1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINHLỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

132 3,3K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình thành và củng cố tri thức thể loại văn học Việt Nam hiện đại cho học sinh lớp 12 trung học phổ thông
Tác giả Lê Thị Tuyến
Người hướng dẫn PGS.TS: Đinh Trí Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học văn và tiếng Việt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này sẽ góp phần định hướng cho học sinh có kĩ năng hiểu được đặc trưng của từng thể loại văn học hiện đại ở lớp 12. Từ đó giúp các em khám phá giá trị các tác phẩm văn học không chỉ trong chương trình mà còn các tác phẩm cùng thể loại ngoài chương trình, giúp các em có thể “tự học” và “học suốt đời”. Do vậy đề tài nghiên cứu của chúng tôi là cần thiết.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS: ĐINH TRÍ DŨNG

NGHỆ AN – 2013

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của Luận văn 5

7 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6

1.1 Quan niệm về thể loại và thể loại văn học Việt Nam hiện đại 6

1.1.1.Khái niệm thể loại 6

1.1.2.Phân chia thể loại văn học Việt Nam hiện đại 7

1.2 Giới thiệu khái quát về các thể loại văn xuôi trong chương trình ngữ văn lớp 12 11

1.2.1 Khái quát về chương trình ngữ văn 12 11

1.2.2 Các thể loại văn xuôi hiện đại Việt Nam trong chương trình ngữ văn 12 13

1.3 Đối tượng học sinh lớp 12 và yêu cầu của việc hình thành, củng cố tri thức thể loại văn học Việt Nam hiện đại 17

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 12 17

1.3.2 Yêu cầu của việc hình thành, củng cố tri thức thể loại văn xuôi 19

Chương 2 HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI THƠ TRỮ TÌNH CHO HỌC SINH 12 THPT 51

2.1 Giới thiệu khái quát về mảng thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn lớp 12 THPT 51

2.2 Đặc trưng riêng của của việc dạy học các tác phẩm thơ trữ tình 54

2.2.1.Tính chất đặc thù về thể loại của các tác phẩm thơ trữ tình 54

Trang 4

2.2.2 Thuận lợi và khó khăn khi dạy học các tác phẩm thơ trữ tình 61

2.3 Yêu cầu của việc hình thành, củng cố tri thức về thơ trữ tình 64

2.3.1 Hình thành và củng cố tri thức chung về thơ trữ tình 64

2.3.2 Sự khác biệt giữa thi pháp thơ trữ tình trung đại và thơ trữ tình hiện đại 70

2.3.3 Sự khác biệt giữa các tác phẩm thơ trữ tình hiện đại trong chương trình lớp 12 77

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82

3.1 Thiết kế một số giáo án thể nghiệm theo hướng củng cố và hình thành tri thức thể loại 82

3.1.1 Giáo án truyện ngắn 82

3.1.2 Giáo án thơ trữ tình 91

3.1.3 Giáo án kí 102

3.1.4 Giáo án kịch 110

3.2 Thực nghiệm sư phạm 117

3.2.1 Mục đích thực nghiệm 117

3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 118

3.2.3 Nội dung thực nghiệm 118

3.2.4 Quá trình thực nghiệm 118

3.2.5 Phân tích kết quả thực nghiệm 119

3.2.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 120

3.2.7 Rút kinh nghiệm và giải pháp 121

KẾT LUẬN 123

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Đất nước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm thay đổi mọi lĩnh vực xã hội trong đó có giáo dục Để đáp ứng nhu cầu của xã hội, giáo

dục cũng đang có những thay đổi mạnh mẽ Điều 2, Luật Giáo dục quy định mục

tiêu giáo dục: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa Xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và

bảo vệ đất nước”[2,tr.8] Đối với giáo dục phổ thông Điều 27, Luật Giáo dục quy

định mục tiêu giáo dục: “Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”[2, tr.21]

Theo yêu cầu trên, chương trình, sách giáo khoa cũng như phương pháp giảng dạy trong nhà trường cũng thay đổi cho phù hợp với mục tiêu giáo dục Trong đó,

bộ môn ngữ văn cũng không nằm ngoại lệ - nó cũng có những bước thay đổi lớn Trước hết là sự thay đổi mạnh về quan niệm, môn Ngữ văn hướng tới trang bị cho

học sinh hệ thống kiến thức và kĩ năng Thông qua việc học văn mà hướng tới trang

bị và cung cấp cho học sinh cách học, phương pháp học để tự mình có thể “học suốt

đời” Bên cạnh đó, chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn phổ thông đã thay đổi

nhiều so với trước: nếu như trước đây các tác phẩm trong sách ngữ văn sắp xếp theo trục thời gian thì hiện nay nó được sắp xếp theo trục thể loại, nó cung cấp cho học sinh mỗi thể loại một vài tác phẩm thật tiêu biểu cho thể loại đó (tính mẫu) Yêu cầu đặt ra là dạy một cách kĩ lưỡng để học sinh một mặt thấy được vẻ đẹp cụ thể của tác phẩm ấy, mặt khác giúp học sinh biết cách đọc, cách phân tích và tiếp nhận một tác phẩm văn học theo thể loại Từ đó các em có thể tự mình đọc, tìm hiểu và khám phá những tác phẩm tương tự, cho dù tác phẩm đó nằm ngoài chương trình Do đó làm

Trang 6

thế nào cho học sinh nắm vững đặc trưng thể loại các tác phẩm văn học đang là vấn

đề cấp bách và cần thiết đặt ra cho người giáo viên dạy văn hiện nay

1.2 Văn học hiện đại là một bộ phận quan trọng và chiếm dung lượng lớn trong chương trình ngữ văn 12, gồm nhiều thể loại khác nhau có những thể loại văn học hiện đại các em đã học ở chương trình ngữ văn THCS và ở lớp 11 Do đó giúp học sinh tiếp nhận các tác phẩm văn học 12 theo đặc trưng thể loại chúng ta

có thể vừa củng cố vừa hình thành tri thức về thể loại để học sinh cách tiếp nhận tác phẩm văn học tốt nhất

1.3 Lớp 12 là lớp cuối của bậc THPT Các em học sinh ở lớp 12 đã được nhiều năm rèn luyện trong nhà trường phổ thông, đã bước vào tuổi thành niên Kiến thức xã hội - văn hóa của các em đã được trang bị khá đầy đủ Hơn nữa ở lớp

12, các em đang đứng trước việc lựa chọn nghề nghiệp cho mình sau bậc học phổ thông Đề tài của chúng tôi còn muốn hướng đến đối tượng đặc biệt này để giúp các em củng cố thêm một mảng kiến thức quan trọng để chuẩn bị cho việc học lên bậc cao hơn hoặc vào đời

Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài Hình thành và củng cố tri thức thể loại văn học Việt Nam hiện đại cho học sinh lớp 12 THPT Đề tài này sẽ góp phần định hướng cho học sinh có kĩ năng hiểu được đặc trưng của từng thể loại văn học hiện đại ở lớp 12 Từ đó giúp các em khám phá giá trị các tác phẩm văn học không chỉ trong chương trình mà còn các tác phẩm cùng thể loại ngoài chương trình, giúp các em có thể “tự học” và “học suốt đời” Do vậy đề tài nghiên cứu của chúng tôi là cần thiết

2 Lịch sử vấn đề

Phương pháp dạy học là con đường, là cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học ở một điều kiện nhất định nhằm đạt được mục đích dạy học

Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn ở trường THPT hiện nay cần phải chú ý đến vấn đề tích hợp và chú ý đến đặc trưng thể loại Đã có nhiều nhà nghiên cứu bàn luận về cách thức dạy văn nói chung và văn học hiện đại nói riêng Đặc biệt

Trang 7

trong các công trình nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh vai trò của thể loại trong dạy văn Chúng tôi xin điểm qua một vài công trình nghiên cứu đó

Trong Vấn đề giảng dạy văn học theo loại thể, Trần Thanh Đạm viết: “ Mỗi tác

phẩm văn học đều tồn tại dưới hình thức một loại thể nhất định, đòi hỏi một phương pháp, một cách thức phân tích giảng dạy phù hợp với nó Vì vậy, vấn đề loại thể văn học trong thực tế giảng dạy ở trường phổ thông đặt ra không những như một vấn đề

tri thức mà chủ yếu còn là một vấn đề phương pháp” [17, tr.13] Tác phẩm này đã

giới thiệu nhiều kiến thức cơ bản về các loại, thể văn học chủ yếu có liên quan đến chương trình cấp III Từ đó giới thiệu phương pháp vận dụng đặc trưng các loại thể

vào việc giảng dạy các tác phẩm trong chương trình phổ thông Các tác phẩm

Phương pháp dạy học văn do Phan Trọng Luận chủ biên, Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường của Phan Trọng Luận đã đưa ra các phương pháp cụ thể trong

dạy học văn, các giáo trình này đã cung cấp cho giáo viên những kiến thức lí luận và phương pháp giảng dạy văn học cơ bản

Trần Đăng Suyền, trong cuốn Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo khoa

12 khẳng định: “ phân tích tác phẩm không thể không chú ý đến đặc trưng thể loại

của nó Ý thức về thể loại giúp người nghiên cứu định hướng đúng mục tiêu chính của việc phân tích tác phẩm văn học Tùy thuộc vào thể loại, thể tài của đối tượng phân tích mà tìm cách cho thích hợp”[42, tr.125] Nguyễn Thanh Hùng - người có

nhiều nghiên cứu về dạy đọc - hiểu, trong Kỹ năng đọc hiểu văn, khi nói về quá trình

dạy đọc hiểu tác phẩm văn học nhấn mạnh “Khi thực hiện quá trình đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, người giáo viên phải bắt đầu từ việc nắm vững thi pháp thể loại mà rút ra ý nghĩa phương pháp của thể loại và tìm cách vận dụng

chúng cho đào tạo, giáo dục văn học cho học sinh” [32, tr 70].

Năm 2007, trong cuốn Kỷ yếu hội thảo khoa học Về dạy học Ngữ văn ở trường

phổ thông theo chương trình và sách giáo khoa mới, Đinh Trí Dũng đã có bài “ Nắm

vững quan điểm thể loại trong dạy học ngữ văn theo chương trình mới ở trường trung học phổ thông” Bài viết đã nghiên cứu sự thay đổi của chương trình ngữ văn hiện nay so với trước đây, đồng thời khẳng định dạy học ngữ văn hiện nay không thể tách

rời đặc trưng thể loại Lê Sử trong cuốn Quan niệm dạy học tác phẩm văn chương

Trang 8

qua chương trình và sách giáo khoa cũng có cùng quan niệm như các nhà nghiên cứu

trên, tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của thể loại trong dạy học văn “Nắm vững đặc trưng thể loại sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi để học sinh có thể khám phá có hiệu quả giá trị, ý nghĩa của tác phẩm San bằng cách biệt về thể loại sẽ dẫn tới học sinh tới những cách hiểu sai lầm, lệch lạc về tác phẩm”[55, tr.216]

Như vậy, phương pháp dạy văn gắn với đặc trưng thể loại đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến Các nghiên cứu trên đều đặt ra vấn đề cần nắm vững quan điểm thể loại trong quá trình dạy đọc hiểu tác phẩm văn học Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình nào hướng đến nghiên cứu một cách toàn diện việc hình thành và củng cố tri thức thể loại văn học Việt Nam hiện đại cho học sinh lớp 12 Với đề tài này, chúng tôi vừa kế thừa các công trình của các nhà nghiên cứu đi trước, vừa muốn góp phần bổ sung vào sự thiếu hụt đó

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tri thức thể loại văn học hiện đại trong chương trình ngữ văn 12 (chương trình ban cơ bản) và cách hình thành tri thức thể loại này cho học sinh trong quá trình dạy đọc hiểu tác phẩm

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu lý thuyết các thể loại được đưa vào chương trình ngữ văn 12, các nguyên tắc, biện pháp để hình thành và củng cố tri thức thể loại cho học sinh lớp 12 THPT (theo chương trình ban cơ bản)

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Góp phần củng cố thêm lí thuyết về các thể loại văn học hiện đại trong chương trình ngữ văn 12, từ đó giúp các em vận dụng vào đọc hiểu các tác phẩm trong chương trình 12 và các tác phẩm khác cùng thể loại ngoài chương trình

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu các thể loại văn học Việt Nam hiện đại được đưa vào chương trình lớp

12, đặc biệt là ở ban cơ bản;

- Tìm hiểu, nghiên cứu phương pháp hình thành và củng cố tri thức thể loại văn

Trang 9

học Việt Nam hiện đại cho học sinh 12

- Thực nghiệm sư phạm

5 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp lí thuyết: phân tích, tổng hợp, phân loại, so sánh

- Nhóm thực nghiệm: điều tra, phỏng vấn, thực nghiệm sư phạm

6 Đóng góp của Luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng rõ, cụ thể các kiến thức thể loại văn học học hiện đại cần thiết cần phải hình thành cho học sinh, đồng thời vận dụng chúng trong việc đọc hiểu văn học hiện đại nói chung và các thể loại văn học hiện đại trong chương trình 12 nói riêng

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn

Trang 10

Chương 1 HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Quan niệm về thể loại và thể loại văn học Việt Nam hiện đại

1.1.1.Khái niệm thể loại

Thể loại là một trong những phạm trù cơ bản nhất của sáng tác và tiếp nhận văn học Mỗi tác phẩm văn học thường thuộc về một thể loại nhất định Người sáng tác khi đứng trước một hiện tượng của đời sống, muốn chiếm lĩnh nó phải lựa chọn một phương thức, một cách thức với một dạng thức cấu trúc – tổ chức ngôn từ nhất định, điều đó tạo nên đặc trưng của từng thể loại Đặc trưng thể loại quy định quy định cách

kiến thiết, tổ chức tác phẩm Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá

Hán-Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), các tác giả đã định nghĩa thể loại là: “dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và

về tính chất của các mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống đó” [24

tr 299] Trong quá trình sáng tác nhà văn thường khai thác những mảng hiện thực đời sống khác nhau, sử dụng những phương thức chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mỹ khác nhau đối với hiện thực và có những cách xây dựng hình

tượng khác nhau Nguyễn Viết Chữ trong phương pháp dạy học tác phẩm văn

chương theo loại thể đã cắt nghĩa khá rõ về loại thể và thể loại “Loại” tức “loại hình”

và “thể” tức là “thể tài” Nói tới loại tức là nói tới chất, nói tới thể là nói tới hình thức biểu hiện cụ thể của loại “Tính chất loại thể ấy mới làm ra tinh thần của tác phẩm”[13, tr.91]

Như vậy, thể loại là một vấn đề thuộc hình thức nghệ thuật có quan hệ khăng khiết với nội dung Mỗi tác phẩm nghệ thuật thuộc về một hình thức nghệ thuật riêng, nghĩa là thuộc về một thể loại riêng Và mỗi thể loại ấy lại chứa những đặc trưng riêng Đọc và phân tích một tác phẩm văn học càng không thể không quan tâm đến đặc điểm thể loại của tác phẩm ấy Bởi vì, thể loại chính là một cơ sở tạo nên tính

Trang 11

thống nhất chỉnh thể của một tác phẩm, tổ chức liên kết các yếu tố nội dung và hình thức, từ đề tài, chủ đề, cảm hứng đến hệ thống nhân vật, kết cấu và lời văn nghệ thuật Nếu học sinh không phân tích được đặc trưng của mỗi thể loại thì dù phân tích, cắt nghĩa tác phẩm sâu sắc đến mấy cũng chỉ là chủ quan, võ đoán mà thôi

1.1.2 Phân chia thể loại văn học Việt Nam hiện đại

Vào thế kỉ IV trước Công nguyên, trong Nghệ thuật thơ ca, Aristote đã dựa vào

nguyên tắc phản ánh chia văn học thành ba loại: tự sự, trữ tình và kịch Tự sự nhận thức và thể hiện đời sống qua chuỗi các biến cố, sự kiện và bằng lời kể của một người trần thuật Trữ tình là sự bộc bạch trực tiếp tâm trạng, cảm xúc của chủ thể trữ tình bằng phương thức biểu cảm Kịch tái hiện trực tiếp bức tranh đời sống qua xung đột hành động và lời đối thoại, độc thoại của nhân vật mà không cần một người kể lại Mỗi loại nói trên lại gồm nhiều thể chẳng hạn, loại tự sự có tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn Bất kì một tác phẩm nào cũng thuộc về một thể loại nhất định và quan trọng hơn là thuộc về một thể tài nào đó Nhưng ngay ở những tác phẩm cùng một thể thì nội dung cảm hứng và sắc thái thẫm mĩ cũng rất khác nhau Cùng là tiểu tiểu thuyết nhưng lại có tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết hiện thực, tiểu thuyết lịch sử

Văn học viết ở nước ta xuất hiện trong thế kỷ X và suốt mười thế kỷ (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX), nền văn học ấy tồn tại trong môi trường xã hội phong kiến Văn học trung đại đã hình thành một hệ thống thể loại khá hoàn chỉnh và chậm biến đổi Hệ thống thể loại ấy gồm hai bộ phận chính: các thể loại được tiếp nhận từ văn học Trung Hoa và các thể loại có nguồn gốc dân tộc Ở vị trí trung tâm của hệ thống ấy là các thể

loại có tính công cụ - hành chính (như chiếu, hịch, cáo, biểu, luận ), rồi mới đến các

thể loại văn chương nghệ thuật (như truyện, ký, thơ, phú)

Bên cạnh các thể được tiếp nhận từ Trung Hoa, văn học trung đại Việt Nam cũng sáng tạo ra những thể loại đặc thù, phần lớn có cội nguồn từ văn học dân gian và đều

được viết bằng chữ Nôm, như: Truyện thơ, ngâm khúc, hát nói, tuồng

Vào đầu thế kỷ XX, trên đất nước ta đang diễn ra những chuyển biến lớn lao trong đời sống xã hội và đời sống văn hóa, tinh thần Hoàn cảnh ấy tạo cơ sở làm nảy sinh yêu cầu đổi mới nền văn học theo hướng hiện đại hóa Một trong những nội

Trang 12

dung quan trọng của hiện đại hóa văn học là biến đổi các thể loại văn học theo hướng hiện đại

Trong giai đoạn giao thời, khoảng vài chục năm đầu thế kỷ, các thể loại quen thuộc trong văn học trung đại vẫn còn được các tác giả xuất thân Nho học sử dụng, nhưng đã có ít nhiều biến đổi và nhường chỗ dần cho các thể loại mới xuất hiện chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây Từ những năm 30, bức tranh thể loại của nền văn học đã biến đổi hẳn với một hệ thống thể loại mang tính hiện đại đã thực sự hình thành và phát triển khá hoàn thiện Kịch nói được du nhập từ phương Tây đã bổ sung một thể loại sân khấu hiện đại bên cạnh các thể kịch hát truyền thống (tuồng, chèo)

Sự phát triển của báo chí đã thúc đẩy thể phóng sự ra đời Phê bình văn học được phát triển và trở thành một hoạt động chuyên biệt, tham gia tích cực vào đời sống văn học Các thể loại văn xuôi tự sự có sự biến đổi nhanh chóng và sâu rộng Vào cuối thế

kỷ XIX đã xuất hiện những tác phẩm văn xuôi quốc ngữ đầu tiên và sang đầu thế kỷ

XX có cả một phong trào sáng tác văn xuôi quốc ngữ ở Nam Bộ Các tiểu thuyết quốc ngữ hồi này còn mang nhiều dấu vết của văn xuôi tự sự trung đại, nhưng đã có những yếu tố mới, đặc biệt là việc đưa những hình ảnh, sự việc con người của cuộc sống ở Nam Bộ vào truyện Truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, tiểu thuyết

Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, nhiều tác phẩm khác của Hồ Biểu Chánh là những

tác phẩm ghi được những thành công rõ rệt của văn xuôi trên bước đường hiện đại hóa

Sang những năm 1930 - 1945, truyện ngắn phát triển phong phú, đổi mới nhanh chóng và hình thành nhiều phong cách Truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan, truyện ngắn giàu chất trữ tình của Thạch Lam, Thanh Tịnh Tô Hoài, Kim Lân, Bùi Hiển cũng xuất hiện ở đầu những năm 40, lại đưa vào trong truyện những bức tranh phong tục sinh hoạt làng quê, những nét đẹp văn hóa và cả những hủ tục nặng nề Truyện ngắn Nam Cao không chỉ là thành tựu xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực,

mà còn là bước phát triển cao của thể loại truyện ngắn hiện đại trong văn học Việt Nam Khai thác triệt để các chi tiết tưởng như vụn vặt của đời sống hàng ngày để suy ngẫm, triết lý về những quy luật của đời sống nhân sinh

Tiểu thuyết quốc ngữ phát triển mạnh ở Nam Bộ trong vài ba mươi năm đầu thế

Trang 13

kỷ XX với nhiều tên tuổi như Phú Đức, Nguyễn Chánh Sắt Tác giả có số lượng tiểu thuyết lớn nhất và đóng góp nổi bật nhất là Hồ Biểu Chánh Tiểu thuyết của ông có nhiều giá trị hiện thực, nhưng cũng còn mang nhiều ảnh hưởng của truyền thống văn

chương trung đại, mà rõ nhất là tính chất đạo lý Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc

Phách được xem là mở đầu cho tiểu thuyết hiện đại theo khuynh hướng lãng mạn Bắt đầu từ 1933, nhóm Tự Lực Văn Đoàn với các tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh

đã đem lại sự cách tân toàn diện cho tiểu thuyết

Từ các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, đến Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, các tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Sống mòn của Nam

Cao có thể xem là những cột mốc quan trọng trên con đường vận động phát triển của tiểu thuyết hiện thực Hướng vào phản ánh và phân tích hiện thực xã hội với tinh thần phê phán, tập trung thể hiện các mâu thuẫn, xung đột xã hội, giai cấp trong những hoàn cảnh có tính điển hình, khắc họa tính cách nhân vật trong mối quan hệ chặt chẽ

và chịu sự tác động của hoàn cảnh, đó là những điểm chung của xu hướng tiểu thuyết hiện thực

Công cuộc hiện đại hóa đối với thơ diễn ra có phần muộn hơn so với văn xuôi, nhưng cũng đã bùng nổ rất sôi nổi, mạnh mẽ ở đầu những năm 30 với phong trào Thơ mới Phong trào Thơ mới 1932 - 1945 thật sự là "một cuộc cách mạng trong thi ca" (Hoài Thanh) Cuộc cách mạng này diễn ra ở phương diện nghệ thuật (phá bỏ những lối diễn đạt ước lệ, những quy tắc cứng nhắc, công thức gò bó ) mà còn diễn ra ở cả phương diện nội dung (cách nhìn, cách cảm xúc mới mẻ đối với con người và cuộc sống ) Thơ mới đã đem lại sự biến đổi sâu sắc và toàn diện cho thơ Việt Nam, chuyển từ thơ cổ điển trung đại sang thơ hiện đại.Trên nền tảng sự thức tỉnh ý thức cá nhân của thời đại, thơ mới đã sáng tạo một cái tôi trữ tình kiểu mới: cái tôi cá nhân -

cá thể Cái tôi ấy công khai bộc lộ và khẳng định nhu cầu, khát vọng giải phóng cá nhân, trong quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mỹ, trong tình cảm, cảm xúc, thể hiện khát vọng tận hưởng mọi vẻ đẹp của đời sống Bên cạnh thơ mới còn có bộ phận

thơ cách mạng, tập Từ ấy của Tố Hữu là một ví dụ

Chỉ trong khoảng chưa đầy nửa thế kỷ, đặc biệt là trong khoảng 15 năm từ 1930 đến 1945, công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam đã được hoàn thành với tốc độ

Trang 14

hết sức khẩn trương, mau lẹ Các thể loại văn học đã có sự biến đổi sâu rộng, tạo nên một hệ thống thể loại mới, có đặc điểm và diện mạo mới, thích ứng với đời sống văn học hiện đại

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đã mở ra một thời kì phát triển mới của văn học Văn học Việt Nam 1945-1975 rất đa dạng và phong phú về thể loại Ngay

từ thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, thơ đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể Qua sáng tác của những cây bút tiêu biểu như Tố Hữu, Quang Dũng, Hoàng Cầm,Nguyễn Đình Thi, … thơ cách mạng đã tạo ra được một nội dung và hình thức thể loại khác xa với thơ trữ tình của những năm ba mươi Diện mạo của nền văn xuôi kiểu mới cũng được hình thành qua những trang bút kí, kí sự, truyện ngắn của Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao, Tô Hoài, Kim Lân Nhưng phải sau hoà bình lập lại, nhất là từ những năm sáu mươi, các thể loại văn học mới phát triển rực rỡ Văn xuôi phát triển mạnh mẽ với nhiều cây bút thuộc các thế hệ khác nhau: Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Thành Long, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải,… Từ 1965 đến 1975, một cao trào sáng tác phục vụ cuộc kháng chiến chống

Mĩ được phát động Đây là thời kì xuất hiện hàng loạt nhà thơ trẻ có giọng điệu riêng của một thế hệ mới: Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mĩ Dạ…Về văn xuôi, bên cạnh Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, nổi lên Nguyễn Minh Châu, Chu Văn

Có thể nói, ở giai đoạn 1945-1975, nền văn học Việt Nam không thiếu một thể loại nào: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, các loại kí, bao gồm kí sự, bút kí, tuỳ bút, truyện kí, các thể thơ: thơ trữ tình, thơ trào phúng, truyện thơ, trường ca… Chỉ

có phóng sự là thể loại từng phát triển mạnh mẽ từ thời trước Cách mạng, nay bỗng thấy thiếu vắng trên văn đàn

Sau năm 1975 đất nước hòa bình và thống nhất, quan niệm về văn học và ý thức nghệ thuật có sự thay đổi vì chịu sự chi phối của tinh thần đổi mới toàn xã hội Giai đoạn này đã đạt được nhiều thành tựu ở các thể loại Về văn xuôi, thời gian đầu, phóng sự, tiểu thuyết phóng sự, kịch bản sân khấu phát triển mạnh Về sau truyện ngắn và tiểu thuyết phát triển mạnh với nhiều cây bút như Nguyễn Minh Châu,

Trang 15

Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng , Bảo Ninh, Dương Hướng, Chu Lai.Văn xuôi tự sự (tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, ký ) hướng tới sự

đa thanh phức điệu, xuất hiện nhiều biểu trưng nghệ thuật đa nghĩa.

Về Thơ thì khác hơn, thời gian này trường ca phát triển mạnh, với các tập trường

ca của các nhà thơ xuất thân từ quân đội như: những người đi tới biển, Những ngọn

sóng mặt trời của Thanh Thảo; Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh Những cây bút

thế hệ chống Mĩ vẫn tiếp tục viết như Ý Nhi, Thanh Thảo, Thu Bồn, Xuân Quỳnh; ngoài ra còn nhiều gương mặt nhà thơ mới đáng chú ý như Lê Thị Kim, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Thị Hồng Ngát… Những nhà thơ này đều có những tìm tòi, thử nghiệm táo bạo Thơ ca giầu chất triết lý, đào sâu vào thế giới tâm linh hỗn mang của con người, tổ chức câu thơ, dòng thơ, tứ thơ ít nhiều mang màu sắc hậu hiện đại nhưng thành tựu chưa nhiều

Từ nghiên cứu ở trên, chúng tôi nhận thấy thể loại văn học hiện đại Việt Nam rất phong phú (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, kí, phóng sự…) Hầu hết các thể loại của nền văn học hiện đại đã xuất hiện trong văn học thế kỉ XX Hệ thống thể loại này

có nhiều điểm khác biệt so với hệ thông thể loại thời kì văn học Trung đại

1.2 Giới thiệu khái quát về các thể loại văn xuôi trong chương trình ngữ văn lớp 12

1.2.1 Khái quát về chương trình ngữ văn 12

Chương trình giáo dục phổ thông kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo nêu rõ: “ Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng của môn học, đặc điểm của đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” Như vậy, chương trình giáo dục hiện nay hướng tới mục tiêu lấy người học làm trung tâm, coi trọng giáo dục kĩ năng thực hành của học sinh, đáp ứng nhu cầu xã hội hiện đại Để đạt được yêu cầu trên thì cải tiến nội dung, chương trình sách giáo khoa có ý nghĩa hàng đầu Chính vì thế trong nhà trường phổ thông hiện nay, chương trình sách giáo khoa Ngữ văn được biên soạn theo hướng tích hợp

Trang 16

Tích hợp ở đây biểu hiện là sự gắn kết, phối hợp tri thức của ba phân môn có tri thức gần nhau môn văn học- tiếng việt-làm văn Kiến thức của ba phân môn sẽ bổ sung cho nhau nhằm rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Nếu ở chương trình sách giáo khoa cũ ba phân môn: văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn được biên soạn độc lập, tách rời nhau thành ba cuốn sách giáo khoa riêng rẽ thì hiện nay hợp thành một cuốn duy nhất với tên gọi chung là Ngữ văn Sự tích hợp này không phải là sự lắp ghép máy móc, cơ học mà nó dựa trên cơ sở khoa học, nó tiếp tục kiến thức tích hợp ở chương trình Trung học cơ sở, nó giúp học sinh có vốn kiến thức liền mạch, hệ thống hơn khi kiến thức ba phân môn bổ sung cho nhau

Riêng phần văn bản có sự thay đổi khác là sách giáo khoa cũ biên soạn chương trình theo trục lịch sử, nó bám sát tiến trình phát triển của lịch sử văn học Trong đó,

ở mỗi thời kì thì học sinh được học những tác phẩm, tác giả tiêu biểu, chú trọng đưa nhiều tác phẩm vào chương trình, cách chọn tác phẩm như vậy nghiêng về minh họa cho văn học sử Còn hiện nay mục tiêu dạy học thay đổi, dạy học theo nguyên tắc tích hợp nên chương trình Ngữ văn trong sách giáo khoa mới hiện nay sắp xếp theo trục thể loại và dạy học cũng theo đặc trưng thể loại và điều này dẫn đến các tác phẩm thuộc thể loại văn xuôi và trữ tình sẽ không được sắp xếp xen kẽ nhau trong chương trình sách giáo khoa mà chúng sẽ tách rời nhau Chương trình sách giáo khoa mới vẫn dựa vào tiến trình lịch sử văn học dân tộc, nhưng ở mỗi giai đoạn thay vì lựa chọn các tác giả tác phẩm tiêu biểu để minh chứng cho tiến trình phát triển của văn học giai đoạn đó thì sẽ lựa chọn tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho các thể loại của giai đoạn văn

học đó Ví dụ thơ trữ tình tiêu biểu cho thời kì chống Pháp là Tây Tiến (Quang Dũng),

Việt Bắc (Tố Hữu), thời chống Mĩ thì có Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm), Sóng

(Xuân Quỳnh), sau 1975 thì có Đàn Ghi ta của Lorca (Thanh Thảo) Văn xuôi cũng

tương tự Thông qua việc dạy đọc hiểu các tác phẩm tiêu biểu này sẽ hình thành tri thức thể loại cần thiết giúp học sinh có kĩ năng đọc hiểu những tác phẩm cụ thể trong sách giáo khoa và những tác phẩm cùng loại Có thể nói, tích hợp trong xây dựng chương trình là quan điểm chung của nhiều nước trên thế giới, nó tránh được những kiến thức dư thừa, trùng lặp, đồng thời làm cho người dạy có thời gian khắc sâu hơn kiến thức cho học sinh, rèn luyện cho các em khả năng tư duy tổng hợp, có cơ hội

Trang 17

được sáng tạo, được khẳng định khả năng của mình trong học tập

Như vậy, so với chương trình môn văn cũ thì chương trình ngữ văn 12 hiện nay

có nhiều thay đổi Sự thay đổi này phù hợp với mục tiêu, nguyên tắc giáo dục và phương pháp dạy học mới, phù hợp với xu hướng chung của chương trình giáo dục của nhiều nước trên thế giới

1.2.2 Các thể loại văn xuôi hiện đại Việt Nam trong chương trình ngữ văn 12

Để có cái nhìn bao quát về các thể loại văn xuôi hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 hiện nay, chúng tôi tiến hành khảo sát và thống kê trên ba bộ sách: sách giáo khoa văn học hợp nhất năm 2000 Sách ngữ văn 12 (ban cơ bản) và sách giáo khoa ngữ văn 12 (nâng cao)

Bảng 1: Các thể loại văn xuôi văn học hiện đại Việt Nam trong chương trình sách

giáo khoa văn học hợp nhất năm 2000

STT Tên tác phẩm Tác giả Thể loại Ghi chú

1 Vi hành Nguyễn Ái Quốc Truyện ngắn

2 Những trò lố hay là

Varen và Phan Bội châu

Nguyễ Ái Quốc Truyện ngắn Đọc

thêm

3 Đôi mắt Nam Cao Truyện ngắn

4 Vợ chồng A Phủ Tô Hoài Truyện ngắn

5 Vợ nhặt Kim Lân Truyện ngắn

6 Mùa lạc Nguyễn Khải Truyện ngắn

7 Người lái đò Sông Đà Nguyễn Tuân Tùy bút

8 Huệ Chi trước lễ cưới Nguyên Hồng Tiểu thuyết

9 Rừng xà nu Nguyễn Trung Thành Truyện ngắn

10 Những đứa con trong gia

đình

Nguyễn Thi Truyện ngắn

11 Mảnh trăng cuối rừng Nguyễn Minh Châu Truyện ngắn

12 Bắt sấu rừng U Minh Hạ Sơn Nam Truyện ngắn t Đọc thêm

13 Bức thư Cà Mau Anh Đức Bút kí Đọc thêm

Trang 18

14 Quán rượu người câm Nguyễn Quang Sáng Truyện ngắn Đọc thêm

Bảng 2: Các thể loại văn xuôi văn học hiện đại Việt Nam trong chương trình ngữ

văn 12 (ban cơ bản )

STT Tên tác phẩm Tác giả Thể loại Ghi chú

1 Vợ chồng A Phủ Tô Hoài Truyện ngắn

2 Vợ nhặt Kim Lân Truyện ngắn

3 Rừng xà nu Nguyễn Trung Thành Truyện ngắn

4 Bắt sấu rừng U Minh

Hạ

Sơn Nam Truyện ngắn Đọc thêm

5 Những đứa con trong

gia đình

Nguyễn Thi Truyện ngắn

6 Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Minh Châu Truyện ngắn

7 Mùa lá rụng trong vườn Ma Văn Kháng Tiểu thuyết Đọc thêm

8 Một người Hà Nội Nguyễn Khải Truyện ngắn Đọc thêm

Bút Kí

Bảng 3: Các thể loại văn xuôi văn học hiện đại Việt Nam trong chương trình ngữ

văn 12 (nâng cao)

STT Tên tác phẩm Tác giả Thể loại Ghi chú

1 Vợ chồng A Phủ Tô Hoài Truyện ngắn

2 Vợ nhặt Kim Lân Truyện ngắn

3 Những đứa con trong

gia đình

Nguyễn Thi Truyện ngắn

Trang 19

Qua bảng hệ thống ta nhận thấy các thể loại văn xuôi trong chương trình ngữ văn 12 hiện nay khá đa dạng gồm nhiều thể loại như: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch,

kí Các tác phẩm văn xuôi được biên soạn theo trục thể loại Nhà biên soạn chỉ chọn tác phẩm tiêu biểu cho từng thể loại và cho từng giai đoạn văn học So với chương trình cũ thì các thể loại văn xuôi có sự thay đổi khá lớn một số văn bản truyện ngắn

đã bị đưa ra khỏi chương trình như Vi hành (Nguyễn Ái Quốc) đưa xuống đọc thêm

ở lớp 11, Đôi mắt (Nam Cao) bị đưa ra khỏi chương trình.Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu vẫn được giữ lại nhưng tác phẩm Mùa lạc của Nguyễn Khải được thay bằng Một người Hà Nội, Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu thay bằng

Chiếc thuyền ngoài xa Trong các thể loại văn xuôi thì số lượng truyện ngắn giảm

so với chương trình chỉnh lí hợp nhất Nhưng thay vào đó các tác phẩm thuộc các thể loại văn xuôi khác được đưa vào giảng dạy như kịch, kí Sở dĩ có sự thay đổi như vậy là do quan điểm biên soạn chương trình của các nhà soạn sách có thay đổi Trước đây số lượng văn bản nghệ thuật được đưa vào nhiều nhằm cung cấp cho các em năng lực cảm thụ Dạy văn chủ yếu là dạy cái hay, cái đẹp, bồi dưỡng tâm

4 Rừng xà nu Nguyễn Trung Thành Truyện ngắn

5 Đất Anh Đức Truyện ngắn Đọc

thêm

6 Một người Hà Nội Nguyễn Khải Truyện ngắn

7 Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Minh Châu Truyện ngắn

8 Mùa lá rụng trong vườn Ma Văn Kháng Tiểu thuyết Đọc

Bút Kí

12 Hồn Trương Ba da hàng

thịt

Lưu Quang Vũ Kịch

Trang 20

hồn Còn chương trình ngữ văn mới lại chú ý phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm vui và hứng thú trong học tập Làm cho “học” là quá trình kiến tạo; học sinh phải tìm tòi khám phá phát hiện, luyện tập khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết và năng lực phẩm chất Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lí Chú trọng hình thành các năng lực(tự học, sáng tạo, hợp tác) dạy phương pháp, dạy cách học Học để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và sự phát triển của xã hội Vì vậy, học văn không chỉ để biết để cảm nhận mà còn để có kĩ năng sống, kĩ năng vận dụng

Ở chương trình ngữ văn lớp 12 hiện nay, các văn bản thuộc thể loại văn xuôi hiện đại giữa hai chương trình cơ bản và nâng cao là tương đương nhau về số lượng

( 7 văn bản ) Giữa hai bộ sách này chỉ có một sự điều chỉnh nhỏ đó là văn bản Một

người Hà Nội của Nguyễn Khải Trong chương trình cơ bản văn bản này được đưa

vào phần đọc thêm, còn ở chương trình nâng cao được học chính thức

Nếu ở chương trình ngữ văn lớp 11 các tác phẩm thuộc thể loại văn xuôi chủ yếu nằm trong giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng 8-1945 thì các tác phẩm ở 12 lại chủ yếu nằm ở giai đoạn từ 1945 đến hết thế kỉ XX Đây chính là việc biên soạn chương trình theo tiến trình lịch sử, tiếp nổi phần văn xuôi ở chương trình lớp 11 Nếu như ở chương trình chỉnh lí hợp nhất các văn bản thuộc nhiều giai đoạn khác nhau và chỉ dừng lại mốc 1975 thì chương trình ngữ văn 12 đã được mở

rộng phạm vi sau 1975 như Chiếc thuyền ngoài xa, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Ai

đã đặt tên cho dòng sông? Sự đổi mới đó cho thấy văn học và việc dạy học văn đã

từng bước đi gần với hiện thực cuộc sống, quan tâm đến những vấn đề thế sự, đời tư của con người

Từ những thống kê trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy, các thể loại văn xuôi trong chương trình ngữ văn lớp 12 khá phong phú: có truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết, kí Việc nắm vững đặc trưng từng thể loại cụ thể sẽ giúp học sinh tiếp cận tác phẩm văn chương trong chương trình 12 nói riêng và các tác phẩm văn xuôi ngoài chương

Trang 21

trình nói chung toàn diện và hiệu quả hơn

1.3 Đối tượng học sinh lớp 12 và yêu cầu của việc hình thành, củng cố tri thức thể loại văn học Việt Nam hiện đại

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 12

Trong dạy học văn học, học sinh là nhân vật hoạt động tích cực Trình độ nhận thức và đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của các em là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tiếp nhận, cảm thụ tác phẩm văn học Có một thời trong quá trình dạy học văn người ta chưa chú ý đến vai trò của người học Chỉ có thầy cảm thụ tác phẩm, trò chỉ là người tiếp thu lại cách cảm nhận của thầy Ngày nay phương pháp dạy học được đổi mới- lấy học sinh làm trung tâm, vì vậy mà nội dung chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học cũng thay đổi cho phù hợp với tâm lí lứa tuổi

Học sinh THPT là các em có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi, còn được gọi là lứa tuổi thanh niên, hay một cách gọi khác là Teen Đến lớp 12 các em ở vào tuổi 17,18 - một mốc thời gian vô cùng quan trọng trong cuộc đời mỗi người Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt quan trọng trong các thời kỳ phát triển của trẻ em Đây là giai đoạn phát triển và dần hoàn thiện các cấu trúc tâm lý, các phẩm chất nhân cách và thể chất, chuẩn bị cho các em bước vào cuộc sống xã hội với tư cách là một người trưởng thành- một người công dân thực thụ, có quyền lợi, nghĩa vụ đối với đất nước Mọi hành vi, hoạt động của mình phải chị trách nhiệm trước pháp luật

So với học sinh tiểu học và trung học cơ sở, sự phát triển về khả năng văn học của học sinh THPT hình thành theo một quy luật khác Lứa tuổi này đã có sự phát triển về thể lực, về trí tuệ cũng như trình độ nhận thức Bên cạnh đó, lứa tuổi học sinh THPT cũng đã bắt đầu hình thành thế giới quan và xác lập được tiêu chuẩn đánh giá nghệ thuật Trong giờ học văn, các em tỏ ra có nhiều đòi hỏi ở giáo viên hơn, có khả năng đánh giá giáo viên chính xác hơn so với học sinh lớp dưới Các

em có thể yêu thích và coi trọng nghệ thuật, đồng thời hứng thú nghệ thuật cũng trở nên khá sâu sắc và ổn định Các em có nhu cầu đọc sách, tự mình cảm nhận, đánh giá và có khả năng đánh giá sâu sắc vấn đề trong tác phẩm Các em cố gắng xây dựng quan điểm riêng trong lĩnh vực khoa học, đối với các vấn đề xã hội, tư tưởng chính trị, đạo đức Trước đây, do chưa nhận thức đúng đắn về điều này nên giáo

Trang 22

viên mắc phải một sai lầm cơ bản là chỉ coi học sinh như một khách thể, một đối tượng tiếp thụ kiến thức của giáo viên Trong trường họp như vậy, việc học văn theo phương pháp cũ đã một phần kìm hãm sự phát triển văn học của học sinh Từ vai trò chủ thể, các em trở thành thụ động, lệ thuộc hoàn toàn vào giáo viên Đây có thể là nguyên nhân sâu xa của tình trạng học sinh không hứng thú, thậm chí chán ghét giờ học văn Khác với học sinh tiểu học và trung học cơ sở, học sinh lứa tuổi THPT, nhất là học sinh lớp 12 đã nhận thức được mối quan hệ giữa bạn đọc và tác phẩm là mối quan hệ thẩm mĩ Chính vì thế, các em không đồng nhất cuộc sống trong tác phẩm với cuộc sống ngoài thực tiễn, đồng thời không xem tác phẩm là cái

cớ để biểu hiện những tư tưởng và tình cảm Trong khi đọc sách, các em ý thức được rằng: “các hình tượng đang vận động trong trường nhìn là những hình tượng của cuộc sống và hiếu rằng đó không phải là bản thân của cuộc sống mà chỉ là sự phản ánh nghệ thuật của nó mà thôi” [52, tr.57] Điều đó cho thấy học sinh đã nắm bắt được nghệ thuật trên cơ sở của tư duy khái quát, và bộc lộ thái độ khách quan, toàn diện trong đánh giá, lĩnh hội tác phẩm văn học Ngoài ra, qua cách phân tích đánh giá của học sinh, có thể nói các em có sự trưởng thành về nhận thức lí tính

“Các em có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã được học hoặc chưa được học ở trường Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Đồng thời tính phê phán của

tư duy cũng phát triển” [29.tr 72]

Cùng với sự phát triển về trình độ nhận thức là sự hình thành tâm lí tự ý thức của học sinh Tâm lí tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển của lứa tuổi học sinh THPT được xuất phát trên cơ sở của những mối quan hệ giữa người với người, giữa trí tuệ và tình cảm, giữa vị trí đảm nhận với trách nhiệm được giao Quá trình phát triển tâm lí tự ý thức của học sinh diễn ra mạnh mẽ và sôi nổi, làm cho thanh niên có nhu cầu tự khám phá những đặc điểm tâm lí và lí giải nó theo quan điểm riêng, theo mục đích sống và hoài bão của mình Ngoài việc nhận thức về vị trí của bản thân trong xã hội, học sinh còn biết tự đánh giá nhân cách nói chung trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách Và việc biết nhìn nhận, đánh giá theo quan điểm riêng chính là một biểu hiện của khả năng cảm thụ, sáng tạo của các em trong lĩnh vực tiếp nhận văn

Trang 23

học

Một điểm nỗi bật trong tâm sinh lí học sinh lớp 12 là lựa chọn nghề nghiệp, việc lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành công việc khẩn thiết của các em Các em đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời tự lập, cho nên vấn đề tương lai có một vị trí rất lớn lao trong suy nghĩ của các em Do hoàn cảnh sắp bước vào đời và đặc biệt là do thế giới quan và tâm lý phát triển cho nên xu hướng nghề nghiệp của học sinh lớp 12 hình thành

rõ rệt, nhanh chóng và tương đối ổn định Các em coi đây là một vấn đề nghiêm túc trong cuộc đời.Trong quá trình hình thành xu hướng nghề nghiệp, h ọ c s i n h

l ớ p 1 2 đã gặp phải rất nhiều khó khăn bởi những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, do sự cản trở của dư luận xã hội Do vậy họ rất cần được sự định hướng,

tư vấn giúp đỡ thông qua giáo dục hướng nghiệp của nhà trường để có thể lựa chọn được nghề nghiệp phù hợp Trong đó mỗi giáo viên thông qua quá trình giảng dạy giúp các em nhận ra được năng lực, sở trường đối với môn học, lĩnh vực mà mình yêu thích

Như vậy, tâm sinh lí học sinh lớp 12 rất đa dạng và đang dần hoàn thiện Việc nắm bắt được tâm sinh lí này sẽ giúp giáo viên giảng dạy 12 có phương pháp giảng dạy hợp lí để vừa nâng cao chất lượng học tập của bộ môn vừa định hướng việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai của học sinh Giúp các em có một hành trang vững vàng để học lên bậc học cao hơn, bước vào cuộc sống tự lập Riêng với môn Ngữ văn việc trang bị cho các em một hệ thống tri thức thể loại sẽ là công cụ để các em có kĩ năng học tốt môn Văn lớp 12 trong nhà trường, định hướng được nghề nghiệp cho mình và cũng giúp các em tiếp cận với nhiều tác phẩm khác khi

đã ra đời tự lập Có vậy người giáo viên mới thực hiện tốt chức năng của giảng dạy môn văn theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, mục tiêu dạy học “đào tạo năng lực đọc hiểu, qua đó vừa cung cấp tri thức văn học, vừa giáo dục tư tưởng tình cảm, vừa rèn luyện kĩ năng đọc mà học sinh có thể mang theo suốt đời

sau khi tốt nghiệp THPT để có thể đọc hiểu nhiều kiểu văn bản thông dụng trong

đời sống ”[55, tr.36]

1.3.2 Yêu cầu của việc hình thành, củng cố tri thức thể loại văn xuôi

1.3.2.1 Tri thức thể loại truyện ngắn

Trang 24

Theo định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học (NXB Giáo dục, 2004):

“Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ”

Tuy nhiên mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác Trong văn học hiện đại có nhiều tác phẩm ngắn, nhưng thực chất lại là những truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắn thời trung đại cũng ngắn nhưng rất gần với truyện vừa Các hình thức truyện kể dân gian rất ngắn gọn như cổ tích, truyện cười, giai thoại… lại càng không phải là truyện ngắn

Nếu tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó thì truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người Vì thế trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp và nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới, thì nhân vật của truyện ngắn là một mảng nhỏ của thế giới ấy.Trong truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc họa những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội,

ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người

Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc,

có dung lượng không lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm có những chiều sâu chưa nói hết

Như vậy, truyện ngắn là thể loại có đặc trưng riêng về tính chất, về dung lượng so với các thể loại khác Nó ra đời gắn chặt với hoạt động báo chí nên dễ phổ biến đến người đọc Với hình thức ngắn gọn, súc tích, cô đọng thể loại này có sức hấp dẫn lớn đối với học sinh Với ưu thế này, truyện ngắn hiện đại được đưa vào giảng dạy ở lớp 12 nhiều hơn so với các tác phẩm văn xuôi khác (7/11) Nếu dạy tốt phần truyện ngắn, coi như

Trang 25

đã làm chủ được phần văn xuôi cốt yếu nhất của chương trình Tuy nhiên thực tế giảng dạy ở trường phổ thông hiện nay vẫn chưa chú ý đúng mức

và chưa thực sự làm rõ được đặc trưng thể loại của truyện ngắn Cho nên việc tiếp cận thể loại truyện ngắn của học sinh vẫn còn lúng túng Các em vẫn chưa chủ động tìm kiếm khám phá giá trị của tác phẩm mà vẫn phụ thuộc vào cách cảm nhận của thầy cô Nhìn chung các em còn thụ động Theo chúng tôi, để học sinh có thể khám phá được giá trị của các tác phẩm truyện ngắn, thì giáo viên trong quá trình giảng dạy cần trang bị cho các em những đặc trưng thể loại của truyện ngắn cụ thể là:

- Cốt truyện

Khi dạy đọc – hiểu văn bản truyện ngắn yếu tố cần quan tâm đầu tiên là cốt truyện Cốt truyện là một hệ thống các các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống và các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong các mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ

đề và tư tưởng của tác phẩm

Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc

về cuộc đời và tình người vì thế cốt truyện của truyện ngắn thường ít biến

cố, sự kiện hơn tiểu thuyết

Dựa vào cốt truyện, có thể chia làm hai loại truyện:

Truyện không có cốt truyện (hoặc cốt truyện rất mờ nhạt): do chủ ý nghệ thuật của nhà văn chỉ nhằm thể hiện diễn biến tâm trạng nhân vật trong mối liên hệ với

hoàn cảnh Truyện chỉ có những ý tưởng, không có sự kiện gay cấn Truyện ngắn Hai

đứa trẻ của Thạch Lam là một ví dụ Truyện ngắn này có cốt truyện khá đơn giản

Đây là một truyện ngắn trữ tình giàu chất thơ Truyện ít biến cố, chủ yếu tác giả diễn tả cảm xúc, tâm trạng của nhân vật Truyện là một dòng chảy tâm trạng của nhân vật Liên từ chiều vào đêm cái nền tâm trạng ấy tồn tại chông chênh những thân phận con người Cả phố huyện hiện ra qua đôi mắt quan sát của Liên – một cô

bé có tâm trạng nhạy cảm và tinh tế Bắt đầu cảm nhận của Liên về không gian và thời gian của cảnh ngày tàn, cảnh chợ tàn nơi phố huyện Tiếp đến là những suy

Trang 26

nghĩ của Liên khi “đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”, và sau cùng là tâm trạng của Liên khi chuyến tàu đi qua phố huyện Tâm hồn Liên lắng xuống chìm vào giấc ngủ thì cũng là lúc truyện khép lại

Còn truyện ngắn có cốt truyện rất chú ý xây dựng những tình tiết, sự kiện bộc lộ tính cách của nhân vật và thúc đẩy hướng phát triển, vận động của mạch truyện Bản thân cốt truyện là hệ thống các sự kiện, được chia theo lớp từ đầu đến cuối truyện Cốt truyện có vai trò rất quan trọng sáng tạo truyện ngắn Nhà văn Môôm khẳng định “Nhà văn sống bằng cốt truyện y như họa sĩ sống bằng màu và bút vẽ

vậy” Trong cuốn Tìm hiểu truyện ngắn, Trần Thanh Địch cũng đã khẳng định “Còn

gì quan trọng hơn cốt truyện và nếu thiếu nó thì cả nền lí luận nghệ thuật còn ra gì nữa? Nếu cốt truyện không dùng được thì tài năng ta cũng lãng phí vô ích Và chính là nghệ sĩ hiện nay không có những cốt truyện xứng đáng nên tình hình nghệ thuật hiện đại mới bi đát như thế” [19, tr.16]

Nắm được đặc trưng trên của truyện ngắn là chìa khóa bước vào tác phẩm Do vậy, giáo viên cần cho học sinh tóm tắt được cốt truyện, vì nếu không làm chủ được cốt truyện thì không có cơ sở hiểu được nội dung của truyện hoặc hiểu truyện một cách phiến diện Để tóm tắt cốt truyện Chí Phèo của Nam Cao, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh nắm những biến cố, sự kiện cuộc đời nhân vật Chí Phèo Cần chú

ý Chí Phèo là truyện ngắn hiện thực nó mang đặc trưng của văn học hiện thực Tác phẩm thể hiện bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nông dân trước cách mạng Chí Phèo, người nông dân hiền lành, lương thiện có số phận bất hạnh ngay từ lúc mới sinh ra Lớn lên Chí làm canh điền cho Bá Kiến, vì ghen tuông Bá Kiến đã đẩy chí phèo vào tù Sau bảy, tám năm ở tù về Chí Phèo hoàn toàn thay đổi từ nhân hình đến nhân tính Chí trở thành kẻ thù, là con quỷ của làng Vũ Đại Sự gặp gỡ với Thị Nở là sự kiện quan trọng làm thay đổi cuộc đời Chí Thị Nở và bát cháo hành cùng tình yêu thương trân thành đã đánh thức phần người, phần lương tri trong Chí khiến hắn khao khát được trở lại làm người Nhưng thực tế xã hội thực dân phong kiến không cho Chí thực hiện khát vọng của mình, cánh cửa hi vọng vừa mở ra đột ngột đóng lại ngay trước mắt Chí Phèo bị từ chối, bị cự tuyệt trên con đường trở về với xã hội con người Chỉ chỉ còn lựa chọn duy nhất để giữ lại phần người còn lại là

Trang 27

phải chết Hắn đã vung giao giết Bá Kiến rồi tự sát

Cốt truyện trong truyện ngắn hiện thực thường xây dựng trên những sự kiện, biến cố trong cuộc đời nhân vật, qua đó thể hiện được quan điểm của nhà văn Do

đó, khi tìm hiểu cốt truyện trong truyện ngắn hiện thực, giáo viên cần định hướng cho học sinh tìm những biến cố trong cuộc đời của những nhân vật chính Cuộc đời Chí Phèo có hai biến cố quan trọng làm nổi bật tính cách của hắn Thứ nhất, Chí Phèo bị Bá Kiến đẩy vào tù, Thứ hai, Chí Phèo gặp Thị Nở Phân tích hai biến cố

đó sẽ làm nổi bật chủ đề tư tưởng của truyện ngắn này

Tất cả truyện ngắn ở chương trình 12 là truyện ngắn sau cách mạng tháng 8 năm 1945, phần lớn là truyện ngắn cách mạng, cốt truyện cũng xây dựng trên những sự kiện, những biến cố trong cuộc đời nhân vật như truyện ngắn hiện thực Cốt truyện thường xoay quanh cuộc sống tăm tối, khổ cực, chịu nhiều mất mát đau thương của các nhân vật dưới ách thống trị của thực dân đế quốc, bọn phong kiến tay sai Nhưng nhân vật trong truyện đã đấu tranh, tìm đến cách mạng và giải phóng số phận của mình, kết thúc truyện là ánh sáng của cách mạng đã giác ngộ và giải phóng cuộc sống tối tăm cho các nhân vật Chẳng hạn như “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài được bắt đầu bằng cuộc sống nghèo khổ, số phận thê thảm đầy tủi nhục của Mị khi làm dâu gạt nợ cho nhà Thống lí Pá Tra và số phận đầy bất hạnh của A Phủ khi bị bắt,

bị đánh đập và bị đi ở trừ nợ cho nhà Thống lí Kiếp sống của họ bị coi như kiếp trâu, kiếp ngựa, bị đánh đập, tra tấn nhưng bằng sự ham sống họ đã chạy thoát khỏi nhà Pá Tra và chạy sang Phiềng Sa, được cách mạng giác ngộ, họ đi theo cách mạng và giải

phóng được cuộc đời mình Tóm tắt cốt truyện Vợ chồng A Phủ cần chú ý hai biến cố:

Mị bị bắt làm dâu gạt nợ cho nhà Thống Lí và Mị Cứu A Phủ Tác phẩm Rừng Xà nu

của Nguyễn Trung Thành cũng được bắt đầu bằng cuộc sống phải chịu nhiều mất mát

và đau thương của Tnú cũng như dân làng Xô Man dưới sự xâm lược của giặc Mĩ nhưng bằng tinh thần dũng cảm và được cách mạng chỉ đường, họ đã đứng lên giải phóng cuộc đời mình, giải phóng buôn làng

Việc xây dựng những sự kiện, tình tiết, diễn biến của cốt truyện ở các tác phẩm hiện đại trong chương trình 12 có những điểm tương đồng và khác biệt so với những truyện ngắn hiện đại ở chương trình ngữ văn 11 Điểm tương đồng là các truyện ngắn

Trang 28

này, cốt truyện đều bắt đầu từ cuộc sống tăm tối của nhân dân dưới ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân phong kiến nhưng các tác phẩm trong chương trình 11 kết thúc

là sự bế tắc chưa tìm được lối thoát cho nhân vật Chí Phèo kết thúc là bi kịch, Chí

Phèo giết bá Kiến rồi tự sát Sự khác nhau này chính là sự khác nhau của hai huynh hướng: truyện ngắn hiện thực phê phán trước 1945 và truyện ngắn cách mạng sau cách mạng tháng 8/1945

Khi dạy học tác phẩm truyện ngắn chúng ta phải nắm vững cốt truyện vì có nắm được cốt truyện chúng ta mới tìm ra được tiến trình phát triển của truyện; số phận, đặc điểm, tính cách của các nhân vật; vai trò của các nhân vật trong sự phát triển của toàn bộ truyện ngắn Dạy truyện ngắn mà không chú ý tới đặc trưng này thì sẽ không với tới được “cái cốt của truyện” Do vậy, nắm bắt được cốt truyện là một yêu cầu bắt buộc đối với việc dạy và học tác phẩm truyện ngắn

Vậy để nắm được cốt truyện trong quá trình tiếp nhận truyện ngắn chúng ta cần: Đọc toàn bộ truyện ngắn

Nắm được hệ thống các sự kiện, các tình tiết của truyện

Chia hệ thống các sự kiện ấy theo lớp thang từ đầu đến cuối truyện

Kết nối, sắp xếp, xâu chuỗi các sự kiện thành một câu chuyện hoàn chỉnh theo diễn biến của truyện

Nắm cốt truyện chủ yếu là nắm được truyện kể về việc gì, truyện bắt đầu từ khi nào, diễn biến của nó ra sao và kết thúc như thế nào?

Phân tích cốt truyện

- Tình huống truyện ngắn

Theo Chu Văn Sơn tình huống “được xem là hạt nhân thể loại của truyện ngắn”,

nó chính là chìa khóa để khám phá giá trị tác phẩm truyện Nguyễn Minh Châu coi tình huống là “ tình thế nảy ra truyện”, là “lát cắt” của đời sống mà qua đó có thể thấy được cả trăm năm của đời thảo mộc, là “một khoảng khắc mà trong đó sự sống hiện ra rất đậm đặc”, “khoảng khắc chứa đựng cả một đời người, thậm chí cả một đời nhân loại” Điều này có nghĩa qua tình huống- qua cái ngắn mà thấy được cái dài, qua một khoảng khắc ngắn ngủi mà thấy được diện mạo toàn thể

Như vậy: Tình huống truyện, xét đến cùng, là một sự kiện đặc biệt của đời sống

Trang 29

được nhà văn sáng tạo trong tác phẩm theo lối lạ hoá Nói “lạ hóa” có nghĩa là: Nhà văn đã làm sống dậy trong sự kiện ấy một tình thế bất thường của quan hệ đời sống (quan hệ giữa các nhân vật tham gia vào sự kiện, hoặc giữa nhân vật với ngoại giới) Tại sự kiện ấy bản chất của nhân vật hiện hình sắc nét Tại sự kiện ấy ý tưởng của tác giả cũng bộc lộ trọn vẹn

Tình huống truyện được chia thành hai loại:

Về tính chất: có thể thấy truyện ngắn có ba dạng chính, bởi chứa đựng ba dạng

tình huống truyện căn bản :

Tình huống hành động Là loại sự kiện đặc biệt mà trong đó nhân vật bị đẩy tới

một tình thế (thường là éo le) chỉ có thể giải quyết bằng hành động Tình huống này

thường hướng tới một kiểu nhân vật : Nhân vật hành động Tức là loại nhân vật chủ

yếu được hiện lên bằng hệ thống hành vi, hành động của nó, các bình diện khác ít

được quan tâm Do đó, nó quyết định đến diện mạo của toàn truyện : truyện ngắn

giàu kịch tính (Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao là một trường hợp tiêu biểu) Tình huống tâm trạng Đó là sự kiện đặc biệt của đời sống mà ở đó nhân vật rơi

vào một tình thế làm nảy sinh một biến động nào đó trong thế giới tình cảm Tình

huống này thường dẫn tới một kiểu nhân vật là : Con người tình cảm Nghĩa là kiểu

nhân vật được hiện lên chủ yếu bằng thế giới nội cảm của nó, nhà văn tạo dựng nên hình tượng nhân vật chủ yếu bằng một hệ thống chất liệu là cảm giác, cảm xúc với các phức hợp khác nhau của chúng Còn các khía cạnh khác (như ngoại hình, hành động, lí tính…) ít được quan tâm Và vì thế, nó quyết định đến diện mạo của toàn

truyện : truyện ngắn trữ tình (Truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam nghiêng về

dạng này)

Tình huống nhận thức Đó là sự kiện đặc biệt của đời sống mà tại đó nhân vật

được đẩy tới một tình thế bất thường: đối mặt với một bài học nhận thức, bật lên một vấn đề (về nhân sinh, về nghệ thuật) cần phải vỡ lẽ, giác ngộ Kiểu nhân vật của dạng

tình huống này là : nhân vật tư tưởng Nghĩa là kiểu nhân vật được khai thác chủ yếu

ở đời sống nhận thức lí tính của nó Chất liệu cơ bản để dệt nên nhân vật là hệ thống những quan sát, phân tích, suy lí, đúc kết, chiêm nghiệm, toan tính v.v Diện mạo của

loại truyện ngắn này cũng đương nhiên là nghiêng về triết luận (Chữ người tử tù của

Trang 30

Nguyễn Tuân, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu)

Về số lượng: có thể thấy truyện ngắn có hai loại : 1) truyện một tình huống Cả

truyện ngắn chỉ xoay quanh có một tình huống duy nhất bao trùm (Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, Hai đứa trẻ của Thạch Lam) 2) truyện ngắn nhiều tình huống Cả thiên truyện được dệt từ nhiều tình huống (Chí phèo của Nam Cao, Vợ chồng A

Phủ của Tô Hoài)

Từ những nội dung lí thuyết trình bày trên đây, chúng tôi nhận thấy rằng: với người đọc, bước vào một truyện ngắn mà chưa thấy được tình huống thì coi như chưa nắm được chiếc chìa khóa quan trọng nhất để mở vào thế giới bí ấn của truyện ngắn

ấy Đọc vào truyện ngắn thì điều tối quan trọng là phải đọc cho ra tình huống truyện của nó

Trong quá trình tiếp cận tác phẩm truyện ngắn để xác định được tình huống cần các bước sau:

Tìm tên gọi để định danh Đây là khâu then chốt, chưa tìm được tên thích hợp thì xem như tình huống vẫn nằm ngoài tầm tay của ta vậy

+ Phân tích hình huống: cần tiến hành phân tích các bình diện cơ bản sau đây:

Diện mạo của tình huống (bình diện không gian)

Diễn biến của tình huống (bình diện thời gian)

Mối liên kết của tình huống với các khâu khác của tác phẩm (chi phối đến tổ chức hình thức của văn bản nghệ thuật truyện ngắn)

+ Rút ra ý nghĩa của tình huống:

Tức là rút ra cái thông điệp thẩm mĩ mà tình huống chứa đựng

Trang 31

Về quan niệm: toát lên quan niệm gì về nhân sinh, thẩm mĩ?

Về cảm xúc: chứa đựng cảm xúc chủ đạo gì?

Chẳng hạn phân tích tình huống truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Tình huống bao trùm toàn bộ truyện ngắn này chính là tình huống nhân vật Tràng một người xấu xí, dân ngụ cư, nhà nghèo, giữa lúc thiên hạ đang chết đói, lại “nhặt” được vợ một cách dễ dàng chỉ bằng một câu nói bông đùa và bốn bát bánh đúc Đó là một tình huống “nhặt vợ”, tình huống này vô cùng độc đáo, vừa bi thảm, vừa thấm đẫm tình người Tình huống này tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn người đọc Vì đây không phải là việc lấy vợ theo nghĩa thông thường mà “nhặt vợ”

Tình huống này đã làm cho câu chuyện phát triển theo cả không gian lẫn thời gian Về thời gian nó diễn ra từ chiều tối, đến đêm và sáng hôm sau Còn về không gian là từ trên đường về, về đến nhà, từ trong gia đình Tràng đến cả xóm ngụ cư Tràng lấy vợ đã gây ra sự ngạc nhiên cho tất cả người dân xóm ngụ cư và cả mẹ Tràng, thậm chí cả Tràng nữa.Vì người như Tràng

mà lấy được vợ, người như Tràng nuôi thân, nuôi mẹ chưa xong mà còn đèo bòng Tình huống này còn mở đầu cho sự phát triển của cả truyện và tác động đến diễn biến tâm lí của những người liên quan như Tràng, vợ Tràng,

Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ

Trang 32

vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm Những đặc điểm đó sẽ hình thành nên nhân vật chính, nhân vật phụ

Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống

và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm

Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật muốn thể hiện Chẳng hạn, khi nhắc đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính, người ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó Gắn liền với Kiều là thân phận của người phụ nữ có tài sắc trong xã hội cũ Gắn liền với Từ Hải là vấn đề

đấu tranh để thực hiện khát vọng tự do, công lí Trong Chí Phèo của Nam Cao, nhân

vật Chí Phèo thể hiện quá trình lưu manh hóa của một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến

Do nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời cho nên trong quá trình tìm hiểu, phân tích nhân vật đó cần phải tìm hiểu bối cảnh lịch sử mà nhân vật đó được xây dựng và phong cách nhà văn tạo ra nó

Các tác phẩm truyện ngắn Việt Nam trong chương trình ngữ văn 12( trừ truyện

ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”) đều ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, đó là 30 năm

kháng chiến chống Pháp rồi chống Mĩ vô cùng ác liệt, vận nước có lúc ngàn cân treo sợi tóc, vì vậy mà nền văn học sớm được kiến tạo theo mô hình “văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận Nhà văn là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(Hồ Chí Minh) Khuynh hướng tư tưởng chủ đạo của nền văn học mới là tư tưởng cách mạng, văn học trước hết phải là một thứ vũ khí phục vụ cho sự nghiệp cách mạng Ý thức, trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ được đề cao Gắn bó với dân tộc với nhân dân và đất nước, dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến, cổ vũ kháng chiến, đáp ứng yêu cầu của thời đại Chính vì yêu cầu trên mà văn học thời kì này có hai đề tài chính là đề tài tổ quốc và đề tài chủ nghĩa xã hội Văn học được coi như là một tấm gương phản ánh những vấn đề lớn lao, trọng đại nhất của đất nước và cách mạng

Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt kéo dài hơn 30 năm, văn học Việt Nam

Trang 33

không thể là tiếng nói của cá nhân mà tất yếu phải đề cập đến số phận chung của cả cộng đồng, của cả dân tộc Vì vậy các nhân vật chính được xây dựng trong các truyện ngắn ở thời kì này thường tiêu biểu lí tưởng chung của cả dân tộc, gắn bó số phận của mình với số phận của đất nước, thể hiện và kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cả cộng đồng Con người chủ yếu được khám phá ở bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, ý thức chính trị, ở lẽ sống và tình cảm lớn Những con người phải có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi của cả dân tộc và thời đại, nhân danh cộng đồng

mà chiến đấu vì sự sống còn của đất nước

Điều này chúng ta có thể thấy rất rõ trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Trong Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi… Đọc Rừng xà nu, Những đứa

con trong gia đình, hiện lên một tập thể anh hùng nhiều thế hệ đang ngày đêm chiến

đấu với kẻ thù để giữ từng tấc đất, ngôi nhà cho quê hương, đất nước Các nhân vật được xây dựng mang vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến tranh Hình ảnh các nhân vật Tnú, cụ Mết, Việt, chị Chiến, và còn biết bao người nữa, họ hiện ra trong mưa bom bão đạn mà vẫn hiên ngang, sáng lên một vẻ đẹp lạ thường Họ là kết tinh của vẻ đẹp dân tộc, sức sống dân tộc Các tác phẩm thời kỳ này đều đi vào khắc họa phẩm chất đẹp đẽ của con người với giọng điệu ca ngợi, hào hùng, vang vọng không

khí sử thi hoành tráng Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là một truyện ngắn xúc

động, hào hùng về cuộc chiến tranh anh dũng của dân làng Xô Man Nhà văn đã đi sâu khám phá vẻ đẹp của những người con Tây Nguyên, những con người cả đời gắn

bó với cây xà nu như gắn bó với Đảng, với cách mạng Con người hiện lên trong trang văn của Nguyễn Trung Thành là một tập thể anh hùng nhiều thế hệ Trang sử hào hùng của Tây Nguyên không phải chỉ một người viết mà là sự nối tiếp, kế tục từ đời nay sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác

Bên cạnh đó, trong chương trình ngữ văn 12 còn một số truyện ngắn quan tâm đến đời sống của nhân dân lao động, các nhân vật được xây dựng là những người lao động bất hạnh, nghèo khổ, bị áp bức, bị bóc lột trong xã hội cũ Họ đã đổi đời được nhờ cách mạng: từ thân phận của kẻ tôi đòi, nô lệ trở thành người làm chủ, người tự

do Đồng thời cũng thể hiện con đường tất yếu đến với cách mạng của những người

dân lao động bị dồn đẩy đến bước đường cùng Điều đó thể hiện rất rõ trong Vợ

Trang 34

chồng A Phủ của Tô Hoài, Vợ Nhặt của Kim Lân Trong Vợ chồng A Phủ, Mị và A

Phủ phải chịu sự đầy đọa, bóc lột của nhà Thống lí Pá Tra, họ sống như những con vật, bị hành hạ cả về thể xác lẫn tình thần cuối cùng họ đã tìm đến được với cách

mạng, đi theo cách mạng và giả phóng cuộc đời mình Truyện Ngắn Vợ nhặt là cuộc

sống đầy tình người của Tràng, bà cụ Tứ, và người vợ nhặt trong cảnh “ Người chết như ngã rạ” nhưng kết thúc tác phẩm là hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng và đoàn người đi trên đê, phá kho thóc của Nhật để chia cho dân nghèo Hé mở một tương lai tươi sáng cho người dân

Có thể thấy rằng: các tác phẩm truyện ngắn lớp 12 ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt nên các nhân vật được nhà văn xây dựng có những phẩm chất riêng Hầu hết tập trung thể hiện vẻ đẹp, sức sống của con người Việt Nam trong chiến tranh, ca ngợi cách mạng đem đến cuộc sống tươi sáng cho những kiếp người bất hạnh Nắm được đặc điểm này chúng ta mới có thể tìm hiểu, khám phá được vẻ đẹp của các nhân vật được nhà văn xây dựng trong các truyện ngắn chương trình 12 và thấy được sự tương đồng và khác biệt trong việc xây dựng các nhân vật trước và sau cách mạng tháng 8 năm 1945

Ngoài ra, ở chương trình ngữ văn 12 còn có cả truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài

xa của Nguyễn Minh Châu Đây là truyện ngắn tiêu biểu cho văn học sau 1975

Truyện ngắn ra đời khi đất nước đã thống nhất, chấm dứt 30 năm chiến tranh tàn khốc Trên cái nền thực tại ấy vấn đề đặt ra không còn là số phận của dân tộc, của cộng đồng trong chiến tranh máu lửa nữa mà là thân phận con người trong cuộc sống đời thường Nó trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn, chi phối mọi phương diện của tác phẩm Và cách xây dựng nhân vật ở tác phẩm này cũng khác với những tác phẩm trước 1975 “Nhân vật được xây dựng ở đây “không còn là con người chính trị”, “ con người mới” với bao phẩm chất lí tưởng nữa.” [65,Tr.97] Nhân vật được xây dựng là những con người hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày đối mặt với bao

bộn bề, phức tạp của đời sống thường nhật” Trong chiếc thuyền ngoài xa đó là cuộc

sống của gia đình làng chài với biết bao lo toan, bao cay đắng và còn chịu nhiều bất công Nỗi bật lên là nhân vật người đàn bà, dù cuộc sống bị chồng bạo hành liên tục “

ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng chị vẫn cam chịu, vẫn không

Trang 35

bỏ người chồng vũ phu Tất cả sự hi sinh của chị là vì con Từ đó, ta có thể thấy cách xây dựng nhân vật sau 1975 hoàn toàn khác với giai đoạn trước đó, nên tiếp cận nhân vật ở những tác phẩm này chúng ta phải tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Đặt nhân vật trong cuộc sống đời thường, gắn với cuộc sống hiện thực để cảm nhận

Như vậy, khi dạy truyện ngắn không thể không làm rõ nhân vật Ở mỗi loại hình truyện ngắn thì cách xây dựng nhân vật là khác nhau Do đó cách tiếp cận, cảm nhận về các nhân vật cũng khác nhau Thông thường khi phân tích nhân vật trong truyện ngắn chúng ta thường chỉ rõ những đặc điểm về ngoại hình, tính cách, nội tâm và ngôn ngữ cá nhân của nhân vật Tuy nhiên cũng cần chú ý đến đặc điểm nhân vật mà nhà văn xây dựng để có cách phân tích hợp lí Ví dụ, Phân tích nhân vật Liên trong truyện Hai đứa trẻ không thể đi phân tích ngoại hình, tính cách của nhân vật mà cần làm rõ cảm xúc, tâm trạng của nhân vật ấy Nắm được đặc điểm về nhân vật cũng như bút pháp xây dựng được nhân vật sẽ thoát khỏi tình trạng “nhầm lẫn” phân tích nhân vật trong văn học lãng mạn như là nhân vật trong hiện thực hay nhân vật trong văn học cách mạng như nhân vật trong truyện ngắn thời kì đổi mới

- Ngôn ngữ truyện ngắn

Ngôn ngữ là phương tiện, là chất liệu để nhà văn xây dụng hình tượng và thể hiện tư tưởng tình cảm của mình Ngôn ngữ là yếu tố làm nên phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn Ngôn ngữ là yếu tố làm nên phong cách nghệ thuật của nhà văn Ngôn ngữ trong truyện ngắn của Thạch Lam trong sáng, giản dị, tinh tế và đậm chất thơ Văn Thạch Lam giàu chất trữ tình, cái tinh tế, nhẹ hàng, sâu lắng trở thành một thuộc tính của văn phong Thạch Lam Ngôn ngữ truyện Nam Cao sống động, phong phú bắt chặt ngôn ngữ dung dị của đời sống con người Có khi ngoài bút ông sắc lạnh, tỉnh táo, nhiều suy tư, có khi lại trữ tình, đầm thắm, yêu thương Dạy truyện ngắn Chí Phèo nếu không phân tích yếu tố ngôn ngữ sẽ không thấy được tài năng của Nam Cao Ở truyện ngắn này nhà văn đã đan xen trộn lẫn lời nhân vật với lời người kể chuyện Điều này cho phép nhà văn soi xét, lách sâu vào thế giới nội tâm nhân vật phức tạp và tinh tế của nhân vật Nhờ vậy chân dung nhân vật hiện ra hết sức chân thực và sống động

Như vậy, dạy đọc hiểu truyện ngắn văn bản hiện đại không thể xa vời đặc trưng

Trang 36

của thể loại Dạy đọc hiểu văn bản một truyện ngắn là dạy cho học sinh cách thức phân tích để học sinh có thể tiếp cận tác phẩm khác cùng thể loại Trên cơ sở cung cấp cho học sinh những tri thức về thể loại cùng với việc định hướng khám phá tác phẩm sẽ hình thành cho các em các kĩ năng tiếp nhận tác phẩm với những thể loại khác nhau Để tiếp nhận được các truyện ngắn trong quá trình giảng dạy ngữ văn ở chương trình 12, chúng ta cần phải quan tâm đến nhiều yếu tố là đặc trưng thể loại của truyện ngắn như dung lượng, tình huống truyện, cốt truyện, nhân vật Bên cạnh

đó chúng ta cũng phải quan tâm đến kết cấu truyện, phương thức kể chuyện, ngôn ngữ của truyện… Đó là những yếu tố góp phần xây dựng truyện ngắn thành công và chúng cũng là chìa khóa để chúng ta khám phá vẻ đẹp, giá trị của truyện ngắn

1.3.2.2 Tri thức thể loại kí

- Khái niệm về thể kí

Kí ra đời từ rất sớm trong lịch sử văn học của nhân loại Nhưng ở Việt Nam, phải đến thế kỉ XVI, đặc biệt là từ thế kỉ thứ XIX, khi đời sống lịch sử của các dân tộc ngày càng phát triển theo hướng tăng tốc, khi kĩ thuật in ấn và báo chí phát triển, văn học mở cửa để xâm nhập vào các lĩnh vực hoạt động tinh thần khác, nhà văn ngày càng có ý thức tham gia trực tiếp vào những cuộc đấu tranh xã hội, kí mới thực sự phát triển mạnh mẽ Trong văn học Việt Nam kí đã có từ giai đoạn văn học trung đại Bước sang thế kỉ XX công cuộc hiện đại hóa văn học diễn ra mạnh mẽ Văn xuôi tiếng Việt phát triển mau lẹ, với hệ thống thể loại hoàn chỉnh Trong đó sáng tác thuộc thể kí cũng phát triển tương đối đa dạng gồm phóng sự, kí sự, tùy bút, bút kí…

Từ sau cách mạng tháng tám, kí giữ một vai trò đặc biệt quan trọng Nhiều tác phẩm kí có giá trị lần lượt xuất hiện, góp phần tạo nên bộ mặt đa dạng của đời sống văn học Hiện thực đời sống dân tộc từ sau cách mạng tháng tám 1945, đặc biệt là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi để thể kí phát triển những ưu thế

riêng về mặt thể loại, đạt tới những thành tựu đáng ghi nhận như: Một lần tới thủ đô,

Trận phố Ràng của Trần Đăng, Kí sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng, kí của

Nguyễn Tuân… Nhìn chung kí trong thời kì kháng chiến đã góp cho văn học viết về chiến tranh một cái nhìn nghiêm túc, giàu giá trị nhân bản

Trang 37

Sau 1975, đất nước bước vào hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là từ khi đổi mới đất nước (1986), kí có sự chuyển mình rõ rệt Với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật”, các thể phóng sự, tùy bút, tạp văn xuất hiện phong phú hơn bao giờ hết Đội ngũ viết kí đông đảo tiêu biểu như: Nguyễn Khải, Tô Hoài, Băng Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường… Xu hướng “dân chủ hóa ” đã giúp kí xâm nhập vào mọi mặt của đời sống, thể hiện sự phong phú sôi động của hiện thực đời sống, đồng thời người viết kí cũng có điều kiện bộ lộ phong cách riêng của mình

Từ khi xuất hiện kí được nhìn nhận như một hình thức ghi chép về hiện thực đời

sống Theo những nhà biên soạn Từ điển thuật ngữ văn học, kí là thể loại văn học có

đặc điếm “Tôn trọng sự thật khách quan của cuộc sống, không hư cấu” và “Nhà văn viết kí luôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời sống được phản ánh

trong tác phẩmm” [24, tr 137] Còn các tác giả của Từ điển tiếng Việt thì cho rằng, kí

là loại “thể văn tự sự có tính chất thời sự, trung thành với hiện thực đến mức cao

nhất”[51, tr 501] Có thế nói, đây là những khái quát rất cụ thể về đặc trưng cơ bản của thể loại này

Kí là một loại hình văn học không thuần nhất Đó là lĩnh vực văn học bao gồm nhiều thể loại, chủ yếu là văn xuôi ghi chép, miêu tả và biểu hiện những sự việc, con người có thật trong cuộc sống Ở thể loại này, người ta đặc biệt quan tâm đến các sự kiện, hoàn cảnh lịch sử, những biểu hiện của đời sống có thực ngoài đời và đồng thời muốn bộc lộ trực tiếp cá tính sáng tạo và tinh thần trách nhiệm xã hội của tác giả “ Với thể loại kí, từ sự thôi thúc của cuộc sống mà tác giả có nhu cầu được công bố kịp thời đến những nhận xét, những đánh giá, những ý tưởng Kí ghi được rất rõ những nét mang dấu ấn của một sự kiện, của một thời kì, của một lớp người, của một vùng miền” [58, tr 361]

Về văn phong và ngôn từ nghệ thuật của kí thì theo Nguyễn Tuân: “Cách diễn đạt của thể kí cũng rất đa dạng và phức tạp”[ 57 251] Có nhà nghiên cứu cho rằng: “đặc điểm văn học của kí lộ rõ nhất ở văn phong, ngôn từ nghệ thuật”[57 251]

Ngôn từ trong tác phẩm kí chủ yếu là ngôn ngữ trực tiếp của tác giả - người chứng kiến và tái hiện các hiện tượng đời sống Đồng thời, tác giả luôn là người đối thoại, chứng kiến, ghi nhớ và ghi chép lại ngôn từ của các nhân vật khác So với ngôn

Trang 38

từ nghệ thuật của các thể loại khác, ngôn từ nghệ thuật của kí luôn có xu hướng mở rộng, thừa nhận, dung nạp nhiều hình thức và phong cách sáng tạo Ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm kí thường rất linh hoạt về giọng điệu Kí thường không chỉ trần thuật, mà cùng với trần thuật là phân tích, khái quát ý nghĩa của các hiện tượng đời sống được đề cập, phản ánh trong tác phẩm

Do hướng tới những phạm vi thông tin và nhận thức, kí cũng đa dạng về kiểu loại

và kết cấu Các thể và biến thể của kí hình thành một cách tự nhiên trong quá trình vận động của lịch sử văn học Theo đó, người ta chia kí thành hai nhóm lớn Nhóm thứ nhất thiên về tự sự gồm các thể chính như kí sự, phóng sự, nhật kí Nhóm thứ hai nghiêng về trữ tình với các thể chính như: tùy bút, bút kí, tản văn

- Thực trạng dạy học kí ở lớp 12 hiện nay

Với chiều dài lịch sử của thể kí bắt đầu từ thời trung đại và kéo dài cho tới tận ngày nay chứng tỏ kí có vị trí khá quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam nhưng thực tế trong chương trình dạy học Ngữ văn ở bậc THPT thì những tác phẩm kí lại không có được tầm quan trọng như nó vốn có Ba năm THPT, học sinh chỉ được học

ba tác phẩm thuộc thể loại kí: Đầu năm học lớp 11 các em được học kí sự: Thượng

kinh kí sự của Lê Hữu Trác Đến gần cuối học kì I của năm học lóp 12 thì các em

được học tiếp tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường và tùy bút Người lải đò sông Đà của Nguyễn Tuân Tác phẩm của Nguyễn Tuân đã có

sẵn từ trước, còn tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường thì mới được đưa vào vào trong chương trình thay sách giáo khoa từ năm học 2003 - 2004 Đây là hai tác phẩm tiêu biểu cho hai giai đoạn văn học trước và sau 1975, là tác phẩm hay, rất xứng đáng, góp phần tăng cường chất văn trong nội dung chương trình và đáp ứng mục tiêu giáo dục mĩ cảm cho học sinh

Nhưng trên thực tế ở trường phổ thông, việc dạy - học các tác phẩm này đã và đang gặp không ít trở ngại, vướng mắc Trong khi làm luận văn này tôi đã thăm dò ý kiến của nhiều giáo viên dạy lớp 12 và học sinh lớp 12, phần lớn họ khi được hỏi thì đều không mấy hứng thú với tác phẩm kí, đặc biệt là phần lớn học sinh đều không tìm được cách tiếp cận tác phẩm kí, các em đều cho rằng nó khô khan, khó hiểu Điều này

có nhiều nguyên nhân như: thể kí vốn rất ít được các nhà nghiên cứu quan tâm và

Trang 39

tìm hiểu quá trình phát triển của nó một cách cụ thể và sâu sắc nên dẫn đến việc

nguồn tư liệu để tìm hiểu và nghiên cứu đối với thể loại này tương đối ít, gây ra khó

khăn cho thầy cô giáo khi đứng lớp giảng dạy; nhưng nguyên nhân sâu xa là trong

suốt một quá trình dài trước đó, học sinh được học nhiều hơn các tác phẩm văn xuôi

thiên về tự sự Dần dần, cảm xúc và nhận thức của các em đã quen nương theo cốt

truyện, hệ thống nhân vật, tình tiết,…Đến khi cần cảm thụ một tác phẩm văn xuôi

giàu chất trữ tình khác với các tác phẩm quen thuộc, chắc chắn các em gặp lúng túng

và mất phương hướng Hậu quả là, cả người dạy và người học đều ngán những tác

giả, tác phẩm kí Vì không thật sự hứng thú nên việc truyền đạt và tiếp nhận trên lớp

học đối với những nội dung này khó lòng đạt được kết quả như mong muốn

- Những yêu cầu khi dạy tác phẩm kí

Từ thực trạng dạy học tác phẩm kí trong chương trình 12 mà chúng tôi đã phân

tích ở trên chúng tôi nhận thấy, cần trang bị cho học sinh những tri thức cơ bản về thể

loại để học dạy học tác phẩm kí đặt được hiệu quả Khi dạy tác phẩm kí theo thể loại

là người dạy phải làm cho học sinh thấy được đặc trưng thể loại của kí là gì? Thậm

chí phải cho học sinh hiểu được sự giống và khác nhau giữa các tác phẩm thuộc thể

loại kí Đồng thời phải có một sự phối hợp thật linh hoạt các phương pháp dạy học

tích cực để giúp học sinh tiếp nhận các tác phẩm thuộc thể loại kí tốt hơn Theo thầy

Nguyễn Viết Chữ, khi dạy tác phẩm kí hiện đại như Người lái đò sông Đà và Ai đã

đặt tên cho dòng sông “ta nên tận dụng con đường theo bước tác giả kết hợp với

đọc diễn cảm, kết hợp giảng bình và câu hỏi hình dung, tưởng tượng, tái hiện”

Cụ thể khi dạy tác phẩm kí ở lớp 12 giáo viên phải làm sáng tỏ các điểm sau:

Trước hết chúng tôi thấy rằng cả hai tác phẩm đều thuộc thể loại kí nên chúng có

những đặc trưng tương đồng nhau Mặt khác, tuy cùng thể loại kí nhưng hai tác phẩm

lại thuộc hai thể, tiểu loại khác nhau Người lái đò Sông Đà là thể tùy bút, còn Ai đã

đặt tên cho dòng sông? là bút kí nên nó cũng có những đặc trưng khác nhau Vậy vấn

đề đặt ra là người dạy phải giúp học sinh thấy được điểm giống và khác nhau giữa hai

thể loại này

Tùy bút theo định nghĩa của Từ điển văn học “là một thể loại văn xuôi phái sinh

từ thể loại kí, gần với bút kí nhưng cách viết tự do và tùy hứng nhiều hơn Nhà văn

Trang 40

dựa vào sự lôi cuốn của cảm hứng có thể có từ sự việc này sang liên tưởng kia để bộc

lộ những cảm xúc, những tâm tình, phát biểu những suy nghĩ, những nhận xét về con người và cuộc đời”[25,tr.1888]

Hà Văn Đức trong Tùy bút của Nguyễn Tuân sau cách mạng tháng Tám đã đưa ra

suy nghĩ của mình về tùy bút “tùy bút là một thể loại có lối viết tương đối tự do, phóng khoáng Nhà văn tùy theo ngọn bút đưa đẩy, có thể đi từ việc này sang việc khác, từ liên tưởng này sang liên tưởng nọ để bộc lộ những nhận thức, suy nghĩ và cảm xúc của mình về đối tượng được phản ánh Ở thể loại này cái tôi bản ngã của nhà văn được thể hiện gần như trong thơ trữ tình ”

Từ hai định nghĩa trên chúng ta có thể nhận thấy tùy bút là một loại kí trữ tình tiêu biểu, trữ tình nhất trong các loại văn xuôi

Còn bút kí theo La Khắc Hòa là “thể loại trung gian giữa kí sự và tùy bút Bút kí thiên về việc ghi lại một cảnh vật mà nhà văn mắt thấy tai nghe, thường là trong một chuyến đi Nó kết hợp các phương thức nghị luận, tự sự, trữ tình Nhiều khi nó nghiêng hẳn về trữ tình, có thể trình bày những nhận xét, những liên tưởng triền miên, phóng túng như trong tùy bút” [58, tr.380]

Như vậy, chúng ta có thể thấy đặc trưng của bút kí dựa trên tiêu chí thể hiện người thật, việc thật nhưng luôn gắn với cảm xúc, gắn với suy tư của cá nhân nhà văn

và cũng thường bắt nguồn từ một cái cớ, một sự kiện nào đó Cách viết cũng không bị

gò bó trong một khuôn khổ, một nguyên tắc nào mà tùy theo sự liên tưởng, tưởng tượng của tác giả để từ đó bộc lộ cảm xúc hoàn chỉnh của người viết

Qua sự phân tích các định nghĩa trên chúng ta thấy rằng, hai thể loại này có điểm tương đồng nhau

Cả bút kí và tùy bút đều nhận một cái cớ nào đó để từ đó nhà văn bộc lộ ra những suy nghĩ của chính bản thân mình Cũng như từ một sự kiện, một sự việc quan trọng,

để nhà văn thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, có khi là những nhận xét đánh giá của bản thân họ về sự việc ấy

Về cách viết cả tùy bút và bút kí đều có yếu tố trữ tình, nói đến trữ tình là nói đến cảm xúc, nói đến tâm trạng, tình cảm của nhà văn Chất trữ tình thể hiện rất rõ trong hai thể loại này và vì vậy mà nó cho phép vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để tập

Ngày đăng: 22/06/2014, 03:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Trần Bảo Anh (2012), Vận dụng tri thức tiếng Việt trong dạy đọc- hiểu thơ ở Trung học cơ sở, Luận văn thạc sĩ lí luận và phương pháp dạy học môn văn và tiếng Việt, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng tri thức tiếng Việt trong dạy đọc- hiểu thơ ở Trung học cơ sở
Tác giả: Trần Bảo Anh
Năm: 2012
[2]. Hoàng Anh (2005), Luật Giáo dục năm 2005, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục năm 2005
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2005
[3]. Lê Thị Ba (2008), Chuyên đề dạy học Ngữ văn 12- Vợ Nhặt(Kim Lân), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề dạy học Ngữ văn 12- Vợ Nhặt(Kim Lân)
Tác giả: Lê Thị Ba
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
[4]. Lê Thị Ba (2009), Chuyên đề dạy học Ngữ văn 12- Tây Tiến(Quang Dũng), Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề dạy học Ngữ văn 12
Tác giả: Lê Thị Ba
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
[6]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 12, tập 1, Nxb Giáo dục [7]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 12, tập 2, Nxb Giáo dục [8]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 11, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[9]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Sách giáo viên Ngữ văn 12, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 12, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
[10]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Sách giáo viên Ngữ văn 12, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
[11]. Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Khắc Đàm, Nguyễn Lê Huân (2008), Giới thiệu giáo án Ngữ văn 12, tập 1, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu giáo án Ngữ văn 12, tập 1
Tác giả: Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Khắc Đàm, Nguyễn Lê Huân
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
[12]. Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Khắc Đàm, Nguyễn Lê Huân (2008), Giới thiệu giáo án Ngữ văn 12, tập 2, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu giáo án Ngữ văn 12, tập 2
Tác giả: Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Khắc Đàm, Nguyễn Lê Huân
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
[13]. Nguyễn Viết Chữ (2006), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể),Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể)
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2006
[14]. Phạm Minh Diệu (Chủ biên,2007), Thiết kế bài giảng ngữ văn 12, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng ngữ văn 12
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
[15]. Hoàng Dục (2008), Chuyên đề dạy học Ngữ văn 12 – Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề dạy học Ngữ văn 12 – Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
Tác giả: Hoàng Dục
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
[16]. Phan Huy Dũng (2009), Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông – một góc nhìn, một cách đọc, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông – một góc nhìn, một cách đọc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
[17]. Trần Thanh Đạm(1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1971
[18]. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu (2004), Văn học Việt Nam (1900 - 1945), Nxb Giáo duc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900 - 1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Giáo duc
Năm: 2004
[19]. Trần Thanh Địch (1987), Tìm hiểu truyện ngắn, Nxb tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu truyện ngắn
Tác giả: Trần Thanh Địch
Nhà XB: Nxb tác phẩm mới
Năm: 1987
[20]. Hà Minh Đức (1980), Kí viết về chiến tranh cách mạng và xây xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nxb Quân Đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kí viết về chiến tranh cách mạng và xây xây dựng chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Quân Đội nhân dân
Năm: 1980
[21]. Hà Văn Đức(1996), “Tùy bút Nguyễn Tuân sau cách mạng tháng tám”,( in trong 50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng tám), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tùy bút Nguyễn Tuân sau cách mạng tháng tám
Tác giả: Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
[22]. Nguyễn Đình Đương (2012), Dạy đọc hiểu truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam hiện đại ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Luận văn thạc sĩ lí luận và phương pháp dạy học môn văn, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy đọc hiểu truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam hiện đại ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Tác giả: Nguyễn Đình Đương
Nhà XB: Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
[23]. Nguyễn Văn Đường (2009), Thiết kế bài giảng ngữ văn 12, (tập 2),Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng ngữ văn 12
Tác giả: Nguyễn Văn Đường
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN  HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINHLỚP 12 - HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINHLỚP 12  TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
12 (Trang 1)
HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN  HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINH LỚP 12 - HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINHLỚP 12  TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
12 (Trang 2)
Bảng 1: Các thể loại văn xuôi văn học hiện đại Việt Nam trong chương trình sách  giáo khoa văn học hợp nhất năm 2000 - HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINHLỚP 12  TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Bảng 1 Các thể loại văn xuôi văn học hiện đại Việt Nam trong chương trình sách giáo khoa văn học hợp nhất năm 2000 (Trang 17)
Bảng 3: Các thể loại văn xuôi văn học hiện đại Việt Nam trong chương trình ngữ  văn 12 (nâng cao) - HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINHLỚP 12  TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Bảng 3 Các thể loại văn xuôi văn học hiện đại Việt Nam trong chương trình ngữ văn 12 (nâng cao) (Trang 18)
HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI  THƠ TRỮ TÌNH CHO HỌC SINH 12 THPT - HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINHLỚP 12  TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
12 THPT (Trang 55)
Bảng  2:    Các  tác  phẩm  thơ  trữ  tình  văn  học  hiện  đại  Việt  Nam  trong  chương  trình ngữ văn 12 (ban cơ bản) - HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINHLỚP 12  TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
ng 2: Các tác phẩm thơ trữ tình văn học hiện đại Việt Nam trong chương trình ngữ văn 12 (ban cơ bản) (Trang 56)
2. Hình tượng người lái đò sông Đà    - Vẻ đẹp đời thường. - HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINHLỚP 12  TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2. Hình tượng người lái đò sông Đà - Vẻ đẹp đời thường (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w