2 Kết luận: Riêng về khía cạnh này, nhà làm luật nước ta nên nghiên cứu tham khảo quy định của các nước nhất là pháp luật về tặng cho tài sản để có thể bổ sung vào pháp luật dân sự Việt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
MÔN PHÁP LUẬT VỀ SO SÁNH BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ
ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM GÓC NHÌN SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT CỘNG HOÀ PHÁP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TIẾN SĨ LÊ NGUYỄN GIA THIỆN
HỌC VIÊN:
MSHV: KHOÁ 21
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 5 NĂM 2023
Trang 2MỤC LỤC
Đặt vấn đề 1
1 So sánh quy định về hợp đồng tặng cho tài sản giữa pháp luật Pháp với pháp luật Việt Nam 1
1.1 Hình thức hợp đồng tặng cho tài sản 1
1.2 Hiệu lực hợp đồng tặng cho tài sản 2
1.3 Giải thích hợp đồng tặng cho tài sản 3
1.4 Thực hiện hợp đồng tặng cho tài sản 5
1.5 Nội dung hợp đồng tặng cho tài sản 6
1.6 Thời hạn/ thời hiệu trong hợp đồng tặng cho tài sản 7
2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về Hợp đồng tặng cho tài sản để giải quyết tranh chấp 7
3 Hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 8
Trang 4Đặt vấn đề
Hiện nay, pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản đã và đang được hoàn thiện nhằm đảm bảo phù hợp hơn với thực tiễn Tác giả phân tích các quy định về đối tượng, chủ thể, hình thức, thời điểm phát sinh hiệu lực, việc hủy bỏ của hợp đồng này các vấn đề liên quan hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện; so sánh với quy định về hợp đồng tặng tài sản của cộng hoà Pháp Tác giả cũng dẫn chứng các trường hợp tranh chấp trong thực tiễn, kết quả giải quyết của tòa án và đưa ra nhận xét về bản án Từ đó bạn đọc hiểu rõ hơn thực trạng pháp luật nước ta về hợp đồng tặng cho tài sản
1 So sánh quy định về hợp đồng tặng cho tài sản giữa pháp luật Pháp với pháp luật Việt Nam.
1.1 Hình thức hợp đồng tặng cho tài sản
Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng ghi nhận sự thỏa thuận của các bên, theo đó, bên tặng cho chuyển giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận tài sản đó (457 BLDS 2015) Đối tượng của hợp đồng tặng cho có thể là động sản (Điều 458 Bộ luật dân
sự năm 2015), cũng có thể là bất động sản (Điều 459 Bộ luật dân sự năm 2015) Hình thức của hợp đồng tặng cho phụ thuộc vào đối tượng của nó Nêu đối tượng của hợp đồng tặng cho là động sản thì hợp đồng tặng cho có thể bằng miệng, văn bản Nếu đối tượng của hợp đồng là tài sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc là bất động sản thì hình thức của hợp đồng tặng cho phải là văn bản có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Đôi tượng của hợp đồng tặng cho có thể là quyền tài sản (quyền yêu cầu người khác) Trường hợp này được điều chỉnh bởi các quy định về chuyển quyền yêu cầu Sau khi tặng cho, người được tặng cho trở thành người có quyền đối với bên có nghĩa vụ
Đối tượng tặng cho là quyền sử dụng đẩt Khi tặng cho quyền sử dụng đất phải tuân theo các quy định của Luật đất đai
Theo quy định của Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp, việc tặng cho tài sản là một phương thức xác lập quyền sở hữu, việc tặng cho được coi như một chứng thư tương tự như di chúc: "‘Một người chỉ có thể định đoạt tài sản của mình mà không yêu cầu đền bù bằng cách lập chứng thư tặng cho hoặc di chúc” Một người đã lập chứng thư tặng cho thì không còn có cơ hội sửa đổi chứng thư đó: “Chứng thư tặng cho là văn bản theo đó bên tặng cho từ bỏ ngay lập tức và vĩnh viễn tài sản tặng cho cho bên được tặng cho và bên được tặng cho đồng ý nhận” Quy định này của Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp khẳng định tặng cho tài sản được thể hiện là một giao dịch hợp đồng, nó thể hiện ý chí của hai bên, bên tặng cho “đoạn tuyệt” với tài sản của mình, bên được tặng cho đồng ý nhận tài
1
Trang 5sản đó Điều khác biệt rõ nét nhất của Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp là tặng cho tài sản bắt buộc phải lập thành văn bản, nên tính chất của hợp đồng tặng cho không bao giờ là hợp đồng thực tế, mà luôn luôn là hợp đồng ưng thuận
Mọi chứng thư tặng cho phải được lập trước mặt công chứng viên theo hình thức thông thường của hợp đồng và được công chứng viên lưu bản chính Nếu không tuân thủ các quy định này chứng thư sẽ vô hiệu.1
Nhìn chung, so với hình thức Hợp đồng tặng cho tài sản thì pháp luật Việt Nam quy định linh hoạt hơn là các hình thức như văn bản, lời nói còn pháp luật cộng hòa Pháp quy định chỉ có hình thức là văn bản Điều này thể hiện pháp luật Việt Nam đã có sự chuyển biến linh hoạt nhầm thích ứng với các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tặng cho, thể hiện được ý chí linh hoạt của người tặng cho
1.2 Hiệu lực hợp đồng tặng cho tài sản
Về hiệu lực hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam Có thể được phân thành hai loại đó là hợp đồng tặng cho tài sản không có điều kiện theo hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện Đối với loại hợp đồng tặng cho tài sản không có điều kiện về tài sản liên quan tới bất động sản nếu không có thỏa thuận thì về tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm người được tặng cho nhận tài sản Đối với tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký nếu bất động sản không phải đăng ký với sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản Tuy tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật Theo quy định tại điều 457, 458 Bộ luật dân sự 2015
Về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện theo đó hợp đồng tặng cho là đặc sản
kèm theo điều kiện thi được pháp luật quy định tại điều 462, Bộ luật dân sự 2015 “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho phải thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ hoặc trước hoặc sau khi tặng cho Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.”
Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện
Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại
2
Trang 6Theo Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp, chứng thư tặng cho chỉ ràng buộc người tặng cho và chỉ có hiệu lực kể từ ngày người được tặng cho đã đồng ý nhận một cách rõ ràng Người được tặng cho có thể thể hiện sự đồng ý của mình khi người tặng cho còn sống bằng một chứng thư được lập sau, có công chứng và công chứng viên lưu bản chính Khi
đó, chứng thư tặng cho chỉ có hiệu lực đối với người tặng cho khi người này nhận được chứng thư xác nhận sự đồng ý của người được tặng cho 2
Kết luận: Riêng về khía cạnh này, nhà làm luật nước ta nên nghiên cứu tham khảo quy định của các nước nhất là pháp luật về tặng cho tài sản để có thể bổ sung vào pháp luật dân sự Việt Nam những quy định phối hợp nhằm áp dụng để các điều kiện ràng buộc đối với bên được tặng cho không chỉ phù hợp với pháp luật, đạo đức mà còn phải phù hợp với thực tế
1.3 Giải thích hợp đồng tặng cho tài sản
Theo quy định chung của BLDS, bản chất của hoạt động này là làm rõ nghĩa hay
bổ sung các nội dung còn thiếu của hợp đồng, Hoạt động giải thích hợp đồng có thể thực hiện thông qua 2 hành vi:
Thứ nhất: làm rõ nghĩa cho sự diễn đạt của một hay nhiều nội dung của hợp đồng Thứ hai: bổ sung các thiếu sót trong một hay nhiều quy định của hợp đồng
+ Chủ thể của hoạt động giải thích này là thẩm phán hoặc các chủ thể khác tùy nền tài phán khác nhau
+ Đối tượng đặc trưng của việc giải thích này đó là xác định ý chí chung của các bên giao kết hợp đồng
+ Các trường hợp cần phải giải thích hợp đồng dân sự và hậu quả pháp lý
Để cụ thể hóa các trường hợp cần phải giải thích hợp đồng, điều 404 BLDS 2015
đã quy định như sau: khoản 1, Điều 404:
“Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện hợp đồng.” Sự thống nhất ý chí là yếu tố quan trọng của hợp đồng
Vì vậy, ý chí chung của các bên là căn cứ quan trọng nhất trong giao kết hợp đồng Nếu hợp đồng tồn tại các điều khoản không rõ ràng, có sự mâu thuẫn ý chí các bên hoặc sử dụng ngôn từ khó hiểu thì phải căn cứ vào ý chí trung của các bên để giải thích hợp đồng Tuy nhiên, ngoại trừ trường hợp các bên thừa nhận thì rất khó để tìm ra ý chí chung của các bên
3
Trang 7Lợi ích luôn là mục đích của các bên trong hợp đồng Vì vậy, khi giải thích hợp đồng cần đảm bảo lợi ích chung của cả hai bên Khi một điều khoản được hiểu theo hai hoặc nhiều nghĩa thì phải đảm bảo hợp đồng được giải thích có lợi cho các bên
Khoản 3, Điều 404:
“Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm giao kết hợp đồng.” Vài trường hợp trong hợp đồng không đề cập đến một số điều khoản, nếu xét thấy cần thiết thì cần phải bổ sung một số tập quán đối với loại hợp đồng đó tại địa điểm giao kết hợp đồng để giải thích hợp đồng
Khoản 4, Điều 404:
“Các điều khoản trong hợp đồng phải được giải thích trong mối liên hệ với nhau, sao cho ý nghĩa của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung hợp đồng.” Khi giải thích hợp đồng, cần phải đảm bảo mối liên hệ giữa các điều khoản và sự phù hợp của các điều khoản đối với nội dung sẽ của hợp đồng
Khoản 5, Điều 404:
“Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng.” Ý chí chung của hợp đồng là tiền đề cho nội dung của hợp đồng nên nếu ngôn từ sử dụng trong hợp đồng mâu thuẫn với ý chí chung thì hợp đồng sẽ được giải thích bằng ý chí chung của cả hai bên
Khoản 6, Điều 404:
“Trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia.” Hợp đồng được giao kết dựa trên nguyên tắc bình đẳng Tuy nhiên, trên thực tế, một số hợp đồng vẫn có một bên yếu thế hơn Sự yếu thế có thể do tính chất của hợp đồng, sự kém hiểu biết, kém thông tin,… Trong trường hợp bên lợi thế hơn đưa vào hợp đồng điều khoản có nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải giải thích theo hướng có lợi cho bên yếu thế
Tất cả các trường hợp trên sẽ có nội dung, hiệu lực cũng như hậu quả pháp lý căn
cứ theo những thay đổi của hợp đồng sau khi được giải thích
Đối với pháp luật Pháp, Hợp đồng được giải thích theo quy định chung của các bên chứ không chỉ dựa vào nghĩa đen của ngôn từ của hợp đồng Trong trường hợp ý định chung của các bên không thể xác định được thì hợp đồng được giải thích theo ý nghĩa được hiểu bởi một người có hiểu biết hợp lý khi được đặt vào hoàn cảnh tương tự Tất cả các điều khoản của hợp đồng được giải thích trong mối liên hệ với nhau, sao cho
ý nghĩa của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung của hợp đồng Trong trường
4
Trang 8hợp theo quy định chung của các bên có nhiều hợp đồng được giao kết để thực hiện cùng một giao dịch thì chắc hợp đồng này được giải thích chân cứ vào giao dịch đó.3
Như vậy, việc giải thích hợp đồng được thực hiện theo từng điều kiện và phù hợp với từng vướng mắc để nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên tặng cho và bên được tặng cho Được hiểu là phải đảm bảo các nguyên tắc giải thích hợp đồng theo quy định của pháp luật Pháp luật Trung Quốc chỉ quy định định giải thích về hợp đồng có điều kiện tiêu chuẩn, nguyên tắc giải thích có nhiều nét tương đồng với giải thích hợp đồng mẫu theo pháp luật Việt Nam, tức là sẽ bảo vệ cho bên bị phụ thuộc khi tham gia giao dịch với bên làm chủ cuộc chơi là đưa ra hợp đồng mẫu, điều khoản tiêu chuẩn
1.4 Thực hiện hợp đồng tặng cho tài sản
Về thực hiện hợp đồng tặng cho tài sản, theo pháp luật Việt Nam, để xác định nội dung thực hiện hợp đồng tặng cho tài sản một cách chính xác, Hợp đồng tặng cho tài sản
là một trong những loại hợp đồng dân sự thông dụng trong đời sống xã hội Khác với hợp đồng mua bán tài sản, giữa hai bên giao kết hợp đồng tặng cho tài sản thông thường
có mối quan hệ tình cảm nhất định (tuy không nhất thiết phải có quan hệ ruột thịt, huyết thống) Thông qua định nghĩa tại Điều 457 Bộ luật Dân sự 2015, chúng ta có thể thấy các đặc điểm nổi trội của hợp đồng tặng cho là:
Thứ nhất, hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng liên quan đến việc chuyển quyền
sở hữu tài sản
Thứ hai, việc chuyển quyền sở hữu tài sản này không có đền bù
Thứ ba, cho dù hợp đồng tặng cho tài sản chỉ mang lợi ích cho một bên (người được tặng cho) tuy nhiên trong trường hợp đồng tặng cho tài sản bắt buộc phải có hai bên;
Thứ tư, hợp đồng tặng cho có thể có điều kiện hoặc không có điều kiện
Theo pháp luật Pháp, Thực hiện chứng thư tặng cho tài sản Về chủ thể quy định tại điều 901, phải có tinh thần minh mẫn nếu phát hiện dối trá thì sẽ bị vô hiệu Bên cạnh
đó từ điều 901 đến 911 giải thích về năng lực định đoạt hoặc những tài sản theo chứng thư tặng cho hoặc theo di chúc trong chương II một cách rõ ràng để người tặng cho và người nhận tặng cho là các tổ chức hoặc cá nhân hiểu một cách rõ ràng nhất về quyền và nghĩa vụ của hợp đồng tặng cho tài sản trong chứng thư tặng cho
So với việc thực hiện hợp đồng tặng cho tài sản so với pháp luật của Pháp thì pháp luật Việt Nam quy định tại Điều 404 rõ ràng và ngắn gọn hơn thể hiện được tinh thần thực hiện của hợp đồng tặng cho nhiều hơn trong pháp luật của Pháp
3 Điều 1188, 1189 Bộ luật Dân sự Pháp
5
Trang 91.5 Nội dung hợp đồng tặng cho tài sản
Pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về nội dung hợp đồng tặng cho tài sản, tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan, quy định về hợp đồng tặng cho theo quy định của Bộ luật dân sự qua các thời kỳ, cùng với các hợp đồng tặng cho đã được xác lập và thực hiện Tôi có thể rút ra các nội dung chính của hợp đồng tặng cho tài sản như sau:
Thứ nhất, hợp đồng tặng cho tài sản phải xác định được cụ thể đối tượng của hợp đồng tặng cho là loại tài sản nào Vì đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản ảnh hưởng trực tiếp đến hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản
Thứ hai, hợp đồng tặng cho phải nêu rõ điều kiện tặng cho và thời điểm thực hiện điều kiện tặng cho trước hay sau khi tặng cho tài sản (nếu có)
Thứ ba, hợp đồng tặng cho tài sản phải nêu rõ thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng Vì đây là những nội dung quan trọng để các bên có thể dựa vào để thực hiện hợp đồng đúng thoả thuận, đúng quy định pháp luật
Thứ tư, hợp đồng tặng cho tài sản phải nêu rõ quyền, nghĩa vụ của các bên Nội dung này giúp các bên có thể hiểu rằng vai trò và trách nhiệm của mình trong việc thuân thủ giao kết và thực hiện hợp đồng, không vi phạm hợp đồng để gây ảnh hưởng cho các bên khi giao kết
Cuối cùng, ngoài các nội dung trên, hợp đồng tặng cho tài sản nên có thoả thuận
về trách nhiệm nộp thuế và lệ phí chứng thực, phương thức giải quyết tranh chấp,…
Tương tự như pháp luật Việt Nam, pháp luật Pháp có quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên trong các trường hợp tặng cho cụ thể như:
Mục 2: từ Điều 1078-4 đến 1078-10 quy định về chia - tặng dành cho các ty ở các hàng khác nhau Theo đó, khi tôn thực hiện việc chia tặng, các con của tôn thể thỏa thuận để các ty Thuộc họ có thể nhận chia thay họ, Một phần hoặc toàn bộ
Nội dung của việc tặng cho trong hôn nhân được quy định từ Điều 1081 đến Điều 1099-1
Như vậy, về nội dung hợp đồng tặng cho tài sản, pháp luật Việt Nam và pháp luật Pháp đều không quy định cụ thể tại một điều khoản nào mà những nội dung này nằm rải rác tại các điều khoản hoặc quy định chung, hoặc một số yêu cầu cụ thể của các bên để xác định các vấn đề pháp lý trong quá trình xác lập giao dịch tặng cho, từ đó hoàn thiện, thống nhất và đưa vào hợp đồng tặng cho phù hợp Theo đó, tuỳ vào tính chất, nhu cầu
và mục đích mà các bên có thể soạn thảo nội dung hợp đồng tặng cho tài sản phù hợp với
ý chí của mình
6
Trang 101.6 Thời hạn/ thời hiệu trong hợp đồng tặng cho tài sản
Về thời hạn, theo pháp luật Việt Nam, thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác và được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra4
Trong hợp đồng tặng cho tài sản, thời hạn thường được sử dụng trong loại hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, tức là bên tặng cho tài sản sẽ đưa ra một điều kiện để bên được tặng cho tài sản thực hiện trong một thời hạn nhất định, mà khi hết thời hạn đó nếu điều kiện không được thực hiện thì đối tượng tặng cho tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của bên tặng cho tài sản, trường hợp tài sản đã được tặng cho, bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản đã được tặng cho5 Về thời hiệu, pháp luật Việt Nam quy định thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp
lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định và được áp dụng theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan6 Theo đó, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm7 Thời hiệu khởi kiện này cũng được áp dụng cho hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam
Khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật Cộng Hoà Pháp nghiêm cấm các hợp đồng vĩnh viễn Mỗi bên giao kết có quyền chấm dứt hợp đồng theo các quy định về hợp đồng không xác định thời hạn.8
Điểm khác nhau cơ bản là pháp luật Việt Nam và Pháp luật của Pháp là ở Pháp nghiêm cấm các hợp đồng vĩnh viễn còn ở Việt Nam chưa xuất hiện quy định này
2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về Hợp đồng tặng cho tài sản để giải quyết tranh chấp
Hiện nay, vấn đề có nhiều vướng mắc và khiến nhiều người quan tâm nhất đó là thực tiễn giải quyết các tranh chấp các hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện Theo quy định tại điều 462 Bộ luật dân sự 2015, tặng cho tài sản có điều kiện làm việc bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều yếu vụ trước hoặc sau khi tặng cho Pháp luật dân sự cho phép trong trường hợp tặng cho có điều kiện sau khi tặng cho người tặng cho mình có quyền đòi lại tài sản, nếu bên được tặng cho không thực hiện các điều kiện trong trường hợp họ phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu
8 Điều 1210, Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp
7