1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức không gian kiến trúc nhà ở dân tộc thái phù hợp với điều kiện hiện nay

102 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ Chức Không Gian Kiến Trúc Nhà Ở Dân Tộc Thái Phù Hợp Với Điều Kiện Hiện Nay
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 3,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ưu nhược điểm trong tổ chức không gian ở và phương thức xây dựng ngôi nhà truyền thống của dân tộc Thái .... Nghiên cứu “Tổ chức không gian kiến trúc nhà ở dân tộc Thái phù hợp với điều

Trang 1

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lý do và sự cần thiết của đề tài 3

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Nội dung nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Cấu trúc luận văn 5

B PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC NHÀ Ở DÂN TỘC THÁI QUA CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ 6

1.1 Bản làng và ngôi nhà truyền thống của dân tộc Thái 6

1.1.1 Bản làng truyền thống của dân tộc Thái 6

1.1.2 Ngôi nhà truyền thống 9

1.1.3 Tổng hợp các đặc điểm điển hình nhà ở truyền thống của dân tộc Thái 25

1.1.4 Ưu nhược điểm trong tổ chức không gian ở và phương thức xây dựng ngôi nhà truyền thống của dân tộc Thái 28

1.2 Tình hình xây dựng nhà ở và tổ chức môi trường ở của dân tộc Thái trong thời gian qua 33

1.2.1 Những tác động đến sự biến đổi ngôi nhà sàn truyền thống của dân tộc Thái (hình 1.22) 33

1.2.2 Những thay đổi của ngôi nhà sàn truyền thống dân tộc Thái trong thời gian qua 36

1.3 Các bản làng tái định cư của dân tộc Thái 38

1.4 Một số kinh nghiệm tổ chức môi trường ở trên thế giới 43

1.4.1 Tổng quan về tổ chức môi trường ở một số nước phát triển (Hình 1.28) 43

1.4.2 Kinh nghiệm tổ chức bản làng và nhà ở một số nước 45

1.5 Kết luận chương 1 49

1.5.1 Đặc điểm chung 49

1.5.2 Các vấn đề cần nghiên cứu giải quyết (Hình 1.30) 49

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC NHÀ Ở DÂN TỘC THÁI 50

2.1 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước 50

2.1.1 Những chủ trương chung 50

2.1.2 Về phát triển kinh tế xã hội 51

2.1.3 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa 52

Trang 2

2.2.1 Điều kiện tự nhiên 54

2.2.2 Điều kiện khí hậu 56

2.3 Cơ sở về mặt xã hội 57

2.3.1 Cấu trúc nhân khẩu trong gia đình dân tộc Thái 57

2.3.2 Lối sống và phong tục tập quán 57

2.4 Quan điểm về mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong tổ chức không gian ở của dân tộc Thái 65

2.5 Các điều kiện kỹ thuật và công nghệ xây dựng 67

2.6 Cơ sở về mặt thẩm mỹ 68

2.6.1 Thẩm mỹ 68

2.6.2 Cảm thụ thẩm mỹ 69

2.6.3 Thẩm mỹ đối với ngôi nhà và cảnh quan kiến trúc dân tộc Thái 70

2.7 Cơ sở về môi trường sinh thái và phát triển bền vững 71

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC KHÔNG GIAN KIÊN TRÚC NHÀ Ở DÂN TỘC THÁI PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY 74

3.1 Yêu cầu chung trong tổ chức quy hoạch và kiến trúc bản làng và ngôi nhà ở của người Thái phù hợp với điều kiện hiện nay 74

3.1.1 Giải pháp quy hoạch 74

3.1.2 Giải pháp kiến trúc 74

3.2 Một số đề xuất giải pháp tổ chức không gian quy hoạch - kiến trúc nhà ở dân tộc Thái phù hợp với điều kiện hiện nay 75

3.2.1 Một số đề xuất về quy hoạch và tổ chức cảnh quan 75

3.2.2 Giải pháp kiến trúc 77

3.3 Đề xuất phương án thực nghiệm quy hoạch, kiến trúc bản tái định cư Nậm Khao, xã Tân Lập, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 84

3.3.1 Giới thiệu dự án 84

3.3.2 Đề xuất phương án quy hoạch cảnh quan và kiến trúc nhà ở tái định cư cho dân tộc Thái tại bản Nậm Khao, xã Tân Lập 86

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98

1 Kết luận 98

2 Kiến nghị 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 3

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do và sự cần thiết của đề tài

Trải qua một quá trình hình thành lâu đời, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay

đã có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống tạo nên một bức tranh muôn màu, muôn

vẻ về văn hóa dân tộc, trong đó có dân tộc Thái Các dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc Thái nói riêng cư trú chủ yếu ở miền núi trung du trên 3/4 diện tích đất liền cả nước, địa bàn có tầm quan trọng lớn về chính trị, kinh tế, môi trường và quốc phòng

Nghị quyết 26 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã nêu 8 nhiệm vụ và giải pháp chỉ rõ ”Tập trung nguồn lực và tăng cường chỉ đạo thực hiện đồng bộ chiến lược về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo Đặc biệt quan tâm tới miền núi phía Bắc, Tây Nguyên” [www.chinhphu.vn]

Việc phát triển kinh tế miền núi thủy điện, khai khoáng, đô thị hóa, tạo ra sự dịch chuyển nơi cư trú ảnh hưởng lớn tới cuộc sống của đồng bào thiểu số nói chung, dân tộc Thái nói riêng

”Môi trường ở là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên xã hội bao quanh ảnh hưởng và tác động đến vấn đề ở của con người” Đối với vùng dân tộc Thái miền

núi Tây Bắc đã có những biến đổi lớn, nhiều bất cập cần phải nghiên cứu giải quyết trong quá trình phát triển

Đã có một số nghiên cứu về nhà ở cho dân tộc thiểu số miền núi nói chung

và dân tộc Thái nói riêng, nhưng còn chưa nhiều và chưa đầy đủ Trong thời gian qua đã có những thiết kế xây dựng nhà ở cho dân tộc miền núi phục vụ cho dự án

về nhà ở tái định cư cho các dân tộc miền núi – Đó là những thiết kế của VinaConex, của Viện khoa học công nghệ xây dựng, của Công ty đầu tư phát triển vật liệu mới và công nghệ cao, của tổng đội Thanh Niên xung phong, của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp [15] Tuy nhiên những ngôi nhà được xây dựng chưa xuất phát từ cơ sở khoa học đầy đủ và đồng bộ, chưa có sự nghiên cứu sâu về lối sống phong tục tập quán của từng dân tộc ảnh hưởng đến không gian sống của đồng bào cũng như những giá trị văn hóa truyền thống và giá trị về

Trang 4

Nghiên cứu “Tổ chức không gian kiến trúc nhà ở dân tộc Thái phù hợp với điều kiện hiện nay” góp phần xây dựng các bản làng mới cho người Thái

mang đậm nét truyền thống bằng công nghệ hiện đại đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của người dân và của cả xã hội Xây dựng các bản làng của người Thái vì sự phát triển bền vững hơn, chất lượng cao hơn, văn minh hiện đại hơn và đậm đà bản sắc địa phương

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất các giải pháp tổ chức không gian kiến trúc nhà ở cho dân tộc Thái phù hợp với điều kiện hiện nay với mục đích khai thác những giá trị truyền thống nhằm nâng cao chất lượng sống đáp ứng với nhu cầu sống hiện đại văn minh và phát triển bền vững

3 Nội dung nghiên cứu

- Tổng quan về tổ chức không gian kiến trúc nhà ở truyền thống phù hợp với điều kiện hiện nay ở vùng Tây bắc của Việt Nam

- Xây dựng các cơ sở khoa học liên quan đến những vấn đề tự nhiên, khí hậu

và môi trường của vùng Tây Bắc - nơi dân tộc Thái sinh sống Đồng thời nghiên cứu tình hình kinh tế, xã hội của dân tộc Thái,…nhằm tìm ra các nguyên tắc để đề xuất các giải pháp tổ chức không gian kiến trúc nhà ở dân tộc Thái phù hợp với điều kiện hiện nay

- Đề xuất các giải pháp cụ thể về tổ chức không gian kiến trúc nhà ở dân tộc Thái trong điều kiện hiện nay nhưng vẫn gìn giữ và phát huy được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Thái

4 Phương pháp nghiên cứu

Tổng hợp số liệu nghiên cứu từ nhiều nguồn: internet, thông tin từ các Viện nghiên cứu, sách báo, Từ đó khái quát hoá, phân tích tình hình để có được cái nhìn tổng quát về vấn đề áp dụng các biện pháp thiết kế để tổ chức không gian kiến trúc nhà ở dân tộc Thái phù hợp với điều kiện hiện nay ở vùng Tây Bắc của đất nước

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Không gian kiến trúc nhà ở dân tộc Thái phù hợp với điều kiện hiện nay ở

Trang 5

vùng Tây Bắc của Việt Nam Định hướng đến năm 2030

6 Cấu trúc luận văn

Trang 6

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC

NHÀ Ở DÂN TỘC THÁI QUA CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ

1.1 Bản làng và ngôi nhà truyền thống của dân tộc Thái

1.1.1 Bản làng truyền thống của dân tộc Thái

* Vị trí:

Người Thái sống tập trung theo nhóm người, thành lập nên một đơn vị hành chính nhỏ nhất gọi là bản Bản làng của người Thái ở vùng Tây Bắc thường nằm

ở khu vực ven đồi thấp, chân núi, ven sông suối, các khu vực miền núi và trung

du có khả năng khai khẩn ruộng nương để trồng trọt sinh sống “Bản của người Thái trước đây không phải là tổ hợp của các gia đình nhỏ, tư hữu với sự phân chia tách bạch, rạch ròi theo từng khuôn viên mà nó là một tập hợp cư dân mang tính cộng đồng một cách tự nhiên Mỗi thành viên trong bản luôn coi tổ chức bản làng là chỗ dựa tin cậy về mặt vật chất và tinh thần trong suốt cuộc đời họ” [11] Người Thái không bao giờ làm nhà xây bản ở trên đầu nguồn nước

* Quy mô:

Quy mô bản lớn nhỏ không đều, thường số lượng nóc nhà mỗi bản là mười đến mười lăm nóc nhà Bản làng có khi lên đến hàng trăm nóc nhà Bản gồm nhiều dòng họ khác nhau cùng cộng cư chung sống và có ý thức cộng đồng cao Một số nơi người Thái sống xen người Mường nhưng các nhánh Thái Đen, Thái Trắng thường sống thành bản riêng [11]

* Cơ cấu tổ chức không gian:

Đầu bản bao giờ cũng có rừng gọi là rừng cúng (pá tu xửa), là nơi diễn ra các hoạt động thờ cúng các nghi lễ Người Thái không bao giờ chặt phá cây rừng ở đây Cuối bản có rừng ma, là nơi để các nhà mồ của người chết Trong mỗi bản thường dành ra một khoảng đất trống, rộng 600 – 1500 mét vuông để làm khu vui chơi giải trí, ngày lễ tết hoặc họp chợ phiên Nhà cửa thường xây bám theo địa hình phổ biến quay lưng vào núi, hướng mặt ra thung lũng, đồng ruộng, suối sông, (như được thể hiện trên hình 1.1, hình 1.2 và hình 1.3) Bản của người Thái có đất ruộng, bãi chăn nuôi và nguồn nước riêng

Trang 7

Hình 1.2 Cấu trúc theo dải (Nguồn: 13)

Hình 1.3 Cấu trúc dạng thung lũng (Nguồn: 13)

* Hướng nhà:

Bản của người Thái gồm nhiều nhà sàn dựng liền nhau Nhà nọ nói nhà kia nghe rõ Đây là kiểu bố cục để chống thú dữ và giặc cướp vào bản Hướng nhà sàn thường là hướng của cả bản Sống ở vùng rừng núi, việc chọn hướng nhà lúc nào cũng lấy những ngọn núi, những dòng sông làm chuẩn Ngọn núi và dòng sông là những vật cố định, có sức sống biểu hiện ra ngoài rất mãnh liệt Dòng sông chảy quanh năm không bao giờ hết nước, ngọn núi suốt bốn mùa cây cối

Trang 8

xanh tốt Chọn hướng nhà nhằm vào dòng sông ngọn núi chính là để chủ nhà thừa hưởng tất cả những sức sống mãnh liệt đó của thiên nhiên Đồng bào kiêng chọn hướng nhà nhìn vào khoảng trống giữa hai trái núi, quan niệm nó như hình ảnh miệng rồng đang há rộng, sẵn sàng nuốt đi tất cả sự giầu sang của chủ nhà, uy hiếp sự bình an của mọi người [3]

Người Thái không bao giờ chọn hướng nhà chọc nóc vào nhau, các nhà sàn được bố trí song song và so le nhau sao cho nhà nọ không che khuất tầm nhìn của nhà kia vì họ quan niêm “Ngủ tựa lưng vào núi, mặt nhìn ra phía thoáng đãng” Đồng bào cũng kiêng đặt đòn nóc nhà gác lên hai đầu trái núi

Việc chọn hướng nhà hay hướng của cả bản bao giờ cũng thuận theo và thích nghi với thiên nhiên núi rừng, làm nhà theo địa hình, tựa lưng vào địa hình, hướng nhà thuận theo hướng gió Đặc biệt, đồng bào không bao giờ làm nhà trên

gò và sống núi, sống đồi Người Thái gọi những đường đó là “tang phì loong” nghĩa là “đường ma chạy ma đi” (hình 1.4)

* Chiềng và Mường:

Nhiều bản tập hợp lại thành Chiềng Mường của người Thái là một tổ chức

Trang 9

xã hội, tập hợp nhiều Chiềng và nhiều bản trên một lãnh thổ nhất định và có thành phần cư dân thuần nhất và không thuần nhất Hiện nay cơ cấu Mường đã được thay bằng tổ chức hành chính tương đương cấp xã và huyện Trong đó bản vẫn tồn tại và thích ứng với điều kiện nông thôn mới, ngay cả trong cơ cấu hợp

tác xã trước đây cũng như trong chính sách khoán hộ hiện nay [3, 11, 13, 15]

Hình 1.5 Bản làng người Thái truyền thống (Bản Sôm, xã Mường Nhà, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) (Ảnh: Tác giả)

1.1.2 Ngôi nhà truyền thống

Ngôi nhà truyền thống của dân tộc Thái là nhà sàn Nhà sàn là một biểu

tượng văn hóa của dân tộc Thái và có nhiều giá trị kiến trúc

Ngôi nhà sàn truyền thống của dân tộc Thái có đặc điểm như sau:

a) Về phân bố

Dân tộc Thái sinh sống chủ yếu ở vùng Lai Châu, Bắc Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Hà Sơn Bình và vùng Thanh Nghệ Theo vùng dân cư và các nhóm địa

phương có thể chia thành các kiểu nhà sàn:

- Kiểu nhà sàn của dân tộc Thái trắng vùng Lai Châu, Bắc Sơn La và Hoàng Liên Sơn gọi là “hướn tụp lặt” hay “hướn Táy đăm” có đầu hồi mái dốc nghiêng, mặt bằng hình chữ nhật, có lan can chạy trước hoặc xung quanh

Trang 10

- Kiểu nhà của người Thái đen và Thái trắng ở Sơn La và Hoàng Liên Sơn gọi

là “hướn tụp cuống” hay “hướn Táy đăm” Nhà có mái tròn, khum khum hình mai rùa, hai nóc hồi có khắc hình gỗ trang trí gọi là khau cút (hình 1.7)

Hình thức mặt bằng nhà có thể chia làm các loại sau:

- Loại nhà sàn có mặt bằng chữ nhật dài hoặc vuông, có thể có lan can bao suốt xung quanh nhà hay chỉ ở phần trước nhà Loại này gọi chung là “hướn

Trang 11

chí” (nhà dài) hay “hướn xí tứng”

- Loại nhà sàn hình đa giác, có hai cạnh chạy dài suốt thân nhà và sáu cạnh ngắn để tạo hai chái hồi có hình ô van, thường phổ biến ở người Thái đen, Sơn La, Hoàng Liên Sơn và Thái trắng Mộc Châu Những nhà kiểu này thường không có cấu tạo lan can bao quanh; nếu có lan can cũng chỉ cấu tạo một bên, do kéo mái dài xuống thành hàng hiên phụ cận Kiểu nhà này gọi là

“hướn tóp khang” (nhà thu dầm) hay “hướn mốn” (nhà tròn)

- Ngoài ra, còn có một số loại nhà quý tộc là những nhà gác hình tám cạnh có

nhiều lối lên xuống gọi là “hướn lai tu - nhà nhiều cửa” [18]

* Số gian nhà:

Đặc điểm chung của các loại nhà sàn Thái là có số gian lẻ

- Thân nhà: (gọi là “hỏng tô” – gian thân): có số gian không cố định, nhà càng dài càng thêm nhiều gian

- Hai đầu hồi nhà gọi là “hỏng tụp” và tiếp đó có thể có thêm “hỏng tịp” (gian hồi) Hỏng tụp và hỏng tịp là hai thành phần cố định của ngôi nhà do đó chỉ

có hai hỏng tụp và hai hỏng tịp (hình 1.8)

Hình 1.8 Sơ đồ hình thể nhà sàn Thái (Nguồn: 18)

Đối với kiểu nhà ba gian hoặc năm gian người ta không hay bố trí thêm hỏng tịp vì nếu thêm hai hồi phụ nữa thì hai mái hồi sẽ dài ra, không thành hình ô van nữa Nhà từ bảy gian trở lên thì mới bố trí hoặc cũng có thể không bố trí hỏng tịp Nếu nhà bảy gian mà không có hỏng tịp thì bao gồm năm gian hỏng tô và hai gian hỏng tụp

Bước gian từ 2m đến 2,9m; Gian đầu hồi tịp 1,8m đến 2,1m; tụp 1,2m đến

Trang 12

1,8m; Nhịp phổ biến là 2,4m đến 2,9m; Nhịp có thể lên đến 5,1m

Nhà có cấu trúc theo kiểu khứ điêng có ba nhịp, hai nhịp bên dài khoảng 2 -

2,8m và một nhịp giữa dài 2,5 - 4m [15],[18]

* Giải pháp mặt bằng: Mặt bằng tầng sàn thường được bố trí như sau: Nếu

phân đôi nhà sàn thành hai phần dọc theo chiều đòn nóc thì một bên đồng bào dùng làm chỗ ngủ, gian thờ cúng; một bên làm nơi tiếp khách và sinh hoạt văn hóa Còn nếu phân đôi bổ ngang theo chiều quá giang thì một bên là “quản” và một bên là “chan” cho sinh hoạt đàn ông và phụ nữ Lấy mặt bằng nhà Thái đen làm điển hình ta có sơ đồ mặt bằng sau:

Táng chan: (hình 1.9) là phần dành cho nữ giới, gồm những gian dành cho

bếp núc nội trợ và tiếp khách nữ, được ngăn che bằng vách nhẹ và có thể được chia làm hai phần:

Hình 1.9 Không gian táng chan

(mặt bằng và ảnh minh họa)

(Nguồn: 18)

+ Phần ngoài nhà bao gồm: Cốc chan - nọ cháu (tức là phần sàn đầu cầu thang nằm ở trong mái hồi) và chan (phần sàn không có mái để phơi phóng và chỗ để nước)

+ Phần trong (cuống chan): ở đây có bếp chan (nơi nấu ăn của gia đình), nơi ngủ của con gái lớn hay vợ chồng con gái trong thời gian ở rể, chỗ để

khung cửi và các đồ lặt vặt [18]

Táng quản: (hình 1.10) gồm những gian dành cho chủ nhà, nơi tiếp khách

nam và nữ đặc biệt Có thể chia táng quản ra làm hai phần được ngăn bằng bức vách

Trang 13

Hình 1.10 Không gian táng quản

Quanh bếp thường là chỗ chủ nhà ngồi tiếp khách Ông chủ ngồi ở phía chân buồng ngủ mé bên hỏng hóng (gian thờ), bà chủ ngồi cạnh bên phía táng chan, cả

2 đều ngồi quay lưng về phía buồng ngủ Khách nam khách nữ đặc biệt ngồi quay lưng ra quản, khách nữ khi cần thiết có thể ngồi phía bên táng chan [18]

Cang hướn: Phần giữa nhà Vị trí của cang hướn phụ thuộc vào cột xau hẹ

Ngoài ra còn có hành lang gọi là “phơi ma len” chạy suốt quanh nhà, nhà người Thái đen hay là hành lang một bên phía dưới chân các buồng ngủ

Nhà sàn người Thái thường có hai cửa ra vào mở hai bên gian đầu hồi, phân chia nhà thành hai nửa bằng nhau: nửa trên và nửa dưới Nửa trên và nửa dưới hoàn toàn không có gì ngăn cách, đường ranh giới chỉ là sự ước lệ nhưng với đồng bào thì rất rõ ràng Ranh giới ở đây là đường thẳng tượng trưng nối giữa hai cửa “chan” và cửa “quản”

Ngoài tầng sàn như đã mô tả, ở trong nhà còn có gác xép với mặt bằng vừa phải đủ để chứa lương thực và các loại hạt giống cây trồng của gia đình Đồng bào còn làm gác bếp một đến hai tầng để chứa đồ đan lát, thức ăn và một số vật

Trang 14

dụng khác cần bảo quản nơi khô ráo

c) Kỹ thuật kết cấu

* Hệ cột: Trong nhà sàn người Thái, hệ khung cột chịu lực là chính Hệ

khung cột biểu thị sức mạnh của nhà nên việc chọn cột rất công phu, thường

được làm bằng gỗ loại I, loại II (hình 1.11)

ơn của rùa giúp cho người biết cõi lòng của “then” (trời), hình vật dương và vật âm tượng trưng cho tín ngưỡng sinh thực khí (linga)

Trang 15

- Xau chẩn xửa (cột chủ hồn), tượng trưng cho quyền lực của vị gia trưởng Hồn của ông chủ nhà được ngụ ở đây Hồn đó thường tiếp xúc với tổ tiên ngụ ở gian thờ

- Xau tổn lảng: Cột được làm bằng tre chống từ quá giang lên đến xà đỉnh của nóc nhà Nó không liên quan đến phương thức xây dựng mà chỉ mang nội dung tôn giáo hay tâm linh Người ta cho rằng đây là chiếu thang để ông bà ông vải leo thoát ra khỏi nhà để lên trời hầu then, rồi từ cõi trời trở về gian

thờ cúng [3, 4, 5, 18]

* Hệ mặt sàn:

Hệ mặt sàn được tạo thành bởi bốn bộ phận chịu lực và lát trải:

- Ping: Chạc đỡ chịu lực trong nhà cột chôn;

- Pan, khang: dầm gỗ chịu lực trong nhà cột kê;

- Tông: lớp thanh tre đỡ mặt sàn;

- Phạ: lớp lát mặt sàn

Hệ mặt sàn được tạo thành bốn bộ phận chịu lực chính tùy theo nhà cột chôn hay cột kê Khung hệ dầm phụ trợ đỡ mặt sàn, tổng lớp thanh tre đỡ mặt sàn, pha lớp lót mặt sàn, chiều cao từ mặt sàn đến gian mái tại tường bên thường từ 2,1m đến 2,7m; độ dốc rất lớn có thể lên đến hơn 10% [3, 5, 18]

* Hệ kết cấu chịu lực:

Kiến trúc bộ khung nhà ở dân tộc Thái có hai kiểu khứ tháng và kiểu khay điêng Cột nhà chôn dưới đất hoặc kê trên đá tảng tròn hay vuông Trên hình 1.12 giới thiệu hai kiểu bộ khung nhà ở dân tộc Thái có hai kiểu khứ tháng và kiểu khay điêng

Trang 16

* Hệ kết cấu đỡ mái và lợp mái:

Cấu tạo hệ kết cấu chịu lực mái bao gồm bốn lớp và lợp bằng tranh

- Xing dua: Thanh thượng của vì kèo, cùng với khứ tháng hợp thành vì kèo Đặc điểm kiến trúc Thái bao giờ cũng tuân theo nguyên tắc “xing đua chống liên hai đầu quá giang” Chỗ đầu chống được vót hình “chân dê” để khớp với

gờ đục sẵn trên quá giang Trước khi nhà của quý tộc thì tạc đuôi én

- Khéo: được xem như hệ thống kèo phụ đặt song song với kèo chính, ghếch lên trên xà dọc Để giữ cho hệ thống xinh dua và khéo được ổn định, bên dưới còn có hệ giằng chéo gọi là háo chọi

Thông thường có ba loại mộng:

- Mộng liên kết cột với quá giang (hình 1.14)

- Mộng ở dưới hệ pan hay ping gồm kiểu xuyên suốt và kiểu nối đầu

(hình 1.15)

- Mộng khấc pan sót mí đưa (hình 1.16)

Hình 1.14 Mộng liên kết cột với quá giang

(Nguồn: 18)

Trang 17

Việc lựa chọn địa điểm xây dựng cũng được người Thái quan tâm Địa điểm xây dựng phải thuận lợi cho sản xuất và gần nguồn nước, thường là chân núi, đồi, địa thế thấp hơn nguồn nước để bắc máng nước chảy về nhà Để chọn vị trí làm nhà, người Thái thường đào một cái hố sâu và rộng khoảng 30 - 40cm, đặt vào trong hố 1 hòn đá, trên đó để 3 hạt thóc chụm lại Ba hạt thóc tượng trưng cho con người, vật nuôi, cây trồng Ba ngày sau chủ nhà mở hố ra xem, nếu ba hạt

Trang 18

thóc chụm lại nguyên như cũ thì mảnh đất đó tốt để xây dựng nhà Có cách chọn đơn giản hơn là từ chiều hôm trước, chủ nhà lấy chiếc bát ăn cơm úp xuống địa điểm định xây nhà Sáng hôm sau nếu trong bát không đậu những hạt nước thì mảnh đất đó làm nhà được Với những kinh nghiệm lâu đời, những phương phát lựa chọn đất trên không đơn thuần là mang tính thủ tục hay tâm linh mà còn mang tính khoa học nhằm xác định các yếu tố thiên nhiên như nước ngầm, độ

ẩm, côn trùng có hại tác động đến khu đất lựa chọn xây dựng

Công cụ làm nhà những dụng cụ quen thuộc mà chúng ta vẫn gặp ở các dân tộc, các vùng khác nhau Đó là chiếc cưa to, nhỏ các loại, những chiếc đục các kiểu, các cỡ, những chiếc rìu và những con dao lao động hàng ngày

Cách dựng nhà sàn người Thái phụ thuộc vào loại nhà cột chôn hay cột kê Trong hình 1.17 giới thiệu quá trình dựng nhà của người Thái

- Lắp quá giang và xà dọc để hình thành bộ khung nhà

- Điều chỉnh góc vuông thẳng đứng tạo thế cân đối và lắp chân cột

- Làm lớp mặt sàn

- Làm phàn mái và lớp mái

- Đặt vách và làm buồng, làm cửa chính, của sổ

Đối với nhà cột kê, quá trình xây dựng được tiến hành theo trình tự:

- Lắp vì

Trang 19

- Nâng vì

- Đặt mộng nối vì

- Làm mặt sàn

- Kiến tạo mái và lợp mái

- Đặt vách, làm buồng, làm cửa sổ, cửa đi

e) Vật liệu xây dựng

Vật liêu xây dựng ngôi nhà cổ truyền hoàn toàn khai thác từ tự nhiên, vật

liệu chính gồm gỗ, tre nứa, đất đá, mái lợp là gồi, rơm rạ nương, tranh

f) Mặt đứng và nghệ thuật trang trí

Nhà sàn người Thái tuy hình thức đơn giản nhưng phương pháp xử lý kiến trúc hài hòa, phù hợp với phong cảnh núi rừng hùng vĩ (hình 1.18) Nó được tạo nên bởi thẩm mỹ dân tộc dựa trên những tư duy sâu sắc

* Mái: Mặt đứng nhà nổi bật bởi hệ thống mái Đặc điểm độc đáo của cấu

tạo phần mái là hai chái hồi Hình thức mặt bằng và hình thức mái gắn bó chặt chẽ với nhau Với mặt bằng nhà sàn ở vùng người Thái trắng có hình chữ nhật thì nhà sàn có mái hồi dốc thẳng Nhà người Thái đen có hai mái hồi uống cong hình

ô van, khum hình mai rùa theo hình dáng mặt bằng, tạo nên một hình thức kiến trúc độc đáo có giá trị thẩm mỹ cao

Ngoài ra, hình dạng mái cong hình mai rùa của người Thái đen còn có ý nghĩa về khí động học Nhà ở người Thái luôn song song với chiều gió thổi Khi gió thổi vào hai đầu nhà thì sẽ tiếp xúc với mặt cong mái làm giảm cường độ gió

Trang 20

ngôi nhà người Thái đen truyền thống bao giờ cũng có hoa văn trang trí khau cút Mái nhà là mảnh chính của công trình nhìn từ ngoài vào Mái gianh có thể chiếm hai phần ba chiều cao nhà Mái nhà sàn Thái làm thật cao thật dốc ngoài giá trị sử dụng (bên trong có nhiều tầng gác, ráo nước khi trời mưa để đảm bảo độ bền của gianh ) nó còn đưa lại cho công trình một giá trị tạo dáng đáng kể Mái nhà cao rộng làm cho toàn bộ ngôi nhà trở nên hài hòa với khung cảnh tự nhiên xung quanh Càng phơi nắng phơi sương nhiều thì mái giang càng khô mịn, tạo nên một mảng mầu tương phản với phần dưới (cửa sổ, phiên ván thưng quanh nhà) của công trình

Trên nóc chỗ giáp với mái chính bao giờ cũng để trống có ghép liếp hoa văn hoặc các chi tiết trang trí được đẽo gọt bằng gỗ với mục đích để cho hồn người chết trên trời

Trên đầu nóc ngôi nhà người Thái đen truyền thống bao giờ cũng có hoa văn trang trí khau cút Trên mái nhà sàn người Thái, khau cút vút cao ở hai đầu hồi được ghi nhận như là một đặc trưng đậm đà màu sắc dân tộc, được ví như “sừng của con trâu mộng”

Có thể nói, mái nhà là mảng chính của công trình nhì từ ngoài vào Mái gianh có thể chiếm hai phần ba chiều cao nhà Mái nhà sàn Thái làm thật cao thật dốc ngoài giá trị sử dụng (bên trong có nhiều tầng gác, ráo nước khi trời mưa để đảm bảo độ bền của gianh ) nó còn đưa lại cho công trình một giá trị tạo dáng đáng kể Mái nhà cao rộng làm cho toàn bộ ngôi nhà trở nên hài hòa với khung cảnh tự nhiên xung quanh Càng phơi nắng phơi sương nhiều thì mái gianh càng khô mịn, tạo nên một mảng mầu tương phản với phần dưới (cửa sổ, phiên ván

thưng quanh nhà) của công trình [3, 4, 5]

* Các chi tiết trang trí: Các chi tiết trang trí cũng làm cho nhà sàn người

Thái thêm nổi bật Một trong những chi tiết trang trí nổi bật là khau cút Tác dụng trực tiếp của khau cút là nó đóng vai trò cái nẹp giữ cho lớp tranh ở hai đầu hồi khỏi bị tốc lên khi có mưa gió lớn Song bên cạnh đó khau cút còn mang nội dung tư tưởng thẩm mỹ rõ rệt

Theo truyền thuyết, trong những cuộc chiến tranh loạn lạc, người Thái phải

Trang 21

chuyển cư, chạy loạn Trong lúc loạn lạc họ bị phân tán ra nhiều nơi, mỗi người một phương Để nhận ra nhau, người Thái quy ước khi đến nơi mới làm nhà lấy bốn thanh gỗ bắt chéo nẹp giang hai đầu hồi để làm dấu Để kỷ niệm ngày ra đi dưới ánh sáng trăng, người Thái luôn sơn khau cút mầu trắng Đồng bào quan niệm quét mầu trắng cho khau cút tượng trưng cho ánh trăng sáng, tượng trưng cho ánh sáng của “then” (trời) tỏa sáng, soi rọi con đường làm ăn của chủ nhà – tương lai sáng sủa và sẽ mãi mãi là ánh sáng dẫn đường

Theo tiếng Thái, “khau” nghĩa là “sừng”, “cút” nghĩa là các “nhánh” Số lượng nhánh nhiều hay ít trên khau cút của mái nhà sẽ thể hiện chủ nhà có làm ăn phát đạt hay không Càng nhiều nhánh thì gia chủ càng phát đạt, họ hàng anh em trong nhà đông đúc và đoàn kết Khau cút chính là một biểu tượng để người Thái khẳng định vị thế của mình trong xã hội, sức mạnh kinh tế của gia đình Đồng bào còn ví khau cút như “sừng con hươu”, càng trưởng thành thì sừng con hươu càng nhiều nhánh, càng to khỏe

- Khau cút có nhiều loại: (hình 1.19)

+ Khau bẻ: cây bắt chéo;

+ Cút khau quái: hình sừng trâu;

Trang 22

Trong xã hội có giai cấp trước đây, tầng lớp thống trị Thái đã quy định việc làm khau cút cho nhà dân và cho nhà quan Khau cút tạc hình hoa sen chỉ có nhà quan mới được làm, nhà dân chỉ được làm khau cút sừng trâu, sừng dê, Bây giờ đồng bào tự do chọn các loại khau cút mà mình thích nhất để làm nhà [4, 5]

* Cửa đi và cửa sổ: Hệ thống cửa đi hay cửa sổ đều xuống tận sàn, cửa sổ có

lan can giữ an toàn bên trong theo lối hoa văn dân tộc Tường hiên hai bên để trống một khoảng phía trên mái ghép hoa văn vừa tăng tính thẩm mỹ vừa lấy thông thoáng

Nhà sàn có hai cửa đi lại được mở ở chính giữa hai đầu hồi Hai cửa này có tên gọi khác nhau: cửa “chan” và cửa “quản” Thông thường cửa chan mở ra hướng nào thì đó là hướng nhà

Trong nhà sàn Thái người ta lưu ý đến của sổ (tủ táng) Nhà nào cũng có cửa

sổ Số lượng cửa sổ có thể khác nhau do số gian nhà nhiều hay ít Cửa sổ nhà người Thái cũng giầu tính trang trí Cửa có khung gỗ, các song cửa đứng hình tròn hoặc bẹt có thể khắc hình mặt trăng lưỡi liềm hay các loại hoa chìm, lá đơn,

lá kép Hai đầu cửa sổ có khắc đầu thuồng luồng

Cửa sổ chỉ mở ở chính giữa gian và ở phía trước (phía dưới nhà), không bao giờ mở ở phía sau (phía trên nhà) Mỗi gian, nếu mở chỉ mở một cửa sổ Tổng số cửa sổ thường là số lẻ, để cộng với của chính luôn luôn là số lẻ, theo tập quán dân tộc Cửa sổ nhà sàn có hai cánh đóng mở Người Thái có tập quán làm cửa sổ sát sàn nhà, rộng khoảng 60cm, cao hơn một mét Từ sàn nhà lên khoảng 60cm còn

có chấn song Phần trên để trống Trẻ em mới biết đi đứng bám vào cửa sổ không

sợ ngã

Cửa sổ nhà sàn người Thái là một công trình mỹ thuật nhỏ Có thể xem cửa

sổ là cầu nối giữa nội thất ngôi nhà và khung cảnh thiên nhiên bên ngoài Cửa không chỉ là hai cánh đóng vào mở ra hay tấm phiên chống lên hạ xuống Cửa được trang trí với kỹ thuật đa dạng Từ trong nhìn ra ngoài thường là nhìn qua cửa sổ vì thế nó được gia công và chú ý khi thi công ngôi nhà Trung tâm trang trí

là phần chấn song làm bằng gỗ Có nhiều loại trang trí, thường là hình mảnh trăng lưỡi liềm, hình bướm đậu, hình răng cưa, hình hoa, hình lá kép lá đơn, hình

Trang 23

quả trám, hình rắn uốn mình Với những tấm ván hoặc chấn song các hình, các họa tiết trang trí trên được các nghệ sĩ dân gian khắc chạm tạo hình (hình 1.20a; hình 1.20b) Nghệ thuật trang trí được xử lý theo số lẻ Từ ngoài nhìn vào cửa sổ nhà sàn người Thái đẹp nhưng nó lại đẹp hơn khi ngồi từ trong nhà nhìn ra Từ trong nhìn ra ngoài nhà, với cường độ ánh sáng bên ngoài cũng lớn hơn trong nhà tạo nên một sự ngược sáng qua cửa sổ Những hoa văn do vậy càng trở nên vừa thực vừa ảo và làm tăng thêm giá trị thẩm mỹ của nó

Trang 24

* Lan can, cầu thang:

Xung quanh chan có ba mặt lan can để cho các thứ phơi khỏi bị rơi xuống đất và trẻ em khỏi bị ngã Lan can như một đường viền nâng thêm chiều cao của

“táng chan” Các lan được trang trí với nhiều kiểu khác nhau: lan can có răng thẳng đứng (phắt ban), lan can chéo (khuấy chiêng), lan can hình vuông trang trí nẹp chéo mắt cáo (khuấy ta leo)

Có những loại sau (hình 1.21):

+ Lan can song thẳng đứng (phắn ban) phỏng theo răng bừa

+ Lan can chéo, hình khuấy chiêng (chéo)

Trang 25

+ Lan can hình vuông trang trí nẹp chéo mắt cáo (khuấy ta leo)

Vị trí cầu thang thường đặt ở “mé chân”, phía dưới của ngôi nhà, đối diện với nơi ngủ Người Thái quan niệm nếu đặt cầu thang ở “mé đầu”, phía trên của ngôi nhà thì người đi trên thang như dẫm vào đầu người trong gia đình khiến con người không được khỏe mạnh, minh mẫn

Các bậc thang ở “đay quản” và “đay chan” bao giờ cũng là số lẻ có thể là 5,

7, 9, 11,…tùy từng ngôi nhà Người Thái quy định chỉ có đàn ông trong gia đình

mới lên xuống nhà bằng “đay quản” còn phụ nữ lên xuống nhà bằng “đay chan” [3, 4, 5]

1.1.3 Tổng hợp các đặc điểm điển hình nhà ở truyền thống của dân tộc Thái

Các đặc điểm điển hình của ngôi nhà sàn truyền thống của dân tộc Thái được tổng hợp qua bảng sau:

Trang 26

Bảng1.1 Các đặc điểm điển hình nhà ở truyền thống dân tộc Thái

2 Mặt

bằng

Đặc điểm của mặt bằng không gian nhà sàn đó là không gian rất linh hoạt, không có nhiều vách ngăn, thích hợp với tính sinh hoạt cộng đồng của dân tộc Thái Mặt bằng được phân chia ước lệ nhưng rất rõ ràng về mặt chức năng theo chiều dọc và ngang Nếu phân đôi ngang theo chiều quá giang thì một bên là

“quản” cho sinh hoạt nam giới và một bên là “chan” cho sinh hoạt nữ giới Nếu chia đôi nhà dọc theo chiều đòn nóc thì có thể chia nhà sàn làm hai nửa trên và nửa dưới, đường phân giữa hai nửa cũng được ước lệ bởi đường nối hai cửa ra vào hai bên đầu hồi Nửa dưới dùng làm nơi ngủ, nơi thờ cúng Nửa trên dùng làm nơi tiếp khách và sinh hoạt văn hóa khác trong gia đình

kết cấu

Trong nhà sàn, hệ kết cấu bao gồm kết cấu chịu lực như hệ khung cột, hệ kết cấu đỡ sàn mái… và hệ kết cấu bao che như: tường, vách ngăn Liên kết chủ yếu bằng mộng và dây buộc

4 Vật liệu Chủ yếu vật liệu làm nhà được khai thác từ tự nhiên như gỗ,

Trang 27

Bảng1.1 Các đặc điểm điển hình nhà ở truyền thống dân tộc Thái

(Nguồn: 16)

TT Chi tiết Đặc điểm điển hình

dựng bản Vật liệu chính là gỗ rừng và được tích trữ qua nhiều năm

Trong quá trình xây dựng nhà từ việc chọn vị trí làm nhà đến việc dựng cột đều có những kiêng kỵ nhất định liên quan đến phong tục tập quán của đồng bào Thái

thang

Cầu thang, cửa sổ và cửa đi đều tuân theo quy tắc số lẻ Số bậc cầu thang là số lẻ Mỗi gian nhà chỉ có một cửa sổ, cộng với hai cửa đi là số lẻ

Có hai cầu thang lên hai bên “tang” và “quản” Cầu thang lên

từ phía đối diện với nơi ngủ

7 Cửa sổ

và cửa đi

Cửa sổ chỉ mở ở chính giữa gian, ở phía trước, không mở cửa

sổ phía sau nhà và cửa sổ được làm sát mặt sàn Cửa sổ có hai cánh đóng mở, có chi tiết trang trí, có chấn song làm bằng gỗ

Có hai cửa đi hai bên đầu hồi, cửa “táng” và cửa “quản” quy định cho nam giới và nữ giới Hướng hai cửa đi cũng là hướng của nhà

8 Chi tiết

trang trí

Các chi tiết trang trí được xử lý theo số lẻ Các họa tiết trang trí

ở lan can, cửa sổ,…thường được mô phỏng từ các sự vật trong

tự nhiên như mảnh trăng lưỡi liềm, kén tằm, hoa lá, răng bừa, sừng trâu,…

Đặc biệt chi tiết trang trí trên mái nhà sàn Thái đen Khau cút là chi tiết trang trí nổi bật làm nên đặc trưng của ngôi nhà sàn người Thái

có vườn cây, sân nhà

Bản làng người Thái gồm nhiều nhà sàn dựng song song và so

Trang 28

Bảng1.1 Các đặc điểm điển hình nhà ở truyền thống dân tộc Thái

(Nguồn: 16)

TT Chi tiết Đặc điểm điển hình

le nhau, tựa lưng vào núi

Hướng nhà sàn cũng là hướng của cả bản và luôn chọn hướng nhà nhìn vào dòng sông hay ngọn núi, thuận theo địa hình và hướng gió

Một bản gồm các khu chức năng: Ở, sinh hoạt cộng đồng, ruộng nương, sinh hoạt tín ngưỡng (rừng cúng), nghĩa địa (rừng ma)

1.1.4 Ưu nhược điểm trong tổ chức không gian ở và phương thức xây dựng ngôi nhà truyền thống của dân tộc Thái

Ngôi nhà sàn của dân tộc Thái đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử và đã được hoàn thiện phù hợp với điều kiện sống của người dân và chứa đựng những giá trị văn hóa giầu bản sắc của dân tộc Thái Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển kinh

tế và văn hóa mới thì ngôi nhà sàn truyền thống của người Thái bộc lộ nhiều những nhược điểm trong tổ chức không gian và phương thức cũng như vật liệu xây dựng Qua sự phân tích đặc điểm của ngôi nhà truyền thống dân tộc Thái ở trên ta có thể rút ra những ưu nhược điểm sau:

* Những ưu điểm của ngôi nhà sàn truyền thống dân tộc Thái:

Với điều kiện thiên nhiên, khí hậu, địa hình của vùng rừng núi Tây – Bắc thì hình thức của ngôi nhà sàn tỏ ra là một giải pháp thích dụng trong việc tạo tiện nghi tốt, thoáng mát, chống ẩm thấp, bão lũ, ngăn chặn được rắn rết và thú dữ xâm nhập vào nhà

Việc tổ chức không gian trong ngôi nhà sàn truyền thống gắn liền với lối sống, phong tục, tập quán và những nét văn hóa đặc sắc lâu đời của dân tộc Thái

và có giá trị về mặt lịch sử cần được bảo tồn Việc tổ chức không gian tiếp khách

và nơi nghỉ của khách rất quan trọng, gần bếp lửa ấm áp thể hiện sự cở mở hiếu khách của dân tộc Thái Các không gian ngủ được ngăn cách đơn sơ theo quan

Trang 29

niệm tính cộng đồng đoàn kết trong một gia đình rất cao Các không gian thờ cúng được đặt ở vị trí trang trọng Bếp lửa được coi là bộ phận chính trung tâm của ngôi nhà là rất phù hợp với lối sống cũ ít có điều kiện mua sắm quần áo, chăn chiếu Cũng như bản thân ngôi nhà với nhứng vách thưng, sàn mỏng, quá thông thoáng trong mùa đông giá lạnh Tuy nhiên nó cũng phần nào gần gũi với lối sống hiện đại có lò sưởi tạo ấm cúng vừa tạo thói quen bên bếp lửa hồng lâu đời của con người cũng là thể hiện sự sống luôn tồn tại và phát triển Các không gian phụ cũng như hiên phơi phóng rộng rãi có cả bộ phận ngoài trời và trong hiên nhà

để đề phòng mưa nắng thất thường Gầm sàn ngôi nhà ngoài hạn chế làm nơi nhốt trâu bò thì tác dụng của nó tạo nên dòng không khí đối lưu dưới sàn ở là rất lớn đồng thời có thể kết hợp không gian làm nghề phụ vừa thoáng mát vừa tránh mưa nắng, bão lũ và gần gũi với thiên nhiên

Kết cấu các ngôi nhà tuy có vẻ đơn sơ nhưng hợp lý chứng tỏ cho điều đó là

sự tồn tại vững trãi bao đời nay ở khắp các vùng núi phía Bắc Vật liệu khai thác

từ thiên nhiên về môi trường sinh thái ảnh hưởng nghiêm trọng nhưng về mặt tiện nghi ở thực sự có hiệu quả rất tốt và có hiệu quả thẩm mỹ cao, làm cho ngôi nhà sàn gần gũi với thiên nhiên núi rừng hơn

Những nét đẹp trong thẩm mỹ ngôi nhà cũng có nhiều nét nổi trội đó là sự liên hoàn trong tổ chức không gian ở, các chi tiết nhấn trang trí cần thiết trong các không gian bên trong Đặc biệt về tỷ lệ hình dáng ngôi nhà là một sự thành công rất lớn do được gọt rũa đúc kết từ bao đời nay Đó là tỷ lệ từng bộ phận với nhau trong ngôi nhà mà ấn tượng lớn như là hệ thống mái nhà hình mai rùa của người Thái đen Thêm vào đó là hệ thống lan can, cột trống thanh thoát ăn nhập hài hòa vào khung cảnh của đồi núi như một bộ phận không thể thiếu như Khau cút trên mái nhà của người Thái

Khuôn viên mỗi ngôi nhà cũng như quy hoạch làng bản tạo nên một bức tranh bản sắc hấp dẫn giàu chất thơ trang trí thêm cho núi đồi vốn đã hùng vĩ khoáng đạt của miền sơn cước

* Những nhược điểm của ngôi nhà sàn truyền thống của dân tộc Thái:

Điều kiện lạc hậu của nền kinh tế: ở xa người Kinh, điều kiện tiếp xúc với

Trang 30

văn minh có khó khăn đặc biệt ở chế độ cũ Nhân sinh quan cũ của đồng bào các dân tộc ảnh hưởng của tôn giáo và mê tín dị đoan những ảnh hưởng này kéo theo các hủ tục như vai trò của phụ nữ Những quan niệm đã ảnh hưởng đến việc tổ chức một ngôi nhà văn minh, hiện đại Điều kiện lạc hậu về kỹ thuật quá đơn sơ

và giản dị ảnh hưởng đến chất lượng sống Những yếu tố xã hội văn hóa, kinh tế,

kỹ thuật đã phản ánh sâu sắc đến tổ chức không gian đã để lại nhiều vấn đề bất cập Tổng thể có thể thấy là:

+ Dưới gầm nhà sàn nhốt gia xúc gia cầm, gây mất vệ sinh môi trường và ảnh hưởng đến chất lượng sống trong ngôi nhà

+ Về nôi thất bên trong nhà, khu vệ sinh chưa được quan tâm trong việc tổ chức không gian ở Phòng ngủ không được ngăn chia một cách biệt lập, không gian sinh hoạt cho mỗi cá nhân chưa được quan tâm Bếp bao gồm bếp đặt trong nhà chính và bếp nấu nướng và bố trí sử dụng gác xép ngay trên bếp vì vậy dễ gây hỏa hoạn Hệ thống cửa sổ cửa đi không kín khít, không an toàn Tường và sàn mỏng không đáp ứng được yêu cầu cách

âm, chống ồn và chống rét trong mùa lạnh

+ Kết cấu ngôi nhà đơn giản nhiều điểm chưa thật hơp lý chưa đủ độ vững chắc trong điều kiện môi trường nhất là nếu chịu gió bão, lốc lũ

+ Về mặt vật liệu hoàn toàn sử dụng nguồn khai thác từ tự nhiên là nhược điểm hết sức quan trọng Vật liệu thiên nhiên ngày càng quý hiếm cạn kiệt môi trường sinh thái cân bằng vị phá vỡ, đồng thời người dân hết sức

bị động và phải mất một thời gian tích lũy lâu dài mới có thể xây dựng được ngôi nhà của mình

+ Khi xây dựng ngôi nhà ở mới của các dân tộc cần triệt để khai thác những ưu điểm của ngôi nhà truyền thống cũng chính là giữ gìn những giá trị bản sắc kiến trúc của dân tộc Mặt khác ngôi nhà ở mới cần khắc phục những nhược điểm còn tồn tại để tổ chức không gian phù hợp với yêu cầu của vùng miền núi với cuộc sống vệ sinh, văn minh tiện nghi, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững

Trang 31

+ Việc di chuyển trâu bò ra khỏi gầm sàn, quan tâm và đã bắt đầu xây dựng

mô hình trang trại, làng xóm sạch sẽ khang trang đã góp phần cho những bản làng của các dân tộc phát triển và hướng tới những yêu cầu hợp lý về mặt quy hoạch

Bảng 1.2 Ưu nhược điểm nhà ở truyền thống dân tộc Thái (Nguồn: 16)

- Tổ chức không gian nhà sàn phù hợp với điều kiện tự nhiên, ngăn thú dữ và chống

ẩm ướt

- Bếp lửa trong nhà sưởi ấm mùa Đông phù hợp với vật liệu bao che mỏng

- Có hiên phơi phóng và làm nghề phụ

- Khu vệ sinh chưa được tính đến

- Bố trí chuồng trại dưới gầm nhà sàn làm ảnh hưởng đến vệ sinh chúng

- Bếp củi thường đặt bên trong nhà gây khói bụi và dễ gây hỏa hoạn

- Không gian sinh hoạt không được tách bạch, ngăn chia rõ ràng nên không gian riêng tư cho cá nhân và sinh hoạt chung gia đình chưa đảm bảo

- Không gian và diện tích ngôi nhà trở nên chật chội trong điều kiện kinh tế phát triển với nhiều đồ dùng và thiết bị trong nhà hơn

2 Kết cấu - Thể hiện kỹ thuật xây dựng

nhà của dân tộc Thái

- Các mối liên kết thô sơ

- Lưới cột dày, bước cột nhỏ làm hạn chế về diện tích sử dụng

Trang 32

Bảng 1.2 Ưu nhược điểm nhà ở truyền thống dân tộc Thái (Nguồn: 16)

TT Các đặc

- Chiều cao tầng sàn còn hạn chế

- Phương thức xây dựng thủ công, không có sự áp dụng các kỹ thuật xây dựng tiên tiến

4 Vật liệu - Vật liệu làm nhà chủ yếu

khai thác từ gỗ cây rừng và tranh tre nứa lá, mang lại cho ngôi nhà sàn vẻ đẹp gần gũi với thiên nhiên, núi rừng

- Khai thác vật liệu gỗ từ thiên nhiên làm hủy hoại môi trường

- Người dân không chủ động được, phải mất vài năm cho việc chọn gỗ làm nhà

- Sàn và tường nhà bằng phên tre mỏng, không đảm bảo tiện nghi sống, cách âm, cách nhiệt, và khó chống lại sự xâm thực của thời tiết

- Mái nhà lợp bằng tranh dễ cháy, dột và không bền

Trang 33

Bảng 1.2 Ưu nhược điểm nhà ở truyền thống dân tộc Thái (Nguồn: 16)

TT Các đặc

đẹp, hài hòa với thiên nhiên núi rừng hùng vĩ

- Các chi tiết trang trí độc đáo thể hiện phong tục tập quán tín ngưỡng, văn hóa của dân tộc Thái

6 Quy

hoạch

bản làng

- Mang đậm bản sắc truyền thống và phong tục tập quán riêng

- Có tính cộng đồng cao

- Nhà sàn bố trí ven chân núi, thung lũng phù hợp với điều kiện địa hình

- Có khu vực sinh hoạt công cộng

- Quần cư đông đúc nhưng còn ở dạng tự phát

1.2.1 Những tác động đến sự biến đổi ngôi nhà sàn truyền thống của dân tộc Thái (hình 1.22)

* Tác động của sự phát triển kinh tế, xã hội: Trước tiên, đó là những tác

động của sự phát triển kinh tế - xã hội Cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước

Trang 34

thì nền kinh tế khu vực miền núi Tây – Bắc tuy còn lạc hậu nhưng cũng được nâng cao đáng kể Thêm vào đó là sự phát triển của hệ thống giao thông và thông tin liên lạc, thương mại giữa các vùng miền, giữa miền núi và miền xuôi phát triển mạnh mẽ, điện đã được kéo đến từng bản làng, đời sống của người dân miền

núi nói chung cũng như dân tộc Thái nói riêng cũng thay đổi theo

* Tác động của sự phát triển khoa học kỹ thuật: Những tác động của khoa

học - kỹ thuật cũng làm thay đổi lối sống và phương thức sản xuất của dân tộc Thái Người dân đã có điện để dùng, thậm chí mỗi nhà hay mỗi bản mường còn

có máy phát điện nhỏ chạy bằng sức nước Kèm theo đó là các đồ dùng hiện đại như TV, tủ lạnh, xe máy,…Trong sản xuất đồng bào cũng đã áp dụng những khoa học tiên tiến vào sản xuất như dùng máy cày bừa, máy xay sát gạo,…Tất cả điều

đó đã góp phần nâng cao đời sống của người dân tộc Thái trong thời gian qua

Trang 35

* Tác động của giao lưu văn hóa và kinh tế:

Một yếu tố nữa tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi trong ngôi nhà sàn truyền thống của dân tộc Thái đó là sự giao lưu văn hóa và kinh tế giữa các vùng miền Người Thái vốn sống chung với các dân tộc như Tày, Mường, Dao và Kinh, Sự phát triển về giao thông đi lại và các phương tiện thông tin đã làm cho sự giao lưu giữa các dân tộc ngày càng diễn ra mạnh mẽ Ngoài những mặt tích cực thì kéo theo đó là nguy cơ mai một dần những giá trị văn hóa vốn có làm nên bản sắc của dân tộc Thái Người Thái bây giời ít dùng khung cửi tự dệt vải để làm khăn phiêu và chăn đệm quần áo như xưa, thay vào đó người ta mua “vải của nhà nước” Những bộ trang phục Thái với các hoa văn tinh xảo được thay thế bằng quần áo của người Kinh như quần bò, áo phông hoặc áo sơ mi,…mặc với váy và khăn phiêu truyền thống của người Thái Trên vách tường nhà của người Thái bây giờ cũng xuất hiện hình ảnh của các diễn viên màn bạc và các ca sĩ nổi tiếng của Hàn Quốc, Hồng Kông,…

* Sự tác động của quá trình đô thị hóa và gia tăng dân số:

Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội và văn hóa thì quá trình đô thị hóa

và sự gia tăng dân số cũng có tác động đáng kể đến ngôi nhà sàn và cách tổ chức môi trường ở của người Thái Bản làng Thái trước kia nằm giữa thiên nhiên núi rừng thì bây giờ nhiều nơi đã nằm kề đô thị hoặc nằm trọn vẹn trong đô thị Trong các bản làng này, mật độ xây dựng cao, khuôn viên nhà sàn bị thu hẹp lại

do sự gia tăng dân số và diện tích bản làng và đất canh tác bị thu hẹp do nhà nước lấy đất làm đường và xây trụ sở,…Người dân phải cơi nới ngôi nhà sàn và bỏ đi một bên cầu thang để có thêm diện tích ở Ở đây cũng bắt đầu xuất hiện những ngôi nhà cao tầng, đổ mái bằng nằm xen kẽ giữa các ngôi nhà sàn Những ngôi nhà này phần lớn đều là của những người Thái buôn bán khá giả hoặc đi làm việc tại các công sở

Rõ ràng, những thay đổi trên đã dần dần tác động đến cấu trúc ngôi nhà sàn tuyền thống và cách tổ chức môi trường ở của người Thái

Trang 36

1.2.2 Những thay đổi của ngôi nhà sàn truyền thống dân tộc Thái trong thời gian qua

* Sự tác động về vật liệu và phương thức xây dựng: Ngôi nhà của người

Thái đã có những thay đổi nhất định Trước tiên đó là sự thay đổi vật liệu và

phương thức xây dựng Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì nhiều

loại vật liệu mới cũng ra đời Đồng bào miền núi cũng được tiếp cận với nhiều

loại vật liệu mới Người Thái ngày nay có nhiều sự lựa chọn vật liệu cho ngôi nhà

của mình nhằm tạo dựng một ngôi nhà vững chắc hơn, và phù hợp hơn trong điều

kiện mới Thêm vào đó, việc khai thác vật liệu gỗ một cách bừa bãi đã làm cho

nguồn vật liệu này cạn kiệt, vì vậy để xây dựng một ngôi nhà nhanh chóng thì

việc lựa chọn những vật liệu xây dựng hiện đại tỏ ra là một sự lựa chọn tốt hơn

Các ngôi nhà sàn của người Thái bắt đầu thay thế vật liệu lợp mái gianh sang

lợp mái ngói hoặc phiproximang Có hai loại ngói mà người Thái thường dùng là

ngói đất nung và ngói xi măng Sự thay đổi vật liệu lợp mái cũng dẫn theo hàng

loạt thay đổi lớn trong ngôi nhà sàn truyền thống Toàn bộ hệ thống mái mới

bằng ngói hoặc phiproximang có tải trọng lớn hơn nhiều so với mái gianh vì vậy

đòi hỏi một hệ thống kết cấu đủ cứng để đỡ mái và tỷ lệ mái bị thay đổi Vât liệu

bê tông và gạch xây đã được sử dụng kéo theo liên kết mái và kết cấu đỡ mái

cũng thay đổi

Nhiều ngôi nhà đã thay thế bằng cột bê tông, vật liệu lát gạch men Vì vậy

phương thức xây dựng đã thay đổi, người dân không còn dùng lạt buộc và dây

rừng để liên kết các cấu kiện

Việc sử dụng vật liệu bê tông cốt thép và gạch ngói và mầu sắc cũng như

các chi tiết trang trí không có sự tính toán đã dẫn đến ngôi nhà sàn mới trở nên

khô cứng, lạc lõng giữa thiên nhiên núi rừng

* Sự thay đổi trong tổ chức cơ cấu không gian ngôi nhà:

Ngôi nhà sàn của người Thái cũng có sự thay đổi trong việc tổ chức cơ cấu

không gian Dưới tác động của sự phát triển kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật và

sự giao lưu văn hóa thì nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người Thái thay đổi dẫn

đến các cơ cấu không gian trong ngôi nhà sàn cũng thay đổi theo

Trang 37

Sự thay đổi lớn nhất là người dân đã tự động chuyển bếp và chuồng nuôi nhốt gia súc ra ngoài Nhà bếp được xây dựng riêng và có mối liên hệ giao thông với nhà chính Việc di chuyển bếp khỏi không gian kiến trúc ngôi nhà chính đã làm thay đổi cấu tạo mái nhà sàn cổ truyền Trong nhà sàn truyền thống có chi tiết “hau hươn” ở vị trí đầu hồi với công dụng làm nơi thoát khói và thông gió cho ngôi nhà, giờ đây hầu hết những ngôi nhà sàn xây dựng bằng mái ngói đều dùng phên tre hoặc ghép những tấm gỗ để che đầu hồi đi

Bếp khách nhiều nơi cũng không dũng nữa, thay vào đó là các bộ bàn ghế tiếp khách của người Kinh

Gầm sàn trước kia để nhốt gia súc bây giờ đồng bào để các phương tiện đi lại như xe máy, xe đạp hay các máy nông nghiệp như máy xay sát gạo… Những ngôi nhà sát mặt đường, thì không gian dưới tầng sàn được tận dụng làm nơi buôn bán và người Thái nâng chiều cao tầng dưới sàn lên (hình 1.23)

* Sự thay đổi về hình thức ngôi nhà: (hình 2.24; hình 2.25) Cùng với sự

thay đổi về vật liệu lợp mái thì một điều đáng tiếc là ngôi nhà sàn của người Thái đên với mái cong hình mai rùa đã biến mất Nguyên nhân là các vật liệu lợp mái

Trang 38

mới như gạch ngói, tôn hay phiproximang không thể lợp được theo hình cong của mái Bây giờ người dân chỉ làm nhà bốn mái thẳng Thêm vào đó các chi tiết trang trí cũng bị thay thế bởi các chi tiết trang trí và con tiện bán ngoài thị trường, hoàn toàn xa lạ với các mô típ trang trí truyền thống Chi tiết khau cút làm nên bản sắc độc đáo của nhà sàn người Thái hầu như cũng không còn thấy trên mái nhà sàn

Các ngôi nhà sàn người Thái trong các bản làng cũ có giá trị về kiến trúc đều

bị xuống cấp nghiêm trọng và bị sửa chữa, chắp vá cơi nới do người dân không

có điều kiện về kinh tế

Sự giao lưu về văn hóa và phát triển kinh tế cũng làm cho một bộ phận người Thái khá giả làm nhà hoàn toàn theo kiểu mái bằng và kẻ gờ phào nhà của người Kinh

Hình 1.24 Cơ cấu tổ chức không

gian nhà sàn truyền thống

Hình 1.25 Cơ cấu tổ chức không gian

nhà sàn bị biến đổi (Nguồn: 16)

1.3 Các bản làng tái định cư của dân tộc Thái

Là các bản làng được xây dựng theo các thiết kế của các đơn vị tư vấn chuyên nghiệp, các đơn vị thi công xây lắp phục vụ cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội

* Đặc điểm và ưu điểm: hình 1.26, 1.27 đã thống kê các dạng bản làng được

quy hoạch xây dựng theo dạng này cũng như các dạng nhà ở đã được thiết kế xây dựng có thể thấy là:

Trang 39

+ Về mặt lựa chọn vị trí: các khu vực được lựa chọn cũng có căn cứ tương

đối theo hướng truyền thống đó là địa hình có độ dốc vừa phải, có nguồn nước cung cấp, một số nơi sau giai đoạn 2005 đã có bố trí đất canh tác tương đối hợp lý

+ Về bản làng: đã tổ chức và xây dựng hệ thống hạ tầng tương đối hoàn

chỉnh hợp lý Sắp xếp khuôn viên và ngôi nhà trật tự, đất đai công bằng Vấn đề vệ sinh môi trường đã được chú trọng giải quyết

+ Khuôn viên và ngôi nhà: các hộ gia đình đã được bố trí khuôn viên riêng

Các bộ phận công trình xây dựng trong khuôn viên đã khá đầy đủ hợp vệ sinh từ các hệ thống chuồng trại, bếp gia công, khu vệ sinh Ngôi nhà đảm bảo vững chắc lâu dài khi được xây dựng từ vật liệu công nghiệp Vấn đề vệ sinh môi trường trong ngôi nhà được đảm bảo tốt hơn do không cần kết hợp với bên trong nhà và hệ thống chuồng trại gầm sàn Khả năng chống lạnh, an toàn của ngôi nhà được đảm bảo hơn Người dân không còn phải tích lũy thường xuyên để duy trì sửa chữa ngôi nhà Với giai đoạn từ sau 2005 áp dụng hình thức xây dựng hoàn thiện hạ tầng khuyến khích người dân tự mang ngôi nhà cũ đến xây dựng trên nền mới thực sự

đã làm người dân hài lòng hơn rất nhiều với các ưu điểm: giữ gìn tối đa được bản sắc phong tục tập quán, người dân hài lòng vì được sống trong không gian quen thuộc, ấm cúng, tiết kiệm được kinh phí do không phải làm nhà mới để đầu tư vào sản xuất Điều kiện vệ sinh môi trường và tiện nghi sống vẫn tốt hơn do đã được hướng dẫn dời chuyển bếp núc, vệ sinh chung đặt ra phía nhà phụ

* Những bất cập trong tổ chức môi trường ở tại các khu làng bản tái định

cư cho dân tộc Thái trong thời gian qua: qua điều tra phản ánh, phân tích dựa

trên các bản làng đã đưa vào sử dụng (hình 1.26, 1.27) cũng cho thấy sự bất cập tại các bản làng này là rất lơn, các đặc điểm cơ bản có thể thấy là:

Quy hoạch bản làng:

+ Ở giai đoạn thứ nhất từ khoảng 2005 trở về trước do quan điểm, chủ trương xuyên suốt là các bản làng được xây dựng theo một quy hoạch áp

Trang 40

cứng nhắc và máy móc” không căn cứ vào bản sắc riêng, không phân biệt, phân loại cho từng dân tộc, không tham khảo ý kiến người dân Phần lớn các bản làng này được xây dựng, quy hoạch “kiểu trại lính” Các hộ gia đình được sắp xếp cứng nhắc theo các tuyến đường phần lớn

là thẳng Hình thái mỗi ngôi nhà hoàn toàn giống nhau

+ Bất cập rõ rệt nhất của giai đoạn này: Những bản làng truyền thống sắc thái riêng từng dân tộc biến mất, môi trường ở có được đảm bảo tương đối hơn về mặt hạ tầng kỹ thuật (điện, nước, đường sá) Nhưng vấn đề cân bằng sinh thái không còn, và đặc biệt tại những ngôi làng đó là đa số các hộ gia đình dân tộc sau khi dùng hết số kinh phí nhà nước hỗ trợ để mua lương thực, thực phẩm thì hết cách sinh sống, không có đủ đất canh tác cũng không có chuồng trại để nuôi gia súc, không có vườn để trồng trọt, các không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng không còn Kết quả là rất nhiều hộ gia đình sau khi chuyển đến ở làng mới một thời gian lại quay về bám trụ làng cũ để được ở trong những không gian thân thuộc

ấm cúng và quan trọng có kế sinh nhai

+ Ở giai đoạn thứ 2 từ 2006 đến nay: Rút kinh nghiệm giai đoạn 1 đa số các bản làng được quy hoạch có nghiên cứu sâu kỹ hơn về các đặc trưng truyền thống trong sắp xếp bố cục và nhất là đã gắn với sản xuất vật chất

để tự nuôi sống của người dân

+ Bất cập còn tồn tại của phương án này là: vẫn chưa có nghiên cứu bài bản đầy đủ cho từng dân tộc mà mới dựng lại ở dạng chung, hệ thống công trình hạ tầng vẫn được xây dựng theo modun cứng nhắc kiểu hộp “Bê tông” khi gắn vào ngôi nhà cổ truyền hết sức bất cập, phá vỡ hình ảnh trau chuốt hòa nhập của kiến trúc truyền thống Thứ hai là bản thân các ngôi nhà được chuyển đến vẫn là những ngôi nhà sử dụng vật liệu cũ, kết cấu cũ, không gian cũ tức là đa số vẫn có độ bền thấp khi cải tạo sửa chữa hàng năm vẫn khai thác vật liệu chính từ thiên nhiên tứ là vẫn tàn phá thiên nhiên, tiện nghi, điều kiện vệ sinh môi trường chưa tiến bộ triệt

để [21]

Ngày đăng: 20/12/2023, 11:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9- Viện quy hoạch đô thị và nông thôn, (2005), Báo cáo tổng hợp quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt – Trung (Vùng Tây Bắc), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt – Trung (Vùng Tây Bắc)
Tác giả: Viện quy hoạch đô thị và nông thôn
Năm: 2005
10- Bộ giáo dục và đào tạo, (2008), Atlát địa lý Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlát địa lý Việt Nam
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2008
11- Học viện hành chính quốc gia Hà Nội, (2002), Văn hóa bản làng truyền thống các dân tộc Thái, Mông vùng Tây Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa bản làng truyền thống các dân tộc Thái, Mông vùng Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Học viện hành chính quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa dân tộc
Năm: 2002
12- Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, (2005), Các công trình nghiên cứu của bảo tàng dân tộc học Việt nam V, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công trình nghiên cứu của bảo tàng dân tộc học Việt nam V
Tác giả: Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Bảo tàng dân tộc học Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2005
13- Bùi Quang Dũng, (2004), Đặc trưng nhà ở dân tộc Thái và sự biến đổi trong quá trình đổi mới, Luận văn thạc sĩ kiến trúc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng nhà ở dân tộc Thái và sự biến đổi trong quá trình đổi mới
Tác giả: Bùi Quang Dũng
Năm: 2004
14- Lê Thị Quỳnh Lan, (2005), Những biến đổi không gian làng bản vùng Tây Bắc trong quá trình công nghiệp hóa, Luận văn thạc sĩ kiên trúc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi không gian làng bản vùng Tây Bắc trong quá trình công nghiệp hóa
Tác giả: Lê Thị Quỳnh Lan
Năm: 2005
15- Phan Đăng Sơn, (2002), Nhà ở thấp tầng các dân tộc miền núi phía Bắc theo xu hướng công nghiệp hóa, Luận văn thạc sĩ kiến trúc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà ở thấp tầng các dân tộc miền núi phía Bắc theo xu hướng công nghiệp hóa
Tác giả: Phan Đăng Sơn
Năm: 2002
16- Nguyễn Thị Thu Nga, (2006), Kiến trúc nhà ở tái định cư cho dân tộc Thái khi xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La, Luận văn thạc sĩ kiến trúc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc nhà ở tái định cư cho dân tộc Thái khi xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Nga
Năm: 2006
17- TSKH. Nguyễn Văn Đỉnh, (2004), “Nghiên cứu xã hội học về nhà ở”, Kiến trúc Việt Nam, (2), tr.10-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xã hội học về nhà ở”, "Kiến trúc Việt Nam
Tác giả: TSKH. Nguyễn Văn Đỉnh
Năm: 2004
18- Đặng Thái Hoàng, (2002), Các bài nghiên cứu lý luận phê bình dịch thuật kiến trúc, Nhà xuất bản xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài nghiên cứu lý luận phê bình dịch thuật kiến trúc
Tác giả: Đặng Thái Hoàng
Nhà XB: Nhà xuất bản xây dựng
Năm: 2002
19- Nguyễn Việt Hương, (2001). “Bàn về kiến trúc nhà ở bền vững”, Kiến trúc, 87(1), tr.28-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về kiến trúc nhà ở bền vững”, "Kiến trúc
Tác giả: Nguyễn Việt Hương
Năm: 2001
20- PGS.TSKH. Nguyễn Mạnh Thu, (2005), Nhà ở thấp tầng các dân tộc miền núi phía Bắc theo xu hướng công nghiệp hóa xây dựng, Đề tài cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà ở thấp tầng các dân tộc miền núi phía Bắc theo xu hướng công nghiệp hóa xây dựng
Tác giả: PGS.TSKH. Nguyễn Mạnh Thu
Năm: 2005
21- Phan Đăng Sơn, (2011), Tổ chức môi trường ở của các dân tộc miền núi phía Bắc theo hướng sinh thái phát triển bền vững và giữ gìn bản sắc dân tộc, Luận án tiến sĩ kiến trúc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức môi trường ở của các dân tộc miền núi phía Bắc theo hướng sinh thái phát triển bền vững và giữ gìn bản sắc dân tộc
Tác giả: Phan Đăng Sơn
Năm: 2011
22- Jean-yues Martin, (2007), Phát triển bền vững, Nhà xuất bản thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững
Tác giả: Jean-yues Martin
Nhà XB: Nhà xuất bản thế giới
Năm: 2007
1- Vũ Tam Lang, (1986), Các loại hình kiến trúc cổ Việt Nam, Đại học kiến trúc Hà Nội Khác
2- Vũ Văn Huy, (2001), Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Khác
3- Hoàng Nam, Lê Ngọc Thắng (1984), Nhà sàn Thái, Nhà xuất bản văn hóa, Hà Nội Khác
4- Đặng Thị Oanh, (2004), Cầu thang nhà sàn người Thái ở Điện Biên, Nhà xuất bản khoa học Xã hội, Hà Nội Khác
5- Cẩm Trọng, (1978), Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Khác
6- Cẩm Trọng, Phan Hữu Dật, (1994), Văn hóa Thái Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w