Với sinh viên đại học, tri thức là người bạn song hành trên chặng đường mở rộng thế giới quan và tiếp cận đến những sáng kiến, thành tựu đồ sộ của loài người, từ đó là bước đệm cho dòng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài: Quan điểm của triết học Mác - Lênin về tri thức, vai trò của tri thức và sự vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên
Họ và tên: Nguyễn Huyền Đan
Mã số sinh viên: 6 Lớp TC: Triết học Mác – Lênin (221)_39
GV hướng dẫn: TS Lê Thị Hồng
Hà Nội, 2022
Trang 2MỞ ĐẦU
Chính khách người Anh nổi tiếng Francis Bacon từng nói: “Tri thức là sức mạnh” Sau này Lê-nin, nhà triết học, nhà chính trị vĩ đại đã phát triển thành:
“Tri thức là sức mạnh Ai có tri thức, người đó có sức mạnh” Thật vậy,
không ai có thể phủ nhận sức mạnh làm thay đổi thế giới của tri thức Nhờ có tri thức mà con người có thể tách mình ra khỏi thế giới loài vật hoang dã, trở thành loài người văn minh thông qua hệ thống chữ viết, văn hóa trong xã hội loài người Và hiện tại, con người đạt được vô số thành tựu trong rất nhiều lĩnh vực như kinh tế, công nghệ thông tin, sinh học, vật lí, hàng không,… đều
do có tri thức Không chỉ có vậy, đất nước ta đang trên con đường cách mạng công nghệ 4.0 lẫn công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thế nên chúng ta càng cần đến tri thức và cần phát triển tri thức để đưa nền kinh tế nước nhà bắt kịp và phát triển cùng thế giới
Có được tri thức và vận dụng tri thức mình có được vào trong đời sống thực tế chính là cách hiệu quả nhất để rèn luyện và phát triển bản thân, tự tạo nên giá trị của chính mình Với sinh viên đại học, tri thức là người bạn song hành trên chặng đường mở rộng thế giới quan và tiếp cận đến những sáng kiến, thành tựu đồ sộ của loài người, từ đó là bước đệm cho dòng sông tri thức tiếp tục được tuôn chảy Nắm trong tay tri thức, không thể phủ nhận rằng quá trình học tập và nghiên cứu của sinh viên sẽ trở nên dễ dàng và đạt hiệu quả cao hơn Chính vì vậy, tìm hiểu quan điểm của triết học Mác – Lênin về vấn đề tri thức là gì, vai trò của tri thức cũng như sự vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên là việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết
NỘI DUNG
1 QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ TRI THỨC, VAI TRÒ CỦA TRI THỨC.
1.1 Tri thức là gì?
1.1.1 Khái niệm về tri thức
Tri thức đã có từ lâu trong lịch sử, có thể nói từ khi con người bắt đầu có ý thức thì lúc đó có tri thức Trải qua một thời gian dài phát triển của lịch sử, cho đến những thập kỷ gần đây tri thức và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội mới được đề cặp nhiều Vậy tri thức là gì?
Có rất nhiều cách định nghĩa về tri thức nhưng có thể hiểu Tri thức là kết quả quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, làm tái hiện trong tư
Trang 3tưởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng dưới hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký hiệu khác
Thời kỳ nguyên thuỷ, tri thức được tích luỹ rất ít, một số ít thông tin được ứng dụng vào sản xuất, yếu tố sản xuất chỉ là đất đai và sức lao động Dần dần, kỹ thuật phát triển, tri thức được tích luỹ tương đối nhiều, một lượng trung bình thông tin được ứng dụng vào sản xuất, tri thức được dùng nhưng vẫn còn tương đối ít, được dùng gián tiếp vảo sản xuất, kỹ thuật Và đến thời kỳ bùng
nổ thông tin các phát minh sáng chế, cách mạng khoa học kỹ thuật, một lượng siêu lớn thông tin được ứng dụng trực tiếp vào sản xuất, khoa học và kĩ thuật
là sức sản xuất hàng đầu Do vậy, tri thức là nhận thức và kinh nghiệm mà loài người thu được trong quá trình cải tạo thế giới
1.1.2 Nguồn gốc của tri thức
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, ý thức bao gồm các yếu tố cấu thành như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí trong đó tri thức là yếu tố
cơ bản, cốt lõi Vậy nên có thể nói rằng sự ra đời của ý thức cũng chính là nguồn gốc của tri thức
Hiện nay có rất nhiều quan điểm cho giải thích cho nguồn gốc của ý thức Quan điểm duy vật biện chứng thì cho rằng ý thức có 2 nguồn gốc: nguồn gốc
tự nhiên và nguồn gốc xã hội
a) Nguồn gốc tự nhiên
Cụm từ “tự nhiên” đã dần khái quát rằng nội dung của ý thức sẽ xuất phát từ
sự hình thành của bộ óc con người, do con người tự hình thành trong bộ não, dưới sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau như hoàn cảnh, giáo dục,… Hoạt động của bộ óc con người sẽ dần dần giúp cho con người hình thành các mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan, từ đó chính những sự vật, sự việc xuất phát từ thực tiễn sẽ tạo ra cho con người sự sáng tạo, năng động Trên bộ phận của con người thì não bộ chính là bộ phận điều chỉnh, hành vi của con người Và ý thức chính là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là chức năng của bộ óc, là kết quả sau quá trình liên kết, hoạt động của não bộ để tạo ra kết quả là hành vi con người Chính vì vậy
mà một bộ não hoàn thiện và phát triển đầy đủ sẽ tác động đến ý thức của con người, khiến ý thức cũng trở nên phong phú và sâu sắc hơn
Đồng thời những mối quan hệ xoay quanh giữa con người với nhau trong thế giới khách quan cũng sẽ tạo nên và tác động sâu sắc đến việc suy nghĩ của con người Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan sẽ thông qua hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc con người, hình thành nên quá
Trang 4trình phản ánh Một hành vi được thực hiện chính là sự phản ánh rõ rệt nhất đối với ý thức
b) Nguồn gốc xã hội
Xã hội ở đây được hiểu là những hành vi lao động, hành vi ứng xử và ngôn ngữ của con người được sử dụng để thể hiện những nội dung của ý thức một cách chi tiết và chân thực nhất
Lao động chính là những hoạt động của con người sử dụng công cụ tác động
vào giới tự nhiên, nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người Lao động sẽ tác động đến ý thức của con người, đưa ra chỉ dẫn con người cần phải làm gì và làm như thế nào để có thể thực hiện công việc một cách có hiệu quả nhất, vừa tiết kiệm được thời gian và công sức Do đó, lao động có một tác động rất lớn đến việc hình thành suy nghĩ của con người
Hành vi ứng xử giữa người với người cũng chính là yếu tố tác động sâu sắc
đến việc hình thành, thay đổi ý thức của mỗi người Khi một đứa trẻ được giáo dục và sinh sống tại một môi trường sống lành mạnh, văn minh sẽ vô tình giúp đứa trẻ nhận thức rằng bản thân cũng phải có những hành vi ứng xử như thế thì mới đúng và giống với mọi người xung quanh Như vậy, việc con người đối xử với nhau chân thật hay lừa dối lẫn nhau cũng sẽ khiến cho người rơi vào hoàn cảnh đó nhận thức được việc làm như thế là sai hay đúng, có lợi cho bản thân hay không, từ đó dần hình thành nên suy nghĩ của bản thân
Ngôn ngữ cũng tương tự như hành vi con người Con người sử dụng chung
một loại ngôn ngữ trong một quốc gia sẽ nhận thức được đây là một dân tộc
và cần có những hành vi ứng xử phù hợp hơn để trở thành một phần của dân tộc đấy Đồng thời, khi con người sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ ra quan điểm của bản thân cũng sẽ khiến cho đối phương nhận thức được những hàm ý trong lời nói, từ đó hình thành nên ý thức của bản thân về một vụ việc nào đó
Do đó, ngôn ngữ chính là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức, không có ngôn ngữ thì thì ý thức không thể tồn tại được Như vậy, chúng ta có thể thấy ý thức được hình thành dựa trên hai nguồn gốc trên Những yếu tố trên sẽ tác động mạnh mẽ đến việc hình thành ý thức của con người Nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai sự kích thích chủ yếu làm cho bộ óc vượn dần dần chuyển hóa thành bộ óc người, khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức Sự ra đời của ý thức là khởi nguồn cho những tri thức đầu tiên của loài người về thế giới khách quan Ý thức ngày một phát triển dẫn đến tri thức càng được mở rộng và phong phú hơn
Trang 51.1.3 Phân loại tri thức.
Tri thức được phân thành tri thức thông thường và tri thức khoa học
a) Tri thức thông thường:
Hiểu một cách đơn giản và dễ hình dung nhất là trong đời sống, con người thường phải thường xuyên tiếp xúc với tự nhiên, với xã hội, phải giải quyết nhiều công việc thực tế hàng ngày Những công việc này người ta đều có thể cảm nhận bằng các giác quan để cảm nhận về bản thân, về thế giới xung quanh rồi rút ra kinh nghiệm sống Đó là tri thức thông thường mà không phải
ai cũng biết
b) Tri thức khoa học:
Phức tạp hơn tri thức thông thường Sự phát triển của lao động sản xuất và hoạt động xã hội là nguyên nhân khiến con người phải tìm hiểu sâu hơn, nghiên cứu đầy đủ hơn về thế giới và tìm hiểu khả năng nhận thức của chính mình Tri thức khoa học là hệ thống tri thức khái quát về các sự vật, hiện tượng của thế giới và các quy luật vận động của chúng Đây là hệ thông tri thức được xác lập dựa trên căn cứ xác đáng có thể kiểm tra được và có tính ức dụng trong các hoạt động phát triển đất nước hay bất cứ hoạt động nào cần tới vận dụng sâu tri thức Tri thức khoa học được phân thành tri thức kinh
nghiệm và tri thức lý luận
Tri thức khoa học và tri thức thông thường khác nhau nhưng lại bổ trợ cho nhau để cùng tồn tại Tri thức khoa học tuy phức tạp hơn tri thức thông
thường nhưng nó có thể xuất phát từ tri thức thông thường Phải có những cảm nhận, đánh giá khách quan từ ý thức thì tri thức khoa học mới có cơ sở
để tiến hành những nghiên cứu khoa học một cách sâu sắc
1.2 Vai trò của tri thức
1.2.1 Vai trò của tri thức trong đời sống - xã hội
Tri thức đã và đang ngày càng trở lên quan trọng đối với đời sống xã hội Nó tác động trực tiếp đến các lĩnh vực của xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá giáo dục
1.2.1.1 Vai trò của tri thức đối với kinh tế - nền kinh tế tri thức
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó quá trình thu nhận truyền bá, sử dụng, khai thác, sáng tạo tri thức trở thành thành phần chủ đạo trong quá trình tạo ra của cải
Trang 6Thực tiễn hai thập niên qua đã khẳng định, dưới tác động của cách mạng khoa học – công nghệ và toàn cầu hoá, kinh tế tri thức đang hình thành ở nhiều nước phát triển và sẽ trở thành một xu thế quốc tế lớn trong một, hai thập niên tới Sự xuất hiện của các hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên tri thức Vốn tri thức là tri thức được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mục đích sinh lợi (tăng thêm giá trị) Trong văn minh nông nghiệp thì sức lao động, đất đai và vốn là những yếu tố của sản xuất công nghiệp, vốn, đất đai và nhất là sức lao động trở thành hàng hoá với tư cách là những yếu tố quan trọng trong
sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển xã hội phong kiến thành xã hội
tư bản trong lịch sử Còn trong kinh tế tri thức, yếu tố của sự phát triển nền kinh tế - xã hội không chỉ bao gồm vốn tiền tệ, đất đai và dựa trên lao động giản đơn mà chủ yếu dựa trên lao động trí tuệ gắn với tri thức Như vậy vốn tri thức trở thành yếu tố thứ nhất trong hàm sản xuất thay vì yếu tố sức lao động vốn tiền tệ và đất đai Vốn tri thức ở đây bao gồm các công nhân tri thức, các nhà quản lý có trình độ cao, các công nghệ mới Vốn tri thức đóng vai trò to lớn trong việc rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển Sự xuất hiện kinh tế tri thức vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam 1.2.1.2 Vai trò tri thức đối với chính trị
Tri thức đem lại cho con người những sự hiểu biết, kiến thức Người có tri thức là có khả năng tư duy lý luận, khả năng phân tích tiếp cận vấn đề một cách sát thực, đúng đắn Điều này rất quan trọng, một đất nước rất cần những con người như vậy để điều hành công việc chính trị Nó quyết định đến vận mệnh của một quốc gia
Có được tri thức sẽ củng cố cho chúng ta niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường cách mạng mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn Hiện nay, kẻ thù sử dụng nhiều chiêu thức “Diễn biến hòa bình” trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, tư tưởng Người cán bộ được trang bị tri thức đầy đủ, đúng đắn sẽ nhận thức được những diễn biến phức tạp trong cuộc đấu tranh với kẻ thù, nâng cao tinh thần cảnh giác Những tri thức lý luận giúp chúng ta có được sự kiên định trong cuộc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, cơ hội, phản động, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; giữ vững và tăng cường trận địa tư tưởng xã hội chủ nghĩa, làm thất bại âm mưu “Diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá của kẻ thù
1.2.1.3 Vai trò tri thức đối với văn hoá - giáo dục
Trang 7Tri thức cũng có vai trò rất lớn đến văn hoá - giáo dục của một quốc gia Nó giúp con người có được khả năng tiếp cận, lĩnh hội những kiến thức, ý thức của con người được nâng cao Và do đó nền văn hoá ngày càng lành mạnh, con người thu nạp thêm những hiểu biết về tầm quan trọng của giáo dục Từ
đó xây dựng đất nước ngày càng lớn mạnh, phồn vinh
1.2.2 Vai trò của tri thức đối với cá nhân
Đối với mỗi người, tri thức lại càng cần thiết hơn bao giờ hết Tất cả mỗi người muốn nâng cao chất lượng đời sống và muốn sống có ích đều phải tiếp nhận tri thức Bởi tri thức mang đến cho ta những hiểu biết thuộc bản chất của các hiện tượng đời sống, giúp ta tìm hiểu sâu về nguồn cội, về quá trình tiến hoá và cả những phát minh vĩ đại trên thế giới Tri thức đưa ta đến những vùng trời mới của sự hiểu biết, thôi thúc ta khám phá , sáng tạo ra những cái mới cái hay Tri thức giúp bản thân ngày càng hoàn thiện hơn, biết lựa chọn những tinh hoa để tiếp nhận, tìm được lối đi đúng đắn để xây dựng bản thân Tri thức còn là bản lề để mỗi người cố gắng cho tương lai, là nền móng vững chắc để phát triển trí tuệ và kỹ năng thực hành cần có trong đời sống xã hội Con người có tri thức, nhận thức tốt sẽ có khả năng làm chủ cuộc sống, làm chủ bản thân và không ngừng học hỏi để đóng góp cho xã hội Khi con người
có tri thức cuộc sống sẽ biết cách sống theo chuẩn mực đạo đức, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của thế hệ đi trước để lại Tri thức cộng đồng được hình thành chính là nhờ sự tiếp thu và học hỏi qua bao thế hệ, tạo nên một xã hội phát triển và văn minh Có được tri thức là có thể hội nhập quốc tế, giao lưu, học hỏi kiến thức, sự sáng tạo và truyền thống tốt đẹp của các quốc gia khác Tri thức là công cụ giúp hình thành và phát triển giá trị của không chỉ cá nhân mà còn toàn cộng đồng
2 VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ TRI THỨC TRONG NGHIÊN CỨU, HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN.
2.1 Thực trạng nghiên cứu, học tập của sinh viên hiện nay
Trong vài năm vừa qua, nước ta cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới đã phải trải qua thời kỳ khó khăn cực độ bởi virus gây ra bệnh viêm đường hô hấp cấp tính Covid-19 hoành hành Dịch bệnh không chỉ gây trì trệ nền kinh
tế toàn cầu, mà còn gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình học tập và nghiên cứu của sinh viên Một số giải pháp kịp thời đã được chính phủ thông qua để ngăn chặn những tác động xấu gây gián đoạn quá trình tiếp thu tri thức của sinh viên cả nước Điển hình trong số những giải pháp đó là hình thức học trực tuyến
Trang 82.1.1 Một số thực trạng học tập và nghiên cứu trực tuyến tại các trường đại học ở Việt Nam
Lợi thế của đào tạo trực tuyến là đơn giản và dễ tiếp cận người học, linh hoạt, chủ động định hướng học tập và học mọi lúc, mọi nơi Tuy nhiên, đào tạo trực tuyến còn có những hạn chế nhất định Về phía sinh viên, có hạn chế là tính thiếu chủ động trong học tập của người học, trong khi môi trường học tập trực tuyến đòi hỏi người học phải có tính độc lập và tự giác cao Theo kết quả khảo sát của Quỹ Từ thiện Cộng đồng người sử dụng internet Việt Nam và Công ty Cổ phần VNG với 839 người tham gia trả lời, thì 3 rào cản đối với những người ôn thi/học trực tuyến là: Việc thu phí (35%); Phải kết nối
internet thường xuyên (24%) và khó tìm kiếm đề thi/bài giảng cần thiết
(16%) Còn theo khảo sát của DeltaViet (2014), “nội dung bài giảng hấp dẫn”
và “được học với giảng viên uy tín” là yếu tố rất quan trọng để thu hút người học trực tuyến Diễn biến dịch bệnh phức tạp cũng đã cản trở vô số công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên khi việc thực hiện những khảo sát, thống
kế số liệu thực tế trở nên khó khăn và thiếu chính xác hơn khi mạng xã hội là kênh thông tin duy nhất
Ở thời điểm hiện tại, tình hình dịch tễ đã được kiểm soát tốt hơn Nhịp sống dần trở lại thông thường Hoạt động học tập và nghiên cứu của sinh viên dần thoát li các ứng dụng dạy và học trực tuyến, thay vào đó là những bài giảng, tiết học trực tiếp trên giảng đường
2.1.2 Thực trạng học tập và nghiên cứu của sinh viên khi trở lại giảng đường
Dù quay lại việc học trực tiếp, nhưng sự thụ động trong cách học của bộ phận sinh viên đại học vẫn tồn tại Nguyên nhân ở đây là do sinh viên không chịu tìm tòi sách, tài liệu phục vụ cho chuyên môn của mình (mặc dù trong phương pháp giảng dạy đại học, nhiều thầy cô lên lớp chỉ hướng dẫn và đưa ra những
tư liệu, đầu sách cần thiết cho sinh viên tìm kiếm tham khảo) và tâm lí quen với việc đọc - chép Từ đó dẫn đến thực trạng thụ động trong học tập của phần lớn sinh viên hiện nay
Bên cạnh một bộ phận sinh viên rất tích cực với việc tìm tòi, khám phá tri thức trên lớp lẫn thông qua những nguồn tham khảo như sách, báo, kênh thông tin uy tín, số còn lại vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc thu nạp tri thức và cách ứng dụng nó vào thực tiễn đời sống; hay thậm chí đánh giá thấp, coi nhẹ những tri thức trên giảng đường đại học
2.2 Những cơ hội và thách thức đối với sinh viên
Chúng ta đang sống trong một thời đại bùng nổ thông tin và tri thức Trong
đó, sinh viên – thế hệ người trẻ của đất nước – đang đứng trước những cơ hội
Trang 9rộng mở của nền kinh tế tri thức nhờ chủ trương phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo của nước ta hiện nay
Tiếp cận tri thức đã trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết với sự ra đời của Internet
và các trang mạng xã hội khi tất cả mọi người đều có thể kết nối với nhau để chia sẻ kiến thức hay bàn luận về những vấn đề trong cuộc sống Những công
cụ hiện đại như máy tính, di động, phần mềm hỗ trợ thực hiện tác vụ bằng khuôn mặt, giọng nói – tất cả đều là sản phẩm của tri thức – đã khiến quá trình học tập và nghiên cứu của sinh viên trở nên dễ dàng hơn rất nhiều, giúp tiết kiệm thời gian và công sức Nhờ đó mà sinh viên có cơ hội để tìm tòi, nghiên cứu những tri thức cao cấp hơn, là động lực để tiếp tục sáng tạo, khám phá ra những tri thức mới, làm giàu cho vốn hiểu biết của riêng bản thân cũng như kho tàng tri thức của thế giới chung Thời đại bùng nổ tri thức đã mở rộng hướng phát triển cho từng cá nhân sinh viên với việc ra đời của hàng loạt ngành nghề mới theo mỗi bước đi lên của nền kinh tế số Không chỉ cơ hội việc làm, mà môi trường làm việc cũng dần trở nên phong phú hơn để sinh viên thoải mái lựa chọn nơi làm việc phù hợp cho bản thân Sở hữu khối lượng tri thức cần thiết trong duy nhất hay nhiều lĩnh vực là một trong số những điều kiện tiên quyết để sinh viên theo đuổi được hướng phát triển mà mình mong muốn
Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội mà sinh viên thời nay có được trong nền kinh tế tri thức, thì không thể bỏ qua một số thách thức mà chúng ta buộc phải đối mặt Đơn cử như mặt hại của việc con người có thể tiếp cận tri thức một cách quá dễ dàng Với khối lượng tri thức khổng lồ mà loài người đúc kết được cho đến thời điểm hiện tại, việc chọn lọc để tìm ra những gì phù hợp và đúng đắn cho từng cá nhân để tiếp nhận là một việc làm không hề nhanh chóng và đơn giản Thông tin trên mạng xã hội là một ví dụ điển hình Với tần suất dày đặc của những bài truyền thông “bẩn”, nếu sinh viên thiếu tri thức căn bản của vấn đề được đề cập trong bài báo đó, thì rất dễ sa đà vào việc hiểu nhầm, tiếp nhận thông tin sai lệch, từ đó hình thành suy nghĩ phiến diện, thiếu đúng đắn Bên cạnh đó, còn một thách thức khác được đặt ra cho những người tham gia vào nền kinh tế tri thức hiện nay, đó chính là yêu cầu cập nhật, bắt kịp và thích nghi với số lượng kiến thức mới để tránh cho bản thân
bị tụt hậu, sử dụng những tri thức lỗi thời Vấn đề này đặt ra nhằm thúc đẩy sinh viên phải trở nên mạnh dạn, năng nổ, và sáng tạo hơn trong tương lai
Để giúp sinh viên chủ động hơn và tránh khỏi sai lầm trong việc thu nạp tri thức trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần những giải pháp kịp thời
hỗ trợ định hướng để tri thức mà sinh viên sở hữu thật sự giúp ích trong quá trình học tập và nghiên cứu sau này
Trang 102.3 Giải pháp cho việc vận dụng tốt tri thức.
Một là, Xác định rõ mục tiêu học tập và định hướng sau khi tốt nghiệp.
Khi bước vào cánh cửa đại học, vốn dĩ mỗi cá nhân đều đã phải xác định cho mình một mục tiêu riêng cho tương lai Ở giai đoạn này, chúng ta không thể thờ ơ với chính cuộc đời của mình khi cứ khăng khăng “học cho xong rồi tính tiếp” hoặc “tới đâu hay tới đó” và rồi lãng phí những tri thức có được ở trên giảng đường Không có mục tiêu định hướng rõ ràng thì không thể đạt đến thành công Sử dụng những tri thức mình sở hữu để tự trả lời những vấn đề: Mình đã học được gì? Mình muốn gì? Vậy thì mình cần phải làm gì? Thì tự khắc chúng ta sẽ tự vẽ ra kế hoạch cụ thể cho bản thân Thông qua đó mà chúng ta cũng biết được những tri thức gì là cần thiết và hữu ích để bản thân trau dồi thêm
Hai là, Chủ động học.
Mỗi khi lên giảng đường, sinh viên mỗi người chúng ta đều được trang bị đầy
đủ các công cụ hỗ trợ để đạt hiệu quả trong quá trình học tập như giáo trình, các thiết bị ghi chép lại bài giảng, cũng như môi trường học tập chuyên
nghiệp và tiên tiến của các trường đại học Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể tận dụng hết những lợi ích đấy do tinh thần thụ động Để khắc phục tình trạng này, trước khi lên lớp, sinh viên nên đọc trước giáo trình, nắm bắt hệ thống kiến thức sẽ được giảng viên truyền đạt trong tiết học hôm đó Trong tiết học, hãy mạnh dạn giơ tay phát biểu, đặt câu hỏi và trao đổi thêm với giảng viên, bạn học để hiểu rõ và nắm sâu kiến thức Và khi kết thúc bài giảng, về nhà hãy làm các bài tập để tri thức thu nạp được sẽ được khắc ghi và vận dụng một cách có hiệu quả
Ba là, Rèn luyện thêm các kỹ năng.
Khoảng thời gian là sinh viên cũng là lúc hợp lý nhất để học hỏi thêm nhiều
kỹ năng Đây chính là lúc những tri thức chúng ta đúc kết được có thể đạt được ứng dụng trong thực tiễn đời sống Có rất nhiều kỹ năng mà sinh viên có thể lựa chọn để theo học Ngoài những kỹ năng bắt buộc phải có để phục vụ cho việc học cũng như xét tốt nghiệp như kỹ năng tin học văn phòng, tiếng anh, làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, ứng xử… thì cũng có thể bổ sung thêm các kỹ năng mềm, tự vệ, tổ chức chương trình, quản lý…