1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức công tác kế toán tại tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị bộ quốc phòng thực trạng và giải pháp,luận văn thạc sỹ kinh tế

151 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ Chức Công Tác Kế Toán Tại Tổng Công Ty Đầu Tư Phát Triển Nhà Và Đô Thị Bộ Quốc Phòng - Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả Bùi Thị Hằng Nga
Người hướng dẫn PGS.TS. Đặng Văn Thanh
Trường học Học Viện Ngân Hàng
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại luận văn thạc sỹ kinh tế
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 31,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo các nhà khoa học Học viện Tài chính: “Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp là việc tố chức thực hiện ghi chép, phân loại, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát

Trang 2

BÙI THỊ HẰNG NGA

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG TRUNG TÀM THÔNG TIN-THƯ VIÊN

SôUV~QC&.&£f

T ỏ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI TỎNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NHÀ

VÀ ĐÔ THỊ B ộ QUỐC PHÒNG - THựC TRẠNG

VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên ngành: Ke toán

Mã số: 8340301

LUẬN VĂN THẠC sĩ KINH TÉ

Nguôi hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Đặng Văn Thanh

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Bùi Thị Hằng Nga

Trang 4

MỤC LỤC ii

DANH MỤC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT V DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vii

MỎ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của đề tài 5

6 Kết cấu của đề tài 6

CHƯƠNG 1: CO SỞ LÝ LUẬN VỀ TỚ CHỨC CÔNG TÁC KÉ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 7

1.1 TÔNG QUAN VỀ Tồ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP.7 1.1.1 Khái niệm, vai trò, nhiệm vụ của kế toán trong doanh nghiệp 7

1.1.2 Khái niệm, nhiệm vụ, ý nghĩa tố chức công tác kế toán ừong doanh nghiệp 8

1.1.3 Yêu cầu và nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp 10

1.1.4 Nội dung của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp 10

1.2 TÔ CHỨC THƯ NHẬN THÔNG TIN KẾ TOÁN BAN ĐẦU 12

1.2.1 Tổ chức thu nhận thông tin kế toán 12

1.2.2 Tố chức vận dụng chế độ chứng từ kế toán 14

1.3 TỔ CHỨC HỆ THỐNG HÓA, x ử LÝ THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 18

1.3.1 To chức hệ thống hóa thông tin kế toán bằng phương pháp tính giá 18

1.3.2 Tô chức hệ thống hóa thông tin kế toán bằng phương pháp tài khoản và sổ kế toán 21

1.4 TÔ CHỨC CƯNG CẤP THÔNG TIN KẾ TOÁN 27

1.4.1 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán và yêu cầu của thông tin kế toán cần sử dụng 27

1.4.2 Tố chức lập báo cáo kế toán để tổ chức cung cấp thông tin kế toán 28

Trang 5

1.5.1 ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức công tác kế toán 31

1.5.2 Các nội dung cần thực hiện khi ứng dụng CNTT vào tổ chức công tác kế toán 37

1.6 TỒ CHỨC Bộ MÁY KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 37

1.6.1 Các mô hình tổ chức kế toán tài chính và kế toán quản trị 37

1.6.2 Tổ chức lựa chọn hình thức tổ chức bộ máy kế toán 39

1.6.3 Tô chức đội ngũ nhân sự cho bộ máy kế toán 44

1.6.4 Tổ chức kiểm tra kế toán 45

CHƯƠNG 2: THỤC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI TỎNG CÔNG TY ĐẦU Tư PHÁT TRIỂN NHÀ VÀ ĐÔ THỊ BỘ QƯÓC PHÒNG 49

2.1 TÔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY ĐẦU Tư PHÁT TRIỀN NHÀ VÀ ĐÔ THỊ Bộ QUỐC PHÒNG ‘ 49

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng 49

2.1.2 Đặc diêm tố chức sản xuất kinh doanh và quản lý kinh doanh tại Tổng công ty Đâu tư phát triên nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng 51

2.1.3 Yêu cầu và nhiệm vụ kế toán tại Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quôc Phòng 60

2.2 THỰC TRẠNG Tồ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NHÀ VÀ ĐÔ THỊ BỘ QUỐC PHÒNG 61

2.2.1 Thực trạng tổ chức thu nhận thông tin kế toán tại Tổng công ty 64

2.2.2 Thực trạng tổ chức hệ thống hóa, xử lý thông tin kế toán 67

2.2.3 Thực trạng tổ chức cung cấp thông tin kế toán tại Tổng công ty 71

2.2.4 Thực trạng tổ chức kiểm tra kế toán 75

2.2.5 Thực trạng ứng dụng CNTT trong tổ chức công tác kế toán ở Tổng công ty Đầu tư phát triên nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng 78

2.2.6 Thực trạng tố chức bộ máy kế toán tại Tổng công ty 80

2.3 ĐÁNH GIÁ THựC TRẠNG Tổ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỀN NHÀ VÀ ĐÔ THỊ Bộ QUỐC PHÒNG 82

2.3.1 Kết quả đạt được 82

2.3.2 Những vấn đề hạn chế trong tổ chức công tác kế toán tại Tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quôc phòng 85

2.3.3 Nguyên nhân của những vấn đề hạn chế trong tổ chức công tác kế toán tại Tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc phòng 88

Trang 6

CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU Tư PHÁT TRIỂN NHÀ

VÀ ĐÔ THỊ Bộ QUỐC PHÒNG .90

3.1.1.Định hướng phát triển của Tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc phòng 90

3.1.2.Yêu cầu và nguyên tắc của việc hoàn thiện tổ chức công tác kết toán tại Tổng Công ty Đâu tư phát triên nhà và đô thị Bộ Quôc phòng 90

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN Tổ CHỨC CÔNG TÁC KỂ TOÁN TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NHÀ VÀ ĐÔ THỊ BỘ QUỐC PHÒNG 94

3.2.1 Hoàn thiện tổ chức thu nhận thông tin kế toán 94

3.2.2 Hoàn thiện tổ chức hệ thống hóa, xử lý thông tin kế toán 97

3.2.3 Hoàn thiện tố chức cung cấp thông tin kế toán 103

3.2.4 Hoàn thiện tổ chức kiểm tra kế toán 105

3.2.5 Giải pháp hoàn thiện tổ chức úng dụng CNTT vào công tác kế toán 107

3.2.6 Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán 109

3.3 ĐIỀU KIỆN ĐẾ THƯC HIỆN GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN Tổ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI TỔNG CồNG TY ĐẦU Tư PHÁT TRIỂN NHÀ VÀ ĐÔ THỊ BỘ QUỐC PHÒNG ' ’ 111

KÉT LUẬN 114 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO I DANH MỤC PHỤ LỤC III

Trang 7

BC Báo cáo

Trang 9

Hình 2.1 Giao diện chính phần mềm kế toán Tổng công ty sử dụng 67Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng 80

Trang 10

MỎ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, đối với doanh nghiệp kế toán được coi là ngôn ngữ kinh doanh, là phương tiện giao tiếp giữa doanh nghiệp với các đối tượng có liên quan đến doanh nghiệp Kế toán cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính hữu ích cho các đối tượng có liên quan với doanh nghiệp và có vai trò quan trọng trong việc ra quyết định hợp lý và hiệu quả Trong những năm gần đây với xu hướng toàn cầu hóa, hợp tác và phát triển các loại hình doanh nghiệp ở nước ta khá đa dạng và phong phú đã cho phép nhiều nhà đầu tư hoạt động Vì vậy đòi hỏi thông tin kế toán phải trung thực, lành mạnh và đáng tin cậy nhằm giúp người sử dụng đưa ra được quyết định đúng đắn trong tương lai

Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đã chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại Thể giới WTO, tất cả các doanh nghiệp Việt Nam đều phải tham gia vào sân chơi chung của nền kinh tế toàn cầu Bên cạnh những cơ hội mà toàn cầu hoá mang lại, doanh nghiệp Việt Nam cũng phải đối mặt với thách thức, đó là cuộc cạnh tranh gay gắt để tồn tại và phát triển trong môi trường mới Đứng trước

xu thế mở cửa và hội nhập với kinh tế khu vực và quốc tế, vấn đề cấp bách đặt ra với các doanh nghiệp nói chung và các công ty cổ phần nói riêng là làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện thị trường có sự tham gia của các công

ty nước ngoài, công ty đa quốc gia Một trong những biện pháp đó là tổ chức tốt công tác kể toán

Tổ chức công tác kế toán là một trong những nhiệm vụ quan trọng được các doanh nghiệp quan tâm để kiểm tra tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp một cách thường xuyên và liên tục Tổ chức công tác kế toán tốt thì đều có

cơ hội phát huy tốt hơn thế mạnh và giảm thiểu tối đa những yếu kém trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp

Tống công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng được thành lập ngày 17/9/1987 theo Quyết định số 183/QĐ-TM ngày 17/9/1987 của Tổng tham

Trang 11

chuyển từ Học viện Kỹ thuật Quân sự về Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc Phòng, ngày 23/8/2011 Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng đã ra Quyết định số 3034/QĐ-BQP về việc thành lập Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng, hoạt động theo hình thức công ty mẹ - công ty con trên cơ sở tổ chức lại Công ty TNHH một thành viên Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng

Từ khi thành lập đến nay Tổng công ty đã đạt được những thành quả nhất định trong quá trình sản xuất, kinh doanh Đe có được những kết quả đó là sự chung tay góp sức của ban lãnh đạo Tổng công ty cũng như các bộ phận cấu thành nên Tổng công ty Kế toán với tư cách là một bộ phận cấu thành của hệ thống các công cụ quản lý kinh tế cũng đòi hỏi phải có sự đổi mới và hoàn thiện liên tục cho phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế đất nước và chính bản thân doanh nghiệp trong quá trình đổi mới Đe phát huy chức năng, vai trò quan trọng của kế toán trong công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp , đòi hỏi phải tổ chức công tác kế toán tài chính một cách khoa học, hợp lý nhằm cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ và trung thực, đáp ứng yêu cầu kinh doanh và quản lý kinh doanh theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

kế toán tại Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng-Thực trạng và giải pháp” làm luận văn tốt nghiệp Đây là vấn đề vừa có ý nghĩa về lý

luận vừa có ý nghĩa về thực tiễn đồng thời là vấn đề mang tính cấp thiết nhàm giúp các nhà quản lý của Tổng công ty vận dụng vào thực tiễn để hoạch định quản lý trong quá trình phát triển của đơn vị

2 Tông quan nghiên cứu đê tài

Tố chức kế toán có vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa cơ sở lý luận với thực tế thực hành công việc kế toán ở doanh nghiệp Đã có nhiều đề tài nghiên cứu

về tổ chức kế toán tại các doanh nghiệp thuộc các ngành, lĩnh vực khác nhau như: ngành dầu khí, sản xuất dược phẩm, hàng không du lịch, chứng khoán, Tuy

Trang 12

phù hợp với quy mô, đặc điểm kinh doanh của từng doanh nghiệp.

Qua tìm hiểu một số công trình nghiên cứu được đề cập dưới đây đã đưa ra khá rõ cơ sở lý luận của tổ chức kế toán tại một số doanh nghiệp, thực trạng và những vẫn đề còn tồn tại, giải pháp của tác giả về việc hoàn thiện như: Năm 2010, với đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế: “Hoàn thiện tổ chức kế toán tại các doanh nghiệp may 100% vốn nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hưng Yên” của Phùng Thị Ngọc Mai, người hướng dẫn khoa học PGS.TS Phạm Thị Bích Chi, Trường Đại học kinh tể quốc dân Theo kết cấu của đề tài nghiên cứu, tác giả đã nêu được cơ sở lý luận chung về tổ chức kế toán, phân tích thực trạng và có cái nhìn tổng quan về tổ chức kế toán, đánh giá những thành quả đạt được đồng thời phát hiện những mặt còn tồn tại cần giải quyết Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả đã đưa ra một số giải pháp hoàn thiện trên ba phương diện: tổ chức bộ máy nhấn mạnh đến việc chuyên môn hóa và đào tạo con người; tổ chức công tác kế toán tuân thủ chế độ kế toán hiện hành và điều kiện thực tế của doanh nghiệp; tổ chức kiểm tra công tác kế toán và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán Tuy nhiên, với đề tài nghiên cứu trên, tác giả chưa đề cập đến đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp may 100% vốn nước ngoài có ảnh hưởng đến tố chức kế toán để từ đó có được đánh giá chính xác và khách quan hơn về thực trạng tổ chức kế toán tại doanh nghiệp Mặt khác, những đề xuất và kiến nghị tác giả đưa ra còn sơ sài, thiếu tính thuyết phục và chưa lôgic với những tồn tại mà tác giả đã đề cập trước đó Do vậy, theo tôi việc đưa ra những giải pháp hoàn thiện

có tính chọn lọc và khả thi sẽ giúp đề tài có tính ứng dụng cao hơn

Năm 2008, đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế “Hoàn thiện tổ chức kế toán trong các công ty chứng khoán ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Ngọc Hà, người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Đông, Trường Đại học kinh tế quốc dân

Đe tài nghiên cứu khoa học trên không đi sâu nghiên cứu theo chiều hướng tổ chức kế toán tại các công ty chứng khoán mà chỉ nghiên cứu một phần của công tác

tổ chức kế toán, đó là tổ chức hệ thống tài khoản, quy trình hạch toán và luân

Trang 13

cơ sở lý luận chung tác giả đã tiến hành khảo sát thực tể tại Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn, Công ty chứng khoán Ngân hàng Công thuơng Việt Nam và Công

ty chứng khoán Thăng Long nhằm đánh giá thực trạng tổ chức kế toán tại các công

ty chứng khoán Việt Nam Từ đó, đưa ra những quan điểm và phương hướng hoàn thiện kể toán trong các công ty chứng khoán Việt Nam, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị có chọn lọc nhằm nâng cao chất lượng công tác kế toán trong các công ty chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới

Qua các công trình nghiên cứu trước đây, về mặt lý luận, tổ chức kế toán đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu rất phong phú đa dạng Tuy nhiên, về mặt

tổ chức ứng dụng, tổ chức kế toán cho từng lĩnh vực cụ thể vẫn còn rất hạn chế Đã

có một số đề tài thạc sỹ nghiên cứu về tổ chức kế toán ở các ngành dầu khí, du lịch, may mặc, chứng khoán, tuy nhiên đề tài nghiên cứu về tổ chức kế toán trong các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản còn rất hạn chế và có rất ít tác giả quan tâm Xuất phát từ việc tìm hiểu trên, đề tài nghiên cứu của tôi trên cơ sở kế thừa nhũng luận điểm chung đã được đề cập trong các đề tài nghiên cứu trước đó, sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu thực trạng và hướng hoàn thiện tổ chức kế toán tại Tổng Công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc phòng

3 Mục đích nghiên cứu

- Hệ thống hoá những lý luận về tổ chức công tác kể toán tại các doanh nghiệp sản xuất

- Trên cơ sở hệ thống hóa, phân tích lý luận và nghiên cứu khảo sát thực tế về

tổ chức công tác kế toán tại Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Tổng công ty

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức công tác

kế toán

Trang 14

♦ Thời gian nghiên cứu: Các tài liệu và số liệu của Tống công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng trong các năm 2014, 2015, 2016.

♦ Không gian nghiên cứu : Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng

5 Phuong pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Việc nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng tổng họp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yểu sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết: được sử dụng để hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp hiện nay

- Phương pháp phân tích thực chứng, phương pháp chuẩn tắc: Phương pháp thực chứng được sử dụng để nêu lên thực trạng về tổ chức công tác kế toán tại Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc phòng Phương pháp chuẩn tắc được sử dụng để đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân từ đó có cơ sở đề xuất giải pháp

- Phương pháp thống kê, so sánh: Được sử dụng để tổng họp và so sánh các số liệu ở các thời kỳ làm cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc phòng

- Các phương pháp, kỹ thuật khác: bảng, biểu, sơ đồ, sử dụng tin học trong

xử lý số liệu, được sử dụng để trình bày làm rõ các nội dung nghiên cứu

Trang 15

điểm và những hạn chế trong việc tổ chức công tác kế toán tại Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng.

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Tổng công ty Đâu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng Nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kế toán tại đơn vị, đảm bảo các thông tin kế toán cung cấp thỏa mãn được các yêu cầu của người sử dụng

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo Đồ tài được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kể toán trong doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Tổng công ty Đầu tư phát

triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng

Chưong 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Tổng công ty

Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng

Trang 16

CHƯƠNG 1:

Cơ SỎ LÝ LUẬN VÈ TỎ CHỨC CÔNG TÁC KÉ TOÁN

TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 TỎNG QUAN VÈ TỎ CHỨC CÔNG TÁC KÉ TOÁN TRONG DOANH

NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm, vai trò, nhiệm vụ của kế toán trong doanh nghiệp

Luật sổ 88/2015/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 20/11/2015 quy định:

Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động

Ke toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đổi tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kể toán

Ke toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tể, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán

Ke toán là một môn khoa học, một nghề nghiệp và cũng là một trong các công cụ quản lý kinh tể quan trọng của doanh nghiệp Kế toán thu nhận, xử lý và cung cấp toàn

bộ thông tin về tài sản, sự vận động của tài sản, các hoạt động kinh tế, tài chính trong doanh nghiệp, nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp Do vậy kế toán là công cụ không thể thiếu được trong hệ thống công cụ quản

lý của doanh nghiệp

Với vai trò như vậy, kế toán trong doanh nghiệp có một số nhiệm vụ như sau:

- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực và chể độ kế toán

- Kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán

Trang 17

- Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đon vị kế toán.

- Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật

1.1.2 Khái niệm, nhiệm vụ, ý nghĩa to chức công tác kế toán trong doanh nghiệp

Thực tiễn đã chứng minh, kế toán là nhu cầu tất yểu khách quan của mọi hình thái kinh tế xã hội có nền sản xuất hàng hóa, là một trong những công cụ quan trọng phục vụ quá trình quản lý kinh tế, gắn liền với mọi hoạt động quản lý Để kế toán thực

sự là một công cụ quản lý kinh tế thì vấn đề tổ chức công tác kế toán cần phải được đặc biệt quan tâm trong mồi đơn vị kế toán

Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung quan trọng trong tổ chức quản lý trong doanh nghiệp Tổ chức công tác kế toán một cách thích ứng với điều kiện về qui mô, về đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như gắn với những yêu cầu quản lý cụ thể tại doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng và to lớn trong việc nâng cao hiệu quả quản lý tại doanh nghiệp

Với chức năng thông tin và kiểm tra tình hình kết quả hoạt động của doanh nghiệp một cách thường xuyên, nhanh nhạy và có hệ thống nên tổ chức công tác kế toán là một trong những vấn đề quan trọng được các doanh nghiệp quan tâm Tổ chức công tác kế toán không đơn thuần là tổ chức một bộ phận quản lý trong doanh nghiệp ,

mà nó còn bao hàm cả tính nghệ thuật trong việc xác lập các yếu tố, điều kiện cũng như các mối liên hệ qua lại, các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kế toán, bảo đảm cho kế toán phát huy tối đa các chức năng vốn có của mình

Tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp trong điều kiện thực hiện cơ chế thị trường, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung của khoa học tổ chức, còn phải gắn với đặc thù của hạch toán kể toán vừa là môn khoa học, vừa là môn nghệ thuật ứng dụng để việc tổ chức đảm bảo được tính linh hoạt, hiệu quả và đồng bộ nhắm đạt tới mục tiêu chung là tăng cường được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 18

Nhưng bản chất của kế toán là một khoa học vì vậy khái niệm tổ chức công tác

kê toán cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Do đó, có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm về tổ chức công tác kế toán

Theo các nhà khoa học Học viện Tài chính: “Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp là việc tố chức thực hiện ghi chép, phân loại, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh theo những nội dung công tác kế toán bằng phương pháp khoa học của kế toán, phù hợp với chính sách chế độ quản lý kinh tế quy định, phù hợp với đặc điểm tình hình cụ thể của doanh nghiệp để phát huy chức năng, vai trò của

kế toán trong quản lý vĩ mô và vi mô nền kinh tế”

Theo các nhà khoa học của trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh lại cho rằng: “Tổ chức công tác kế toán không đơn thuần là tổ chức một bộ phận quản lý trong doanh nghiệp , mà nó còn bao hàm cả tính nghệ thuật trong việc xác lập các yếu

tố, điều kiện cũng như các mối quan hệ qua lại có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp hoạt động kế toán, đảm bảo cho kế toán phát huy tối đa các chức năng vốn có của mình.”

Trên giác độ chung nhất, có thể đưa ra khái niệm về tổ chức công tác kể toán như sau: Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp là họat động chủ quan của doanh nghiệp trong việc tổ chức vận dụng các phương pháp, nguyên tắc, chuẩn mực

và chế độ kế toán đe thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản, các hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp , nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tể tài chính của doanh nghiệp

Do vậy, tổ chức công tác kế toán có thể được được hiểu là việc xây dựng một hệ thống các phương pháp, cách thức phối họp, sử dụng phương tiện kỹ thuật cũng như nguồn lực của bộ máy kế toán thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của kế toán một cách trung thực, chính xác, kịp thời trong mối liên hệ mật thiết với các lĩnh vực quản

lý khác

Là một trong những công cụ quản lý quan trọng của doanh nghiệp, do vậy việc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

Trang 19

- Tố chức hợp lý bộ máy kế toán ở tổ chức để thực hiện được toàn bộ công việc

kế toán ở tổ chức với sự phân công, phân nhiệm rõ ràng công cụ kế toán cho từng bộ phận, từng người trong bộ máy kế toán

- Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và chế độ

kế toán hiện hành, tổ chức vận dụng hình thức kế toán hợp lý, các phương tiện

ký thuật tính toán hiện có nhằm đảm bảo chất lượng của thông tin kế toán

- Xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán với các bộ phận quản lý khác trong tổ chức về công việc có liên quan đến công tác kể toán

- Giúp cho kế toán thực hiện tốt yêu cầu, chức năng của mình trong hệ thống công cụ quản lý

- Giúp cho doanh nghiệp có được bộ máy kế toán gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả, nâng cao hiệu suất và hiệu quả hoạt động của bộ máy kế toán

1.1.3 Yêu cầu và nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp

Đe thực hiện tốt các nhiệm vụ kế toán thì tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau:

Trang 20

- Tố chức công tác kế toán phải đáp ứng yêu cầu thông tin có ích, tin cậy cho việc quản lý và đưa ra các quyết định kinh doanh.

- To chức công tác kế toán phải đơn giản, dễ làm, dễ hiểu, phù hợp với đặc điểm

tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý và đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp

- Tổ chức công tác kể toán phải đáp ứng được các yêu cầu công nghệ thông tin

- Tố chức công tác kể toán phải đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

- Phải đảm bảo thực hiện được đầy đủ chức năng nhiệm vụ của kế toán

Xuất phát từ các yêu cầu trên, tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp phải tuân thủ tốt các nguyên tắc cơ bản sau:

- Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp phải đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán và các quy định của Hiệp hội nghề nghiệp về kế toán

- Tố chức công tác kế toán phải đảm bảo nguyên tắc thống nhất

- Tố chức công tác kế toán phải đảm bảo nguyên tắc phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp

- Tố chức công tác kế toán phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả

Những nguyên tắc này phải được thực hiện một cách đồng bộ trong tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp

1.1.4 Nội dung của to chức công tác kế toán trong doanh nghiệp

Các nội dung chủ yếu của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp bao gồm:

- Tổ chức thu nhận thông tin kế toán về nội dung các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh ở doanh nghiệp và kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của các nghiệp vụ

đó Muốn thực hiện điều đó phải tổ chức hạch toán ban đầu để ghi nhận thông tin vào chứng từ kế toán và tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán để kiểm tra

và ghi sổ kế toán kịp thời

Trang 21

- Tổ chức hệ thống hóa và xử lý thông tin kể toán nhằm đáp ứng được những yêu cầu của thông tin kể toán Muốn thực hiện điều đó phải tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán để có thể hệ thống hóa thông tin kế toán.

- Tổ chức cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho quản lý kinh tế tài chính vĩ mô

và vi mô Muốn thực hiện điều đó phải tổ chức việc lập báo cáo kế toán định kì, các báo cáo kế toán nội bộ, bao gồm cả báo cáo định kỳ và báo cáo nhanh theo yêu cầu quản lý của Nhà nước và của nội bộ doanh nghiệp

- Tổ chức bộ máy kế toán ở tổ chức để thực hiện toàn bộ công việc kế toán ở doanh nghiệp; Tổ chức trang bị sử dụng các phương tiện kỹ thuật tính toán nhằm nâng cao hiệu suất của nhân viên kế toán, tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề nghiệp cho nhân viên kể toán

- Tổ chức kiểm tra kế toán nội bộ nhằm đảm bảo thực hiện đúng đắn các chế độ

về quản lý kinh tế, tài chính nói chung và Luật kế toán, chuẩn mực và chế độ kế toán nói riêng

1.2 TỎ CHỨC THU NHẬN THÔNG TIN KÉ TOÁN BAN ĐẰU

1.2.1 Tổ chức thu nhận thông tin kế toán

Thông tin kế toán là những thông tin về sự vận động của các đối tượng kế toán

Đó là các thông tin được hình thành từ các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành tại doanh nghiệp Vì vậy thu nhận thông tin kế toán là thu nhận thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh của đơn vị nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý kinh tế tài chính của đơn vị Do đó việc thu nhận thông tin kể toán phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Ghi nhận, phản ánh đúng nội dung các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và thực sự hoàn thành theo địa điểm và thời gian phát sinh của chúng, nhằm đảm bảo tính thực tế, khách quan

Trang 22

- Ghi nhận phản ánh rõ tên và địa chỉ của những người thực hiện nghiệp vụ kinh

tế, tài chính phát sinh

- Ghi nhận, phản ánh rõ các chỉ tiêu số lượng hiện vật và giá trị (bằng tiền) mà nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh tác động đến tài sản hoặc liên quan đến trách nhiệm vật chất của đơn vị, đồng thời phải trình bày rõ căn cứ tính toán xác định các chỉ tiêu này Yêu cầu này giúp đảm bảo tính trung thực, đáng tin cậy của thông tin kế toán và giúp cho việc kiểm tra kiểm soát tại đơn vị

- Việc ghi nhận thông tin kế toán phải kịp thời Hiệu lực của thông tin kế toán chỉ phát huy cao khi được ghi nhận và cung cấp kịp thời, đặc biệt trong cơ chế thị trường.Các thông tin kể toán cung cấp ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của nhà quản trị Những thông tin mà KTQT cần tổ chức và thu nhận là thông tin quá khứ và thông tin tương lai

Thông tin quá khứ mà KTQT thu thập và cung cấp cho thấy tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong thời kỳ đã qua Điều đó giúp các nhà quản trị doạnh nghiệp đánh giá được hiệu quả của việc thực hiện các quyết định, đánh giá mức độ kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp của chính nhà quản trị, làm cơ sở tiền đề để hoạch định các chính sách trong thời kỳ tiếp theo Đế thu thập thông tin này KTQT có thể sử dụng các phương pháp kế toán: phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tài khoản

kế toán, phương pháp tổng hợp cân đối thông qua việc tổ chức hạch toán ban đầu, tổ chức vận dụng tài khoản, thiết kế hệ thống sổ kể toán, hệ thống báo cáo kế toán theo yêu cầu quản lý và mục đích ra quyết định

Thông tin tương lai là những thông tin về các hiện tượng và sự kiện chưa xảy ra

Để ra được quyết định nhà quản trị cần rất nhiều thông tin liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, đồng thời cũng được thu thập theo nhiều cách khác nhau Tuỳ theo nội dung cần thu thập, KTQT sử dụng các phương pháp thu thập và trình bày khác nhau Các phương pháp thu thập thông tin ban đầu là: quan sát, thực nghiệm, thăm dò dư luận Các kỹ thuật được sử dụng khi thu thập là: phân tích, chọn mẫu, tổng hợp và ước tính

Trang 23

1.2.2 Tổ chức vận dụng chế độ chứng từ kế toán

Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán Chứng từ kế toán là phương tiện để kế toán tổ chức thu nhận thông tin kế toán Nó vừa là phương tiện thông tin vừa là phương tiện chứng minh bằng văn bản tính hợp pháp của các nghiệp

vụ kinh tế phát sinh và thực sự hoàn thành

Chứng từ kế toán là nguồn thông tin ban đầu (đầu vào) được xem như nguồn số liệu mà kê toán sử dụng đế qua đó tạo lập nên những thông tin có tính tổng họp phục

vụ cho nhiều đối tượng khác nhau Do có vai trò như vậy nên việc tổ chức thu nhận thông tin qua chứng từ kế toán có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thông tin của kế toán (cả kế toán tài chính và kế toán quản trị)

Thu nhận thông tin về các nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh phản ánh trong các chứng từ kế toán là công việc khởi đầu của quy trình kể toán, có ý nghĩa quyết định đến tính khách quan, trung thực của số liệu kế toán và báo cáo kế toán, vì chứng

từ kế toán là căn cứ để ghi chép và hệ thống hóa thông tin kế toán Chứng từ kế toán còn là căn cứ không thế thiếu được để phục vụ cho công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh tế - tài chính ở các đơn vị

Nội dung các chứng từ kể toán phải đảm bảo những nội dung chủ yểu sau:

♦ Tên gọi của chứng từ: hóa đơn, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, phiếu thu, phiếu chi

♦ Ngày, tháng, năm lập chứng từ

♦ Số hiệu chứng từ

♦ Tên, địa chỉ, chữ ký và dấu (nếu có) của đơn vị

♦ Nội dung tóm tắt của hoạt động kinh tế tài chính phát sinh

♦ Các đơn vị đo lường cần thiết tên nhãn hiệu, quy cách, phẩm chất, số lượng, đơn giá, thành tiền

Trang 24

♦ Họ tên và chữ ký người lập, người thực hiện, người kiểm soát, người duyệt.

Ở các đom vị, kế toán trưởng, trưởng phòng tài chính kể toán hay phụ trách kế toán là người chịu trách nhiệm chính trước của thủ trưởng đơn vị, cũng như trước Nhà nước về tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ kế toán

Chứng từ kế toán chỉ được lập một lần cho mỗi nghiệp vụ kinh tể tài chính phát sinh, đủ sổ liên theo quy định, giữa các liên phải giống nhau

Chứng từ kể toán phải lập rõ ràng, đầy đủ, kịp thời, chính xác theo đúng nội dung quy định

Nội dung ghi chép chứng từ kế toán, không được viết tắt, không được tẩy xóa, sửa chữa, khi viết phải dùng bút mực, số và chữ viết lên phải liên tục không ngắt quãng, chỗ trống phải được gạch chéo

Nội dung của việc tổ chức thu nhận thông tin kế toán bằng các chứng từ kế toán gồm các công việc sau:

> Tổ chức xây dựng hệ thống danh mục chứng tù' kế toán trong doanh nghiệp

và các biếu mẫu chứng tù' kế toán

Đe tố chức thu nhận thông tin kế toán các doanh nghiệp cần xác định cho mình một hệ thống chứng từ nhất định, xác định những chứng từ nào dùng cho kế toán tài chính, những chứng từ nào dùng cho kế toán quản trị và những chứng từ sử dụng cho một nghiệp vụ cụ thể

Hiện nay theo Luật kế toán và chế độ kế toán ban hành do nhà nước ban hành, hệ thống danh mục chứng từ kế toán bao gồm hệ thống chứng từ kế toán bắt buộc và hệ thống chứng từ kế toán hướng dẫn

Chứng từ bắt buộc là những chứng từ phản ánh các quan hệ kinh tế giữa các

pháp nhân hoặc do yêu cầu quản lý chặt chẽ mang tính chất phổ biến rộng rãi Ví dụ như Hoá đơn GTGT Đối với loại chứng từ bắt buộc, Nhà nước tiêu chuẩn hoá về quy cách, biếu mẫu, chỉ tiêu phản ánh trong chứng từ, mục đích và phương pháp lập chứng

Trang 25

từ Loại chứng từ bắt buộc được áp dụng thống nhất cho các lĩnh vực kinh tế và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Chứng từ hướng dẫn là những chứng từ kế toán sử dụng trong nội bộ đơn vị Nhà

nước chỉ hướng dẫn các chỉ tiêu đặc trưng làm cơ sở để các đơn vị dựa trên đó mà vận dụng một cách thích họp vào từng tình huống cụ thể Chẳng hạn như Phiếu xuất kho, Phiếu nhập kho Có thể thay đổi một số chỉ tiêu, thiết kế mẫu biểu sao cho phù họp, đảm bảo yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp nhưng phải đủ các thành phần đã quy định trong Luật kế toán

Như vậy các căn cứ để doanh nghiệp có thể xây dựng hệ thống danh mục và biểu mẫu chứng từ kế toán là:

- Tính chất hoạt động của doanh nghiệp

- Yêu cầu quản lý của đơn vị

- Các quy định hiện hành

> Tố chức lập chứng từ kế toán và hạch toán ban đầu để ghi nhận các nghiệp

vụ kinh tế phát sinh

Nội dung công việc chủ yếu của tổ chức lập chứng từ và hạch toán ban đầu gồm

- Quy định việc sử dụng mẫu chứng từ ban đầu thích họp với từng nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh để có thể ghi nhận được đầy đủ nội dung thông tin

- Quy định người chịu trách nhiệm ghi nhận thông tin vào chứng từ ban đầu ở từng bộ phận khi có nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh Hướng dẫn họ cách ghi nhận thông tin vào chứng từ, đảm bảo ghi nhận đầy đủ thông tin để lấy đó làm cơ sở ghi sổ kể toán và kiểm, kiểm soát khi cần

- Phân công kế toán viên chịu trách nhiệm thu nhận và kiểm tra các chứng từ ban đầu để phòng kế toán đơn vị nhận được toàn bộ thông tin về các nghiệp vụ kinh

tế - tài chính phát sinh phản ánh trong đơn vị

> To chức kiếm tra chứng từ kế toán

Trang 26

Trình tự kiếm tra chứng từ kế toán Kiếm tra tính rõ ràng, trung thực, đầy đủ của các chỉ tiêu, các yếu tổ ghi chép trên chứne từ kể toán; Kiểm tra tính họp pháp, họp lý của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đã ghi trên chứng từ kế toán, đối chiếu chứng từ kế toán với các tài liệu khác có liên quan; Kiểm tra tính chính xác của số liệu, thông tin trên chứng từ kế toán.

Khi kiểm tra chứng từ kế toán nếu phát hiện có hành vi vi phạm chính sách, chế

độ, các quy định về quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước, phải từ chối thực hiện (Không xuất quỹ, thanh toán, xuất kho, ) đồng thời báo ngay cho Giám đốc doanh nghiệp biết để xử lý kịp thời theo pháp luật hiện hành

Đối với những chứng từ kế toán lập không đúng thủ tục, nội dung và chữ số không rõ ràng thì người chịu trách nhiệm kiểm tra hoặc ghi sổ phải trả lại, yêu cầu làm thêm thủ tục và điều chỉnh sau đó mới làm căn cứ ghi sổ

> Tố chức luân chuyển chứng từ kế toán

Chứng từ kế toán sau khi được kiểm tra và hoàn thiện cần phải xây dựng quy trình luân chuyển chứng từ cho từng nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh để đảm bảo cho các bộ phận quản lý, các bộ phận kể toán liên quan có thể thực hiện nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phản ánh trong chứng từ để thực hiện việc ghi chép vào sổ

kể toán, đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời cho lãnh đạo thực hiện quản lý kinh doanh tại doanh nghiệp Đe đảm bảo việc luân chuyển chứng từ nhanh và phù họp cần xác định chức trách, nhiệm vụ của các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp nhằm giảm bót những thủ tục, những chứng từ kế toán không cần thiết và tiết kiệm thời gian

Các căn cứ để xây dựng kế hoạch, quy trình luân chuyển chứng từ hợp lý là:

- Quy mô hoạt động, đặc điểm tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Tình hình thực tể tổ chức bộ máy kế toán, mối quan hệ giữa các bộ phận trong

bộ máy kế toán và tổ chức hệ thongJhongTijn trong doanh nghiệp

s s a t ,® ^

Trang 27

- Đặc điểm của từng loại chứng từ và các loại nghiệp vụ kinh tế mà chứng từ phản ánh.

> To chức bảo quản, lưu trữ và hủy bỏ chứng từ kế toán

Bảo quản và lưu trữ chứng từ kế toán: Chứng từ kế toán chứng minh cho các hoạt động kinh tế tài chính phát sinh nó thực sự hoàn thành, chứng minh cho số liệu ghi sổ

kế toán và thông tin kinh tế, bởi vậy sau khi sử dụng chứng từ kế toán cần được bảo quản và lưu trữ theo điều 41 của Luật kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Tránh gây nên hư hỏng mất mát chứng từ kế toán, đảm bảo khi cần thiết có thể sử dụng lại chứng từ kế toán phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra kinh tế, trường hợp xảy ra mất mát, hư hỏng chứng từ kế toán, phải kịp thời báo cáo thủ trưởng đơn vị, kế toán trưởng các đơn vị và các cơ quan chức năng để

có biện pháp xử lý kịp thời

1.3 TỎ CHỨC HỆ THỐNG HÓA, x ử LÝ THÔNG TIN KÉ TOÁN TRONG

DOANH NGHIỆP

1.3.1 Tố chức hệ thống hóa thông tin kế toán bằng phưong pháp tính giá

Thu nhận, xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán là công việc quan trọng trong toàn bộ quy trình kế toán, có ý nghĩa lớn và góp phần quyết định đối với tính trung thực, khách quan của số liệu kể toán và báo cáo kế toán Do đó, việc xử lý và hệ thống hóa thông tin kể toán phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Xử lý và hệ thống hóa thông tin kế toán theo đúng nguyên tắc kế toán được thừa nhận, nhằm đảm bảo tính thực tể, khách quan của hoạt động kinh tế, tài chính ở đơn vị

- Xử lý và hệ thống hóa phải gắn với trách nhiệm của những người thực hiện các nghiệp vụ kinh tể, tài chính phát sinh, để có thể kiểm tra trách nhiệm vật chất của họ trong việc thực hiện các nghiệp vụ này khi cần thiết

Trang 28

- Phải kịp thời phục vụ tốt cho công việc điều hành và quản lý kinh tế tài chính của đơn vị Hiệu lực của thông tin kế toán chỉ phát huy cao khi thông tin được ghi nhận cung cấp kịp thời, đặc biệt là trong cơ chế thị trường.

Thông tin kế toán là thông tin định lượng Do đó, trong quá trình thu nhận, xử lý,

hệ thốn hóa và cung cấp thông tin, kế toán phải đo lường được các đối tượng kế toán thông qua việc lượng hóa chúng theo nhưng thước đo phù hợp, trong đó tiền tệ là thước đo bắt buộc và chủ yếu của kế toán, theo đó các đối tượng kế toán của một đơn

vị kế toán cụ thể cho dù tồn tại dưới hình thức nào cũng phải được định lượng dưới dạng tiền tệ hay giá trị

Để thực hiện việc lượng hóa các đối tượng kế toán dưới dạng tiền tệ, kể toán phải

sử dụng phương pháp tính giá Phương pháp tính giá là phương pháp kế toán, sử dụng thước đo tiền tệ để xác định giá trị của các đối tượng kế toán phục vụ cho quá trình thu nhận, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính ở đơn vị

Phương pháp tính giá có ý nghĩa rất quan trọng trong quy trình kế toán cũng như đối với các quyết định của các bên sử dụng thông tin kế toán Bởi vì nếu không thực hiện tính giá thì sẽ không thể tiến hành các bước tiếp theo của quy trình kế toán như ghi sổ, tổng hợp số liệu và trình bày các thông tin kế toán trên các báo cáo tài chính, ngoài ra thông tin kế toán do kết quả của phương pháp tính giá ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin kế toán Ví dụ nếu tài sản được tính giá quá cao và nợ phải trả bị tính quá thấp, các nhà đầu tư và cung cấp tín dụng có thể phải gánh chịu rủi ro nếu doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản hoặc lợi ích kinh tế thấp hơn so với kì vọng của họ Trong trường họp ngược lại, có thể các nhà đầu tư hoặc tổ chức tín dụng có thể sẽ mất một khoản đầu tư có lợi hoặc là quyết định đầu tư, cho vay vốn không đạt hiệu quả cao nhất do chưa đánh giá được hết mức sinh lời của doanh nghiệp

Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của phương pháp tính giá, để đảm bảo những yêu cầu đối với thông tin kể toán, phương pháp tính giá phải đảm bảo nhưng yêu cầu sau:

Trang 29

- Thứ nhất, tính giá phải đảm bảo tính tin cậy Giá trị của các đối tượng kế toán

phải được dựa trên những căn cứ, bằng chứng tin cậy và phù hợp với nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung

Thứ hai, tính giá phải đảm bảo tính nhất quán Giá trị của các đối tượng kế toán

có thế được sử dụng nhiều phương pháp cụ thể khác nhau, để đảm bảo nguyên tắc nhất quán trong kế toán thì yêu cầu nhất quán với phương pháp tính giá là rất cần thiết

Một số loại giá được sử dụng đế tính giá tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu:

- Giá gốc

- Giá thị trường

- Giá hợp lý

- Giá trị hiện tại

- Giá trị thuần có thể thực hiện được

- Giá hiện hành

Mỗi loại giá có một cách xác định khác nhau, có những ưu, nhược điểm riêng và được sử dụng cho những mục đích khác nhau Kế toán viên cần phải căn cứ vào mục đích của các báo cáo kế toán lập ra, các yêu cầu về việc sử dụng cách tính giá nào trong từng trường hợp cụ thể để lựa chọn cách tính giá thích hợp

Nội dung cụ thế của việc tố chức vận dụng phương pháp tính giá để xử lý thông tin kế toán bao gồm:

- Tổ chức xác định các đối tượng cần tính giá

- Tổ chức xác định các loại giá cần xác định cho từng đối tượng, trong từng trường họp

- Xác định các nguyên tắc kế toán ảnh hưởng tới quá trình tính giá của các đối tượng, phương pháp tính giá, thời điểm cần tính giá cho từng đối tượng

Trang 30

- Tô chức thu thập các thông tin cần thiết, cơ sở tính giá cho từng đối tượng; thấm định độ tin cậy của các thông tin này.

- Tổ chức hệ thống mẫu biểu, sổ kể toán để tính giá cho các đối tượng

- Tổ chức tính giá cho các đối tượng

- Kiếm tra lại kết quả của việc tính giá và việc sử dụng thông tin về giá của các đối tượng cho các quá trình kế toán tiếp theo

1.3.2 Tố chúc hệ thống hóa thông tin kế toán bằng phuoìig pháp tài khoản và sổ

kế toán

1.3.2.1 Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán

Tài khoản kế toán là một phương pháp dùng để phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh, theo nội dung kinh tế Tài khoản kể toán phản ánh và kiểm soát thường xuyên liên tục, có hệ thống tình hình vận động của tài sản và tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Tài khoản kế toán được mở cho từng đối tượng kế toán có nội dung kinh tế riêng biệt Tập hợp các tài khoản kế toán, hệ thống tài khoản kế toán thống nhất một bộ phận cấu thành quan trọng của kế toán gồm những quy định thống nhất về tài khoản, số lượng tài khoản, ký hiệu và nội dung ghi chép của từng tài khoản

Tố chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán ở các công ty cần phải tôn trọng các nguyên tắc sau:

- Hệ thống tài khoản kể toán áp dụng ở đơn vị phải đảm bảo bao quát được toàn

bộ hoạt động về kinh tể và tài chính của đơn vị, cũng như quá trình quản lý và

sử dụng các nguồn lực theo đúng chế độ chính sách của Nhà nước

- Các doanh nghiệp cần mở các tài khoản cấp I, cấp II một cách linh hoạt theo đúng chế độ kế toán đã được ban hành

- Hệ thống tài khoản phải được vận dụng đơn giản dễ làm, dễ kiểm tra, kiểm soát, đáp ứng được yêu cầu đối tượng quản lý của đơn vị

Trang 31

- Phản ánh ghi chép nội dung, kết cấu, phạm vi hạch toán trên các tài khoản kế toán phải đủng quy định, phù hợp với đặc điếm, yêu cầu của từng ngành, từng lĩnh vực đối với từng đon vị, đảm bảo khoa học, thống nhất với quy định của chế độ kế toán của Nhà nước đã được ban hành.

- Vận dụng tổ chức hệ thống tài khoản kể toán, tổ chức trên máy vi tính, phải đáp ứng được yêu cầu quản lý là cung cấp và sử dụng thông tin một cách chính xác, kịp thời và phù hợp với yêu cầu của chế độ kế toán

Tỗ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán để hệ thống hóa thông tin kế toán:

> Tổ chức xây dựng hệ thống tài khoản kế toán sử dụng để phản ánh các đối tượng kế toán cụ thổ theo từng chí tiêu tài chính

Tài khoản kế toán là phương pháp kế toán phân loại các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo nội dung kinh tế, các trang sổ kế toán (các bảng kê), được mở để ghi chép phản ánh một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống nhằm phản ánh được tình hình

và sự biển động của từng chỉ tiêu kinh tế - tài chính, phản ánh tài sản và sự vận động của tài sản ở đơn vị Các chỉ tiêu kinh tế - tài chính này bao gồm các chỉ tiêu kinh tế - tài chính tổng hợp và các chỉ tiêu kinh tế - tài chính chi tiết, vì vậy tài khoản kế toán cũng được phân chia thành nhiều cấp: Các tài khoản cấp 1 được mở đế ghi phản ánh tình hình và sự biển động của các chỉ tiêu kinh tế - tài chính tổng hợp, nên còn gọi là tài khoản tổng hợp; còn các tài khoản chi tiết được mở theo các chỉ tiêu kinh tế - tài chính cụ thể hơn nhằm cụ thể hóa các chỉ tiêu kinh tể - tài chính tổng họp Tùy mức độ yêu cầu cần cụ thể hóa chỉ tiêu kinh tế - tài chính tổng họp, mà tài khoản chi tiết được

mở nhiều cấp khác nhau (tài khoản cấp 2, cấp 3, cấp 4 )

Danh mục tài khoản cấp 1 dùng để ghi chép phản ánh được toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản ở đơn vị được gọi là hệ thống tài khoản kế toán Thông thường các đơn vị không tự xây dựng hệ thống tài khoản kế toán, mà chỉ căn cứ vào các hệ thống tài khoản đã được xây dựng cho từng lĩnh vực hoạt động kinh tế - tài chính để xác định danh mục các tài khoản kế toán đơn vị cần sử dụng để phản ánh toàn bộ tình hình kinh tế - tài chính ở đơn vị mình

Trang 32

Mỗi đơn vị phải căn cứ vào nội dung hoạt động kinh tế - tài chính ở đơn vị mình

để xác định đơn vị phải sử dụng hệ thống tài khoản thế nào, sau đó xác định danh mục các tài khoản trong hệ thống tài khoản kế toán mà đơn vị cần phải sử dụng đủ để phản ánh toàn bộ hoạt động kinh tể - tài chính phát sinh ở đơn vị, phù họp với yêu cầu quản

lý kinh tể - tài chính phát sinh ở đơn vị, phù họp với yêu cầu quản lý kinh tế và mức

độ phân cấp quản lý kinh tế - tài chính nội bộ đơn vị Các đơn vị không được tự mở thêm các tài khoản cấp 1, nếu cần thiết phải mở thêm tài khoản cấp 1 thì phải kiến nghị với cơ quan chủ quản ngành và chỉ được mở thêm sau khi có sự đồng ý của Bộ Tài chính

Xây dựng hệ thống tài khoản kế toán chi tiết để hệ thống hóa thông tin kế toán chi tiết:

- Việc hệ thống hóa thông tin kế toán theo các chỉ tiêu kể toán - tài chính tổng họp phản ánh ở các tài khoản cấp 1 nhằm cung cấp thông tin kế toán phục vụ quản lý kinh tế - tài chính vĩ mô là chủ yếu, song ở đơn vị còn cần phải hệ thống hóa thông tin một cách chi tiết, cụ thể hóa các chỉ tiêu kinh tế - tài chính nội bộ Khả năng mở tài khoản kế toán chi tiết là vô hạn, song mở tài khoản chi tiết đến giới hạn nào thì cần phải xem xét chi phí phải bỏ ra so với lợi ích thu được

- Việc ghi chép kể toán và hệ thống hóa thông tin kể toán ở các tài khoản chi tiết chang những để cung cấp thông tin kế toán chi tiết phục vụ yêu cầu quản lý chặt chẽ tài sản của đơn vị, xác định rõ trách nhiệm vật chất của những người được phân công bảo quản, quản lý và sử dụng tài sản của đơn vị; phục vụ yêu cầu phân cấp quản lý kinh tế - tài chính nội bộ đơn vị, phục vụ yêu cầu quản lý kinh doanh ở doanh nghiệp , mà còn là phương tiện để kiểm tra chính xác tính thực

tế của số liệu kế toán Cuối tháng, cuối quý phòng kế toán phải lập các bảng chi tiết số phát sinh (còn gọi là bảng tổng họp chi tiết) theo tổng tài khoản cấp 1 có

mở chi tiết nhằm đảm bảo tính chính xác của việc ghi chép những tài sản có thể kiếm kê được như TSCĐ hữu hình, hàng tồn kho, nợ phải thu định kỳ cần

Trang 33

phải đôn đốc tiến hành kiểm kê thực tế, đối chiếu xác minh công nợ nhằm đảm bảo tính thực tế của sổ liệu kế toán.

> Tố chức trình tự hạch toán các nghiệp vụ phát sinh trong doanh nghiệp trên

co sỏ' phân loại các nghiệp vụ đó theo nội dung kinh tế để ghi vào tài khoản tương ứng.

Các chứng từ kế toán đã được kiểm tra đảm bảo tính hợp pháp và họp lệ là căn

cứ được sử dụng để ghi sổ tài khoản kế toán Có hai cách ghi phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào tài khoản kế toán, đó là cách ghi đơn và ghi kép

Ghi đơn: Mỗi nghiệp vụ kinh tế tài chính được phản ánh vào tài khoản kế toán

một cách riêng biệt, độc lập mà không tính đến mối liên hệ với các tài khoản khác (chỉ ghi vào bên Nơ hoặc Có của tài khoản) Hiện nay ghi đơn chỉ được sử dụng trong những trường hợp: ghi phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào các tài khoản chi tiết hoặc ghi vào các tài khoản kế toán

Ghi kép: Mỗi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh được thể hiện một cách đồng

thời vào các tài khoản kế toán có liên quan theo đúng nội dung kinh tế của nghiệp vụ

và đúng theo mối quan hệ khách quan giữa các đối tượng kế toán mà nghiệp vụ tác động đến

Quy trình lập định khoản kế toán có thể chia làm ba bước:

Bước 1: xác định sự biến động tăng, giảm của từng đối tượng kế toán do ảnh hưởng của nghiệp vụ kinh tế tài chính

Bước 2: xác định tài khoản kế toán sử dụng

Bước 3: xác định ghi vào bên Nợ, bên Có của những tài khoản liên quan

Chế độ kế toán Việt Nam do Bộ Tài chính ban hành ngoài việc quy định hệ thống tài khoản thống nhất trong các doanh nghiệp cả nước còn có những hướng dẫn rất cụ thế đế hạch toán một số nghiệp vụ chủ yếu trên các tài khoản đó, điều này đã giúp ích cho các doanh nghiệp có một cơ sở thích họp trong việc tổ chức trình tự hạch toán các nghiệp vụ phát sinh

Trang 34

Tổ chức hệ thống sổ kể toán tổng hợp và chi tiết để xử lý thông tin từ các chứng

từ kê toán nhằm phục vụ cho việc xác lập báo cáo tài chính và quản trị cũng như phục

vụ cho việc kiểm tra, kiểm soát từng loại tài sản, từng loại nguồn vốn cũng như từng quá trình hoạt động của doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện các chức năng của kế toán

Có 5 hình thức tổ chức hệ thống sổ kế toán (gọi là hình thức kế toán) các doanh nghiệp có thể vận dụng 1 trong các hình thức để ghi sổ kế toán:

♦ Hình thức kế toán Nhật ký chung

♦ Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ

♦ Hình thức kế toán Nhật ký chứng từ

♦ Hình thức kế toán Nhật ký - sổ Cái

♦ Hình thức kế toán trên máy vi tính

Trình tự ghi sổ kể toán theo hình thức các hình thức kế toán trên được thể hiện tại

các Phụ lục 1.1, 1.2, 1.3, 1.4, 1.5

Mỗi hình thức kể toán có một đặc điểm riêng, hệ thống sổ riêng, ưu và nhược điếm khác nhau Tuỳ vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, phương tiện vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp để lựa chọn vận dụng một hình thức kế toán phù họp với các đặc thù của doanh nghiệp

Số kế toán trong các hình thức kế toán này được phân loại như sau:

Trang 35

- Theo nội dung công việc kế toán (hoặc theo mức độ các chỉ tiêu kinh tế - tài chính) dùng để hệ thống hóa thông tin kế toán: sổ kế toán được chia thành 2 loại:

♦ Sổ kế toán tổng họp: Dùng để ghi chép kế toán tổng hợp hệ thống hóa thông tin kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế - tài chính tổng họp trong bảng cân đối kế toán và trong báo cáo kết quả kinh doanh

♦ Số kế toán chi tiết: Dùng để ghi chép kế toán chi tiết nhằm cụ thể hóa các chỉ tiêu kinh tế - tài chính tổng hợp, phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế - tài chính nội bộ đơn vị, minh họa và giải thích cho phần kể toán tổng họp, đảm bảo kiểm tra được tính thực tế và chính xác của thông tin kế toán Theo hình thức

kê toán khác nhau thì nội dung và kết cấu mẫu các sổ kế toán tổng hợp cũng khác nhau, còn nội dung và kết cấu các sổ kể toán chi tiết tương tự như nhau

- Theo trình tự ghi chép kế toán: sổ kế toán được chia thành hai loại:

♦ Số ghi theo trật tự thời gian các nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh ở đơn

vị, sổ này còn được gọi là sổ Nhật ký

♦ Số ghi phân loại các nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh theo hệ thống các chỉ tiêu kinh tế - tài chính, biểu thị tài sản và sự vận động của tài sản ở đơn vị trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, sổ này còn được gọi là sổ tài khoản: sổ Cái và sổ chi tiết

- Hình thức tổ chức sổ: sổ kế toán được chia thành hai loại

♦ Sổ đóng thành quyển

♦ Sổ tờ rời

Sổ kế toán vừa là phương tiện ghi chép hệ thống hóa thông tin kế toán ở đơn vị, vừa

là phương tiện lưu giữ số liệu và đăng ký các chứng từ kể toán, là căn cứ để tiến hành kiểm tra kế toán, kiểm tra hoạt động kinh tế - tài chính ở đơn vị Vì vậy, sử dụng hình thức

tổ chức sổ kế toán hoặc sử dụng máy vi tính để ghi nhận và hệ thống hóa thông tin kế toán bắt buộc phải thực hiện những yêu cầu của thông tin kế toán và đảm bảo có thể kiểm tra được việc thực hiện các yêu cầu này trong công tác kể toán ở các đơn vị

Trang 36

Các loại sổ tài khoản chi tiết và kết cấu mẫu sổ thuờng sử dụng ở các doanh nghiệp bao gồm:

- Sổ chi tiết các tài khoản hàng tồn kho (TK152, TK153, TK156) được mở theo từng kho hàng, từng mặt hàng kinh doanh

Sổ chi tiết tài sản cố định hữu hình được mở theo từng bộ phận sử dụng tài sản

nợ và thời hạn thanh toán:

1.4 TỎ CHỨC CUNG CẤP THÔNG TIN KÉ TOÁN

1.4.1 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán và yêu cầu của thông tin kế toán cần

sử dụng

Thông tin kế toán là thông tin về toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, phản ánh tình hình và hiệu quả quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp Vì vậy thông tin kế toán là thông tin hữu ích, cần thiết không thể thiếu phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau

Các đối tượng sử dụng thông tin kế toán bao gồm:

- Các nhà quản trị nội bộ doanh nghiệp như: Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các bộ phận quản lý của doanh nghiệp

- Các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước như: cơ quan Thuế, cơ quan Tài chính, Thống kê, cơ quan cấp giấy phép kinh doanh

- Các đối tượng khác có lợi ích trực tiếp liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp như: chủ nợ, người bán, người mua, các nhà đầu tư, người lao động

Trang 37

Với mỗi đối tượng sử dụng thông tin kế toán khác nhau đều có những mục đích

cụ thế khác nhau, nên yêu cầu cung cấp thông tin kế toán cũng khác nhau

Đe đáp ứng nhu cầu sử dụng của các đối tượng, thông tin báo cáo kế toán cần đáp ứng được các yêu cầu sau:

lợi cho người sử dụng thông tin

dụng thông tin nhằm đạt mục đích sử dụng thông tin kịp thời

sánh được

trong toàn bộ quy trình kế toán phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán Sử dụng đúng đắn các phương pháp kế toán nhằm phản ánh thực tế, khách quan hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị

1.4.2 Tổ chức lập báo cáo kế toán đế tố chức cung cấp thông tin kế toán

Báo cáo kế toán là kết quả công tác kế toán trong doanh nghiệp, là nguồn thông tin quan trong cho các nhà quản trị doanh nghiệp cũng như các đối tượng khác bên ngoài doanh nghiệp trong đó có các cơ quan chức năng của Nhà nước

Báo cáo kế toán gồm: hệ thống báo cáo tài chính và hệ thống báo cáo quản trị

Báo cáo tài chính bao gồm những báo cáo được Nhà nước quy định thống nhất,

mang tính chất bắt buộc mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm lập theo đúng mẫu quy định, đúng phương pháp và phải gửi, nộp cho các nơi theo quy định đúng thời hạn Báo cáo tài chính có tính pháp lý cao, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước Báo cáo tài chính phản ánh một cách tổng quát và toàn diện tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho các nhà quản trị và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp có lợi ích liên quan nhận biết được tình

Trang 38

hình kinh tế - tài chính, quá trình và kết quả hoạt động của đơn vị và đề ra các quyết định cần thiết.

Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp gồm:

Bảng cân đối kế toán

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Bảng thuyết minh báo cáo tài chính

Tố chức lập báo cáo tài chính là quá trình phân công, phân nhiệm, hướng dẫn các

bộ phận liên quan trong việc phối hợp tổng hợp số liệu trên các sổ kế toán nhằm tính toán, xác định các chỉ tiêu kinh tế quy định trong hệ thống biểu mẫu báo cáo tài chính quy định của Nhà nước

Báo cáo kế toán quản trị bao gồm các báo cáo được lập để phục vụ cho yêu

cầu quản trị doanh nghiệp ở các cấp độ khác nhau Tuỳ theo yêu cầu quản lý mà báo cáo kế toán quản trị có những nội dung cụ thể khác nhau Báo cáo kế toán quản trị là các báo cáo phản ánh sổ liệu chi tiết về từng loại tài sản, nguồn vốn, từng quá trình sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động sàn xuất kinh doanh từng bộ phận, từng sản phẩm, dịch vụ một cách liên tục, thường xuyên Thông tin trên báo cáo kế toán quản trị chỉ phục vụ cho yêu cầu quản trị kinh doanh nội bộ doanh nghiệp Như vậy, báo cáo thuộc loại này không theo những quy định bắt buộc của Nhà nước, tuỳ theo yêu cầu quản trị của mỗi doanh nghiệp mà quy định cụ thể về số lượng các loại báo cáo quản trị và đối tượng thực hiện

Hệ thống báo cáo kể toán của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn không những đối với các cơ quan, đơn vị và cá nhân bên ngoài doanh nghiệp mà nó còn có ý nghĩa trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Ý nghĩa của nó được thể hiện qua một số điểm cơ bản sau:

- Cung cấp các thông tin quan trọng cần thiết cho việc kiểm tra, đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống tình hình sản xuất, kinh doanh, tình hình thực

Trang 39

hiện các chỉ tiêu kinh tế - tài chính của doanh nghiệp, tình hình chấp hành các chế độ kinh tế - tài chính của doanh nghiệp.

- Cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp về tiềm lực của doanh nghiệp, tình hình công nợ, tình hình thu chi tài chính, khả năng tài chính, khả năng thanh toán, nhu cầu về vốn của doanh nghiệp để có các quyết định phù hợp trong hoạt động sản xuất kinh doanh của chính bản thân doanh nghiệp

- Cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, các chủ nợ, ngân hàng, đại lý và các đối tác kinh doanh về thực trạng tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh, triển vọng thu nhập, khả năng thanh toán, nhu cầu về vốn để quyết định hướng đầu tư, quy mô đầu tư và các quyết định quan trọng khác

- Cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng, cơ quan quản lý nhà nước để kiếm soát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp theo đúng chính sách chế độ, đúng Pháp luật, để thu thuế và ra những quyết định cho những vấn đề kinh tế -

xã hội

Đe đáp ứng được vai trò quan trọng của hệ thống báo cáo kế toán, việc tổ chức

hệ thông báo cáo kế toán phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Các báo cáo phải được lập theo đúng biểu mẫu quy định Các nội dung, các phương pháp xác định các chỉ tiêu trên các báo cáo phải thống nhất Có đảm bảo được yêu cầu này, việc lập các báo cáo mới có thể đáp ứng được yêu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng khác nhau, có thể so sánh được giữa các kỳ

và giữa các doanh nghiệp với nhau

- Báo cáo kế toán phải trung thực, chính xác, đảm bảo tính khách quan về tình hình thực tế của doanh nghiệp

- Các chỉ tiêu trên báo cáo phải liên hệ chặt chẽ với nhau, cơ sở của nhau, bổ sung cho nhau và ước chế lẫn nhau Có như vậy mới có thể đánh giá được tính họp lý, khách quan, trung thực của báo cáo

- Báo cáo tài chính phải được lập và gửi đúng hạn

Trang 40

1.4.3 Tổ chức phân tích thông tin kế toán

Đe đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng trong và ngoài doanh nghiệp, ngoài nhiệm vụ tổ chức tổng hợp, trình bày và cung cấp thông tin kế toán, tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp cần phải thực hiện việc phân tích thông tin

kế toán Đe phân tích thông tin kế toán, thường sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:Phương pháp so sánh: so sánh các thông tin kế toán giữa thực tế với kế hoạch để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp; so sánh thông tin giữa các thời kỳ hay thời điểm với nhau để đánh giá sự biến động cũng như dự đoán xu hướng phát triển của doanh nghiệp

Phương pháp phân tích nhân tố: phân tích chỉ tiêu tổng hợp và phân tích các nhân

tô cụ thê tác động vào chỉ tiêu tổng họp để tìm ra mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố chỉ tiêu tống hợp, từ đó giúp cho đối tượng sử dụng thông tin có thể xem xét đưa ra các quyết định phù họp

Các phương pháp khác: phương pháp cân đối, phương pháp phân tích chi tiết

1.5 TỔ CHÚC ÚNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG TỎ CHỨC CÔNG TÁC KÉ TOÁN

1.5.1 Úng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức công tác kế toán

Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin đặc biệt là công nghệ truyền tin, bảo mật, thương mại điện tử, cơ sở dữ liệu đã giúp cho CNTT có thể được ứng dụng rất nhiều vào các nội dung của tổ chức công tác kế toán CNTT đã đem lại nhiều lợi ích đáng kể trong tổ chức công tác kế toán ở các doanh nghiệp và khi các doanh nghiệp ứng dụng CNTT vào trong tổ chức công tác kế toán cũng đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến tất cả các nội dung của tổ chức công tác kế toán Một số ứng dụng của CNTT thường thấy và ảnh hưởng của chúng tới tổ chức công tác kế toánnhư sau:

Ngày đăng: 20/12/2023, 23:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1  Một số chí tiêu về vốn và tài sản của Tổng công ty - Tổ chức công tác kế toán tại tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị bộ quốc phòng   thực trạng và giải pháp,luận văn thạc sỹ kinh tế
Bảng 2.1 Một số chí tiêu về vốn và tài sản của Tổng công ty (Trang 69)
Hình 2.1 Giao diện chính phần mềm kế toán Tồng công ty sử dụng - Tổ chức công tác kế toán tại tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị bộ quốc phòng   thực trạng và giải pháp,luận văn thạc sỹ kinh tế
Hình 2.1 Giao diện chính phần mềm kế toán Tồng công ty sử dụng (Trang 76)
Hình 2.2  Sơ  đồ tỗ chức bộ máy kế toán  tại  Tồng công ty Đầu tu  phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng - Tổ chức công tác kế toán tại tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị bộ quốc phòng   thực trạng và giải pháp,luận văn thạc sỹ kinh tế
Hình 2.2 Sơ đồ tỗ chức bộ máy kế toán tại Tồng công ty Đầu tu phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng (Trang 89)
Bảng tổng hợp  chứng từ kế  toán cùng loại - Tổ chức công tác kế toán tại tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị bộ quốc phòng   thực trạng và giải pháp,luận văn thạc sỹ kinh tế
Bảng t ổng hợp chứng từ kế toán cùng loại (Trang 131)
1  Bảng chấm công Ola-LĐTL X - Tổ chức công tác kế toán tại tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị bộ quốc phòng   thực trạng và giải pháp,luận văn thạc sỹ kinh tế
1 Bảng chấm công Ola-LĐTL X (Trang 139)
Hình thành - Tổ chức công tác kế toán tại tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị bộ quốc phòng   thực trạng và giải pháp,luận văn thạc sỹ kinh tế
Hình th ành (Trang 148)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w