Hầu hết các mạng truyền sô liệu đều sử dụng kỹ thuật điều khiển luéng flow-control dé giải quyết vấn đề tắc nghẽn Nếu xét trên mô hình 7 tầng cua ISO thi Frame-Relay làm việc chủ yếu ở t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
NGÀNH ĐIỆN TỬ VIÊN THÔNG
*#OO*#*+
LƯƠNG HOÀNG PHI
103101070
TÌM HIỂU VÀ MÔ PHONG
KY THUAT CHUYEN MACH NHAN DA GIAO THUC MPLS - VPN
CHUYEN NGANH DIEN TU VIEN THONG
DO AN TOT NGHIEP
_TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 01 NĂM 2008
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM Đôc lâp - Tự do - Hanh phúc
|
NHIỆM VỤ LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP
Chú ý: SV phải đóng bảh nhiệm vụ này vào trang thứ nhất của luận án
Họ và tên SV : LUỚNG HOẠNG PHI MSSV: 403404030
Ngành : ¬ Lớp : Q4.Ð1£
1 Đầu để luận án tốt nghiệp:
Tim Acer & now ty tư hữu Yee? LOE, MEPs
2 Nhiém vu ( yeu cau vé nội dung và SỐ liệu ban đầu ):
<LI Tice CAL xa Ad é hilhighes Lia fe eho en Xd Eaten
Bigs ATH |
Mi tg - U88 stay LS g A
¬ ÔÔ
3 Ngày giao nhiệm vụ luận án: 01/10/2007
4 Ngày hoàn thành nhiệm vụ : 12/01/2008
5 Họ tên người hướng dân Phần hướng dẫn :
Nội dung và yêu cầu LATN đã được thông qua NGƯỜI HƯỜNG DẪN CHÍNH
Ngày 4€ tháng4Önăm 2007 _ (ký và ghi rõ họ tên) TRƯỞNG KHOA
'ĐẠI HỢC KỸ THUẬT GÔNG NGHỆ ih : |
Trang 3Nhận xét -3- GVHD: PGS.TS Pham Hồng Liên
BANG NHAN XET CUA GIAO VIEN PHAN BIEN
Họ và tên sinh viên: LƯƠNG HOÀNG PHI & NGUYEN HUYNH LE UYEN
Lớp : 03DHDT2
Giáo viên phản biện :
Tén dé tai: CONG NGHE CHUYEN MACH NHAN DA GIAO THUC MPLS
CỐ EE EEEE EEO E RET SE RESEND
POO m emer nomena rere ee ene e ese eee mene eee eee ede E EEE EE EHE EOE OE OSE E SES EEE EE HEHEHE DEERE NESE ESE EASES EEE EEE E HEHE EEE E RE HET EHO EER EE OE
SOPH eee orem ones rare renee nsen sere meee e see eee eee DEeH EEE OOOE ESET ESSE HEHE HETERO EOE DESO HESESHEOHEHOOE STORES DESO SEEOS EDO ESSESS
CORR e em eee Hae mere mere e ene m Ede ee DEORE HDHE HEHE OEE SOS S OEE EEE EEEEEEEEED EOE OE DESO EE DOME E OES ED EDO HERES OSES OSEE EROS ES OSESD
SOP R Oma marae er aee ra er ene H ene ee Dee eES EOE E HEHEHE H EEO ERE SESE DESO OEEE OEE OE DESERT SOS OEE EHO EREOE HERERO DESEO E DESEO SSE E RES EED
Á O9 9 9 0908 0000060006 eee eee eee eee ee eee ee eee eee eee ere eee eer eee errr eee rer eee ee ere eer veres reer reer errr reser ere ere se
TORO e ee eee mene een HHT ree O HET EH OE HEREC ESOT REET CESSES ERODE HOE E DASE EDHEDESORESOHEESHH ESE DETTE ERETHEEHO EOE E HOODS DEDEDE SE OEE EOD
CMO em eee reer rere es ee eaten arenes Es see eee HOO e OE e EDO EEDEHESE SESSA EDEE DESEO RSET OEES OS SECEDE SEO SORE HEHE DEE EH SES EEE EEES
PROS De mene rare rer re mene rere re ene sD eHE HEH Oe ESE HEED EEE EAD EHED EHS OEE EEE ESSE ODEO SESE H SEES DESO EEEORESEHESESHEEH ERE ERE O EOE E EES
Điêm đánh giả : XÊP lOẠIÌ - Ă SH re
Trang 4-6- GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
PHAN 1:
LY THUYET
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 5
Chương 1 -7- GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
———=======-=-c ễ _———— —— —-————-_-
Chương 1: KỸ THUẬT VIỄN THONG VA CAC DICH VU
1.1 Xu hướng phát triển Kỹ thuật viễn thông
Trong quá trình phát triển của Kỹ thuật viễn thông, các động lực thúc đây sự tiến
bộ của kỹ thuật viễn thông là:
Kỹ thuật điện tử với xu hướng phát triển hướng tới sự tích hợp ngày
càng cao của các vi mạch ,
Sự phát triên không ngừng của kỹ thuật sô
Sự kết hợp giữa truyền thông và tin học ngày cảng phát triển, các chương trình phần mềm hoạt động ngày càng hiệu quả
Kỹ thuật quang phát triển làm tăng khả năng, tốc độ, chất lượng truyền tin, va chi phí thap
Những xu hướng phát: triển Kỹ thuật đan xen lẫn nhau và cho phép mạng lưới thỏa mãn tốt hơn các nhu cầu của khách hàng trong tương lai
Với sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng của các nhu cầu địch vụ ngày càng
phức tạp từ phía khách hàng đã kích thích sự phát triển nhanh chóng của thị trường
Kỹ thuật điện tử - tin học - viễn thông
Những xu hướng phát triển Kỹ thuật đã và đang tiếp cận nhau, đan xen lẫn nhau
nhằm cho phép mạng lưới thỏa mãn tốt các nhu cầu của khách hàng trong tương lai
Xu hướng phát triển Kỹ thuật thông tin - viễn thông, theo ITU, có thể chia thành
hai loại:
- Hoạt động hướng kết nối
-_ Hoạt động không kết nôi
Các hoạt động này có xu hướng tiến tới tiếp cận hội tụ
1.1.1 Kỹ thuật truyền dẫn
1.1.1 Hữu tuyến
Hiện nay trên 60% lưu lượng thông tin được truyền đi trên toàn thế giới được
truyền trên mạng quang Kỹ thuật truyền dẫn quang SDH cho phép tạo nên các
đường truyền dẫn tốc độ cao (155Mbps, 622Mbps, 2.5Mbps) với khả năng bảo vệ
của các mạng vòng đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trong đó có Việt Nam
WDM cho phép sử dụng độ rộng băng tần rất lớn của sợi quang bằng cách kết
hợp một số các tín hiệu phép kênh theo thời gian với độ dài các bước sóng khác
nhau và ta có thể sử dụng được các cửa số không gian và độ dài bước sóng Kỹ
thuật WDM cho phép nâng tốc độ truyền dẫn lên 5Gbps, 10Gbps, 20Gbps
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 6Kỹ thuật truyền dẫn SDH cũng phát triển trong lĩnh vực VIBA, tuy nhiên do
những hạn chế của môi trường truyền sóng vô tuyến nên tốc độ và chất lượng
truyền dẫn không Cao SO Với truyền dẫn quang Các thiết bị VIBA SDH hiện nay
trên thị trường có tốc độ là: N x STM-I
- Vé tinh
+ LEO (Low Earth Orbit) — vệ tinh quỹ đạo thấp
+ MEO (Medium Earth Orbit) — vé tinh quỹ đạo trung bình Thị trường thông tin vệ tính trong khu vực đã có sự phát triển mạnh trong những
năm gần đây và còn tiếp tục trong các năm tới Các loại hình dịch vụ vệ tinh đã rất
phát triển như : DTH tương tác, truy nhập Internet, các dịch vụ băng rong, HDTV
ngoài các Ứng phé biến đối với các nhu cầu thông tin quảng bá, viên thông nông
thôn, với sự kết hợp sử dụng các ưu điểm của Kỹ thuật CDMA, thông tin vệ tỉnh
ngày càng có xu hướng phát triển
1.1.2 Kỹ thuật chuyển mạch
1.1.2.1 Kỹ thuật Frame Relay
Hiện nay, ở Việt Nam có mạng truyền số liệu chuyển mạch gói theo tiêu chuẩn
X.25 đang được khai thác Mạng truyền sô liệu theo Kỹ thuật chuyển mạch gói chỉ
có thể phục vụ cho các nhu cầu truyền số liệu tốc độ thấp (tối đa tới 128 Kbps)
nhưng nó có tính an toàn cao, khắc phục được các yếu điểm của một mạng truyền
dẫn chất lượng kém Với các Kỹ thuật truyền dẫn hiện nay, vấn đề nâng cấp chất
lượng các đường truyền dẫn không phức tạp như trước kia Vì vậy, chúng ta thé
chọn hướng phát triển là xây dựng mạng truyền số liệu theo Kỹ thuật Frame- relay
Frame-Relay bắt đầu được đưa ra như tiêu chuẩn của một trong những giao
thức truyền số liệu từ năm 1984 trong hội nghị của tổ chức liên minh viễn thông thế
gidi ITU-T (luc đó gọi là CCITT - Consultative Commitee for International Telegraph and
Telephone) và cũng được viện tiêu chuẩn quéc gia MY ANSY (American National
Standard Institute) dwa thanh tiêu chuẩn của ANSV vào năm đó
Mục tiêu chính của Frame- -Relay cũng giống như của nhiều tiêu chuẩn khác, đó
là tạo ra một giao điện chuẩn để kết nối thiết bị - của các nhà sản xuất thiết bị khác
nhau - gifta nguoi ding va mang UNI (User to Network Interface)
Theo số liệu của diễn đàn Frame-Relay thì nguyên nhân để người dùng chọn
Trang 7s« Dễ dùng độ tin cậy cao: 16%
e Xử lý giao dịch phan tan: 16%
¢ H6i thao video: 5%
Khuôn dạng gói dữ liệu Frame-Relay:
Do Frame-Relay được xây dựng bắt nguồn từ ý tưởng của HDLC (High Data
Link Control) nên cấu trúc của gói tin Frame-Relay cũng tương tự như câu trúc
m_ Error check: Bit kiểm tra lỗi
a Data: Bit dữ liệu
5 C&A: Bit địa chỉ và điều khiển
Để thực hiện nhiệm vụ truyền số liệu, mạng Frame-Relay sẽ phải giải quyết
vẫn đề tắc nghẽn thông tin trên mạng, thực chất đây là vấn đề của tầng Mạng trong
mô hình 7 tầng Erame-Relay làm việc ở tầng Liên kết nhưng cũng phải giải quyết
vẫn đề này để đảm bảo khả năng lưu chuyển thông tin Hầu hết các mạng truyền sô
liệu đều sử dụng kỹ thuật điều khiển luéng (flow-control) dé giải quyết vấn đề tắc
nghẽn
Nếu xét trên mô hình 7 tầng cua ISO thi Frame-Relay làm việc chủ yếu ở tầng
Liên kết đữ liệu, do đó một sô chức năng của tầng Mạng coi như được chuyển
xuống tầng này Hơn nữa, một số chức năng của tầng này cũng được loại bỏ bớt
như các tham số về điều khiển luồng, ACK, NAK nhằm làm giảm độ trễ trong
mạng Điều đó đưa đến khái niệm goi la mang khong 16i (error-free network) D6 1a
điểm khác nhau cơ bản giữa Frame-Relay với X.25
Kỹ thuật chuyển mạch gói X.25 hấp dẫn ở khả năng sử dụng chung cong va
đường truyền, do đó nó có khả năng sử dụng trong tình huống bùng nổ, | tinh huồng
hay gặp ở mạng LAN và khi kết nối LAN to LAN Tuy nhiên, trong thực tế khả
năng này không có ý nghĩa lớn do thông lượng của mạng X.25 thấp
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 8
Chương 1 - 10- GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
Ngược lại, Kỹ thuật chuyển mạch kênh hay tách ghép kênh theo thời gian TDM
(Time Diviion Multiplexer) c6 thong lugng cao và độ trễ trong mạng rất thấp Vì thực
chất Kỹ thuật này tạo ra các kênh trong suốt (transparency channel) tuong Ứng với
tầng Vật lý trong mô hình 7 tầng Do không phải tính toán gì bên trong mạng nên
hầu như không có trễ mềm mà chỉ có trễ do khoảng cách và băng tần hạn chế Tuy
vậy, Kỹ thuật này tạo ra các kênh cố định về tốc độ nên không giải quyết được tinh
huống bùng nô lưu lượng Do đó chỉ thích hợp với những dịch vụ sử dụng băng tần
có định kiểu như dịch vụ thoại
Kết hợp hai ưu điểm trên, Frame-Relay có thông lượng cao với độ trễ trong
mạng thấp nhưng có khả năng kết nối sử dụng chung công và đường truyền nhằm
tạo ra mạng ảo, ngoài ra nó còn sử dụng một vài kỹ thuật nhằm hỗ trợ việc tổ chức
tổ chức dữ liệu khi truyền dẫn để sử dụng trong tình huống bùng nỗ lưu lượng
Dưới đây là bảng so sánh các Kỹ thuật trên:
Thông thường, khi có nhu cầu xây dựng mạng truyền số liệu dùng riêng để
phục vụ mục tiêu ứng dụng Kỹ thuật thông tin trong một công ty, cơ quan, yêu
câu đặt ra sẽ bao gôm:
5 Dễ sử dụng
1ñ Mạng lưới linh hoạt và độ sẵn sàng cao
'ñ_ Có khả năng phát triển mở rộng, nâng cấp
1 Giá thành hợp ly
Với những so sánh, rõ ràng Frame-Relay sẽ đáp ứng được phần lớn các yêu cầu
trên Nói cách khác dùng mạng diện rộng với Kỹ thuật Frame-Relay để thiết kế
mạng riêng chúng ta sẽ có một sô ưu điểm:
ñ_ Thời gian thực hiện nhanh
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 9Chương 4 -11- GVHD: PGS.TS Pham Héng Lién
KU Với cùng giao điện vật lý ta có thể tạo nhiều kênh logic để dùng
¡_ Tiết kiệm giá thành của thiết bị nối mạng diện rộng
1.1.2.2 Kỹ thuật X25
X.25 ra đời vào những năm 1970 Mục đích ban đầu của nó là kết nối các máy
chủ lớn ( mainframe) với các máy trạm (terminal) ở xa Ưu điểm của X.25 so với
các giải pháp mạng WAN khác là nó có cơ chế kiểm tra lỗi tích hợp sẵn Chọn X.25
nếu bạn phải sử dụng đường dây tương tự hay chất lượng đường dây không cao
X.25 là chuẩn của ITU-T cho truyền thông qua mạng WAN sử dụng kỹ thuật
chuyển mạch gói qua mạng điện thoại Thuật ngữ X.25 cũng còn được sử dụng cho
những giao thức thuộc Lớp vật lý và Lớp liên kết dữ liệu để tạo ra mạng X.25 Theo
thiết kế ban đầu, X.25 sử dụng đường dây tương tự để tạo nên một mạng chuyển
mạch gói, mặc © dis mạng X.25 cũng có thể được xây dựng trên cơ sở một mang so
Hién nay, giao thức X.25 là một bộ các qui tắc xác định cách thức thiết lập và
duy trì kết nối giữa các DTE và DCE trong một mạng đữ liệu công céng (PDN —
public data network) Nó qui định các thiết bị DTE/DCE và PSE (Packet-swiching
exchange) sẽ truyền dữ liệu như thế nào
Bạn cần phải trả phí thuê bao khi sử dụng mạng X.25
Khi sử dụng mạng X.25, bạn có thể tạo kết nối tới PDN qua một đường dây
dành riêng
Mạng X.25 hoạt động ở tốc độ 64 Kbit⁄s (trên đường tương tự)
Kích thước gói tin (gọi là frame) trong mang X.25 không cố định
Giao thức X.25 có cơ chế kiểm tra và sửa lỗi rất mạnh nên nó có thể làm việc
tương đối ôn định trên hệ thống đường dây điện thoại tương tự có chất lượng thấp
X.25 hiện đang được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế gidi noi các mạng
số chưa phổ biến cũng như chất lượng đường dây còn thấp
1.1.2.3 Kỹ thuật IP
IP là thành phần chính của kiến trúc của mạng Internet Trong kiến trúc này, IP
đóng vai trò lớp 3 IP định nghĩa cơ cấu đánh số, cơ cấu chuyển tin, cơ cấu định
tuyến và các chức năng điều khiển ở mức thấp (ICMP) Gói tin IP chứa địa chỉ của
bên nhận; địa chỉ là một số duy nhất trong toàn mạng và mang đầy đủ thông tin cần
cho việc chuyển gói tin tới đích
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 10Chương 1 - 12- GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
Co cau dinh tuyến có nhiệm vụ tính toán đường đi tới các nút trong mạng Do
Vậy, cơ cau dinh tuyến phải được cập nhật các thông tin về topo mạng, thông tin về
nguyên tắc chuyên tin (như trong BGP) và nó phải có khả năng hoạt động trong môi
trường mạng gom nhiéu nut Két qua tinh toan cua co cau dinh tuyén được lưu trong
các bảng chuyền tin (forwarding table) chứa thông tin về chặng tiếp theo để có thể
gửi gói tin tới hướng đích
Dựa trên các bảng chuyển tin, cơ cau chuyén tin chuyển mạch các gói IP hướng
tới đích Phương thức chuyển tin truyền thống là theo từng chặng một Ở cách này,
mỗi nút mạng tính toán bảng chuyên tin một cách độc lập Phương thức này, do
vậy, yêu cầu kết quả tính toán của phần định tuyến tại tất cả các nút phải nhất quán
với nhau Sự không thống nhất của kết quá sẽ dẫn tới việc chuyển gói tin sai hướng,
điều này đồng nghĩa với việc mất goi tin
Kiéu chuyén tin theo timg chang han chế khả năng của mạng Ví dụ, với phương
thức này, nêu các goi tin chuyén tới cùng một địa chỉ mà đi qua cùng một nút thì
chúng sẽ được truyền qua cùng một tuyến tới điểm đích Điều này khiến mạng
không thể thực hiện một số chức năng khác như định tuyến theo đích, theo loại địch
VỤ, V.V
Bên cạnh đó, phương thức định tuyến và chuyên tin này nâng cao độ tin cậy
cũng như khả năng mở rộng của mạng Giao thức định tuyến động cho phép mạng
phản ứng lại với sự cố bằng việc thay đổi tuyến khi router biết được sự thay đổi về
topo mạng thông qua việc cập nhật thông tin về trạng thái kết nối Với các phương
thức như CIDR (Classless Interdomain Routing), kích thước của bảng chuyển tin
được duy trì ở mức chấp nhận được, và do việc tính toán định tuyến đều do các nút
tự thực hiện, mạng có thể mở rộng mà không cần thực hiện bắt kỳ một thay đổi nào
Tóm lại, IP là một giao thức chuyển mạch gói có độ tin cậy và khả năng mở
rộng cao Tuy nhiên, việc điều khiển lưu lượng rất khó thực hiện do phương thức
định tuyến theo từng chặng Ngoài ra, IP cũng không hỗ trợ chất lượng dịch vụ
1.1.2.4 Kỹ thuật ATM
ATM (Asynchronous Transfer Mode) là một kỹ thuật truyền tin tốc độ Cao
ATM nhận thông tin ở nhiều dạng khác nhau như thoại, số liệu, video và cắt ra
thành nhiều phần nhỏ gọi là tế bào Các tế bào này, sau đó, được truyền qua các kết
nối ảo VC ( virtual connection) Vì ATM có thể hỗ trợ thoại, số liệu và video với
chất lượng dịch vụ trên nhiều Kỹ thuật băng rộng khác nhau, nó được coi là Kỹ
thuật chuyển mạch hàng đầu và thu hút được nhiều quan tâm
ATM khác với định tuyến IP ở một số điểm Nó là Kỹ thuật chuyển mạch hướng
kết nối Kết nối từ điểm đầu đến điểm cuối phải được thiết lập trước khi thông tin
được gửi đi ATM yêu cầu kết nối phải được thiết lập bằng nhân công hoặc thiết lập
một cách tự động thông qua báo hiệu Một điểm khác biệt nữa là ATM không thực
hiện định tuyến tại các nút trung glan Tuyến kết nối xuyên suốt được xác định
trước khi trao đổi dữ liệu và được giữ cô định trong thời gian kết nối Trong quá
trình thiết lập kết nối, các tổng đài ATM trung gian cấp cho kết nối một nhãn Việc
SVTH: Lương Hoàng Phi
Trang 11Chương 1 - 13- GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
——=———————— _ _, ,_Ă ——_——_———-——
này thực hiện hai điều : dành cho kết nối một số tài nguyên và xây dựng bảng
chuyến tế bào tại mỗi tông đài Bảng chuyển tế bào này có tính cục bộ và chỉ chứa
thông tin về các kết nối đang hoạt dong di qua tổng đài Điều này khác với thông tin
về toàn mạng chứa trong bảng chuyển tin của router dung IP
Qua trinh chuyén té bao qua tong đài ATM cũng tương tự như việc chuyển gói
tin qua router Tuy nhiên, ATM có thể chuyển mạch nhanh hơn vì nhãn găn trên các
cell có kích thước cố định ( nhỏ hơn của IP), kích thước của bảng chuyên tin nhỏ
hơn nhiều so với của IP router, và việc này được thực hiện trên các thiết bị phần
cứng chuyên dụng Do vậy, thông lượng của tổng đài ATM thường lớn hơn thông
lượng của IP router truyền thống
Định tuyén IP qua ATM
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp viễn thông đã và đang tìm một
phương thức chuyển mạch có thể phối hợp ưu điểm của IP (như cơ cấu định tuyến)
và của ATM (như thông lượng chuyên mạch) Mô hình IP-over-ATM của IETF coi
IP như một lớp năm trên lớp ATM và định nghĩa các mạng con IP trên nền mạng
ATM Phương thức tiếp cận xếp chồng này cho phép IP và ATM hoạt động với
nhau mà không cần thay đổi giao thức của chúng Tuy nhiên, cách này không tận
dụng được hết khả năng của ATM Ngoài ra, cách tiếp cận này không thích hợp với
nhiều router và không thật hiệu quả trên một số mặt Tổ chức ATM-Forum, dựa trên
mô hình này, đã phát triển Kỹ thuật LANE và MPOA Các Kỹ thuật này sử dụng
các máy chủ để chuyển đổi địa chỉ nhưng đều không tận dụng được khả năng đảm
bảo chất lượng dịch vụ của ATM
Kỹ thuật MPLS ( MultiProtocol Label Switching ) là két qua phat triển của
nhiều Kỹ thuật chuyên mach IP ( IP switching ) str dung co chế hoán đổi nhãn như
của ATM để tăng, tốc độ truyền gói tin mà không cần thay đổi các giao thức định
tuyến của IP Thiết bị CSR (Cell Switch Router) của Toshiba ra đời năm 1994 là
tổng đài ATM đầu tiên được điều khiển bằng giao thức IP thay cho báo hiệu ATM
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 12Chương 1 - 14 - GVHD: PGS.TS Phạm Hằng Liên
Tổng đài IP của Ipsilon về thực chất là một ma trận chuyển mạch ATM được điều
khiển bởi khối xử lý sử dụng Kỹ thuật IP Kỹ thuật Tag switching của Cisco cũng
tương tự nhưng có bổ sung thêm một số điểm mới như FEC (Forwarding
Equivalence Class), giao thức phân phối nhãn, v.v
Từ những kết quả trên, nhóm làm việc về MPLS được thành lập năm 1997 với
nhiệm vụ phát triển một Kỹ thuật chuyển mạch nhãn IP thống nhất mà kết quả của
nó là Kỹ thuật MPLS
MPLS tách chức năng của IP router ra làm hai phần riêng biệt: chức năng
chuyển gói tin và chức năng điều khiển
e Phần chức năng chuyển gói tin, với nhiệm vụ gửi gói tin giữa các IP
router, sử dụng cơ chế hoán đổi nhãn tương tự như của ATM Trong
MPLS, nhãn là một số có độ dai cố định và không phụ thuộc vào lớp
mạng Kỹ thuật hoán đổi nhãn về bản chất là việc tìm nhãn của một gói
tin trong một bảng các nhãn để xác định tuyến của gói và nhãn mới của
nó Việc này đơn giản hơn nhiều so với việc xử lý gói tin theo kiểu thông
thường, do vậy cải thiện khả năng của thiết bị Các router sử dụng thuật
này được gọi là LSR (Label Switching Router)
e Phần chức năng điều khiển của MPLS bao gồm các giao thức định tuyến
lớp mạng với nhiệm vụ phân phối thông tin giữa các LSR, và thủ tục gán
nhãn để chuyển thong tin định tuyến thành các bảng định tuyến cho việc
chuyển mạch MPLS có thể hoạt động được với các giao thức định tuyến
Internet khác như : OSPF (Open Shortest Path First) va BGP (Border
Gateway Protocol) Do MPLS hỗ trợ việc điều khiển lưu lượng và cho
phép thiết lập tuyến cố định nên việc đảm bảo chất lượng dịch vụ của các
tuyến là hoàn toàn khả thi Đây là một tính năng vượt trội của MPLS so
với các giao thức định tuyến cô điển
Ngoài ra, MPLS còn có cơ chế chuyển tuyến (fast rerouting) Do MPLS là Kỹ
thuật chuyển mạch hướng kết nối, khả năng bị ảnh hưởng bởi lỗi đường truyền
thường cao hơn các Kỹ thuật khác Trong khi đó, các dịch vụ tích hợp mà MPLS
phải hỗ trợ lại yêu cầu chất lượng vụ cao Do vậy, khả năng phục hồi của MPLS
đảm bảo khả năng cung cấp dịch vụ của mạng không phụ thuộc vào cơ cấu khôi
phục lỗi của lớp vật lý bên dưới
Bên cạnh độ tin cậy, Kỹ thuật MPLS cũng khiến việc quản lý mạng được dễ
dang hon Do MPLS quản lý việc chuyển tin theo các luồng thông tin, các goi tin
thuộc một FEC có dé được xác định bởi giá trị của nhãn Do vậy, trong miền
MPLS Các thiết bị đo lưu lượng mạng có thể dựa trên nhãn để phân loại các gol
tin Lưu lượng đi qua các đường chuyển nhãn (LSP) được giám sát một cách dễ
dàng dùng RTEM (Real-time Flow Measurement) Băng cách giám sát lưu lượng tại
các LSR, nghẽn lưu lượng sẽ được phát hiện và vị trí xảy ra nghẽn lưu lượng có thể
được xác định nhanh chóng Tuy nhiên, giám sát lưu lượng theo phương thức này
không đưa ra được toàn bộ thông tin về chất lượng dịch vụ ( ví dụ như trễ từ điểm
đầu đến điểm cuối của miền MPLS) Việc đo trễ có thể được thực hiện bởi giao
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 13Chương † - 15- GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
thức lớp 2 Để giám sát tốc độ của mỗi luồng và đảm bảo các luồng lưu lượng tuân
thủ tính chất lưu lượng đã được định trước, hệ thống giám sát có thể đùng một thiết
bị nắn lưu lượng Thiết bị này sẽ cho phép giám sát và đảm bảo tuân thủ tính chất
lưu lượng mà không cần thay đổi các giao thức hiện có
Tom lai, MPLS là một Kỹ thuật chuyển mạch IP có nhiều triển vọng Với tính
chất của cơ cấu định tuyén của mình, MPLS có khả năng nâng cao chất lượng
dịch vụ của mạng IP truyền thong Bên cụnh đó, thông lượng của mạng sẽ được
cải thiện một cách rõ rệt Tuy nhiên, độ tin cậy là một vẫn đà thực tiễn có thể
khiến việc triển khai MPLS trên mang Internet bi cham lai
Ta có thể tóm tắt những ưu nhược điểm của MPLS trong một số nội dung chính
sau đây:
Ưu điểm:
LI Tích hợp các chức năng định tuyến, đánh địa chỉ, điều khiển, v.v
để tránh mức độ phức tạp của NHRP, MPOA và các Kỹ thuật khác trong IPOA truyền thống
[1 Có thể giải quyết vấn đề độ phức tạp và nâng cao khả năng mở rộng
đáng kể
[1 Tỉ lệ giữa chất lượng và giá thành cao
LL Nâng cao chất lượng Có thể thực hiện rất nhiều chức năng định
tuyến mà các Kỹ thuật trước đây không có khả năng, như định tuyến _hiện, điều khiển lặp, v.v Khi định tuyến thay đổi dẫn đến khóa một đường nào đó, MPLS có thể dễ dàng chuyên mạch luồng đữ liệu sang một đường mới Điều này không thể thực hiện được trong IPOA truyền thống
Sự kết hợp giữa IP và ATM cho phép tận dụng tối đa thiết bị, tăng hiệu quá đầu tư
' Sự phân cách giữa các đơn vị điều khiển với các đơn vị chuyên mạch
cho phép MPLS hỗ trợ đồng thời MPLS và B-ISDN truyền thống Và
để thêm các chức năng mạng sau khi triển khai mạng MPLS, chỉ đòi hỏi thay đổi phần mềm đơn vị điều khiển
Nhược điểm:
H1 Hỗ trợ đa giao thức sẽ dẫn đến các vấn đề phức tạp trong kết nối
O Kho thực hiện hỗ trợ QoS xuyên suốt trước khi thiết bị đầu cuối
người sử dụng thích hợp xuất hiện trên thị trường
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 14
ADSL Mạng truy nhập băng rộng
1.2 Xu hướng phát triển của các dịch vụ viễn thông
1.21 Các dịch vụ
Cùng với thời gian và sự phát triển của Kỹ thuật viễn thông, các dịch vụ viễn
thông ngày nay ngày càng phong phú và đa dạng :
O Nhu cau déi voi các dịch vụ băng rộng tăng lên không ngừng
[ Kỹ thuật truyền dẫn, chuyển mạch có những tiến bộ vượt bậc
: Kỹ thuật xử lý ảnh, xử lý tín hiệu không ngừng phát triển
LÌ Các ứng dụng phân mềm xử ký ngày càng phong phú và sự kết hợp giữa tin học và viên thông ngày càng chặt chẽ
Từ nhu cầu ngày càng tăng đó thì cần thiết phải tạo ra một mạng mềm dẻo nhằm
đáp ứng các nhu câu từ phía khách hàng cũng như từ phía nhà khai thác
LI Các dịch vụ tương tác : là các dịch vụ cho phép truyền thông tin theo hai chiều (không tính đến các thông tin báo hiệu, điều khiển) giữa các thuê bao với nhà cung cấp dịch vụ băng rộng
LÌ Các dịch vụ phân bố : là các dịch vụ mà thông tin chỉ truyền theo một chiều, từ phía nhà cung cấp dịch vụ băng rộng tới thuê bao
Ngoài cách phân chia dịch vụ như trên thì có một cách khác để phân chia các
Trang 15Trao đổi các hình ảnh đồ họa có độ phân giải cao
Đa phương tiện tương tác Giáo dục từ xa có tương tác
LI Loại thứ hai bao gồm các dịch vụ thông thường phục vụ cho các hộ
thuê bao như:
Dịch vụ phân bố tín hiệu video
Dịch vụ quảng bá TV/HDTV Dịch vụ quảng bá giáo dục từ xa Dịch vụ video theo yêu cầu Dịch vụ quảng cáo, chào hàng qua video
Đa phương tiện tương tác Thư điện tử đa phương tiện Giáo dục từ xa
Dịch vụ Internet có hỗ trợ đa phương tiện Các trò chơi điện tử tương tác
Điện thoại đa phương tiện và thực tại ảo
1.2.2 Yêu cầu kỹ thuật của một số loại dịch vụ
e - Điện thoại thấy hình tốc độ cơ bản : 56 - 128 Mbps
e _ Truyền hình hội nghị : > 384 Mbps
e© _ Đa phương tiện tương tác : l - 2 Mbps
e _ Truyền hình độ phân giai cao : = 15Mbps
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 172.1.1 Lich sir Ky thuật
Y tưởng đầu tiên về MPLS được đưa ra bởi hãng Ipsilon trong một cuộc triển
lãm về Kỹ thuật thông tin, viễn thông tại Texas Một thời gian sau, một loạt các
hãng lớn khác như I[BM, Toshiba Công bố sản phẩm của họ sử dụng Kỹ thuật
chuyển mạch được đặt nhiều tên khác nhau nhưng đều cùng chung bản chất đó là
Kỹ thuật chuyển mạch dựa trên nhãn
Thiết bị định tuyến chuyén mach té bao (CSR- Cell Switch Router) cla Toshiba
ra đời năm 1994 là tổng đài ATM đầu tiên được điều khiển bằng giao thức IP thay
cho báo hiệu ATM Kỹ thuật chuyển mạch thẻ của Cisco cũng tương tự nhưng có
bổ sung thêm lớp chuyển tiếp tương đương và giao thức phân phối nhãn
Sự ra đời của MPLS được dự báo là tất yếu khi nhu cầu và tốc độ phát triển rất
nhanh của mạng Internet đòi hỏi phải có một giao thức mới đảm bảo chất lượng
dịch vụ theo yêu cầu, đồng thời phải đơn giản và tốc độ xử lý phải rất cao Có rất
nhiều Kỹ thuật để xây dựng mạng IP, trong đó IPOA (IP over ATM) là lựa chọn số
một nhờ vào tốc độ cao, đảm bảo chất lượng dịch vụ QoS, điều khiển luỗng và các
thuộc tính khác IPOA truyền thống là một Kỹ thuật lai ghép, nó đặt IP (Kỹ thuật
lớp 3) trên ATM (Kỹ thuật lớp 2) Các giao thức của hai lớp là hoàn toàn độc lập
Chúng liên kết bằng một loạt các giao thức (NHRP, ARP .)
2.1.2 Giới thiệu Kỹ thuật MPLS
2.1.2.1 Khái niệm
MPLS là một cấu trúc đặc biệt cung cấp sự thiết kế, định tuyến, chuyên mạch và
quản lý lưu lượng thông qua mạng
MPLS thực hiện các chức năng sau :
e Kỹ thuật đặc biệt dé quản lý lưu lượng của các phần tử khác nhau như lưu
lượng giữa những phân cứng, bộ phận khác nhau, thậm chí lưu lượng của
các ứng dụng khác nhau
e Duy trì tính độc lập giữa lớp 2 và lớp 3
se Cung cấp một phương tiện để định địa chỉ IP đơn giản, những nhãn có
chiều dai cố định được sử dụng bằng cách chuyển những gói khác nhau
liên tiếp và sử dụng kĩ thuật chuyển mạch gói
e_ Giao tiếp với những giao thức định tuyến cô định như là : giao thức phân
vùng tài nguyên (Resource Reservation Protocol) và đường đi ngắn nhất
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 18Chương 2 - 20 - GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
mm=————==——=————=— —— -. —-.-.S
đầu tiên (OSPF-Open Shortest Path First ).Hỗ trợ những giao thức lớp 2
như ATM, Frame Relay
Label switched hop:
Label switching router (LSR):
Label switched path (LSP):
SVTH : Lương Hoàng Phi
một nhóm các gói IP mà chúng được chuyền tiếp theo cùng một kiểu (theo cùng một đường, với cùng một cách xử lý )
một đoạn bits ngắn, thường có chiều dài cố định dùng đê xác định (hay nhận dạng) một FEC
sự thay thế các nhãn đến của một FEC bằng một nhãn ra duy nhất
một hoạt động chuyển tiếp cơ bản bao gồm
việc tra bảng cho một nhãn đên đề xác định
nhãn ra, sự đóng gói, port
hop giữa 2 MPLS node, mà qua nó sự chuyển tiếp được thực hiện bằng cách sử dụng nhãn
một MPLS node có khả năng chuyên tiếp các gói lớp 3 (L3 packets), hay nói cách khác router co ho tro MPLS
con đường đi qua một hoặc nhiều LSRs cùng cấp, được sử dụng bởi các gói trong một FEC một bộ có thứ tự các nhãn
một node mà ở đó có sự hợp nhât nhãn
một bộ liên tiếp các nodes vận hành việc định tuyên và sự chuyên tiêp MPLS
một MPLS node, mà nó kết nối một miền
MPLS (MPLS domain) với một node nim
ngoai mién (domain) này
một MPLS edge node có vai trò nam giữ lưu lượng khi lưu lượng đi vào miễn MPLS (MPLS domain)
mot MPLS edge node cé vai trò nắm giữ lưu
lượng khi lưu lượng rời khỏi miễn MPLS
(MPLS domain)
Trang 19Chương 2 -21- GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
a
MPLS node: một node đang chạy (thi hành) MPLS Một
MPLS node có thể nhận thức được các giao
thirc diéu khién MPLS (MPLS control
protocols), cd thé vận hành một hoặc nhiều giao thức định tuyến lớp 3 và có khả năng chuyển tiếp các gói dựa vào nhãn
2.1.2.3 Kha nang 4p dung MPLS trong mang riéng 40 VPN
MPLS ra doi trong khoang thdi gian rat ngăn (khoảng 1996) do tổ chức tiêu
chuẩn kĩ thuật quốc tế cho Internet (IETE) tổ chức hội nghị nhằm thống nhất những
chuẩn hóa chung một cách hợp lý
Tuy thế ta có thể nhận thấy một số đặc điểm quan trọng như sau :
s Trong quá trình hình thành và phát triển MPLS nhằm đáp ứng nhu cầu
phát triển đặc biệt là mạng Internet nên các sản phẩm thương mại MPLS đã được triển khai rất nhanh chóng Hiện nay các nhà khai thác độc quyền cũng chuyển sang hướng xây dựng mạng tích hợp dựa trên nên Kỹ thuật MPLS
e Các hoạt động liên quan đến độ tương thích, tuân thủ tiêu chuẩn và
các giao thức của các sản phẩm MPLS_ được thực hiện rất nhanh và cho kết quả rất tích cực Các dòng sản phẩm như Router của Cisco, Charlotte, Juniper da được kiểm tra độ tương thích và chất lượng sản phẩm Các nhà sản xuất thiết bị mạng viên thông truyền thống không có nhiều nghiên cứu về MPLS mà chủ yếu mua lại hay sát nhập vào các công ty nhỏ hơn chuyên về thiết bị mạng Có thể nhận thấy
các nhà sản xuất iết bi đều rất quan tâm đến MPLS và phát triển các
Trang 20
e Một đặc điểm quan trọng của các thiết bị MPLS hiện nay là khả năng
hỗ trợ đồng thời giao thức MPLS và giao thức ATM trên cùng một công vật lý Chính khả năng đó đã làm mêm dẻo và rất phù hợp cho các nhà cung cấp dịch vụ khi triển khai thiết bị trên mạng Quá trình hình thành và ra đời của các tiêu chuẩn có thời gian ngắn, các tiêu chuẩn ban hành dưới dang cdc RFC nên được các nhà sản xuất thiết bị liên tục đóng góp, cập nhật và sửa đổi cho phù hợp với thực tế Các tiêu chuẩn REC được sử dụng ngay trong các sản phẩm thương mại và được điều chỉnh dần
se Nhà cung cấp dịch cụ cé thé tao VPN lớp 3 dọc theo mạng đường trục
cho nhiều khách hàng, chỉ dùng mot co sé ha tang công cộng săn có, không cần các ứng dụng encrytion hoặc end-user
e MPIS có thể tính được các dịch vụ IP VPN và rất dễ quản lí các dịch
vụ VPN quan trọng để cung cấp các mạng IP riêng trong cơ sở hạ tầng của nó Khi một ISP cung cập dịch vụ VPN hỗ trợ nhiều VPN riêng trên một cơ sở hạ tầng đơn.Với một đường trục MPLS, thông tin VPN chỉ được xử lí tại một điểm ra vào Các gói mang nhãn MPLS đi qua một đường trục và đến điểm ra đúng của nó
se - Các dịch vụ VPN hướng dẫn cách MPLS hỗ trợ mọi thông tin định
tuyến để phân cấp Hơn nữa,có thể tách rời các định tuyến Internet khỏi lõi mạng cung cấp dịch vụ Giống như dữ liệu VPN, MPSL chỉ cho phép truy suât bảng định tuyến Internet tại điểm ra vào của mạng
Với MPSL, kĩ thuật lưu lượng truyền ở biên của AS được gắn nhãn để liên kết với điểm tương ứng Sự tách rời của định tuyến nội khỏi định tuyến Internet đầy đủ cũng giúp hạn chế lỗi, n định và tăng tính bảo
mật
2.2 Cấu trúc MPLS
Các MPLS nodes có 2 mặt phẳng : mặt phẳng chuyển tiếp MPLS và mặt phẳng
điều khiển Bên cạnh việc chuyển mạch các gói đã được “dán” nhãn, các MPLS
node con có thê thực hiện các định tuyến lớp 3 và các chuyển mạch lớp 2
i
SVTH : Lwong Hoang Phi
Trang 21Chương 2 - 23 - GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
‘ani
Mặt phẳng điều khiển
_ Trao đổi thông
tin định tuyến
Các giao thức định tuyến IP
Trao đổi thông tin
kết nối nhãn
Giao thức phân phối
nhãn (LDP)
Các gói
IP ra
Cấu trúc của MPLS node
2.2.1 Mat phang chuyén tiép
Mat phang chuyén tiếp MPLS chịu trách nhiệm cho sự chuyển tiếp các gói dựa
trên giá trị được chứa trong nhãn đính kèm Mặt phăng chuyển tiếp sử dung LFIB
(được duy trì bởi MPLS node) để chuyển tiếp các gói đã được dán nhãn Mỗi MPLS
node duy trì 2 bảng liên quan tới sự chuyển tiếp nhãn : bảng cơ sở thông tin nhãn
(the label information base - LIB) va bang co sở thong tin chuyén tiép nhan (label
forwarding information base- LFIB) Bảng LIB chứa tất cả các nhãn được ấn định
bởi MPLS cục bộ và sự ánh xạ của những nhãn này tới những nhãn nhận được từ
các MPLS node láng giềng Bảng LFIB sử dụng một tập con các nhãn (các nhãn
này được chứa trong bảng LIB) cho sự chuyển tiếp thực sự
2.2.1.1 Nhãn MPLS
Nhãn là một bộ nhận dạng có chiều đài 32 bit được dùng để xác định một FEC
Nhãn (mà nó được “gắn” vào một gói cụ thể) sẽ đại diện cho FEC mà gói được gán
Trong trường hợp của ATM, nhãn được đặt trong cả trường VCI và VPI cua
header Trong frame của Frame Relay, nhãn năm trong trường DLCI của header
Các kỹ thuật lớp 2 như Ethernet, Token Ring, FDDI và liên kết point-to-point
(điểm nối điểm) không thể sử dụng các bit địa chỉ lớp 2 của chúng để mang nhãn
Những kỹ thuật này mang nhãn trong header chèn Header nhãn chèn (shim label
header) được “chèn” vào giữa lớp liên kết và lớp mạng Việc sử dụng header nhãn
chèn cho phép MPLS hỗ trợ hầu hết các kỹ thuật lớp 2
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 22
Label: Nhãn MPLS (MPLS label) S: Bottom of stack
CoS: Lớp dịch vu (Class of service) TTL: Time to live
ATM cell header
Nhãn MPLS , header cua ATM cell, header chén
Nhãn MPLS chứa các chuỗi bit sau:
* Chuỗi bit nhãn (label field) (20 bit) — Mang giá trị thật của nhãn MPLS
* Chuỗi bit CoS (2 bit) - Tác động đến hàng đợi và thuật toán loại, bỏ á áp
dụng cho gói khi gói được truyền qua mạng
* Chuỗi bit Stack (1bit ) — Hé tro stack nhãn có thứ bậc
* Chuỗi bít TTL (time-to-live) (8 bit) —- Cung cấp chức năng TTL như
0 Nhãn rỗng tuong minh IPv4 Gié tri nhãn này chỉ hợp lệ
tại đáy của stack nhãn Nó chỉ ra rằng siack nhãn phải
được lấy ra và sự chuyển tiếp nhãn sau đó phải dựa trên
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 23
] | Nhãn cảnh báo router Giá trị nhãn này hợp lệ tại mọi nơi
trong stack nhãn ngoại trừ tại đáy
2 Nhãn rỗng tường minh IPvó Giá trị nhãn này chỉ hợp lệ
tại đáy của stack nhãn Nó chỉ ra rang stack nhãn phai được lấy ra và sự chuyển tiếp nhãn sau đó phải dựa trên Ipv6 header
3 Nhan rỗng ngầm định.Đây là một nhãn mà một MPLS
node có thê gán và phân phôi nhưng nó không bao giờ thật
sự xuât hiện trong sự đóng gói
4-15 Dự trữ cho sự sử dụng trong tương lai
Sfack nhấn (Iabel stack)
Khi có hơn một header nhãn được “gin” vào một gói IP Bit nhãn được set lên
1 chỉ ra rằng đó là đáy của stack Tất cả các bit nhãn khác đều được đặt giá trị 0
Trong MPLS cơ sở gói (packet-base MPLS ), dinh cua stack xuất hiện ngay sau
header lớp liên kết, và đáy của stack nhãn xuất hiện ngay trước header lớp mạng Sự
chuyển tiếp nhãn được thực hiện nhờ vào giá trị nhãn (label value) của nhãn năm
trên đỉnh của stack
Stack nhãn 7ïme To Live
Trong chuyển tiếp IP truyền thống , mỗi gói mang mot gia tri “Time To Live”
(TTL) trong header cua no Mỗi khi gói di qua một router, giá trị TTL của nó giảm
di 1 ; néu TTL đạt tới 0 trước khi gói tới được đích của nó, thì gói sẽ bị loại bỏ
Điều này cung cấp một mức độ bảo vệ nào đó chống lại các vòng lặp chuyến tiếp
(do sự hội tụ chậm của thuật toán định tuyến hay do cấu hình sai )
Chuỗi bit TTL của nhãn MPLS có chức năng tương tự như chuỗi bit time-to-live
được mang trong header IP Tuy nhiên cân chú ý là MPLS node chỉ xử lý chuỗi bit
TTL trong muc trên đỉnh của stack nhãn
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 24Chương 2 - 26 - GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
mm =m===—=—==_—_————— -=-=-=-. —— — Ầ Ầ )
2.2.1.2 Cơ sở thông tin chuyền tiếp nhãn (LFIB)
LFIB (được duy trì bởi MPLS node) chứa một chuỗi các đề mục Mỗi đề mục
(entry) lại chứa một nhãn vào (ncoming label) và một hay nhiêu đê mục con
(subentry) LFIB được chỉ mục (indexed) bang gia tri chứa trong nhãn đến
Mỗi mục con chứa nhãn ra, giao diện ra, và địa chỉ hop kế Các mục con trong
cùng một đề mục có thể có các nhãn ra giống nhau hoặc khác nhau Chuyên tiếp đa
phân bố đòi hỏi các mục con với nhiều nhãn ra, nhờ vào đó khi một “gói đến” tới
một g1ao diện Sẽ được gởi ra nhiều giao diện Ngoài “nhãn ra”, ”giao diện ra”, thông
tin hop kế, mỗi đề mục trong bảng chuyển tiếp còn có thể chứa thêm thông tin liên
quan đến tài nguyên mà gói sử dụng, như là một hàng đợi ra
Nhãn đến Mục con đầu tiên Mục con tiếp theo
(Incoming label) (First subentry) (No subentry)
Nhãn ra Nhãn ra
Địa chỉ hop kế Địa chỉ hop kế
Nhãn ra Nhãn ra
Địa chỉ hop kế Địa chỉ hop kế
Nhãn ra Nhãn ra Nhãn đến Giao diện ra Giao diện ra
Địa chỉ hop kế Địa chỉ hop kế
Cau tric LFIB Một MPLS node có thể duy trì một bảng chuyên tiếp, một bảng chuyển tiếp cho
mỗi giao diện của nó, hay là sự kết hợp cả hai Trong trường hợp nhiều bảng
chuyên tiếp, sự chuyển tiếp gói được thực hiện nhờ vào giá trị của “nhãn đến” cũng
như nhờ vào “giao diện ngõ vào” mà gói đã đến
2.2.1.3 Thuật toán chuyển tiếp nhãn (label forwarding algorithm)
Các bộ chuyển mạch nhãn (label switch) sử dụng thuật toán chuyển tiếp dựa trên
sự đôi nhãn (label swapping) Các MPLS node (loai duy trì một bảng LFIB don lẻ)
trích giá trị nhãn từ trường nhãn trong các “gói đến” và sử dụng chúng như là chỉ sô
để tra bảng LFIB Khi mục tương ứng “nhãn đến” được tìm thay, MPLS node thay
thé nhan trong gói bằng “nhãn ra” có được từ mục con và gởi gói ngang qua “giao
diện ra” để đến hop kế đã được chỉ định từ mục con Nếu mục con chỉ định hàng đợi
ra, MPLS node sẽ đặt gói trên hàng đợi chỉ định
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 25Chương 2 - 27 - GVHD: PGS.TS Pham Héng Lién
Trong trường hợp MPLS node duy trì nhiều bảng LFIB cho mỗi giao diện, nó
sẽ sử dụng giao diện vật lý mà gói đến để lựa chọn bảng LFIB cụ thể, bảng này
được sử dụng để chuyển tiếp gói
Một MPLS node có thể lấy được tất cả các thông tin nó cần để chuyển tiếp một
gói chỉ bằng một sự truy xuất bộ nhớ đơn Khả năng tra cứu và chuyển tiếp tốc độ
nhanh này làm cho chuyển mạch nhãn có được một kỹ thuật chuyển mạch rất cao
2.2.2 Mặt phẳng điều khiến (control plane)
Chức năng chính của mặt phăng điều khiển là để thông báo các nhãn, các địa
chỉ và để tạo sự tương quan giữa chúng: tức là, để tạo kết nối giữa các nhãn với các
địa chỉ
Tại mặt phăng điều khiển có thể có nhiều hơn một giao thức hoạt động Thí
dụ, RSVP đã được mở rộng, cho phép sử dụng giao thức dùng để thông báo, phân
phối và kết nối nhãn với địa chỉ IP Sự mở rộng này được gọi là RSVP-TE Một
giao thức, giao thức phân phối nhãn (Label Distribution Protocol-LDP), là một sự
lựa chọn khác cho sự thực thi mặt phẳng điều khiển Ngoài ra còn có thể có các giao
thức khác như là OSPFE-E, BGP-E; đây là các giao thức mở rộng của OSPF, BGP
Thông điệp điều khiển được trao đổi giữa các router chuyển mạch nhãn
(LSRs) để thực hiện nhiều hoạt động khác nhau, bao gồm :
* Sự trao đổi thông điệp giữa các node để thiết lập mỗi quan hệ (bao gồm
sự thỏa thuận về bảo mật) Sau khi hoạt động này hoàn tất, các node
được xem là các LSR ngang hàng
* Sự trao đổi các thông điệp mang tính chu kì (được gọi là hellos) để chắc
chắn là các node “láng giêng” vân còn đang hoạt động
Sự trao đối các thông điệp nhãn và địa chỉ để nối kết các địa chỉ với các nhãn
và xây dựng bảng chuyển tiếp (đặc biệt là bảng LFIB) được sử dụng bởi mặt phẳng
dữ liệu MPLS để chuyển tiếp lưu lượng
2.2.3 Thành phần MPLS
Thành phần quan trọng cơ bản của mạng MPLS là thiết bị định tuyến chuyển
mạch nhãn LSR (Label Switch Router) Thiết bị này thực hiện chức năng chuyển
tiếp gói thông tin trong phạm vi mạng MPLS bằng thủ tục phân phối nhãn
Can cứ vào vị trí và chức năng của LSR có thê phân thành các loại chính sau
đây:
- LSR biên : LSR này nằm ở biên của mạng MPLS Nó tiếp nhận hay gửi đi
các gói thông tin từ hay đến các mạng khác (IP, Frame Relay )
LSR biên gán hay loại bỏ nhãn cho các gói thông tin đến hoặc đi khỏi mạng MPLS Các LSR này có thể là Ingress Router (Router đầu vào) hay Egress Router (Router đầu ra)
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 26
Chương 2 - 28 - GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
- ATM-LSR : Là các tổng đài ATM có thể thực hiện chức năng như LSR Cac
ATM-LSR thực hiện chức năng định tuyến gói IP và gán nhãn trong mảng điều khiển và chuyên tiếp số liệu trên cơ chế chuyên mạch tế bào ATM trong máng sô liệu Như vậy các tong dai chuyển mạch ATM truyền thống có thể nâng cấp phần mềm để thực hiện chức năng của LSR
Bảng sau đây mô tả các loại LSR và các chức năng của chúng
Loại LSR Chức năng thực hiện
LSR Chuyên tiếp gói có nhãn
Nhận gói IP, kiểm tra lại lớp 3 và đặt vào ngăn xếp nhãn trước khi gửi
gói vào mạng LSR LSR biên
Nhận gói tin có nhãn, loại bỏ nhãn, kiểm tra lại lớp 3 và chuyên tiếp gói IP đến nút tiếp theo
ATM-LSR Sử dụng giao thức MPLS trong mảng điều khién để thiết lập kênh ảo
ATM Chuyên tiếp tế bào đến nút ATM-LSR tiếp theo
| Nhận gói có nhãn hoặc không nhãn, phân vào các tế bào ATM và gửi ATM-LSR các tế bào đến nút ATM-LSR tiếp theo
biên Nhận các tế bào ATM từ ATM-LSR cận kề, tái tạo các gói từ các tế
bao ATM va chuyên tiệp gói có nhãn hoặc không nhãn
2.3 Hoạt động của MPLS
Có hai chế độ hoạt động đối với MPLS : chế độ khung (Frame- mode) và chế độ
té bao (Cell — mode) Cac ché d6 hoat động này sẽ được phân tích chỉ tiết dưới
đây
2.3.1 Chế độ hoạt động khung MPLS :
Chế độ hoạt động này xuất hiện khi sử dụng MPLS trong môi trường các thiết bị
định tuyến thuần điều khiển các gói tin IP điểm-điểm Các gói tin gán nhãn được
chuyến tiếp trên cơ sở khung lớp 2
2.3.1.1 Các hoạt động trong mảng số liệu :
Quá trình chuyển tiếp một gói IP trong mạng MPLS được thực hiện qua một số
bước cơ bản sau đây :
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 27
Chương 2 - 29 - GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
_———————== ———— =— -= . -—
e LSR biên lối vào nhận gói IP, phân loại gói vào nhóm chuyển tiếp
tương đương FEC đã xác định Trong trường hợp định tuyên một địa chỉ đích, FEC sẽ tương ứng với mạng con đích và việc phân loại gói
sẽ đơn giản là việc so sánh bảng định tuyến lớp 3 truyền thống
e - LSR lõi nhận gói có nhãn và sử dụng bảng chuyển tiếp nhãn để thay
đổi nhãn lối vào của gói đến với nhãn lối ra tương ứng cùng trong
‘vung FEC
e Khi LSR bién lối ra của vùng FEC này nhận được gói có nhãn, nó loại
bó nhãn và thực hiện việc chuyển tiếp gói IP theo bảng định tuyến lớp
3 truyền thống
Header nhan MPLS :Vi nhiéu ly do nén nhan MPLS phải được chèn trước số liệu
cần gán nhãn ở chế độ hoạt động khung Như vậy, nhãn MPLS được chèn giữa
header lớp 2 và nội dung thông tin lớp 3 của khung lớp 2 như thể hiện trong hình vẽ
Do nhãn MPLS được chèn vào vị trí như vậy nên bộ định tuyến gửi thông tin
phải có phương tiện gì đó thông báo cho bộ định tuyến nhận biết răng gói đang
được gửi đi không phải là gói IP thuần mà là gói có nhãn (gói MPLS) Để đơn giản
chức năng này, một sô giao thức mới được định nghĩa trên lớp 2 như sau:
Trong môi trường LAN, các gói có nhãn truyền tải gói lớp 3 đơn hướng hay đa
hướng sử dụng giá trị 8847H và 8848H cho dạng Ethernet Các giá trị này được sử
dụng trực tiếp trên phương diện Ethernet (bao gồm cả Fast Ethernet và Gigabit
Ethernet)
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 28Chương 2 - 30 - GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
Trong kênh điểm-điểm sử dụng giao thức điều khiển mạng mới được gọi là
MPLSCP (giao thức điều khiển mạng MPLS) Các gói MPLS được đánh dấu bởi
giá trị 8281H trong trường giao thức PPP
Các gói MPLS truyền qua chuyển địch khung DLCI giữa một cặp thiết bị định
tuyến được đánh dấu bởi nhận dạng giao thức lớp mạng SNAP của chuyên dịch
khung, tiếp theo header SNAP với gia tri 8847H cho dang Ethernet
Các gói MPLS truyền giữa một cặp thiết bị định tuyến qua kênh ảo ATM Forum
được đóng gói với header SNAP sử dụng giá trị cho dạng Ethernet như trong môi
trường LAN
2.3.1.2 Chuyển mạch nhãn trong chế độ khung :
Chúng ta xem xét quá trình chuyển đổi nhãn trong mạng MPLS sau khi nhận
được một gói IP như hình vẽ sau đây :
Chuyên mạch nhãn trong hoạt động chế độ khung
Bước 5 : Kiểm tra nhãn, xoá
nhãn, chuyển gói IP đến
Router ngoài tiếp theo
Bước 4 : Kiểm tra nhãn, chuyển đổi nhãn, chuyển gói IP đến LSR
Trang 29Bảng định tuyến LFIB được mô tả trong hình vẽ sau :
In Address Prefix Out Out Link In Address Out Out | Link
2.3.1.3 Quá trình liên kết và lan truyền nhãn :
Khi xuất hiện một LSR mới trong mạng MPLS hay bắt đầu khởi tạo mạng
MPLS, các thành viên LSR trong mạng MPLS phải có liên lạc với nhau trong quá trình khai báo thông qua bản tin Helfo Sau khi bản tin này được gửi, một phiên giao dịch giữa hai LSR được thực hiện Thủ tục trao đổi là giao thức LDP
Ngay sau khi LIB (cơ sở dữ liệu nhãn) được tạo ra trong LSR, nhãn được gan cho mỗi FEC mà LSR nhận biết được Đối với trường hợp chúng ta đang xem xét
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 30Chương 2 - 32 - GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
(định tuyến dựa trên đích unicast) FEC tương đương với prefix trong bảng định
tuyến IP Như vậy, nhãn được gán cho môi prefix trong bảng định tuyến IP và bảng
chuyên đổi chứa trong LIB Bảng chuyên đổi định tuyến này được cập nhật liên tục
khi xuất hiện những tuyến nội vùng mới, nhãn mới sẽ được gán cho tuyến mới
Do LSR gán nhãn cho mỗi tién t6 IP (IP prefix) trong bang dinh tuyến của
chúng ngay sau khi tiền tố xuất hiện trong bảng định tuyến và nhãn là phương tiện
được LSR khác sử dụng khi gửi gói tin có nhãn đến chính LSR đó nên phương pháp
gán và phân phối nhãn này được gọi là gán nhãn điều khiển độc lập với quá trình
phân phối ngược không yêu cầu
Việc liên kết các nhãn được quảng bá nhảy đến tất cả các Router thông qua
phiên LDP Chỉ tiết hoạt động của LDP được mô tả sau
2.3.2 Chế độ hoạt động tế bào MPLS :
Khi xem xét triển khai MPLS qua ATM cần phải giải quyết một số trở ngại sau
đây:
e_ Hiện tại không tồn tại một cơ chế nào cho việc trao đổi trực tiếp các gói
IP giữa hai nút MPLS cận kể qua giao diện ATM Tắt cả các số liệu trao
đổi qua mạng ATM phải được thực hiện qua kênh ảo ATM
e_ Các tổng đài ATM không thể thực hiện việc kiểm tra nhãn hay địa chỉ lớp
3 Khả năng duy nhất của tổng đài ATM là chuyển đổi VC đầu vào sang
VC đầu ra của giao diện ra
Như vậy cần thiết phải xây dựng một số cơ chế để đảm bảo thực thi MPLS
qua ATM như sau :
e_ Các gói IP trong mảng điều khiển không thể trao đổi trực tiếp qua giao
điện ATM Một kênh ảo VC phải được thiết lập giữa 2 nút MPLS cận kề
để trao đổi gói thông tin điều khiến
e Nhãn trên cùng trong ngăn xếp nhãn phải được sửa đổi để đảm bảo các
tổng đài ATM không phải kiểm tra địa chỉ lớp 3
Ta tìm hiểu qua các thuật ngữ sau đây :
- Giao diện ATM điều khiển chuyển mạch nhấn (LC-ATM ) : là giao điện ATM
trong tổng đài hoặc trong bộ định tuyến ma gia tri VPI/VCI được gán băng thu
tục điều khiển MPLS ( LDP)
- ATM-LSR : la tong dai ATM sử dụng giao thức MPLS trong mang điều khiển và
thực hiện việc chuyển tiếp MPLS giữa các giao diện LC-ATM trong mảng số liệu
bằng chuyển mạch tế bào ATM truyền thống
- LÊN theo khung : là LSR chuyển tiếp toàn bộ các khung giữa các giao diện của
nó Bộ định tuyến truyền thống là cu thé của LSR loại này
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 31
Chương 2 -33- GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
- Miền ATM-LSR : là tập hợp các ATM-LSR kết nối với nhau qua các giao diện
LC-ATM
- ATM-LSR biên : là LSR theo khung có ít nhất một giao diện LC-ATM
2.3.2.1 Chuyển tiếp các gói có nhãn qua miền ATM-LSR :
Việc chuyển tiếp các gói nhãn qua miền ATM-LSR được thực hiện trực tiếp qua
các bước sau :
e ATM-LSR bién 16i vao nhận gói có nhãn hoặc không nhãn , thực hiện việc
kiểm tra dữ liệu chuyển tiếp FIB hay cơ sở dữ liệu chuyền tiếp nhãn LEIB và
tìm ra giá trị VPI/VCI đầu ra để sử dụng như nhãn lối ra Các gói có nhãn
được phân chia thành các tế bào ATM và gửi đến ATM-LSR tiếp theo Giá
trị VPI/VCT được gắn vào header của từng tế bào
e Các nút ATM-LSR chuyển mạch tế bào theo gia tri VPI/VCI trong header
của tế bào theo cơ chế chuyển mạch ATM truyền thống Cơ chế phân bố và
phân phối nhãn phải đảm bảo việc chuyển đổi giá trị VPI/VCI nội vùng và
ngoại vùng là chính xác
e ATM-LSR tại biên lối ra tái tạo lại các gói có nhãn từ các tế bào, thực hiện
việc kiểm tra nhãn và chuyển tiếp tế bào đến LSR tiếp theo Việc kiểm tra
nhãn dựa vào giá trị VPL/VCI của tế bào đến mà không dựa vào nhãn trên
đỉnh của ngăn xếp trong header nhãn MPLS do ATM-LSR giữa các biên của
miền ATM-LSR chỉ thay đổi giá trị VPI/VCI mà không thay đổi nhãn bên
trong các tế bào ATM Lưu ý răng nhãn đỉnh của ngăn xếp được lập giá trị
bằng 0 bởi ATM-LSR biên lối vào trước khi gói có nhãn được phân chia
thành tế bào
2.3.2.2 Phân bỗ và phân phối nhãn trong miền ATM-LSR :
Việc phân bé va phan phối nhãn trong chế dộ hoạt động này có thể sử dụng cơ
chế giống như trong chế độ hoạt động khung Tuy nhiên nêu triển khai như vậy sẽ
dẫn đến một loạt các hạn chế bởi môi nhãn được gán qua giao diện LC-ATM tương
ứng với một ATM VC Vì số lượng kênh VỀ qua giao diện ATM là hạn chế nên
cân giới hạn số lượng VC phân bố qua LC-ATM ở mức thấp nhất Để đảm bảo
được điều đó, các LSR phía sau sẽ đảm nhận trách nhiệm yêu cau phan bé va phan
phối nhãn qua giao diện LC-ATM LSR phía sau cần nhãn để gửi gói đến nút tiếp
theo phải yêu câu nhãn từ LSR phía trước nó Thông thường các nhãn được yêu câu
dựa trên nội dung bảng định tuyến mà không dựa vào luồng đữ liệu, điều đó đòi hỏi
nhãn cho mỗi đích trong phạm vi của nút kế tiếp qua giao diện LC-ATM
LSR phía trước có thể đơn giản phân bố nhãn và trả lời yêu cau cho LSR phia sau
với bản tin trả lời tương ứng Trong một số trường hợp, LSR phía trước có thể phải
có khả năng kiểm tra địa chỉ lớp 3 Đối với tổng đài ATM, yêu cầu như vậy sẽ
không được trả lời bởi chỉ khi nào nó có nhãn được phân bố cho đích phía trước thì
nó mới trả lời yêu cầu Nếu ATM-LSR không có nhãn phía trước đáp ứng yêu cầu
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 32Chương 2 - 34 - GVHD: PGS.TS Phạm Hằng Liên
i
của LSR phía sau thì nó sẽ yêu cầu nhãn từ LSR phía trước nó và chỉ trả lời khi đã
nhận được nhãn từ LSR phía trước nó
2.3.2.3 Hợp nhất VC (Virtual Circuit) :
Van dé hop nhat VC ( gán cùng VC cho các gói đến cùng đích ) là một vấn đề
quan trọng cân giải quyết đối với các tong dai ATM trong mang MPLS Dé téi wu
hóa qua trình gán nhãn ATM-LSR co thé sử dụng lại nhãn cho các gói đến cùng
đích Tuy nhiên, một vấn đề cần giải quyết là các gói đó xuất phát từ các nguôn
khác nhau (các LSR khác nhau) nêu sử dụng chung một giá trị VC cho đích thì sẽ
không có khả năng phân biệt gói nào thuộc luồng nào và LSR phía trước không có
khả năng tái tạo đúng các gói từ các tế bào Vấn đề này được gọi là xen kẽ tế bào
Để tránh trường hợp này, ATM-LSR phải yêu cầu LSR phía trước nó phân bổ nhãn
mới mỗi khi LSR phía sau nó đòi hỏi nhãn đến bat cứ đích nào ngay cả trong trường
hợp nó đã có nhãn phân bổ cho đích đó Mot số tông đài ATM nhờ thay đổi nhỏ
trong phần cứng có thể đảm bảo được rằng 2 luồng tế bào chiếm cùng một VC
không bao giờ xen kẽ nhau Các tổng đài sẽ tạm lưu các tế bảo trong bộ đệm cho
đến khi nhận được tế bào có bit kết thúc khung trong header tế bào ATM Sau đó,
toàn bộ các tế bào này được truyền qua kênh VC Như vậy, bộ đệm trong các tổng
đài phải tăng thêm và một vân đề mới xuất hiện đó là độ trễ qua tổng đài tăng lên
Quá trình gửi tiếp các tế bào ra kênh VC như vậy được gọi là quá trình hợp nhất
kênh ảo VC Quá trình hợp nhất kênh ảo VC này giảm tối đa số lượng nhãn phân
bố trong miền ATM-LSR
2.3.2.4 Hoạt động của MPLS khung trong mạng ATM-PVC :
Việc thay đối Kỹ thuật mạng sẽ tác động đến rất nhiều mặt trong mạng đang khai
thác từ những vấn đề kĩ thuật ghép nối mạng, những giai đoạn chuyển đổi đến quan
niệm và cách thức vận hành khai thác của con người Quá trình chuyền đổi sang
MPLS có thể thực hiện qua một số giai đoạn nhất định hoặc được triển khai đồng
loạt ngay từ đầu, tuy nhiên không thể tránh khỏi trường hợp phối hợp hoạt động
hoặc chuyền tiếp thông tin MPLS qua các mạng không phải là MPLS Trong phần
sau ta sẽ xem xét một trường hợp cụ thể sử dụng MPLS trong môi trường ATM-
PVC
Như đã trình bày, MPLS có hai chế độ hoạt động cơ bản là chế dé tế bào và chế
độ khung Đối với cơ sở hạ tầng mạng như Frame Relay hay ATM-PVC thì rất khó
triển khai chế độ hoạt động tế bào của MPLS Thông thường chế độ khung sẽ được
sử dụng trong các môi trường như vậy để thực hiện kết nối MPLS xuyên suốt qua
mạng
Trong một số điều kiện nhất định như trong giai đoạn chuyển dịch sang mạng
hoàn toàn IP + ATM (MPLS) hoặc chuyển mạch ATM không chuyển tiếp, MPLS
thì cần thiết phải sử dụng chế độ hoạt động khung qua mạng ATM-PVC Cấu hình
này là phù hợp tuy nhiên nó cũng gặp một sô vân đề như khi sử dụng IP qua ATM
trong chế độ chuyền dịch (do sô lượng lớn các VC )
Kết nối LSR qua mạng ATM-PVC thẻ hiện trong hình vẽ sau :
SVTH: Lương Hoàng Phi
Trang 33C nee Kênh ATM PVC —C_
Chuyển mạch Chuyển mạch
Như vậy kết nối giữa hai LSR được thiết lập bằng kênh PVC xuyên suốt Các
phiên LDP được thực hiện thông qua kết nối PVC này Quá trình phan phối nhãn
được thực hiện theo kiểu phân phối nhãn theo chiều đi không yêu câu Cần lưu ý,
việc sử dụng MPLS qua mạng ATM-PVC yêu cầu đóng gói băng AAL5-SNAP trên
kênh PVC đó
Việc sử dụng chế độ khung qua mạng ATM-PVC là rất cần thiết trong quá trình
chuyển dịch sang mang dich MPLS
2.4.Các giao thức MPLS
2.4.1 Giao thức phân phối nhãn LDP
Giao thức phân phối nhãn được nhóm nghiên cứu MPLS của IETF xây dựng và
ban hành có tên là REC 3036 Phiên bản mới nhất được công bố năm 2001 đưa ra
những định nghĩa và nguyên tắc hoạt động của giao thức LDP
Giao thức phân phối nhãn được sử dụng trong quá trình gán nhãn cho các gói
thông tin Giao thức LDP là giao thức điều khiển tách biệt được các LSR sử dụng
để trao đôi và điều phối quá trình gán nhãn cho các gói thông tin Giao thức LDP là
một tập hợp các thủ tục trao đổi các bản tin cho phép các LSR sử dụng giá trị nhãn
thuộc FEC nhất định để truyền các gói thông tin
Một kết nối TCP duge thiết lập giữa các LSR đồng cấp để đảm bảo các bản tin
LDP được truyền một cách trung thực theo đúng thứ tự Các bản tin LDP có thể
xuất phát từ bất cứ một LSR nào (điều khiển đường chuyển mạch nhãn LSP độc
lập) hay từ LSR biên lỗi ra (điều khiến LSP theo lệnh) và chuyên từ LSR phía trước
đến LSR phía sau cận kề Việc trao đổi các bản tin LDP có thể được khởi đầu bởi sự
xuất hiện của luồng số liệu đặc biệt, bảng tin lập dự trữ RSVP hay cập nhật thông
tin định tuyến Khi một cặp LSR đã trao đổi ban tin LDP cho mot FEC nhất định thì
một đường chuyên mạch LSP từ đầu vào đến đầu ra được thiết lập sau khi mỗi LSR
ghép nhãn đầu vào với nhãn đầu ra tương ứng trong LIB của nó
Trang 34Chương2 - 36 - GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
® Một LSR định kì gửi đi ban tin Hello tới các cổng UDP đã biết trong tất cả các
bộ định tuyến trong mạng con của nhóm multicast
e Tất cả các LSR tiếp nhận bản tin này trên công UDP Như vậy, tại một thời
điểm nào đó LSR sẽ biết được tất cả các LSR khác mà nó có thể kết nối trực
tiếp
¢ Khi LSR nhận biết được địa chỉ của LSR khác bằng cơ chế này thì nó sẽ thiết
lập kết nối TCP đến LSR đó
e Khi đó phiên LDP được thiết lập giữa hai LSR Phiên LDP là phiên hai chiều
có nghĩa là mỗi LSR ở hai đầu kết nối đếu có thể yêu câu và gửi liên kết nhãn
Trong trường hợp các LSR không kết nối trực tiếp trong các mạng con (subnet)
người ta sử dụng một cơ chế bổ sung như sau : LSR định kì girl ban tin Hello dén
cong UDP đã biết tai dia chi IP xác định được khai báo khi lập cầu hình Đầu nhận
bản tin này có thể trả lời lại bằng bản tin #el!o khác truyền một chiều ngược lại đến
LSR gửi và việc thiết lập các phiên LDP được thực hiện như trên Thông thường
trường hợp này hay được áp dụng khi giữa hai LSR có một đường LSP cho điều
khiển lưu lượng và nó yêu câu phải gửi các gói có nhãn qua đường LSP đó
2.4.1.2 Giao thức truyền tải tin cậy :
Việc xác định sử dụng TCP để truyền các bản tin LDP là một vấn đề cần phải
xem xét Yêu cầu về độ tin cậy là rất cần thiết : nếu việc liên kết nhãn hay yêu câu
liên kết nhãn được truyền một cách không tin cậy thì lưu lượng cũng không được
chuyển mạch theo nhãn Một vấn đề quan trọng nữa đó là đảm bảo thứ tự các bản
tin Như vậy liệu việc sử dụng TCP để truyền LDP có đảm bảo hay không và có nên
xây dựng luôn chức năng truyền tải này trong bản thân LDP hay không ?
Việc xây dựng các chức năng bảo đảm độ tin cậy trong LDP không nhất thiết
phải thực hiện toàn bộ các chức năng của TCP trong LDP mà chỉ cần dừng lại ở
những chức năng cần thiết nhất, ví dụ chư chức năng điều khiển tránh tắc nghẽn
được coi là không cần thiết trong LDP tuy nhiên, việc phat triển thêm các chức
năng đảm bảo độ tin cậy trong LDP cũng có nhiều vấn đề cần xem xét, ví dụ như
các bộ định thời cho các bản tin ghi nhận và không ghi nhận, trong trường hợp sử
dụng TCP chỉ cần một bộ định thời của TCP trong toàn phiên LDP
2.4.1.3 Cac ban tin LDP :
Co 4 dang ban tin co ban sau day :
e Ban tin Initialization
e Ban tin KeepAlive
e Ban tin Label Mapping
e Ban tin Release :
SVTH: Luong Hoang Phi
Trang 35Chương 2 - 37- GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
+ Bản tin Label Withdrawal
+ Bản tin Request
+ Bản tin Request Abort
Dang thong diép Initialization :
Các thông điệp thuộc loại này được gửi khi bắt đầu một phiên LDP giữa hai
LSR dé trao đổi các tham số, các đại lượng tuỳ chọn cho phiên Các tham sô này
Ca hai LSR déu có thể gửi các thông điệp Inialization va LSR nhan sẽ trả lời
băng Keepalive nếu các thông số được chấp nhận Nếu có một tham số nào đó
không được chấp nhận thì LSR trả lời thông báo có lỗi và phiên kết thúc
Dạng thông điệp Keepalive:
0 | KeepAlive ( 0x0201 ) Chiều dài thông điệp
ID thông điệp
Các thông số không bắt buộc
Các thông điệp KeepAlive được gửi định kì khi không có thông điệp nào được
gửi để đảm bảo cho mỗi thành phần LDP biết rằng thành phần LDP khác đang hoạt
động tốt Trong trường hợp không xuất hiện thông điệp KeepAlive hay một số
thông điệp khác của LDP trong khoảng thời gian nhất định thì LSR sẽ xác định đối
tượng hoặc kết nối bị hỏng và phiên LDP bị dừng
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 36
Chương 2 - 38 - GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
Dạng thông điệp Label Mapping : Các thông điệp Label Mapping được sử dụng để quảng bá liên kết giữa FEC và nhãn Thông điệp Label Withdrawal thực hiện quá trình ngược lại: nó được sử dụng để xoá bỏ liên kết vừa thực hiện Thông điệp này được sử dụng khi có sự thay đổi trong bảng định tuyến (thay đổi tiền tố địa chỉ) hay thay đổi trong cấu hình LSR
làm tạm dừng việc chuyển nhãn các gói trong FEC đó
Định dạng thông điệp Label Mapping như sau :
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 37
Chương 2 -39- GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
Ở chế độ hoạt động gán nhãn theo yêu cầu từ phía trước, LSR sẽ yêu cầu gán
nhãn từ LSR lân cận phía trước sử dụng thông điệp Label Request Nếu thông điệp
này cần phải hủy bỏ được chấp nhận (do nút kế tiếp trong FEC yêu cầu đã thay đổi)
thì LSR sẽ yêu cầu loại bỏ yêu cầu nhờ thông diép Label Request Abort
2.4.1.4 Các chế độ phân phối nhãn :
Chúng ta đã biết một số chế độ hoạt động trong việc phân phối nhãn như : không
yêu câu phía trước, theo yêu cầu phía trước, điều khiển LSP theo lệnh hay tự lập,
duy trì tiên tiến hay lưu giữ Các chế độ này được thỏa thuận bởi LSR trong quá
trình khởi tạo phiên LDP
Khi LSR hoạt động ở chế độ lưu giữ, nó sẽ chỉ giữ những giá trị nhãn /FEC mà
nó cần tại thời điểm hiện tại Các chuyển đổi khác được giải phóng Ngược lại trong
chế độ duy trì tiên tiến, LSR giữ tất cả các chuyên đổi mà nó được thông báo ngay
cả những chuyên đỗi không được sử dụng tại thời điểm hiện tại Hoạt động của chế
độ này như sau :
e© LSR 1 gửi liên kết nhãn vào một số FEC đến một trong các LSR kế tiếp (
LSR 2 ) cho FEC đó
e LSR 2 nhan thay LSR I hiện tại không phải là nút tiếp theo đối với FEC đó
và nó không thể sử dụng liên kết này cho mục đích chuyên tiếp tại thời điểm
hiện tại nhưng nó vẫn lưu giữ liên kết này lại
e Tai thoi diém nào đó sau này có sự xuất hiện thay đổi định tuyến và LSRI
trở thành nút tiếp theo của LSR2 đối với FEC đó thì LSR2 sẽ cập nhật thông
tin trong bảng định "tuyến tương ứng và có thể chuyên tiếp các gói có nhãn
đến LSRI trên tuyến mới Việc này được thực hiện một cách tự động mà
không cần đến báo hiệu LDP hay quá trình phân bổ nhãn mới
Ưu điểm lớn nhất cua chế độ duy trì tiên tiến là khả năng phản ánh nhanh hơn khi
có sự thay đổi định tuyến Nhược điểm lớn nhất là lãng phí bộ nhớ và nhãn Điều
này đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đối với những thiết bị lưu trữ bảng
định tuyến trong phần cứng như ATM-LSR Thông thường chế độ duy trì lưu giữ
nhãn được sử dụng cho các ATM-LSR
Các phiên LDP (LDP Session) : phiên LDP tồn tại giữa những LSRs để hỗ trợ
cho sự trao đổi nhãn giữa chúng Khi một LSR sử dụng LDP để quảng bá nhiều hơn
một không gian nhãn tới một LSR khác nó sẽ sử dụng các phiên LDP riêng biệt cho
mỗi không gian nhãn
Sự vận chuyển của LDP ( LDP transport ) : LDP st dung TCP nhu 1a su van
chuyén đáng tin cậy cho các phiên khi giữa hai LSR đòi hỏi nhiều phiên LDP thi ctr
môi phiên LDP sẽ có một phiên TCP
2.4.1.5 Phiên LDP :
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 38
cca
Sn
Sự trao đổi các LDP Discovery Hello giữa hai LSRs khởi tạo sự thiết lập phiên
LDP Sự thiết lập phiên là một quá trình gôm hai bước :
- Thiết lập sự kết nối vận chuyển
- Sự khởi tạo phiên
Các phần sau đây mô tả sự thiết lập của một phiên LDP giữa LSR 1 và LSR 2 từ
khía cạnh của LSR 1 Ở đây ta thừa nhận sự trao đối các Hello đã chỉ rõ không gian
nhãn LSR 1:A cho LSR 1 và không gian nhãn LSR 2:B cho LSR 2
* Thiết lập kết nối vận chuyển :
Sự trao đôi các Hello dẫn đến sự tạo thành của “một Hello lân cân “ tại LSRI:
1 Nếu LSR1 chưa có một phiên cho sự thay đổi của các không gian nhãn LSR
1:a và LSR 2:b, LSRI1 cỗ gắng mở một kết nối TCP cho một phiên LDP mới
với LSR2 LSRI sẽ xác định các địa chỉ vận chuyển được sử dụng tại đầu
cuối của nó (A1) và đầu cuối của LSR2 (A2) trong sự kết nối TCP Địa chỉ
AI có thể được xác định như sau :
e© Nếu LSRI sử dụng “đối tượng không bắt buộc địa chỉ vận chuyển“
trong Hello mà nó gửi tới LSR2 đê quảng bá một địa chi, Al sé la địa
‘chi LSRI quảng bá qua đôi tượng không bat buộc
e Nếu LSRI không sử dụng “ đối tượng không bắt buộc địa chỉ vận chuyển “ A1 sẽ là địa chỉ nguồn được sử dụng trong Hello mà nó gửi cho LSR2
Một cách tương tự, địa chỉ A2 được xác định như sau :
e Nếu LSR2 sử dụng “đối tượng không bắt buộc địa chỉ vận chuyển”,
A2 sẽ là địa chỉ LSR2 quảng bá qua đôi tượng không bắt buộc
© Nếu LSR2 không sử dụng “ đối tượng không bắt buộc địa chỉ vận
chuyển”, A2 sẽ là địa chỉ nguồn trong các Hello nhận được từ LSR2
2 LSRI xác định xem nó đóng vai trò chủ động hay thụ động trong sự thiết lập
phiên bằng cách so sánh các địa chỉ AI và A2 như là các số nguyên không
dấu Nếu AI > A2, LSRI đóng vai trò chủ động Ngược lại nó sẽ đóng vai
trò thụ động
3 Nếu LSRI là chủ động nó sẽ cố gắng thiết lập sự kết nối TCP bằng cách kết
nối tới “port phát hiện thông dụng” tải địa chỉ A2 Nếu LSRI là thụ động, nó
đợi cho LSR2 thiết lập sự kết nối TCP tới port thông dụng của nó
Ở đây, ta cần để ý rằng khi một LSR gửi một Hello, nó sẽ lựa chọn “địa chỉ vận
chuyển” cho đầu cuối của nó trong sự kết nối phiên và sử dụng Hello đó để quảng
bá địa chỉ này bằng một trong hai cách : hoặc tường minh nhờ vào sự bao gồm địa
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 39Chương 2 -41- GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
chỉ trong một “TLV địa chỉ vận chuyển không bắt buộc“, hoặc ngầm định bằng
cách bỏ qua TLV và sử dụng địa chỉ như là một địa chỉ nguôn của Hello
Một LSR phải quảng bá cùng một “ địa chỉ vận chuyển “ trong tất cả các Hello
mà những Hello này quảng bá cùng một không gian nhãn Sự đòi hỏi này nhằm đảm
bảo hai LSR được liên kết bởi nhiều lân cận Hello sẽ sử dụng cùng một không gian
nhãn đóng vai trò thiết lập kết nối như nhau cho mỗi “ lân cận “
* Sự khởi tạo phiên :
Sau khi LSR1 va LSR2 thiết lập một sự kết nối vận chuyển chúng sẽ thương
lượng các thông số phiên bằng cách trao đổi các “ thông điệp khởi tạo “ Các thông
sô được thương lượng bao gôm : phiên bản giao thức LDP, phương pháp phân phối
nhãn, các giá trị timer Sự thương lượng thành công sẽ hoàn tất sự thiết lập của
một phiên LDP giữa LSRI và LSR2 cho sự quảng bá của các không gian nhãn LSR
1:a và LSR 2:b Phần sau đây mô tả “sự khởi tạo phiên” từ khía cạnh của LSRI
Sau khi kết nối được thiết lập, nếu LSRI đóng vai trò chủ động, nó bắt đầu sự
thương lượng các thông số phiên bằng cách gửi một thông điệp khởi tạo đến LSR2
Nếu LSR1 đóng vai trò thụ động, nó sẽ đợi cho LSR2 bắt đầu sự thỏa thuận các
thông số Một cách tổng quát khi có nhiều liên kết giữa LSR1 và LSR2 và có nhiều
không gian nhãn được quảng bá, LSR thụ động không thể biết không gian nhãn nào
được quảng bá trên kết nối TCP mới được thiết lập cho đến khi nó nhận được “
thông điệp khởi tạo “ trên kết nối đó Thông điệp khởi tạo (initialization message)
vừa mang bộ nhận dạng LDP cho không gian của LSR gởi (LSR chủ động), vừa
mang bộ nhận dạng cho không gian nhãn của LSR nhận ( LSR thụ động ) Bằng
việc chờ thông điệp khởi tạo từ ngang hàng, LSR thụ động có thể kết hợp không
gian nhãn được quảng bá bởi ngang hàng với một “ lân cận Hello “ đã được tạo từ
trước trong khi trao đôi các Hello
Khi LSR1 đóng vai trò thụ động:
Nếu LSRI nhận được một thông điệp khởi tạo, nó kết hợp bộ nhận dạng LDP
(được mang trong thông điệp PDU) với một lân cận Hello
Nếu có một “lân cận Hello“ tương hợp thì “lân cận” sẽ chỉ rõ không gian nhãn
cục bộ (local label space) cho phiên Kế đến LSRI kiểm tra các thông sô phiên
được đề cử trong thông điệp xem chúng có được chấp nhận hay không Nếu các
thông số được chấp nhận, LSRI sẽ đáp lại bằng thông điệp khởi tạo của chính nó dé
đề cử các thông sô nó muốn sử dụng và thông điệp KeepAlive để báo rằng các
thông số của LSR2 được chấp nhận Trong trường hợp các thông số không được
chấp nhận, LSRI sẽ đáp lại bằng cách gởi một thông điệp Session
Rejected/Parameters Error Notification va déng két néi TCP
Nếu LSRI không thể tìm được “lân cận Hello* tương hợp, nó sẽ gửi đi thông
điệp Session Rejected/Parameter Error Notification và đóng kết nối TCP
SVTH : Lương Hoàng Phi
Trang 40Chương 2 -42- GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên
Nếu LSRI nhận được một thông điệp KeepAlive cho sự phản hồi của thông điệp
khởi tạo mà nó đã gửi đi, phiên đã có thê hoạt động từ khía cạnh của LSRI
Nếu LSR1 nhận được một thông điệp Error Notification (thông điệp báo lỗi),
LSR2 đã không thừa nhận phiên mà LSRI đã đề cử, LSRI đóng phiên kết nối TCP
Khi LSR2 đóng vai trò chủ động :
- Nếu LSRI nhận được một thông điệp thông báo lỗi, LSR2 đã từ chối
phiên mà LSRI đã đê cử, LSR1 đóng kết nỗi TCP
- Nếu LSRI nhận được một “thông điệp khởi tạo“, nó kiểm tra xem các
thông số phiên có được chấp nhận hay không Nếu các thông số phiên
được chấp nhận, nó sẽ đáp lại bằng một thông điệp KeepAlive Nếu các
thông số phiên không được chấp nhận, LSRI gửi thông điệp Session
Reject/Parameters Error Notification va dong két ndi
- Nếu LSRI nhận được thông điệp KeepAlive, LSR2 đã chấp nhận thông
số phiên mà nó đề cử
- Khi LSRI nhận được cả thông điệp KeepAlive và thông điệp khởi tạo
(thông điệp này có thê được thừa nhận), phiên đã có thể hoạt động từ
khía cạnh của LSRI1
2.4.1.6 Sự duy trì các phiên LDP (Maintaining LDP Session ) :
LDP có nhiều cơ chế để giám sát sự toàn vẹn (tính toàn bộ) của phiên LDP sử
dụng sự nhận được thường xuyên các PDU trên phiên kết nối vận chuyển để giám
sát sự toàn vẹn của phiên Một LSR duy trì sự “ định thời KeepAlive “ cho mỗi
phiên Thời gian định thời sẽ được reset lại mỗi khi LSR nhận được một PDU từ
ngang hàng phiên Nếu thời gian định thời KeepAlive đã hết mà LSR không nhận
được một PDU từ ngang hàng thì LSR này sẽ kết luận : kết nối vận chuyên xấu
hoặc ngang hàng đó gặp sự cô, và nó sẽ kết thúc phiên LDP băng cách đóng kết nối
vận chuyển
Sau khi một phiên được thiết t lập, LSR phải sắp xếp sao cho ngang hàng của nó
phải nhận được một PDU sau mỗi khoảng thời gian, tối đa là thời gian KeepAlive
LSR có thể gửi bất kì thông điệp giao thức nào để đáp ứng yêu câu trên Trong
trường hợp LSR không có thông tin nào khác để giao tiếp với ngang hàng của nó,
LSR sẽ gửi thông điệp KeepAlive
Một LSR cũng có thể kết htúc phiên với ngang hàng của nó bắt kì thời điểm
nào, khi đó nó sẽ thông báo cho LSR ngang hàng băng thông điệp Shutdown
2.4.2 Giao thức CR-LDP :
Giao thức CR-LDP được sử dụng để điều khiển cưỡng bức LDP Giao thức này
là phần mở rộng của LDP cho quá trình định tuyến cưỡng bức cho LSP Cũng giông
SVTH: ‘Luong Hoang Phi