối với một con người mà là đối với cấp dưới trong bộ máy Cần phải làm rõ điều này mới hiểu được tính nhân

quyền của con người trong tổ chức cơ học Song không phải lúc nào điều này cũng được người ta hiểu và tôn trọng

+ Các phương tiện và tài sản phục vụ cho công việc là của bộ máy chứ không phải của cá nhân nào, dù cho là người lãnh đạo cao nhất của tổ chức

c Ưu điểm của tổ chức cơ học :

Với những đặc trưng trên ta thấy rõ tổ chức cơ học có nhiều ưu điểm:

Trang 7

7

+ Mục tiêu của tổ chức được xác định rõ ràng bao gồm hệ thống từ mục tiêu chiến lược đến những mục tiêu ngắn hạn làm cơ sở khoa học cho sự phát triển bền vững của tổ chức

+ Tổ chức được thiết kế hợp lý, xuất phát từ mục tiêu phải đạt đến của tổ chức

mà xác định chức năng, nhiệm vụ của tổ chức từ đó thiết kế cơ cấu tổ chức hợp

lý nhất và hiệu quả nhất Cơ cấu tổ chức được thiết kế chặt chẽ nên rất ít biến động trong quá trình vận hành

+ Từng con người trong tỏ chức được sắp xếp một cách hợp lý vào vị trí nhất định, họ hiểu về việc mình phải làm, trách nhiệm và quyền hạn được quy định + Tổ chức được vận hành một cách chính xác với dộ tin cậy cao vì cả quy trình vận hành được xác lập hoàn hỏa và chặt chẽ

+ Hiệu quả của hoạt động tổ chức cao do cấu trúc hợp lý, phân cộng, phân nhiệm rõ ràng, ý thức phục tùng cao, vận hành trơn tru rất ít phải sửa chữa nên loại hình này thường tiêu tốn ít năng lượng

+ Quản lý tổ chức cơ học tương đối dễ và lại càng thuận lợi khi đã hình thành lý luận quản lý khá hoàn chỉnh đối với loại hình tổ chức này

* Tổ chức cơ học thực sự mạnh khi có đầy đủ các điều kiện:

- Khi nhiệm vụ cần thực hiện là đơn giản,

- Khi môi trường ổn định,

- Sản xuất ổn định: Sản xuất một sản phẩm trong một thời gian dài,

- Khi sản xuất sản phẩm và điều hành độ chính xác là 1 tiêu chuẩn quan trọng,

- Khi yếu tố con người của tổ chức được tuân thủ và hoạt động như dự kiến

- Những tổ chức đạt được thành công khi hội đủ cả 5 yếu tố đó

- Nhiều tổ chức đòi hỏi độ chính xác cao thường thiết kế theo loại hình này Thí

dụ như bộ máy hành chính nhà nước, công ty dịch vụ tài chính, xưởng bảo dưỡng máy bay VV

- Tuy nhiên loại hình này cũng có nhiều nhược điểm, đôi khi lại là rấttrầm trọng

d Nhược điểm của tổ chức cơ học

Trang 8

8

Tổ chức cơ học có những nhược điểm sau đây:

- Một loại hình tổ chức rất khó thích nghi với môi trường, đặc biệt là môi trường nhiều biến động

- Quan liêu thiển cận và cứng nhắc,

- Quá trình ra, quyết định chậm

- Có hiệu quả bất ngờ ngoài mong muốn như lợi ích của nhân viên làm việc trong tổ chức đứng trên mục tiêu mà tổ chức cần đạt được

- Hạn chế tính chủ động của nhân viên

- Có tác dụng phân nhân tính đối với nhân viên nhất là những người ở

cuối bậc thang ngôi thứ

- Luôn có tranh giành quyền lực

2 Lý thuyết của tổ chức hữu cơ:

Lý thuyết tổ chức hữu cơ dựa trên quan điểm xem tổ chức như cơ thể sống tồn tại trong môi trường, đòi hỏi phải thích nghi với môi trường đề tồn tại

và phát triển Khác với tổ chức cơ học, tổ chức hữu cơ là hệ mở, luôn luôn thích nghi với biến động của môi trường, thích nghi với sự cạnh tranh hoặc hợp tác với các tổ chức khác nhằm thích nghi hoặc cải thiện môi trường Với quan điểm này các nhà quản lý đều biết rằng hành vi của cá nhân tại một thời điểm nào đó thường được quyết định bởi nhu cầu mạnh nhất của họ: Abraham Moslow đã đưa ra hệ thống phân cấp các nhu cầu của con người như sau: Nhu cầu sống, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự khẳng định mình Các nhà lý thuyết tổ chức quan tâm hơn đến su của tổ chức và môi trường tác động đến tổ chức thông quan một loạt vấn đề sau:

a Nguồn gốc ra đời của lý thuyết hữu cơ:

Nhịp độ biến đổi xã hội ngày một tăng lên, các loại tổ chức được xây dựng dựa trên quan điểm máy móc đã bộc lộ những rõ những hạn chế của mình Mặt khác, khi xem xét thế giới các tổ chức nhiều nhà lý luận về tổ chức thấy rằng: Trong môi trường ổn định thì các tổ chức quan liêu hoạt động rất hiệu quả,

Trang 9

9

còn trong môi trường cạnh tranh, không ổn định, nó đòi hỏi phải có một loại hình tổ chức mềm dẻo và linh hoạt hơn

=> Chính những hạn chế của các tổ chức quan liêu này đã đưa nhiều nhà lý luận đến chỗ từ bỏ cơ học để đến với sinh học khi xem xét về tổ chức

Lý thuyết tổ chức hữu cơ, khi xem xét tổ chức như cơ thể sống nó quan tâm đến những nhu cầu của tổ chức, coi tổ chức như những hệ thống mở và sự cần thiết phải thích nghi với môi trường để tồn tại và phát triển

b Đặc trưng cơ bản của tổ chức hữu cơ:

- Có 5 đặc trưng cơ bản:

+ Các nhiệm vụ không được chuyên môn hoá cao, các nhân viên có thể thực hiện một loạt các công việc khác nhau để hoàn thành nhiệm vụ chung của cả nhóm

+ Các nhiệm vụ không được cụ thể hoá cụ thể, chúng có thể được điều chỉnh lại qua các hoạt động của nhân viên

+ Có một trật tự không chính thức về quyền hạn và kiểm soát với một số quy định

+ Việc nắm bắt và kiểm soát công việc được ở bất kỳ nơi nào trong tổ chức + Thông tin liên lạc theo chiều ngang, dọc các nhân viên có thể liên lạc với bất

kỳ ai mà họ cần

c Ưu điểm của tổ chức hữu cơ:

+ Điểm mạnh đáng kể của tổ chức hữu cơ là mối liên hệ giữa tổ chức và môi trường Với lý thuyết này, tổ chức được xem như một hệ mở như một quá trình liên tục Giữa tổ chức và môi trường có sự trao đổi qua lại và tác động đến nhau

và chính môi trường có khả năng cung cấp năng lượng cho tổ chức hoạt động

Ví dụ: khi đổi thủ cạnh tranh giảm giá các sản phẩm phần cứng, phần mềm thì đòi hỏi các bộ phận kinh doanh trong công ty phải thay đổi chiến lược sao cho đảm bảo không mất khách và không thua lỗ =>môi trường và tổ chức có liên hệ chặt chẽ với nhau

Trang 10

10

+ Nhu cầu của tổ chức vừa là nhu cầu tồn tại vừa là điều kiện phát triển của tổ chức: với tổ chức hữu cơ, sự sống sót là mục đích đầu tiên Sự sống sót là cả quá trình, còn mục tiêu là cái cần đạt tới Định hướng đó làm cho sự chỉ đạo, quản

lý, tổ chức được linh hoạt hơn Nhấn mạnh và việc sử dụng các phương tiện sinh tồn, chỉ ra quá trình tổ chức là liên tục, rộng lớn và cơ bản đạt tới mục đích đặc thù nhấn mạnh đến nhu cầu cũng nhằm minh chứng tư tưởng coi tổ chức như là một quá trình tương tác luôn cần được giữ cân bằng với bên ngoài

+ Tổ chức hữu cơ hoàn toàn đáp ứng nhu cầu đổi mới, những tổ chức hiện đại của những nghành sản xuất tiên tiến đều có thể tìm ở loại hình tổ chức hữu cơ những điều kiện cần thiết phục vụ quá trình đổi mới của mình

+ Các tổ chức hết sức đa dạng nên có một trải rộng cho sự lựa chọn tổ chức hữu

cơ, cấu trúc dựa án, cấu trúc ma trận, …để thích nghi với môi trường và phát triển bền vững

+ Mối liên hệ giữa các tổ chức được hình thành trong thể loại hiếm có hết sức mềm dẻo và hiệu quả xuất phát từ nhu cầu tồn tại và đấu tranh với môi trường

mà mình hình thành Quan hệ này cũng hết sức phong phú và đa dạng

d Những nhược điểm của tổ chức hữu cơ:

+ Lý thuyết hữu cơ chưa đánh giá hết vai trò của con người với tổ chức: trong tổ chức cơ học luôn đề cao cơ cấu tổ chức nên quyền hạn và năng lực của cá nhân được nhìn nhận và đánh giá rất chính xác Còn trong tổ chức hữu cơ, vì chuyên môn hóa không cao, các nhân viên có thể thay thế vị trí của nhau nên đôi khi năng lực của cá nhân trong tổ chức không được đánh giá đúng và nhìn nhận hết + Quyền lực trong tổ chức hữu cơ xác định không rõ ràng: do đặc trưng “ các nhiệm vụ không được chuyên môn hóa cao, các nhân viên có thể thực hiện một loạt các nhiệm vụ để hoàn thành nhiệm vụ chung của cả nhóm” đã làm cho quyền lực trong tổ chức hữu cơ xác định ko rõ ràng Điều này sẽ gây không ít cho quá trình quản lý Khi người quản lý nghĩ rằng lợi ích của cá nhân, của xã hộivà của tổ chức phù hợp nhau làm cho sự cân bằng tổ chức và môi trường tốt

Ngày đăng: 20/12/2023, 23:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Theo https://fr.wikipedia.org/wiki/ Link
5. Trang wed https://www.google.com/search +vinamilk Link
1. Gv. Trần Thị Hồng ”tập bài giảng tổ chức học đại cương” Khác
2. PGS.TS Phạm Huy Tiến: Giáo trình, Tổ chức học đại cương – Hà Nội năm 2007 Khác
4. Nguyễn Đình Tấn – Giáo trình xã hội học trong quản lý – học viện Chính trị Quốc gia Hồ chí Minh (2001) Khác
6. Gareth Morgan: cách nhìn nhận tổ chức từ nhiều góc độ. Nhà xuất bản Khoa học kĩ thuật (1994) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w