1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài mẫu 3 vận dụng phép biện chứng duy vật vào thực tiễn

25 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Phép Biện Chứng Duy Vật Vào Thực Tiễn
Trường học Bệnh viện huyện Nhà Bè
Chuyên ngành Tuyển dụng và Đào tạo Nhân lực
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Thành phố Nhà Bè
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 432,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên việc tuyển dụng, đào tạo nhân lực là một công việc phức tạp, hoàn toàn không thể dựa vào trực giác mà phải theo quy trình, phương pháp khoa học. Bài viết này tìm hiểu về “Vận dụng phép biện chứng duy vật trong triết lý tuyển dụng, đào tạo nhân sự

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 2

1 Giới thiệu về phép biện chứng duy vật 2

1.1 Khái niệm 2

1.2 Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng 3

1.3 Các cặp phạm trù cơ bàn cùa phép biện chứng duy vật 7

1.4 Một số quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật 9

CHƯƠNG II: THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG, ĐÀO TẠO TẠI BỆNH VIỆN HUYỆN NHÀ BÈ 12

1 Giới thiệu tổng quan về Bệnh viện huyện Nhà Bè 12

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 12

1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh 13

1.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy 14

1.4 Quy trình tuyển dụng của Bệnh viện huyện Nhà Bè 15

1.5 Quy trình đào tạo của bệnh viện huyện Nhà Bè 16

2 Vận dụng phép biện chứng duy vật vào thực tiễn tuyển dụng, đào tạo nhân sự 18

2.1 Triết lý tuyển dụng của Bệnh viện huyện Nhà Bè trên cơ sở phép biện chứng duy vật của Triết học 18

2.2 Triết lý đào tạo của Bệnh viện huyện Nhà Bè trên cơ sở phép biện chứng duy vật của Triết học: 21

CHƯƠNG III: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 23

1 Kết luận 23

2 Kiến nghị 23 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của nghệ thuật tuyển dụng, thậm chí có những đơn vị chỉ chuyên đi tuyển dụng cho các đơn vị sử dụng lao động, nhất là lao động chất lượng cao gọi là đơn vị săn đầu người (headhunter) đặt ra thách thức cho đội ngũ tuyển dụng tại phòng Tổ chức của bất kỳ Bệnh viện công lập nào Bệnh viện có thể chọn được người có tiềm năng nhất trong tất cả các ứng viên nộp

hồ sơ hay không, làm sao để tuyển dụng được nhân sự sát với nhu cầu thực tế, làm sao để đào tạo nhân sự đi đúng với năng khiếu, sở trường của nhân viên, làm sao

để giữ chân nhân sự sau khi đào tạo Đó là loạt các câu hỏi làm sao, làm như thế nào được đặt ra đối với người làm công tác tuyển dụng và đào tạo nhân sự tại đơn

vị cần có phương pháp giải và lời giải đáp chính xác

Để tuyển dụng được nhân sự tốt, tạo tiền đề cho sự phát triển của đơn vị đòi hỏi bộ phận tuyển dụng phải nắm chắc những quy luật, nguyên lý chung của sự vật, hiện tượng trong cuộc sống nhắm phán đoán đúng và có hành vi phù hợp trong tuyển dụng Nó không chỉ chi tiết, riêng biệt như là một cuốn sách đắc nhân tâm

mà bao quát, chi phối toàn bộ hoạt động của cuộc sống hiện nay Đó chính là việc hiểu và áp dụng nhuần nhuyễn phép biện chứng duy vật vào thực tiễn tuyển dụng, đào tạo nhân sự Đây chính là lý do em chọn đề tài này để phân tích quy trình tuyển dụng và đào tạo tại đơn vị, xem xét nó dưới góc nhìn duy vật biện chứng, đánh giá việc tuyển dụng và đào tạo tại Bệnh viện huyện Nhà Bè đã tuân theo các nguyên

lý, quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật hay chưa Từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tuyển dụng và đào tạo tại đơn vị, góp một phần và công cuộc thực hiện sứ mệnh chăm sóc sức khỏe nhân dân của Bệnh viện huyện Nhà Bè

Trang 3

2

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG VÀ ĐÀO

TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC

1 Giới thiệu về phép biện chứng duy vật

1.1 Khái niệm

Thuật ngữ "biện chứng" có gốc từ tiếng Hy Lạp là dialektica (với nghĩa là nghệ thuật đàm thoại, tranh luận) Theo nghĩa này, biện chứng là nghệ thuật tranh luận nhằm tìm ra chân lý bằng cách phát hiện các mâu thuẫn trong lập luận của đối phương và nghệ thuật bảo vệ những lập luận của mình Người Hy Lạp cổ đại cho rằng, đã là tri thức đúng thì không thể có mâu thuẫn trong tri thức đó và quá trình

đi tới chân lý là quá trình giải quyết những mâu thuẫn trong lập luận

Trong triết học Mác, thuật ngữ "biện chứng" được dùng đối lập với "siêu hình"

Đó là lý luận đồng thời là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau và trong quá trình vận động, phát triển không ngừng Phương pháp đó không chỉ thấy những sự vật cá biệt, mà còn thấy mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng; không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật, mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật; không chỉ thấy trạng thái tĩnh, mà cồn thấy cả trạng thái động của sự vật; không chỉ thấy "cây" mà còn thấy cả "rừng" Theo Ph.Ăngghen, phương pháp biện chứng "xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong

sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng" Phương pháp

đó mềm dẻo, linh hoạt, thừa nhận trong những trường hợp nhất định, bên cạnh cái

"hoặc là hoặc là", còn có "cả cái này lẫn cái kia" nữa

Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phương pháp biện chứng; giữa lý luận nhận thức với logic biện chứng Sự ra đời của phép biện chứng duy vật là cuộc cách mạng trong phương pháp tư duy triết học; là phương pháp tư duy khác về chất so với các phương pháp tư duy trưởc đó;

là "phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng"

Phép biện chứng duy vật có khả năng đem lại cho con người tính tự giác cao trong mọi hoạt động Mỗi luận điểm của phép biện chứng duy vật là kết quả của

sự nghiên cứu rút ra từ giới tự nhiên, cũng như lịch sử xã hội loài người Mỗi nguyên lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng đều được khối quát và luận giải trên cơ sở khoa học Chính vì vậy, phép biện chứng duy vật đã đưa phép biện chứng từ tự phát đến tự giác

Trang 4

3

1.2 Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng

Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật là hai nguyên lý cơ bản và đóng vai trò xương sống trong phép duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin khi xem xét, kiến giải sự vật, hiện tượng Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên

cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh hiện thực khách quan Trong hệ thống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất Hai nguyên

lý cơ bản gồm:

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới Nguyên lý này biểu hiện thông qua sáu cặp phạm trù cơ bản Nguyên lý về sự phát triển là nguyên tắc lý luận mà trong trong đó khi xem xét

sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật) Nguyên lý này biểu hiện thông qua

ba quy luật cơ bản

1.2.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Khái niệm liên hệ Trong khi cùng tồn tại, các đối tượng luôn tương tác với nhau, qua đó thể hiện các thuộc tính và bộc lộ bản chất bên trong, khẳng định mình

là những đối tượng thực tồn Sự thay đổi các tương tác tất yếu làm đối tượng, các thuộc tính của nó thay đổi, và trong điều kiện có thể còn làm nó biến mất, chuyển hóa thành đối tượng khác Sự tồn tại của đối tượng, sự hiện hữu các thuộc tính của

nó phụ thuộc vào các tương tác giữa nó với các đối tượng khác, chứng tỏ rằng, đối tượng có liên hệ với các đối tượng khác Nhưng thế nào là mối liên hệ?

“Mối liên hệ” là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương

hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau Liên hệ là quan hệ giữa hai đối tượng nếu sự thay đổi của một trong số chúng nhất định làm đối tượng kia thay đổi Ngược lại,

cô lập (tách rời) là trạng thái của các đối tượng, khi sự thay đổi của đối tượng này không ảnh hưởng gì đến các đối tượng khác, không làm chúng thay đổi

Liên hệ và cô lập hoàn toàn không có nghĩa là, một số đối tượng luôn liên hệ, còn những đối tượng khác lại chỉ cô lập Trong các trường hợp liên hệ xét ở trên vẫn có sự cô lập, cũng như ở các trường hợp cô lập vẫn có mối liên hệ qua lại Trong thế giới mọi đối tượng đều trong trạng thái vừa cô lập vừa liên hệ với nhau Chúng liên hệ với nhau ở một số khía cạnh, và không liên hệ với nhau ở những khía cạnh khác, trong chúng có cả những biến đổi khiến các đối tượng khác thay đổi, lẫn những biến đổi không làm các đối tượng khác thay đổi Như vậy, liên hệ

và cô lập thống nhất với nhau mà ví dụ điển hình là quan hệ giữa cơ thể sống và

Trang 5

Trong phép biện chứng duy vật, mối liên hệ phổ biến dùng để khái quát mối liên hệ, sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các giai đoạn phát triển của một sự vật, hiện tượng Cơ sở các mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới, theo đó, các sự vật, hiện tượng trong thế giới dù có đa dạng, có khác nhau đến thế nào đi chăng nữa, thì cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất Các mối liên hệ có tính khách quan, phổ biến và đa dạng, chúng giữ những vai trò khác nhau quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, không nên tuyệt đối hóa mối liên hệ nào

và cũng không nên tách rời mối liên hệ này khỏi các mối liên hệ khác bởi trên thực

tế, các mối liên hệ còn phải được nghiên cứu cụ thể trong sự biến đổi và phát triển của chúng

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát bức tranh toàn cảnh về thế giới trong những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng của nó Tính vô hạn của thế giới khách quan, tính có hạn của sự vật, hiện tượng trong thế giới đó chỉ có thể giải thích được trong mối liên hệ phổ biến và được quy định bằng nhiều mối liên hệ có hình thức, vai trò khác nhau Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, con người rút ra được những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức

và hoạt động thực tiễn

Tính chất của mối liên hệ phổ biến: Phép biện chứng duy vật khẳng định tính khách quan của các mối liên hệ, tác động trong thế giới Có mối liên hệ, tác động giữa các sự vật, hiện tượng vật chất với nhau Có mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng vật chất với các hiện tượng tinh thần Có các mối liên hệ giữa những hiện tượng tinh thần với nhau (mối liên hệ và tác động giữa các hình thức của nhận thức) Các mối liên hệ, tác động đó - suy đến cùng, đều là sự quy định, tác động qua lại, chuyển hóa và phụ thuộc lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng Tính phổ biến của các mối liên hệ thể hiện ở chỗ, bất kỳ nơi đâu, trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy đều có vô vàn các mối liên hệ đa dạng, chúng giữ những vai trò, vị trí khác nhau trong sự vận động, chuyển hóa của các sự vật, hiện tượng Mối liên hệ qua lại, quy định, chuyển hóa lẫn nhau không những diễn ra ở mọi sự vật,

Trang 6

5

hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư duy, mà còn diễn ra giữa các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng Mối liên hệ phổ biến có tính đa dạng, phong phú Có mối liên hệ về mặt không gian và cũng có mối liên hệ về mặt thời gian giữa các sự vật, hiện tượng Có mối liên hệ chung tác động lên toàn bộ hay trong những lĩnh vực rộng lớn của thế giới Có mối liên hệ riêng chỉ tác động trong từng lĩnh vực, từng sự vật và hiện tượng cụ thể Có mối liên hệ trực tiếp giữa nhiều sự vật, hiện tượng, nhưng cũng có những mối liên hệ gián tiếp Có mối liên hệ tất nhiên, cũng có mối liên hệ ngẫu nhiên Có mối liên hệ bản chất cũng có mối liên

hệ không bản chất chỉ đóng vai trò phụ thuộc Có mối liên hệ chủ yếu và có mối liên hệ thứ yếu chúng giữ những vai trò khác nhau quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng

Để phân loại các mối liên hệ như trên, phải tuỳ thuộc vào tính chất và vai trò của từng mối liên hệ Tuy vậy, việc phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối, bởi vì các mối liên hệ của các đối tượng là rất phức tạp, không thể tách chúng khỏi tất cả các mối liên hệ khác Mọi liên hệ còn cần được nghiên cứu cụ thể trong sự biến đổi và phát triển cụ thể của chúng

Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong nhiều mối liên hệ, tác động qua lại với nhau; do vậy, khi nghiên cứu đối tượng cụ thể cần tuân thủ nguyên tắc toàn diện

Từ nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, phép biện chứng khái quát thành nguyên tắc toàn diện với những yêu cầu đối với chủ thể hoạt động nhận thức

và thực tiễn như sau

Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh thể thống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mối liên

hệ của chỉnh thể đó; “cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó”, tức trong chỉnh thể thống nhất của “mối tổng hoà những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với các sự vật khác” (V.I.Lênin)

Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếu của đối tượng

đó và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại, bởi chỉ có như vậy, nhận thức mới có thể phản ánh được đầy đủ sự tồn tại khách quan với nhiều thuộc tính, nhiều mối liên hệ, quan hệ và tác động qua lại của đối tượng

Thứ ba, cần xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác và với môi trường xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp; trong không gian, thời gian nhất định, tức cần nghiên cứu cả những mối liên hệ của đối tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán cả tương lai của nó

Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, một chiều, chỉ thấy mặt này mà không thấy mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải, không thấy mặt bản chất của đối tượng nên dễ rơi vào thuật nguỵ biện (đánh tráo các mối liên hệ cơ bản thành không cơ bản hoặc ngược lại) và chủ nghĩa

Trang 7

6

chiết trung (lắp ghép vô nguyên tắc các mối liên hệ trái ngược nhau vào một mối liên hệ phổ biến)

1.2.2 Nguyên lý về sự phát triển

Trong phép biện chứng duy vật, phát triển dùng để khái quát quá trình vận động

đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Quá trình đó vừa diễn ra dần dần, vừa nhảy vọt làm cho sự vật, hiện tượng cũ mất đi, sự vật, hiện tượng mới về chất ra đời Phát triển là tự thân Động lực của

sự phát triển là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng Phát triển đi theo đường “xoáy ốc”, cái mới dường như lặp lại một số đặc trưng, đặc tính của cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn; thể hiện tính quanh co, phức tạp, có thể

có những bước thụt lùi tương đối trong sự phát triển

Cũng như mối liên hệ phổ biến, phát triển có tính khách quan thể hiện ở chỗ, nguồn gốc của nó nằm trong chính bản thân sự vật, hiện tượng, chứ không phải do tác động từ bên ngoài và đặc biệt không phụ thuộc vào ý thích, ý muốn chủ quan của con người Phát triển có tính phổ biến: sự phát triển có mặt ở khắp mọi nơi trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Phát triển có tính kế thừa, sự vật, hiện tượng mới ra đời không thể là sự phủ định tuyệt đối, phủ định sạch trơn, đoạn tuyệt một cách siêu hình đối với sự vật, hiện tượng cũ Sự vật, hiện tượng mới ra đời từ sự vật, hiện tượng cũ, chứ không phải ra đời từ hư vô, vì vậy trong sự vật, hiện tượng mới còn giữ lại, có chọn lọc và cải tạo các yếu tố còn tác dụng, còn thích hợp với chúng, trong khi vẫn gạt bỏ mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu của sự vật, hiện tượng cũ đang gây cản trở sự vật mới tiếp tục phát triển Phát triển có tính đa dạng, phong phú; tuy sự phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và

tư duy, nhưng mỗi sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau Tính đa dạng và phong phú của sự phát triển còn phụ thuộc vào không gian và thời gian, vào các yếu tố, điều kiện tác động lên sự phát triển đó

Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển giúp nhận thức được rằng, muốn nắm được bản chất, nắm được khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng thì phải

tự giác tuân thủ nguyên tắc phát triển, tránh tư tưởng bảo thủ, trì trệ Nguyên tắc này yêu cầu:

Thứ nhất, khi nghiên cứu, cần đặt đối tượng vào sự vận động, phát hiện xu hướng biến đổi của nó để không chỉ nhận thức nó ở trạng thái hiện tại, mà còn dự báo được khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai

Thứ hai, cần nhận thức được rằng, phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau nên cần tìm hình thức, phương pháp tác động phù hợp để hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển

đó

Thứ ba, phải sớm phát hiện và ủng hộ đối tượng mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho nó phát triển; chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến

Trang 8

7

Thứ tư, trong quá trình thay thế đối tượng cũ bằng đối tượng mới phải biết kế thừa các yếu tố tích cực từ đối tượng cũ và phát triển sáng tạo chúng trong điều kiện mới Tóm lại, muốn nắm được bản chất, khuynh hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu cần “phải xét sự vật trong sự phát triển, trong sự tự vận động trong sự biến đổi của nó”

1.3 Các cặp phạm trù cơ bàn cùa phép biện chứng duy vật

1.3.1 Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất

Theo quan niệm của phép biện chứng duy vật, nhận thức bắt đầu từ sự phản ánh những sự vật, hiện tượng cụ thể của thế giới Nhưng trong quá trình so sánh giữa nhũng sự vật, hiện tượng này với những sự vật, hiện tượng khác; phân biệt chỗ giống nhau và khác nhau giữa chúng, nhận thức đì đến sự phân biệt cái riêng, cái chung Cái riêng là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng nhất định

và cái đơn nhất Cái chung là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính lặp lại trong nhiều sự vật, nhiều hiện tượng Cái đơn nhất là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những đặc điểm chĩ có ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác

Giũa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất có mối liên hệ biện chứng với nhau Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, biểu hiện thông qua cái riêng; ngược lại, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, bao hàm cái chung; cái riêng là cái toàn

bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc hơn cái riêng; cái đơn nhất và cối chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật V.I.Lênin viết: "Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung Cái chung chỉ tồn tại trong cối riêng, thông qua cái riêng Bất cứ cái riêng (nào cũng) là cái chung ( ) Bất cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi vật riêng lẻ Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy

đủ vào cái chung Bất cứ cái riêng nào cũng thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa

mà liên hệ với những cái riêng thuộc loại khác”

1.3.2 Nguyên nhân và kết quả

Nhận thức về sự tác động qua lại, tương tác giữa các mặt, các yếu tố, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau dẫn đến sự xuất hiện các sự vật, hiện tượng mới

và do vậy phát hiện ra mối liên hệ nhân quả Nguyên nhân là sự tương tác qua lại giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tương tác qua lại giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau Giữa nguyên nhân, kết quả có mối liên hệ qua lại, quy định lẫn nhau Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả nên luôn có trước kết quả; sau khi xuất hiện, kết quả có ảnh hưởng tích cực trở lại đối với nguyên nhân Sự phân biệt nguyên nhân, kết quả có tính tương đối Một sự vật, hiện tượng ở trong mối quan

hệ này là nguyên nhân, nhưng lại là kết quả ở trong mối quan hệ khác và ngược lại

Trang 9

8

tạo nên chuỗi nhân - quả vô tận Do vậy, nguyên nhân, kết quả bao giờ cũng ở trong mối quan hệ cụ thể

1.3.3 Tất nhiên và ngẫu nhiên

Trong khi phản ánh hiện thực khách quan, con người nhận thức được tính không một nghĩa, không cùng một giá trị của các mối liên hệ khác nhau của sự vật, hiện tượng nên phân chia chúng thành nhóm các mối liên hệ nhất định phải xảy ra đúng như thế và nhóm các mối liên hệ có thể xảy ra, cũng cố thể không xảy ra, cũng có thể xảy ra thế này hay thế khác Tất nhiên do mối liên hệ bản chất, do những nguyên nhân cơ bản bên trong của sự vật, hiện tượng quy định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác Ngẫu nhiên do mõì liên hệ không bản chất, do những nguyên nhân, hoàn cảnh bên ngoài quy định; có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện; có thể xuất hiện thế này hoặc

có thể xuất hiện thế khác

Giũa tất nhiên và ngẫu nhiên có mối liên hệ biện chứng với nhau Tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình thông qua vô số ngẫu nhiên, còn ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của tất nhiên, bổ sung cho tất nhiên Tất nhiên đóng vai trò chi phôi sự phát triển, còn ngẫu nhiên chỉ có thể làm cho sự phát triển diễn ra nhanh hoặc chậm, trong hình thức này hay hình thức khác Sự phân biệt tất nhiên, ngẫu nhiên có tính tương đôì; trong những điểu kiện nhất định, chúng chuyển hóa lẫn nhau

1.3.4 Nội dung và hình thức

Việc nhận thức nội dung và hình thức gắn liền với việc nghiên cứu các yếu tố quy định sự tồn tại của sự vật và phương thức tồn tại của nó Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng Hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng; là hệ thông các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật, hiện tượng

Giữa nội dung và hình thức có mối liên hệ qua lại, quy định lẫn nhau, trong đó nội dung giữ vai trò quyết định Nội dung đòi hỏi phải có hình thức phù hợp với

nó Khi nội dung thay đổi thì hình thức cũng phải thay đổi theo Tuy nhiên, hình thức cũng có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại nội dung Khi hình thức phù hợp với nội dung, nó là động lực thúc đẩy nội dung phát triển, còn khi không phù hợp, hình thức cản trở sự phát triển của nội dung Cùng một nội dung, trong quá trình phát triển, có thể thể hiện dưới nhiều hình thức và ngược lại, cùng một hình thức có thể phù hợp những nội dung khác nhau

1.3.5 Bản chất và hiện tượng

Khi có được nhận thức tương đối đầy đủ về những mặt, những mối liên hệ tất yếu và những đặc tính riêng của sự vật, thì nhận thức đó vẫn chưa vươn tới sự phản ánh đầy đủ về sự vật Để nhận thức đúng sự vật, từ các hiện tượng phong phú, nhiều vẻ, con người tiếp tục đi sâu, nghiên cứu bản chất của sự vật Bản chất là

Trang 10

9

tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định bên trong, quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật Hiện tượng là những biểu hiện bề ngoài, bên ngoài của sự vật

Giữa bản chất và hiện tượng có mối liên hệ biện chứng với nhau Bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau Sự thống nhất đó thể hiện ở chỗ: bản chất thể hiện thông qua hiện tượng, còn hiện tượng là sự thể hiện của bản chất; bản chất "được ánh lên" thông qua hiện tượng (Hêghen) Tuy vậy, "nếu như hình thái biểu hiện và bản chất sự vật phù hợp trực tiếp với nhau, thì mọi khoa học sẽ trở nên thừa" Hiện tượng thể hiện bản chất trong hình thức đã cải biến, nhiều khi xuyên tạc nội dung thực sự của bản chất bằng cách bổ sung vào bản chất một vài tính chất, yếu tố do hoàn cảnh cụ thể quy định, làm hiện tượng phong phú hơn bản chất Bản chất tương đối ổn định, ít biến đổi hơn, còn hiện tượng "động" hơn, thường xuyên biến đổi hơn

1.3.6 Khả năng và hiện thực

Khi đã nhận thức được bản chất và những mâu thuẫn vốn có của sự vật, hiện tượng, chúng ta có thể phán đoán được sự vật, hiện tượng sẽ biến đổi theo hướng nào, nghĩa là chúng ta có thể nhận thức được đồng thời cả hiện thực và khả năng biến đổi của sự vật, hiện tượng Khả năng là cái hiện chưa xảy ra, nhưng sẽ xảy ra khi có các điều kiện thích hợp Hiện thực là cái đang có, đang tồn tại thực sự Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật Trong hiện thực bao giờ cũng chứa đựng những khả năng nhất định; ngược lại, khả năng lại nằm trong hiện thực và khi đủ điều kiện sẽ biến thành hiện thực mới Mối quan hệ giữa khả năng và hiện thực diễn ra rất phức tạp Trong từng giai đoạn phát triển của sự vật thường xuất hiện nhiều khả năng Khả năng nào biến thành hiện thực là tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể Trong hoạt động thực tiễn phải dự báo các khả năng và tạo điều kiện cho khả năng tốt thành hiện thực và ngăn ngừa khả nàng xấu

Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là hệ thống bất biến,

mà phát triển cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn Mối quan hệ giữa các phạm trù của các ngành khoa học với các phạm trù của phép biện chứng duy vật là mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng Do vây, khi nghiên cứu các phạm trù cần liên hệ chúng với nhau và đấu các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, bởi dù quan trọng đến mấy, chỉ riêng các phạm trù hoặc các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật cũng khồng phản ánh đầy đủ các mối liên hệ của thế giới

1.4 Một số quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

1.4.1 Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất và ngược lại

Quy luật này chỉ ra cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

Trang 11

10

Trong đó, chất lằ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu

cơ giữa các thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải là cái khác Lượng là tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lương, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó Mỗi sự vật đều là

sự thống nhất giữa chất và lượng Giới hạn, trong đó những thay đổi về lượng của

sự vật chưa gây ra những thay đổi căn bản về chất được gọi là độ Những thay đổi

về lượng vượt quá giới hạn độ sẽ làm cho chất của sự vật biến căn bản Điểm mà tại đó sự thay đổi căn bản về chất được thực hiện gọi là điểm nút Bước nhảy là bước thay đổi căn bản về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng trước đó gây ra Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất còn có chiều ngược lại Đến lượt nó, sự thay đổi về chất lại tác động đến lượng, thúc đẩy lượng tiếp tục phát triển

Nắm được nội dung quy luật này sẽ tránh nôn nóng, đốt cháy giai đoạn tích luỹ

về lượng; đồng thời tránh tư tưởng tuyệt đối hóa sự thay đổi về lượng, không kịp thời chuyển những thay đổi về lượng sang nhũng thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính tiến hóa sang những thay đổi mang tính cách mạng và ngược lại không biết sử dụng chất mới để thúc đẩy lượng tiếp tục phát triển

1.4.2 Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Quy luật này là "hạt nhân" của phép biện chứng duy vật, nó chỉ ra nguồn gốc động lực của sự vận động, phát triển Theo phép biện chứng, mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau Mọi sự vật đều có những mặt đối lập Sự tác động giữa chúng tạo thành mâu thuẫn bên trong của sự vật Mâu thuẫn biện chứng là phổ biến, khách quan, vốn có của sự vật Các mặt đối lập lại vừa thông nhất, vừa đấu tranh với nhau Trong đó, thống nhất là tương đối, tạm thời; đấu tranh là tuyệt đối, vĩnh viễn Sự thống nhất và đâu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động, sự phát triển

Quy luật này có ý nghĩa phương pháp luận to lớn trong việc phát hiện và phân tích mâu thuẫn của sự vật cũng như tìm ra con đường đúng đắn để giải quyết mâu thuẫn nhằm thúc dẩy sự vật phát triển

1.4.3 Quy luật phủ định của phủ định

Quy luật này chỉ ra khuynh hướng phát triển của sự vật Phủ định biện chứng

là quá trình khách quan, tự thân, là quá trình kế thừa cái tích cực đã đạt được từ cái cũ, là mắt khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đòi của sự vật, hiện tượng mới cao hơn, tiến bộ hơn Quá trình phủ định của phủ định tạo thành sự vận động, phát triển không ngừng mang tính chu kỳ của thế giói khách quan Trải qua một số lần phủ định, sự vật, hiện tượng dường như lặp lại nhũng giai đoạn đã qua trên cơ sở mới, cao hơn và như vậy, phát triển không đi theo đường thẳng, mà theo đường "xoáy ốc"

Quy luật này có một ý nghĩa phương pháp luận to lớn trong quá trình thay thế

Trang 12

Trong phép biện chứng duy vật, nếu quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi

về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức của sự phát triển; quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập chỉ ra nguyên nhân

và động lực bên trong của sự phát triển thì quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng, hình thức và kết quả của sự phát triển đó Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật định hướng việc nghiên cứu những quy luật đặc thù của các khoa học chuyên ngành và đến lượt mình, các quy luật cơ bản về sự phát triển của thế giới chỉ có tác dụng trên cơ sở và trong sự gắn bó với nhũng quy luật đặc thù Mối quan hệ qua lại giữa các quy luật cơ bản với các quy luật đặc thù tạo nên

cơ sở khách quan của mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với các khoa học chuyên ngành

Ngày đăng: 19/12/2023, 21:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w