Như vậy, trường hợp bên nhận đặt cọc không thể thực hiện đúng cam kết vì lý do khách quan thì bên nhận đặt cọc không phải chịu phạt cọc.. Kết luận Qua các nhận định của TAND tối cao: Nếu
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM
PHÂN TÍCH ÁN LỆ
Đề bài: 01
Anh/ chị hãy đọc Án lệ số 25/2018/AL về không phải chịu phạt cọc vì lý do khách quan và thực hiện các yêu cầu sau:
Phân tích và bình luận về phần “nội dung án lệ”
Giải thích tại sao vụ việc này được chọn làm án lệ
Lớp : N01.TL2
Hà Nội, 2023
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC KÍ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT 2
A LỜI NÓI ĐẦU 3
B NỘI DUNG 3
I TÓM TẮT ÁN LỆ 3
II Phân tích và bình luận về “Nội dung án lệ” 5
1 Phân tích về phần “nội dung án lệ” 5
2 Bình luận về phần “Nội dung án lệ” 7
III Nguyên nhân vụ việc được lựa chọn làm án lệ 8
1 Nguyên nhân 8
2 Đề xuất, kiến nghị 8
C KẾT LUẬN 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 3DANH MỤC KÍ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
Trang 4A LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, việc đặt cọc và phạt cọc đang diễn ra khá phổ biến tại Việt Nam Trong quá trình thực hiện hợp đồng đặt cọc, khi một bên hoặc cả hai bên có lỗi – vi phạm thỏa thuận dẫn đến không thể tiếp tục thực hiện được hợp đồng thì vấn đề phạt cọc được đặt ra Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc vi phạm đó là vì lý do khách quan (nằm ngoài ý chí của bên vi phạm) thì có phải chịu phạt cọc hay không? Đây là một vấn đề gây ra rất nhiều những tranh chấp và thời gian để giải quyết những vụ việc
có tính chất tương tự nhau Đến khi án lệ số 25/2018/AL được ban hành đã tạo ra được một “khuôn mẫu” xét xử cho những vụ án như vậy, giúp giảm bớt thời gian xét xử; tạo được sự bình đẳng trong việc xét xử các vụ án có tính chất giống nhau
Chính bởi lẽ đó, nhóm chúng em xin chọn đề bài số 01 làm đề tài cho bài tập nhóm lần này Do kiến thức còn nhiều thiếu sót cũng như thiếu kinh nghiệm thực tế nên không thể tránh khỏi những sai sót, chúng em rất mong nhận được những đánh giá và góp ý của các thày/cô trong tổ bộ môn để có cái nhìn đúng đắn hơn về vấn đề này Nhóm em xin trân thành cảm ơn!
B NỘI DUNG
I TÓM TẮT ÁN LỆ
1 Nguyên đơn, bị đơn
Nguyên đơn: ông Phan Thanh L
Bị đơn: bà Trương Hồng Ngọc H
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Lại Quang T
2 Tòa án ban hành án lệ
Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao TP Hồ Chí Minh: Quyết định giám đốc thẩm
số 79/2012/DS-GĐT ngày 23-02-2012
3 Sự kiện pháp lý
Vụ việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
4 Câu hỏi pháp lý
Việc bà H phải chịu phạt tiền cọc là đúng hay sai?
Trường hợp nào bên vi phạm hợp đồng đặt cọc không phải chịu phạt cọc?
5 Luật áp dụng (luật có liên quan)
Bộ luật dân sự năm 2005
Bộ luật tố tụng dân sự
6 Nhận định của tòa/ quyết định của tòa
Trang 5TAND tối cao TP.HCM quyết định hủy Bản án dân sự phúc thẩm số
522/2010/DS-PT ngày 06-5-2010 của TAND TP Hồ Chí Minh, và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 344/DS-ST ngày 11-11-2009 của TAND quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh, về vụ án
“Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” giữa nguyên đơn là ông Phan Thanh L với bị đơn là bà Trương Hồng Ngọc H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lại Quang T Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử
sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật
7 Nội dung án lệ
Vào ngày 12/05/2009, bà H thỏa thuận bản cho ông L căn nhà do bà H đứng tên mua đấu giá của Cơ quan thi hành án dân sự TP Hồ Chí Minh theo Hợp đồng đặt cọc với các nội dung sau:
Ông L đặt cọc cho bà H 2.000.000.000 VNĐ;
Bà H phải hoàn tất các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với căn nhà trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký Hợp Đồng
Nếu vi phạm thời hạn, bà H chịu phạt số tiền tương đương với tiền cọc là 2.000.000.000 VNĐ
Hết thời hạn nêu tại Hợp Đồng, bà H vẫn không hoàn tất các thủ tục cần thiết theo thỏa thuận Do đó, ông L khởi kiện yêu cầu bà H trả lại tiền cọc 2.000.000.000 VNĐ và phạt cọc 2.000.000.000 VNĐ
Nguyên đơn trình bày: ông L khởi kiện yêu cầu bà H phải hoàn trả tiền cọc và phạt cọc, tổng cộng 4.000.000.000 đồng
Bị đơn trình bày: Bà H thừa nhận có thỏa thuận đặt cọc để bán căn nhà nêu trên cho ông L như ông L đã trình bày Sau khi nhận đặt cọc, bà H đã cố gắng hoàn tất thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà trong thời hạn 30 ngày như đã thỏa thuận, nhưng do trở ngại khách quan, không thực hiện được Bà thừa nhận đã vi phạm cam kết với ông L, bà đồng ý trả lại tiền cọc và tiền lãi suất theo quy định Nhưng không đồng ý phạt cọc vì cho rằng việc bà không thực hiện đúng cam kết là do CQTHADS chậm sang tên cho bà
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông T sống chung với bà H
từ năm 1997 đến nay, không đăng ký kết hôn Căn nhà trên là tài sản chung của ông T và bà H, ông thừa nhận đã cùng bà H nhận tiền đặt cọc của ông L Ông đồng ý trả lại tiền cọc và tiền lãi cho ông L theo quy định của pháp luật, chứ không đồng ý phạt cọc như yêu cầu của ông L
Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L, buộc bà H trả cho ông L 4.000.000.000 VNĐ Bà H đã kháng cáo và Tòa án cấp phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm và đã ra
quyết định hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm với nhận định sau: “Nếu có căn cứ xác
định CQTHADS chậm trễ trong việc chuyển tên quyền sở hữu cho bà H thì lỗi dẫn tới
Trang 6việc bà H không thể thực hiện đúng cam kết với ông L thuộc về khách quan, và bà H không phải chịu phạt tiền cọc".
Như vậy, trường hợp bên nhận đặt cọc không thể thực hiện đúng cam kết vì lý do khách quan thì bên nhận đặt cọc không phải chịu phạt cọc
8 Kết luận
Qua các nhận định của TAND tối cao: Nếu có căn cứ xác định cơ quan thi hành án dân sự chậm trễ trong việc chuyển tên quyền sở hữu cho bà H thì lỗi dẫn tới việc bà H không thể thực hiện đúng cam kết với ông L thuộc về khách quan, và bà H không phải chịu phạt tiền cọc Nếu có căn cứ xác định do bà H chậm trễ hoàn tất các thủ tục để được sang tên quyền sở hữu thì lỗi hoàn toàn thuộc về bà H, và bà H mới phải chịu phạt tiền cọc Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh, làm rõ những vấn đề trên, mà đã chấp nhận ngay yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh L để buộc bà Trương Hồng Ngọc H chịu phạt cọc với số tiền 2.000.000.000 đồng là chưa đủ căn cứ Do đó, TAND tối cao TP.HCM quyết định hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm
II Phân tích và bình luận về “Nội dung án lệ”
1 Phân tích về phần “nội dung án lệ”
Vị trí nội dung án lệ được nằm tại đoạn 1, 3, 4 phần “Nhận định của Tòa án” Nội dung án lệ trình bày các vấn đề như sau:
“[1]…Tại Điều 5 của hợp đồng đặt cọc có nêu, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày
ký hợp đồng, bà H phải hoàn tất các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với căn nhà nêu trên, sau đó sẽ ký hợp đồng mua bán có công chứng; nếu vi phạm thời hạn nêu trên, bà H chịu phạt số tiền tương đương với tiền cọc là 2.000.000.000 đồng Hết thời hạn trên, bà H không thực hiện đúng cam kết, nên ông L khởi kiện yêu cầu bà H trả lại tiền cọc 2.000.000.000 đồng và phạt cọc 2.000.000.000 đồng.
[3]…tại thời điểm ông L đặt cọc 2.000.000.000 đồng cho bà Trương Hồng Ngọc H,
bà H đã nhận nhà nhưng chưa làm thủ tục sang tên do cơ quan thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý toàn bộ giấy tờ có liên quan đến căn nhà… [4]…Nếu có căn cứ xác định cơ quan thi hành án dân sự chậm trễ trong việc chuyển tên quyền sở hữu cho bà H thì lỗi dẫn tới việc bà H không thể thực hiện đúng cam kết với ông L thuộc về khách quan, và bà H không phải chịu phạt tiền cọc…”
Đối với nội dung AL trên, ta có thể thấy được TAND tối cao đã xác định việc bên nhận đặt cọc không thể thực hiện đúng cam kết là do khách quan và bên nhận đặt cọc không phải chịu phạt cọc Điều này là hoàn toàn hợp lí
Đặt cọc là một biện pháp bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng mà được áp dụng rất phổ biến trong thực tế, nhưng vì nhiều lý do dẫn đến không thể thực hiện được thỏa thuận Trong đó do yếu tố khách quan, nằm ngoài ý chí và khả năng của bên nhận cọc
Về nguyên tắc, cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự Tuy nhiên, nếu bên đặt cọc hoặc bên
Trang 7nhận đặt cọc vi phạm nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì bên vi phạm có phải phạt cọc không, thì quy định tại Điều 328 BLDS năm 2015 và trước đây Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/3/2003 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC không có đề cập đến
Theo quy định tại Điều 116 BLDS năm 2015 (tương ứng với Điều 130 BLDS năm
1995, Điều 121 BLDS năm 2005), thì thỏa thuận về đặt cọc là một giao dịch dân sự và vấn đề này đã được Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn tại tiểu mục 1 Mục I Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/3/2003 Theo đó, tại Điều 351 BLDS năm
2015 (tương ứng Điều 302 BLDS năm 2005) về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa
vụ quy định:
“1 Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với
bên có quyền
2 Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
3 Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa
vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.”
“Vi phạm nghĩa vụ” là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời
hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa
vụ Tuy nhiên tại Điều luật này đã quy định về trường hợp không thực hiện đúng nghĩa
vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự
Như vậy, quy định tại Điều 351 BLDS năm 2015 chỉ quy định đối với trường hợp vi phạm nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng, mà không đề cập đến trường hợp vi phạm nghĩa vụ vì lý do khách quan
Tại quy định tại khoản 2 Điều 5 BLDS năm 2015:
“Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể
áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.”
Tuy nhiên, trường hợp phát sinh quan hệ phải thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự Hay nói khác đi, áp dụng tương tự pháp luật là biện pháp khắc phục thiếu sót của luật thuộc diện ưu tiên thứ hai, sau áp dụng tập quán là biện pháp ưu tiên thứ nhất Tiêu chí để xác định trường hợp tương tự có thể là tiêu chí chủ quan – tương tự về chủ thể – hoặc tiêu chí khách quan – tương tự về tính chất cơ bản của quan hệ pháp luật Trong trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật, thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, AL, lẽ công bằng Các bản án, quyết định được lựa chọn theo quy định được thiết lập tại Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC được coi là cách áp dụng luật chính thức đối với toàn
bộ hệ thống xét xử Hình thành theo cách đó, AL có tính chất ràng buộc đối với Thẩm phán, thậm chí còn mạnh hơn AL trong luật của Anh Theo đó, khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP, khẳng định: “Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải
Trang 8nghiên cứu, áp dụng AL, bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau”
Chính vì vậy, AL số 25/2018/AL ra đời là sự bổ sung khiếm khuyết cho pháp luật khi không quy định về trường hợp không phải chịu phạt cọc vì lý do khách quan Hiện nay, cuộc sống xã hội phát triển nhanh và đa dạng dẫn đến việc nhiều trường hợp xảy
ra mà pháp luật chưa quy định kịp, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể Do
đó, điều này đã nhằm góp phần bù lấp lỗ hổng của quy định pháp luật
2 Bình luận về phần “Nội dung án lệ”
2.1 Ưu điểm
Hợp đồng đặt cọc trên để bảo đảm giao kết hợp đồng mua bán nhà có thỏa thuận trong một thời hạn nhất định bên nhận đặt cọc (bà H) phải hoàn tất các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, nếu vi phạm thì phải chịu phạt cọc Tuy nhiên, hết thời hạn theo thỏa thuận bà H chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
do nguyên nhân từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền Giải pháp pháp lý AL đề ra trong trường hợp này là phải xác định việc bên nhận đặt cọc không thể thực hiện đúng cam kết là do khách quan và bên nhận đặt cọc không phải chịu phạt cọc
AL số 25/2018/AL ra đời là sự bổ sung khiếm khuyết cho pháp luật khi không quy định về trường hợp không phải chịu phạt cọc vì lý do khách quan Sự ra đời của AL số 25/2018/AL là cần thiết, giúp Thẩm phán, Hội thẩm, … nhất là những người chưa tích lũy được nhiều tri thức, kinh nghiệm có thể tham chiếu, dễ nhận diện trên thực tế đối với trường hợp bên đặt cọc hoặc bên nhận đặt cọc vi phạm nghĩa vụ vì lý do khách quan thì không phải chịu phạt cọc được chuẩn xác hơn
Như vậy, đối với vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc một khi đã hội tụ đủ các nội dung mà tình huống AL số 25/2018/AL nêu ra, thì phải được giải quyết theo đúng giải pháp pháp lý của AL đã đưa ra Tức là, trong quá trình xét xử Thẩm phán, Hội thẩm
phải “bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự thì phải được giải quyết
như nhau”.
2.2 Hạn chế
Bên cạnh ưu điểm đã đề cập thì AL số 25/2018/AL vẫn còn một số mặt hạn chế như sau:
Đầu tiên, AL chưa giải thích rõ khái niệm “không phải chịu phạt cọc” Việc AL quy
định về vấn đề “không phải chịu phạt cọc” có thể được hiểu theo hai hướng như sau:
- Bên nhận đặt cọc không phải trả cho bên đặt cọc một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc và không phải hoàn trả số tiền đặt cọc đã nhận; hoặc
- Bên nhận đặt cọc không phải trả cho bên đặt cọc một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc nhưng phải hoàn trả số tiền đặt cọc đã nhận
Vì AL không làm rõ khái niệm này nên trên thực tế sẽ có một số Tòa án áp dụng
AL theo hướng đầu tiên, một số khác thì lại áp dụng AL theo hướng thứ hai Chính điều này dẫn đến việc áp dụng AL không thống nhất, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
Trang 9Thứ hai, AL chưa đề cập đến vấn đề hoàn trả lợi tức phát sinh từ tài sản đặt cọc.
Hiện tại có hai câu hỏi mà AL chưa trả lời rõ ràng ảnh hưởng đến quyền lợi của bên đặt cọc như sau:
Một là, trường hợp bên nhận đặt cọc sử dụng tài sản đặt cọc (trong AL này thì chính
là ngôi nhà) và thu được lợi tức thì khoản lợi tức này có phải được hoàn trả cho bên đặt cọc hay không? Ví dụ: bên nhận đặt cọc cho thuê ngôi nhà này thì trong lúc đó bên đặt cọc có được nhận phí thuê nhà từ bên nhận đặt cọc không?
Hai là, vậy nếu như hoàn trả thì hoàn trả toàn bộ hay một phần lợi tức? Chúng ta có thể thấy do AL chưa quy định rõ về vấn đề này nên việc áp dụng xét xử như thế nào sẽ tùy thuộc vào quan điểm của mỗi thẩm phán
Chính những điều trên cho thấy AL vẫn còn bỏ ngõ những vấn đề trên nên việc áp dụng trên thực tế vẫn còn tùy thuộc vào quan điểm của Hội đồng xét xử
III Nguyên nhân vụ việc được lựa chọn làm án lệ
1 Nguyên nhân
Ngày 02/06/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó đã đặt ra nhiệm vụ phát triển AL cho TAND tối cao Sau đó, ngày 28/10/2015, Hội đồng TP TÁND tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng AL, tạo
sơ sở pháp lý quan trọng cho việc ban hành AL của TAND tối cao Trên cơ sở 2 Nghị quyết này, Hội đồng TP TAND tối cao đã ban hành 26 AL (trong đó có AL số 25/2018/AL về không phải chịu phạt cọc vì lý do khách quan)
Tiêu chí lựa chọn AL theo Nghị quyết trên được quy định như sau:1
“1 Chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một việc cụ thể;
2 Có tính chuẩn mực;
3 Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhay thì phải được giải quyết như nhau.”
Đặt vào tình hình thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng đặt cọc cho thấy các cấp TA có nhiều hướng xử lý không thống nhất dẫn đến việc kháng cáo, kháng nghị, làm gia tăng thời gian giải quyết vụ việc, tiêu tốn thời gian và nhân lực Không chỉ vậy, thực tiễn còn cho thấy có rất nhiều những vụ việc mang tính chất tương tự như vụ việc này xảy ra trong thực tiễn, việc đưa ra một AL làm “khuôn mẫu” có thể giúp các bên khi tham gia thỏa thuận hợp đồng có thể tiên lượng được trước kết quả xảy ra, giảm thiểu được những kiện tụng không đáng có
Chính vì những lẽ trên mà vụ việc này được TAND tối cao công nhận là AL
1 Điều 2 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ
Trang 102 Đề xuất, kiến nghị
Qua nội dung AL số 25/2018/AL, chúng ta có thể thấy AL chỉ đề cập đến hình thức hợp đồng “mua bán” và tài sản mua bán là “nhà” và phải thực hiện các trình tự, thủ tục
để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà Theo đó, giữa hợp đồng mua bán và hợp đồng chuyển nhượng, thì quyền và nghĩa vụ của các bên đều tương tự như nhau, có sự chuyển giao tài sản, quyền sở hữu và việc chuyển giao đó phải thông qua các trình tự thủ tục do pháp luật quy định để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận sở hữu tài sản Đặc biệt, AL còn cho thấy khi giao kết hợp đồng đặt cọc, thì bên nhận đặt cọc vẫn chưa là chủ sở hữu tài sản mà hợp đồng đặt cọc hướng đến, tức là bên nhận đặt cọc vẫn chưa hoàn tất các thủ tục theo quy định của pháp luật để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản Như vậy, nếu vận dụng nguyên tắc áp dụng tương tự pháp luật trong trường hợp này, chúng ta có thể mở rộng phạm vi áp dụng (tình huống và giải pháp) của AL số 25/2018/AL như sau:
– Tình huống AL mở rộng:
+ Hợp đồng đặt cọc để bảo đảm giao kết hợp đồng mua bán, chuyển nhượng tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản có thỏa thuận trong một thời hạn nhất định bên nhận đặt cọc phải hoàn tất các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, nếu vi phạm thì phải chịu phạt cọc
+ Hết thời hạn theo thỏa thuận, bên nhận đặt cọc chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản do nguyên nhân từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền
– Giải pháp pháp lý mở rộng: Trường hợp này, giải pháp pháp lý được đặt ra là phải xác định việc bên nhận đặt cọc không thể thực hiện đúng cam kết là do khách quan và bên nhận đặt cọc không phải chịu phạt cọc
C KẾT LUẬN
Tóm lại, xây dựng AL và áp dụng AL là nhu cầu tất yếu trong hoạt động áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay Tuy Bộ chính trị đã đặt những viên gạch
sơ khai từ năm 2005 nhưng đến năm 2016, nước ta mới có những AL đầu tiên
Do thời gian áp dụng án lệ còn ngắn, nên việc áp dụng AL vẫn còn nhiều mới
mẻ và gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, việc phát triển AL cũng mang lại rất nhiều những thành tựu đáng kể cho nền luật pháp nước ta