Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.Phân tích nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan? Liên hệ chủ trương của Đảng ta trước đổi mới và từ khi đổi mới đến nay.
Trang 1MỤC LỤC
I MỞ BÀI
II NỘI DUNG
1 “ Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan”
1.1 Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức rút ra nguyên tắc “xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan”
a Vật chất quyết định ý thức
b Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
1.2 Phân tích nguyên tắc “xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan”
1.3 Biểu hiện
1.4 Hành động
Trang 21 “ XUẤT PHÁT TỪ THỰC TẾ KHÁCH QUAN, TÔN TRỌNG KHÁCH QUAN”
1.1 Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức rút ra nguyên tắc
“xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan”
Trên cơ sở quan điểm về bản chất vật chất của thế giới, bản chất năng động, sángtạo củaý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, chủ nghĩa duy vậtbiện chứng xây dựng nên một nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, chung nhất đốivới mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người Nguyên tắc đó là: trongmọi hoạt động nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan,tôn trọng khách quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan Theo nguyêntắc phương pháp luận này, mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người chỉ
có thể đúng đắn, thành công và có hiệu quả khi và chỉ khi thực hiện đồng thời giữaviệc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng thực tế khách quan với phát huy tínhnăng động chủ quan; phát huy tính năng động chủ quan phải là trên cơ sở và trongphạm vi điều kiện khách quan, chống chủ quan ý chí trong nhận thức và thực tiễn
Theo quan điểm triết học Mác – Lênin, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện
chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất.
a Vật chất quyết định ý thức
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức.
Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người nênchỉ khi có con người mới có ý thức Con người là kết quả của quá trình phát triểnlâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của ý thức đều làcác dạng tồn tại khác nhau của thế giới vật chất
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức.
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất nên nội dung của ý thức được quyết địnhbởi vật chất
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức.
Phản ánh và sáng tạo là hai thuộc tính không tách rời trong bản chất của ý thức
Trang 3Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của con người là cơ
sở để hình thành, phát triển ý thức, trong đó có ý thức của con người vừa phản ánh,vừa sáng tạo, phản ánh để sáng tạo và sáng tạo trong phản ánh
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức.
Sự biến đổi của ý thức bị cấc quy luật sinh học, các quy luật xã hội và sự tác độngcủa môi trường sống quyết định mà những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất
b Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất.
Thứ nhất, ý thức có thể thay đổi nhanh, chậm, đi song hành so với hiện thực,
nhưng nhìn chung nó thường thay đổi chậm so với sợ biến đổi của thế giới vật chất
Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực
tiễn của con người
Thứ ba, trong sự tác động của ý thức đối với vật chất, nếu ý thức phản ánh đúng
đắn bản chất, quy luật của hiện thực khách quan thì sẽ là nhân tố quan trọng dẫnđến con người hành động đúng và thành công, ảnh hưởng tích cực đến sự tồn tại vàphát triển của đời sống con người Ngược lại, nếu ý thức phản ảnh không đúng bảnchất, quy luật của hiện thực khách quan thì sẽ dẫn đến con người hành động sai vàthất bại, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của con người
Thứ tư, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là trong
thời đại ngày nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, thời đại của cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ hiện đại, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lực lượngsản xuất trực tiếp
1.2 Phân tích nguyên tắc “xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan”
a Khái niệm
Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan là xuất phát từ tính kháchquan của vật chất, có thái độ tôn trọng đối với hiện thực khách quan mà căn bản làtôn trọng quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật; tôn trọng vai trò quyếtđịnh của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của con người, của xã hội.Điều đó đòi hỏi trong nhận thức và hành động con người phải xuất phát từ thực tếkhách quan để xác định mục đích, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, kếhoạch, biện pháp; phải lấy thực tế khách quan làm cơ sở, phương tiện; phải tìm ra
Trang 4những nhân tố vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành lực lượng vật chất để hànhđộng.
Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạocủa ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tíchcực, năng động, sáng tạo ấy Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng tri thứckhoa học; tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học và truyền bá
nó vào quần chúng để làm nó trở thành tri thức, niềm tin của quần chúng, hướngdẫn quần chúng hành động Mặt khác, phải tự giác tu dưỡng rèn luyện để hìnhthành, củng cố nhân sinh quan cách mạng, tình cảm, nghị lực cách mạng để có sựthống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong định hướng hànhđộng
b Biểu hiện
“Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan” biểu hiện ở chỗ: xuấtphát từ tính khách quan của vật chất, có thái độ tôn trọng đối với hiện thực kháchquan, mà căn bản là tôn trọng quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật; tôntọng vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống của con người, của
xã hội Điều đó đòi hỏi trong nhận thức và hành động, con người phải xuất phát từthực tế khách quan để xác định mục đích, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách,
kế hoạch, biện pháp; phải lấy thực tế khách quan làm cơ sở, phương tiện; phải tìm
ra những nhân tố vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành lực lượng vật chất đểhành động
c Ý nghĩa
Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năng động, sángtạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc nhận thức hay biếnđổi đối tượng trong thực tiễn Yêu cầu chủ thể cần phải tôn tọng tri thức khoa học;chủ động, tích cực trong việc học tập, nghiên cứu, nâng cao năng lực, rèn luyện ýchí, hoàn thiện nhân cách
Nguyên tắc trên là bài học khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí trong nhận thức vàhoạt động thức tiễn Mặt khác, cũng cần tránh chủ nghĩa kinh nghiệm, xem thườngtri thức khoa học, xem thường lí luận trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
d Thực hiện nguyên tắc
Trang 5Thực hiện nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quantrong nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải phòng, chống và khắc phục bệnh chủquan duy ý chí; đó là những hành động lấy chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thaycho hiện thực, lấy ý muốn chủ quan làm chính sách, lấy tình cảm làm điểm xuấtphát cho chiến lược, sách lược Đây cũng phải là quá trình chống chủ nghĩa kinhnghiệm, xem thường tri thức khoa học, xem thường lý luận, bảo thủ, trì trệ, thụđộng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất và ýthức thì: vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyếtđịnh ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thựctiễn của con người; vì vậy trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phảixuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan, biết tạo điều kiện
và phương tiện vật chất tổ chức lực lượng thực hiện biến khả năng thành hiện thựcđồng thời phát huy tính năng động chủ quan của mình
Tôn trọng khách quan là tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các quy luật
tự nhiên và xã hội Điều này đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động thựctiễn con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn
cứ cho mọi hoạt động của mình V.I Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh không được lấy
ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuấtphát cho chiến lược và sách lược cách mạng Nếu chỉ xuất phát từý muốn chủ quan,nếu lấyý chí áp đặt cho thực tế, lấyảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phảibệnh chủ quan duyý chí
Từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và từ kinh nghiệm thành công, thất bạitrong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra bài họcquan trọng là “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôntrọng quy luật khách quan” Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH -HĐH, Đảng chủ trương: “ Huy động ngày càng cao mọi nguồn lực cả trong vàngoài nước, đặc biệt là nguồn lực của dân vào công cuộc phát triển đất nước”,muốn vậy phải “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng phát huysức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta rakhỏi tình trạng kém phát triển, thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh”
Mặt khác, cần nhận rõ vai trò tích cực của nhân tốý thức, tinh thần trong việc sửdụng một cách có hiệu quả nhất những điều kiện phương tiện vật chất hiện đang có
Trang 6Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố con người để cải tạothế giới khách quan, phải tạo ra động lực hoạt động cho con người bằng cách quantâm tới đời sống kinh tế, lợi ích thiết thực của quần chúng, phát huy dân chủ rộngrãi
2 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TA TRƯỚC ĐỔI MỚI VÀ TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN NAY
2.1 Chủ trương của Đảng ta trước đổi mới
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày 30/4/1975, cả nướcđộc lập thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng bước vào thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam từ đây có một sự thay đổi lớn: đấtnước thoát khỏi thời kỳ vừa kháng chiến vừa kiến quốc Nhiệm vụ chính lúc này làkhôi phục, ổn định xây dựng và phát triển đất nước trong điều kiện hòa bình Tìnhhình đó đã đặt ra một yêu cầu là cần phải có những chủ trương, chính sách, biệnpháp phù hợp với tình hình mới của đất nước để thúc đẩy kinh tế – xã hội pháttriển Trên thực tế, các chủ trương, chính sách, biện pháp của Đảng ở một số mặttrong thời kỳ này chưa đáp ứng được những yêu cầu đặt ra, đặc biệt là những chủtrương, đường lối trong lĩnh vực kinh tế (những vấn đề liên quan đến lực lượng sảnxuất, quan hệ sản xuất)
Sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, nước ta bước vào thời kỳkhôi phục kinh tế Đảng nhận thấy rõ những khó khăn của nền kinh tế đất nước: cơ
sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém; năng suất lao động thấp, sản xuất chưa đảm bảonhu cầu đời sống và tích luỹ,… Đảng cũng vạch ra những nguyên nhân sâu xa củatình hình trên là nền kinh tế nước ta là sản xuất nhỏ; công tác tổ chức và quản lýkinh tế có nhiều hạn chế,…Nhưng những điểm bất hợp lý trong quan hệ sở hữuĐảng lại chưa chỉ ra Ở miền Bắc, Đảng chủ trương củng cố và hoàn thiện chế độcông hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức toàn dân và tập thể Ở miền Nam,Đảng chủ trương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế.Chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế ở đây là: sửdụng, hạn chế và cải tạo công nghiệp tư bản tư doanh chủ yếu bằng hình thức công
tư hợp doanh; chủ trương hợp tác hoá nông nghiệp; cải tạo thủ công nghiệp bằngcon đường hợp tác hoá là chủ yếu; cải tạo thương nghiệp nhỏ chủ yếu bằng cáchchuyển dần sang sản xuất
Trang 7Như vậy, thực chất của quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phầnkinh tế ở miền Nam cũng như trong cả nước là nhằm xoá bỏ chế độ tư hữu và thiếtlập chế độ công hữu Đành rằng, những người cộng sản muốn xây dựng một xã hội
xã hội chủ nghĩa thì lẽ đương nhiên là phải xoá bỏ chế độ tư hữu Mác đã từngkhẳng định: “những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành côngthức duy nhất này: xoá bỏ chế độ tư hữu” Tuy nhiên, việc xoá bỏ chế độ tư hữunhằm chuyển mọi tư liệu sản xuất vào trong toàn xã hội là mục tiêu rất lâu dài vàphụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phải nhằm phục vụ việcphát triển sản xuất Việc tiến hành cải tạo một cách ào ạt các thành phần kinh tế phi
xã hội chủ nghĩa, cũng như việc quá coi trọng thay đổi quan hệ sở hữu về tư liệusản xuất mà không coi trọng việc giải quyết các khâu tổ chức, quản lý sản xuất vàphân phối đã dẫn tới việc không tìm ra cơ chế gắn người lao động với sản xuất.Tính chủ động, sáng tạo của người lao động bị giảm đi vì mọi tư liệu sản xuất chủyếu trong xã hội phải được sử dụng theo phương hướng và nhiệm vụ của kế hoạchnhà nước Tư liệu lao động từ chỗ là tài sản riêng của người lao động bỗng chốc trởthành những tư liệu được tập thể hoá nên đã làm suy yếu đi một lực lượng sản xuất
to lớn, lợi ích cá nhân không được coi trọng đúng mức, hay nói như lời của một sốnhà nghiên cứu: “ở nước ta trước đây (thời kỳ trước đổi mới), lợi ích kinh tế, đặcbiệt là lợi ích cá nhân người lao động, một động lực trực tiếp của hoạt động xã hộichưa được quan tâm đúng mức Vì thế, sự vận động của nền kinh tế nhìn chung làchậm chạp, kém năng động”
Tại Đại hội IV, Đảng đặc biệt quan tâm tới việc hoàn thiện hệ thống quản lý kinh
tế, nhằm vào những vấn đề quan trọng nhất là tổ chức lại nền sản xuất xã hội chủnghĩa trong phạm vi cả nước “Tổ chức lại tất cả các ngành sản xuất công nghiệp,nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,… trong cả nước theo hướng sản xuất lớn xãhội chủ nghĩa, xoá bỏ tình trạng phân tán, cục bộ, hình thành những ngành kinh tế –
kỹ thuật thống nhất và phát triển trên phạm vi cả nước…” Đồng thời với việc tổchức lại nền sản xuất, Đảng chủ trương cải tiến phương thức quản lý kinh tế, lấy kếhoạch hoá làm chính Kế hoạch hoá trên cơ sở đề cao trách nhiệm và phát huy tínhsáng tạo của các ngành, các địa phương và các cơ sở Trong quản lý kinh tế, Đảngcũng đã nhấn mạnh tới việc phải coi trọng quy luật giá trị; phải thực hiện chế độhạch toán kinh tế; sử dụng tốt thị trường;… Nếu so sánh với công tác quản lý kinh
tế được đề ra tại Đại hội III, thì tới Đại hội IV lần này công tác này đã có nhữngbước chuyển biến nhất định, nhất là khâu kế hoạch hoá Kế hoạch hoá không cònđược nhấn mạnh là “pháp lệnh” như tại Đại hội III, mà đã chú ý hơn tới tính sángtạo của các ngành, các địa phương và các cơ sở
Trang 8Tuy nhiên, việc thực hiện công tác quản lý kinh tế còn nhiều khuyết điểm, đặcbiệt là không gắn kế hoạch với hạch toán kinh tế, do đó kế hoạch chưa thực sự xuấtphát từ thực tế lao động sản xuất, thiếu tính khả thi Đảng vạch rõ: “về tổ chức thựchiện, khuyết điểm, sai lầm của chúng ta là quan liêu, xa rời thực tế, không nhạy bénvới cuộc sống; là bảo thủ, trì trệ, thiếu trách nhiệm trong quản lý kinh tế” Trongkhi đó, cơ chế quản lý quan liêu bao cấp vẫn tiếp tục được duy trì đã ảnh hưởngkhông nhỏ đến nền sản xuất, nhất là trong việc phân phối, lưu thông Nhà nướcđóng vai trò điều tiết giá cả nên đã không kích thích được sản xuất kinh doanh pháttriển Cơ chế quản lý quan liêu bao cấp với đặc điểm “tách rời việc trả công laođộng với số lượng và chất lượng lao động”, kết hợp với nguyên tắc “phân phối theolao động” đã làm cho chế độ phân phối mang tính bình quân, do đó không kíchthích được sự nhiệt tình và khả năng tìm tòi sáng tạo của người lao động.
Trong kế hoạch phát triển kinh tế được đề ra tại Đại hội IV, Đảng đã có sựchuyển hướng tương đối phù hợp với điều kiện nước ta Từ chủ trương ưu tiên pháttriển công nghiệp nặng được đề ra tại Đại hội III, tới Đại hội IV Đảng đặt ra nhiệm
vụ tập trung cao độ lực lượng cả nước, của các ngành, các cấp, tạo ra một bướcphát triển vượt bậc về nông nghiệp… Sự chuyển hướng này có ý nghĩa rất lớn đốivới việc giải quyết tình trạng thiếu lương thực, khai thác một cách triệt để hơn cácnguồn lực trong nước, đồng thời sẽ tạo ra được những điều kiện và tiền đề cần thiếtcho những bước đi tiếp theo
Trong những năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, đất nước ta lại phải đương đầuvới 2 cuộc xung đột ở biên giới phía Bắc và cuộc xung đột biên giới phía TâyNam Tình hình đó ảnh hưởng không nhỏ tới công cuộc khôi phục và phát triểnkinh tế ở nước ta Nền kinh tế đất nước vốn đã gặp rất nhiều khó khăn nay lại phảiđương đầu với những kẻ thù mới khiến tình hình ngày càng trở nên nghiêm trọng.Kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế trong 5 năm (1976-1980) chưa thu hẹp đượcnhững mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân Sản xuất phát triểnchậm trong khi số dân tăng nhanh Thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được tiêudùng xã hội, lương thực và các hàng tiêu dùng đều thiếu
Trước sự yếu kém của nền kinh tế đất nước, tại Đại hội V năm 1982, Đảng đã cónhiều chủ trương mới cả trong chiến lược phát triển kinh tế và cải tạo quan hệ sảnxuất Từ Đại hội III năm 1960, Đảng luôn khẳng định công nghiệp hoá là nhiệm vụtrung tâm của thời kỳ quá độ Đến Đại hội V này, điều mới và quan trọng là Đảng
Trang 9đã xác định cụ thể nội dung và hình thức công nghiệp hóa trong chặng đường đầutiên Đó là “tập trung phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trậnhàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên xã hội chủ nghĩa”
Gắn liền với việc đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, tại Đại hội V, Đảng chủtrương tiếp tục đẩy mạnh hợp tác hoá nông nghiệp ở Nam bộ, từng bước phát huytác dụng của hợp tác hoá đối với việc đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủnghĩa và xây dựng nông thôn mới Rút kinh nghiệm từ phong trào hợp tác hoátrong những năm trước đây đưa quy mô hợp tác xã nông nghiệp lên quá lớn ở một
số địa phương, trong chủ trương lần này, Đảng nhấn mạnh tới việc ổn định quy môhợp tác xã và tập đoàn sản xuất, tổ chức tốt việc điều chỉnh quy mô trong nhữngtrường hợp cần thiết Một bước tiến mới trong việc xây dựng và củng cố hợp tác xã
là Đảng chủ trương “áp dụng rộng rãi khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm laođộng và người lao động” Chủ trương này đã mở ra một phương hướng đúng đắncho việc củng cố quan hệ kinh tế tập thể ở nông thôn, vì nó đã bước đầu thừa nhậnquyền tự chủ của nông dân Có thể coi đây là khâu đột phá đầu tiên trong tiến trìnhđổi mới, là một tiền đề quan trọng để tiến tới sự đổi mới toàn diện và sâu sắc nềnkinh tế xã hội
Trong suốt thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm 1981-1985, phương thức khoán sảnphẩm này đã góp một phần quan trọng tạo nên một bước phát triển của nền sảnxuất nông nghiệp Nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 4,9% so với 1,9% hàngnăm của thời kỳ 1976-1980 Sản xuất lương thực có bước phát triển quan trọng,mức bình quân hàng năm từ 13,4 triệu tấn trong thời kỳ 1976-1980 đã tăng lên 17triệu tấn trong thời kỳ 1981-1985 (tuy nhiên cũng cần nhấn mạnh rằng, trong thờigian này, Đảng chủ trương tập trung phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp
là mặt trận hàng đầu)
Tới hội nghị Trung ương tháng 7-1984, những kết quả tốt đẹp do áp dụng chínhsách khoán sản phẩm trong nông nghiệp đã được Đảng rút kinh nghiệm và chophép áp dụng vào trong sản xuất công nghiệp, với khuyến khích bằng vật chấttrong tìm kiếm nguyên vật liệu sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và sử dụng lợi nhuậnthu được từ sản phẩm ngoài kế hoạch cũng như cho phép giám đốc được quyết định
về vấn đề lực lượng lao động của doanh nghiệp Với những điều chỉnh này đã bướcđầu tạo được tính độc lập tự chủ của các doanh nghiệp nhà nước, do đó đã gópphần làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm Nhưng lúc này kế hoạch sản xuất,lãi suất, phần nộp ngân sách, mức lương và đầu tư của doanh nghiệp vẫn theo kếhoạch nhà nước, vì vậy mà sự giải phóng sức sản xuất của các doanh nghiệp vẫn
Trang 10hạn chế Tình hình đó đã đặt ra yêu cầu là cần phải mau chóng có những chủtrương, biện pháp hữu hiệu hơn có tác dụng giải phóng sức lao động mạnh mẽ, đặcbiệt là cần phải tự do hoá quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và tài chính doanhnghiệp, để thực hiện được điều đó thì cần thiết phải thay đổi cơ chế quản lý củaNhà nước.
Tuy ở Đại hội V này Đảng đã có một số điều chỉnh tương đối hợp lý, nhưng nhìnchung những điều chỉnh đó so với yêu cầu của thực tế vẫn còn một khoảng cáchkhá xa, nhiều điểm bất hợp lý vẫn còn tồn tại trong đường lối kinh tế của đảng, quátrình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩavẫn tiếp tục được tiến hành theo hướng mà Đại hội IV đã đề ra Đảng chủ trương:đối với công nghiệp tư bản tư doanh vừa sử dụng vừa cải tạo dưới hình thức công
tư hợp doanh hoặc các hình thức khác, đối với tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp vàcác ngành dịch vụ, tuỳ theo đặc điểm của từng ngành, nghề mà tổ chức các hìnhthức làm ăn tập thể hay kinh doanh cá thể… Như vậy, trong một thời gian nhấtđịnh, ở miền Bắc nước ta có 3 thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể và cá thể), ởmiền Nam có 5 thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, công tư hợp doanh, cá thể
và tư bản tư nhân)
Mặc dù thực tiễn đất nước sau nhiều năm thực hiện chủ trương cải tạo theohướng như trên là không hợp lý, không đảm bảo việc phát triển sản xuất, nhưngnhững chủ trương được đề ra tại Đại hội V về việc cải tạo các thành phần kinh tế về
cơ bản vẫn giống như tại Đại hội IV Tuy công cuộc cải tạo đã được tiến hành trongnhiều năm, nhưng chúng ta chưa xác định rõ ràng, nhất quán những quan điểm, chủtrương và chính sách chỉ đạo công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa Hơn nữa, trongviệc tổ chức thực hiện còn mắc quá nhiều sai lầm, tư tưởng nóng vội muốn xoá bỏngay chế độ tư hữu để mau chóng xác lập một quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đãdẫn đến “cách làm thường theo kiểu chiến dịch, gò ép, chạy theo số lượng, coi nhẹchất lượng và hiệu quả, sau những đợt làm nóng vội, lại buông lỏng Do đó, không
ít tổ chức kinh tế được gọi là công tư hợp doanh, hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất,chỉ có hình thức, không có thực chất của quan hệ sản xuất mới”
Sau hơn một thập kỷ nhận thấy rõ những hạn chế của cơ chế quản lý hành chínhquan liêu bao cấp, nhưng phải tới Đại hội V Đảng mới có một chủ trương thực sựmang tính bước ngoặt để xác lập một cơ chế quản lý mới về kinh tế thay cho cơ chế
cũ Đảng chủ trương “đổi mới chế độ quản lý và kế hoạch hoá hiện hành, xoá bỏ cơchế quản lý hành chính quan liêu, bao cấp, khắc phục bằng được tình trạng bảo thủ,trì trệ, vô trách nhiệm, vô kỷ luật, phát huy động lực làm chủ tập thể, nâng cao tính