1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

nguyên lí kinh tế nông nghiệp potx

13 205 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 42,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một nức đang phát triển và nguồn nhân lực có đầy đủ các tính chất của một nươc kém phát triển: Tốc độ tăng dân số cao, nguồn lao động dồi dào, giá lao động rẻ, chất lượng lao

Trang 1

Tiểu Luận :

LAO ĐỘNG TRONG NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Việt nam có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng, là nơi cung cấp và hậu thuẫn đắc lực cho nền nông nghiệp của nước ta hiện nay Nhưng tồn tại là một thực

tế đối với lao động nông thôn hiện nay là thị trường lao động tại khu vực này chưa thực sự phát triển, nó còn thiếu phân bố không đồng đều, năng suất quá thấp Bản than lao động nông thôn chưa có cơ hội phát huy khả năng cống hiến của mình cho

sự nghiệp phát triển nông thôn Đây là thách thức lớn đối với chính lao động nông thôn cũng như các nhà làm chính sách trước yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn Giải pháp nào giúp cho người lao động nông thôn có cơ hội hội nhập được với thế giới việc làm, vừa đảm bảo tăng thu nhập cho người lao động, vừa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển nông thôn bền vững Bài viết dưới đây sẽ đề cập đến một số thách thức đối với lao động nông thôn hiện nay và những đề xuất đối với các cơ quan liên quan trong phối hợp giải quyết các thách thức đối với người lao động trong quá trình phát triển nông thôn

1 Khái niệm:

1.1 Lao động : Lao động là yếu tố cần thiết của mọi quá trình sản xuất và kinh

doanh Không lao động thì không thể có các hoạt động nông nghiệp

Lao động còn là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước

1.2.Nguồn lao động: là toàn bộ những người có khả năng tham gia lao động trong

ngành nông nghiệp.Hiểu theo quan niệm cũ thì đó là những người trong độ tuổi lao động ( từ 18 đến 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam)

Nguồn lao động theo khái niệm rộng hơn là nguồn nhân lực, gồm:

Trang 2

* Nhân lực theo lứa tuổi; trong đó nhân lực mỗi nhóm tuổi cần có một chính sách riêng và ngày nay, nhóm người cao tuổi ( sau khi nghỉ hưu) đã được quan tâm sử dụng một cách phù hợp

* Nhân lực theo giới ( nam-nữ)

* Nhân lực theo trình độ-ngành nghề; trong đó, nhân lực có tay nghề cao, nhân lực trí thức được quan tâm phát triển Tuy nhiên, tùy theo từng nước, từng vùng mà người ta khai thác nhân lực tài năng Không ít nơi chưa biết tận dụng tài năng nên lãng phí chất xám và có tình trạng chảy máu chất xám

2 Vai trò: Lao động có vai trò đặc biệt hơn các yếu tố khác vì lao động có vai trò

2 mặt

Thứ nhất: lao động là nguồn lực sản xuất chính không thể thiếu trong các hoạt động kinh tế Với vai trò này lao động luôn được xem xét ở hai khía cạnh, đó

là chi phí và lợi ích Lao động là yếu tố đầu vào , nó ảnh hưởng tới chi phí tương tự như ảnh hưởng tới các yếu tố sản xuất khác Lao động cũng bao hàm những lợi ích tiềm tàng theo nghĩa: góp phần làm tăng thu nhập cải thiện đời sống và giảm nghèo đói thông qua các chính sách ( tạo việc làm, tổ chức lao động có hiệu quả, áp dụng công nghệ phù hợp )

Thứ hai: Lao động là một bộ phận của dân số Tổng dân số của Việt Nam vào 0 giờ ngày 01 tháng 04 năm 2009 là 85,789,573 người Như vậy Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 3 ở đông nam Á và đứng thứ 13 trên thế giới Số người sống trong khu vực thành thị là 25,374,262 người chiếm 29,6%, và ở khu vực nông thôn

là 60,415,311 người, chiếm 70,4% tổng dân số Dân số nam là 42,482,549 người, chiếm 49,5% và nữ là 43,307.024 người, chiếm 50.5% tổng dân số Chính lao động

là người được hưởng thụ lợi ích của quá trình phát triển Mọi quốc gia đều nhấn mạnh đến mục tiêu “ phát triển vì con người và coi đó là động lực của sự phát triển” Đó là kế hoạch lao động – việc làm là đặc biệt cần thiết đối với việt nam Việt Nam là một nức đang phát triển và nguồn nhân lực có đầy đủ các tính chất của một nươc kém phát triển: Tốc độ tăng dân số cao, nguồn lao động dồi dào, giá lao động rẻ, chất lượng lao động thấp, lao động dư thừa nhiều… nhưng trong những năm qua, chúng ta đã có những thay đổi đáng kể trong công tác đào tạo, sử dụng

Trang 3

nguồn lao động, thúc đẩy sự biến đổi lao động theo hướng tích cực nhất và cũng đã đạt được những thành quả nhưng cũng còn những bất cập nhất định

3 Đặc điểm: Có 6 đặc điểm nổi bật đó là:

3.1 Sử dụng lao động không mang tính thời vụ.

Trong nông nghiệp có những thời kỳ không cần hoặc cần rất ít sự tác động của con người tới sinh vật, nhưng cũng có thời kỳ lại cần rất nhiều lao động Điều này làm cho nhu cầu về lao động trong nông nghiệp rất khác nhau trong từng giai đoạn sản xuất, làm cho giá tiền công lao động trong nông nghiệp biến động nhiều

Ở nước nông nghiệp như Việt Nam, nhiều nơi lao động nông nghiệp thiếu việc làm Trong những tháng nông nhàn, nhiều lao động phải chấp nhận giá tiền công rẻ hơn nhiều so với lúc thời vụ khẩn trương Ở nước ta lao động nông nghiệp còn chiếm 70% trong tổng lao động xã hội Bình quân diện tích canh tác trên lao động rất thấp Tỷ lệ lao động nông thôn chưa có việc làm ở Việt Nam hiện nay chiếm khoảng 30% tổng số lao động Vì thế, cần phải thực hiện đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn để hạn chế tính thời vụ trong sử dụng lao động nông nghiệp

3.2 Đòi hỏi ít chuyên sâu:

Một lao động có thể làm nhiều việc khác nhau và nhiều lao động có thể cùng thực hiện một công việc đặc điểm này là do các hoạt động nông nghiệp không cần tay nghề chuyên môn hóa sâu như ở trong công nghiệp Sự thích ứng cao về lao động cũng mang tính tương đối Do tập quán canh tác, văn hóa của từng vùng miền, do tính chất công việc mà còn một số công việc thường do lao động nam hoặc lao động nữ đảm nhận Từ những đặc điểm này, mỗi nông trại căn cứ vào đặc điểm sản xuất và lực lượng lao động của mình để bố trí lao động phù hợp nhằm nâng cao năng suất lao động

3.3 Lao Động Nông Nghiệp Ít Được Đào tạo.

Do nông nghiệp ít hấp dẫn trên phương diện đầu tư, chịu rủi do cao nên việc thu hút lao động được đào tạo vào nông nghiệp là một vấn đề khó khăn Phần lớn lao động được đào tạo ra đi từ nông thôn lại vào sản xuất các ngành công nghiệp,

Trang 4

dịch vụ ở thành phố Do đó nông thôn còn lại là lao động chưa được đào tạo Thực trạng này làm cho năng suất lao động thấp, khó khăn trong việc tiếp thu kỹ thuật và công nghệ mới vì thế, chính phủ cần có chính sách điều tiết vĩ mô để khuyến khích lao động được đào tạo về làm việc ở nông thôn Mặt khác, phải thực hiện tốt các chương trình khuyến nông để nâng cao trình độ và kiến thức cho lao động nông nghiệp

3.4 Lao động nông nghiệp diễn ra trong phạm vi không gian rộng lớn, đa dạng về địa bàn và điều kiện sản xuất.

Hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra trên phạm vi không gian rộng lớn với những đặc điểm phức tạp của từng vùng, từng xứ đồng, thậm chí ở những vị trí khác nhau của một thửa ruộng cũng cần phải có phương pháp lao động hợp lý biện pháp kỹ thuật phù hợp Vì thế cần phải bố trí và tổ chức lao động hợp lý, thực hiện

an toàn lao động

3.5 Lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lao động nông thôn.

Lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lao động xã hội ở nông thôn Kinh tế nông thôn ở các nước đang phát triển chủ yếu là nông nghiệp

Ở Việt Nam, tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm trong lao động nông thôn khoảng 70% Điều này đòi hỏi phải phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn để rút bớt lao động nông nghiệp ra khỏi ngành nông nghiệp: đồng thời tạo cơ hội việc làm cho lao động nông thôn

3.6 Thị trường lao động trong nông nghiệp.

Như các yếu tố đầu vào khác, lao động cũng có thị trường Thị trường lao động là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người có nhu cầu sử dụng lao động Sự trao đổi này được thoả thuận trên cơ sở mối quan hệ lao động như tiền lương, tiền công, điều kiện làm việc thông qua một hợp đồng làm việc bằng văn bản hay bằng miệng Thị trường lao động nông nghiệp là nơi mà cung và cầu về lao động trong lĩnh vực nông nghiệp gặp nhau Giá tiền công phản ánh giá cả của

Trang 5

sức lao động tại điểm cân bằng Thị trường lao động trong nông nghiệp có một số đặc điểm sau:

+ Cung lao động trong nông nghiệp dồi dào Do lượng lao động nông nghiệp lớn, cơ hội việc làm hạn chế, giá trị lao động trong nông nghiệp rẻ Vì thế

mà cung thường vượt cầu

+ Cầu lao động trong nông nghiệp mang tính thời vụ, nhất là cầu cho trồng trọt và thu hoạch Điều này làm cho giá tiền công biến động và không ổn định Cầu

về lao động ngày càng tăng khi kinh tế phát triển Nông nghiệp ngày càng đi lên hiện đại và công nghiệp hóa thì cầu về lao động nông nghiệp càng đòi hỏi có trình

độ chuyên môn cao hơn

+ Giá tiền công của lao động ( nhất là lao động thủ công ) thường thấp Tình trạng này là do giá trị gia tăng là ra trong nông nghiệp thường thấp; sản phẩm nông nghiệp tuy rất quan trọng nhưng lại rẻ; Kiến thức và kỹ năng của lao động nông nghiệp thường không cao; cung lao động ở nông thôn luôn vượt cầu Do giá tiền công thấp nên có hiện tượng chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp và từ nông thôn vào thành thị Đây là hành vi kinh tế tất yếu của lao động nông thôn, cần nhận thức được và có chính sách điều tiết cho lao động nông thôn chuyển dịch Những năm 2006 – 2007 khoảng 66% số lao động di cư đến thành phố và 34% đi đến các vùng nông thôn khác để tìm việc làm

4 Nguyên tắc quản lí sự dụng lao động

4.1 Nguyên tắc sự dụng lao động trong nông nghiệp: Để sự dụng tốt lao động trong nông nghiệp cần phải có những nguyên tắc cụ thể như:

- Lao động phải sự dụng đầy đủ và hợp lý: có nghĩa là phù hợp với từng người, từng tính chất công việc, trình độ, điều kiện sức khỏe nhằm nâng cao năng suất lao động lại vừa thực hiện tái sản xuất sức lao động

- Sự dụng có hiệu quả nguồn lao động trong nông nghiệp: việc này đòi hỏi cao ở nhà quản lí :

Trang 6

+ Với nhà doanh nghiệp: là những quyết định sự dụng lao động như thế nào cho đạt được lợi nhuận cao, tối đa hóa lợi nhuận đó dựa trên nhiều quy luật trong kinh tế

+ Với nông hộ thì khác, việc sự dụng lao động không tuân theo nguyên tắc nào họ không quan tâm doanh thu, phần lớn lao động trong gia đình

4.2 Chỉ tiêu đánh giá

Lao động trong nông nghiệp thường được đánh giá bởi hệ thống các chỉ tiêu sau đây:

+ Cơ cấu lao động phân bố cho các ngành trong nông trại, trong vùng và phạm vi

cả nước

+ Tỷ suất sử dụng lao động là tỷ lệ lao động được sử dụng so với lao động hiện có của doanh nghiệp hay nông trại

+ Tỷ lệ lao động thuê mướn, đổi công trong tổng lao động sử dụng

+ Giá tiền công và chi phí thuê lao động

+ Mức trang bị cho lao động( máy móc, thiết bị, năng lượng/ lao động)

+ Năng suất lao động

+ Giá trị sản xuất do một lao động sáng tạo ra

5 Thực trạng của lao động trong nông nghiệp:

5.1 Dân số vùng nông thôn đông và tỷ lệ lao động nông thôn rất cao.

Tỷ lệ cả về dân số và lao động ở nông nghiệp, nông thôn cả sự thay đổi theo hàng năm nhưng so với đô thị thì sự thay đổi này nhỏ hơn, chậm hơn.Lao động nông thôn chiếm ¾ lao động cả nước thế nhưng nguồn lực lại chưa phát huy được tiềm năng, là do kỹ thuật lao động của người lao động còn thấp và chưa đủ khả năng để đáp ứng nền CNH-HĐH Vấn đề này đặt ra cần có những giải pháp kịp thời để cho lao động Việt Nam ngày càng hội nhập với quốc tế

5.2 Dôi thừa lao động nông nghiệp ngày một gia tăng tình trạng nông nhàn trở nên phổ biến.

Hiện nay, trồng trọt các loại cây nông nghiệp (cây lương thực là chính) Trong khi

đó đất canh tác lại ít bình quân đất canh tác đầu người khoảng 800m2/ nhân khẩu

Trang 7

trên toàn quốc.Chăn nuôi chưa thực sự phát triển chính vì vậy thiếu việc làm đang

là vấn đề nghiêm trọng Theo thống kê nếu huy động 250 ngày công/ người/năm thì cả nước có thể huy động được 6,5 tỷ ngày công lao động nông nghiệp, trong khi nhu cầu sự dụng lao động nông nghiệp hiện nay chỉ vào khoảng 4 tỷ đến 4,5 tỷ ngày công điều đó có nghĩa là dư thừa 2 đến 2,5 tỷ ngày công tương đương với 8,5

tỷ đồng quy đổi Tỷ lệ thời gian lao động được sự dụng ở khu vực nông thôn cho hoạt động trồng trọt của cả nước là 67%, đồng bằng sông Hồng đạt 62%

5.3.Vấn đề phân bố dân cư và lao động nông nghiệp ở Việt nam thực sự không đồng đều :

Theo lẽ tự nhiên, dân số và lao động nông thôn chủ yếu tập trung ở đồng bằng và duyên hải hai đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long chỉ chiếm 15,7% lãnh thổ

cả nước nhưng tới 47,51% hộ nông nghiệp, 45,95% số khẩu nông nghiệp và 46,29% số lao động nông nghiệp cả nước

Trong khi đó vùng núi và vùng trung du đất đai nhiều nhưng dân thưa thớt, lao động nông nghiệp lại quá ít, vì vậy diện tích đất được sự dụng cong nhiều (5270m2

/người ở Thái Nguyên so với 421 m2

/ người ở đồng bằng sông Cửu Long)

Về phân bố ngành nghề lao động nông thôn còn rất nhiều sự mất cân bằng trầm trọng Lao động nông thôn chủ yếu tập trung cào sản xuất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp thì chủ yếu là trồng trọt Chăn nuôi vẫn chỉ được coi là nghề phụ trong các hộ gia đình Họ nuôi gia súc, gia cầm cũng là để tận dụng sản phẩm thừa của gia đình mình, nuôi theo tập quán cũ , theo kinh nghiệm làm mà cha thấy có sự vận dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật một cách đang kể, Tính chung trên cả nước thì lao động nông thôn dùng trong sản xuất nông nghiệp chiếm 78%, lao động công nghiệp và xây dựng 7%, lao động thương mai – dịch vụ chiếm 15%

* Về chất lượng: Lao động hiện còn rất thấp, trình độ học vấn của lực lượng lao động khu vực nông thôn rất thấp, thấp hơn nhiều so với lực lượng lao động khu vực thành thị Tỷ lệ người chưa tốt nghiệp tiểu học vẫn còn tới 25%, trong khi đó ở thành thị là 11% Tỷ lệ người tốt nghiệp Trung học phổ thông lực lượng ở khu vực nông thôn chỉ có 11% trong kkhi đó thành thị chiếm 38% -> khiến cho trình độ

Trang 8

văn húa phổ thụng bỡnh quõn cho một người ở khu vực nụng thụn là lớp 7/12; cũn

ở thành thị là lớp 9/12

- Trỡnh độ chuyờn mụn kỹ thuật của lực lượng lao động nụng thụn hiện nay ở tỡnh trạng vẫn cũn tồi tệ cho dự mấy năm gần đõy đó bước đầu cú cải thiện – trong điều kiện CNH –HĐH, kinh tế đất nước đang phỏt triển rất cần lao động cú chuyờn mụn

kỹ thuật nhưng tỷ trọng lực lượng này quỏ thấp, cú gia tăng hàng năm nhưng cũn chậm, số lượng khụng đỏng kể Ước tớnh mỗi năm chỉ tăng chỉ chừng 27 ngàn người, tốc độ tăng đạt 1,2% một năm trong khi đú ở khu vực thành thị tăng 48 ngàn người, năm tốc độ tăng đạt 10%/ năm

- Nhỡn tổng quan hơn thỡ ta thấy rằng lao động nụng thụn khụng cú trỡnh độ chuyờn mụn kỹ thuật (91%) cao hơn tỷ lệ chung cả nước là 5% Số lao động nụng thụn được đào tạo đó rất ớt lại phõn bố khụng đều giữa cỏc tỉnh Số lao động này đặc biệt thấp như: KonTum cú 2414 người

- Đối với cỏn bộ cỏc HTX thỡ trỡnh độ quản lớ cũn thấp Mới đấy điều tra trỡnh độ đại học chỉ chiếm 6,3%, trung cấp 13,7%, sơ cấp 22,4% và chưa qua đào tạo 57,5%

Số kế toỏn trưởng cú trỡnh độ đại học chỉ chiếm 37%, trung cấp chiếm 12,5%, sơ cấp chiếm 48% và chưa qua đõũ tạo là 37% Cú khụng ớt chủ nhiệm HTC nhất là ở vựng sõu, vựng xa mới cú trỡnh độ văn húa tiểu học, kế toỏn trưởng mới tập huấn qua lớp tập huấn ngắn hạn,

- Cũng bởi số lao động nụng thụn cú trỡnh độ chuyờn mụn kỹ thuật khụng nhiều nờn hầu hết lao động hỉ thuần nghề nụng Số lao động kiờm cỏc nghề khỏc và lao động phi nụng nghiệp khụng nhiều cả về số lượng và thời gian làm việc Đặc điểm tỡnh trạng nhàn dỗi khụng thể trỏnh khỏi

5.4 Năng suất lao động và thu nhập vẫn cũn quỏ thấp

Từ những phân tích trên đây có thể thấy rõ tất cả thể hiện ở hiệu quả lao động Có thể

nói rằng năng suất lao động trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thấp l doμ chất lượng lao động quá thấp cùng với sự dôi thừa về số lựợng

Thống kê cho thấy GDP tính theo giá thực tế bình quân lao động nông nghiệp chỉ 3,5 triệu đồng/ngời/năm bằng 1/7 trong công nghiệp,xây dựng vμ bằng 1/6 trong

Trang 9

dịch vụ Năng suất lao động thấp, khiến cho thu nhập bình quân của lao động nông thôn chỉ đạt khoảng 200.000đ/tháng vμ chỉ bằng 37% của lao động khu vực thμnh thị

Từ những phân tích trên đây chúng ta có thể kết luận rằng, lao động nông thôn nói chung vμ lao động nông nghiệp nói riêng ở Việt Nam hiện nay dthừa

nhiều về số lượng nhưng chất lợngcòn quá thấp vμ cha thể đáp ứng đợc yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp vμ nông thôn Sự mất cân

đối về lao động theo khu vực địa lý vμ ngμnh nghề lμm giảm đáng kể khả năng vμ hiệu quả sử dụng lao động nông thôn hiện nay

Theo Bỏo dõn trớ (Dantri.com.vn) đó đưa ra thực trạng cơ bản của lao động trong những năm qua như sau:

- Lao động nụng nghiệp: Số lượng lớn chất lượng thấp

- Trong 10 năm qua, đó cú 15 triệu lao động cú việc làm, trong đú, khoảng 50% làm trong lĩnh vực nụng nghiệp Tuy nhiờn, nhúm đối tượng này cú việc nhưng lại khụng năng suất (năng suất trong ngành nụng nghiệp chỉ bằng 1/4 ngành cụng nghiệp và bằng 1/3 ngành dịch vụ)

Theo kết quả khảo sỏt của Văn phũng Hỗ trợ Tư vấn Phản biện và Giỏm định Xó hội (thuộc Liờn cỏc Hội KHKT Việt Nam), trong 10 năm qua (2001- 2010), đó cú 15 triệu lao động cú việc làm, trong đú, khoảng 50% làm trong lĩnh vực nụng nghiệp Tuy nhiờn, nhúm đối tượng này cú việc nhưng lại khụng năng suất (năng suất trong ngành nụng nghiệp chỉ bằng 1/4 ngành cụng nghiệp và bằng 1/3 ngành dịch vụ).

- Lao động nụng thụn nằm ở nhúm thu nhập thấp (Ảnh minh họa)

- Cũng theo bỏo cỏo này, trong 10 năm qua, cú khoảng 65% doanh nghiệp là cỏc doanh nghiệp nhỏ hoặc siờu nhỏ cú năng suất thấp, sức cạnh tranh yếu, hoạt động thiếu hiệu quả

và sản xuất cỏc sản phẩm thiếu giỏ trị gia tăng.

- Kết quả khảo sỏt cũng cho thấy, phần lớn lao động Việt Nam dễ gặp phải rủi ro khi khụng được bảo vệ bởi hệ thống bảo trợ xó hội vỡ họ làm việc trong lĩnh vực nụng nghiệp hoặc khu vực phi chớnh thức Trong khi nhận thức cũng như việc tuõn thủ quy định đúng bảo hiểm xó hội của cỏc doanh nghiệp, đặc biệt là cỏc doanh nghiệp tư nhõn trong nước cũn kộm Ngoài

ra, việc chấp hành và thực hiện Bộ Luật lao động kộm trong khi Bộ luật ỏp dụng khụng đồng đều với cỏc loại hỡnh doanh nghiệp khỏc nhau cũng là cản trở khiến cho người lao động luụn trở thành kẻ “thấp cổ bộ họng” phải chịu thiệt thũi về quyền lợi.

- Tuy nhiờn, trong khoảng thời gian đú, trờn một nửa số doanh nghiệp cú quy mụ lao động nhỏ, ớt hơn 10 lao động và chưa đầy 2% doanh nghiệp tuyển dụng hơn 200 lao động, chủ yếu tập trung ở vựng Đụng Nam Doanh nghiệp ở cỏc ngành cú khả năng cú giỏ trị sản xuất cao như sản xuất cụng nghiệp và thương mại sử dụng ớt lao động trong khi đú ngành nụng nghiệp lại tạo ra 48,7% việc làm và chỉ đúng gúp 22,1% GDP.

- Tiếp đến là tỡnh trạng mất cõn đối cung cầu lao động cục bộ xảy ra ở nhiều khu vực, lĩnh vực và ngành kinh tế khỏc nhau Dư thừa lao động phổ thụng và thiếu lao động cú trỡnh độ chuyờn mụn kỹ thuật khỏ phổ biến, nhiều doanh nghiệp ngày càng gặp khú khăn trong tuyển dụng, đặc biệt là tại cỏc khu cụng nghiệp và chế xuất phớa Nam.

- TS Papola, Văn phũng Hỗ trợ Tư vấn Phản biện và Giỏm định Xó hội nhận xột rằng, tuy

Trang 10

việc làm đã tăng, số người có việc làm được ước tính tăng từ khoảng 35,6 triệu người năm

1997 lên 48 triệu người năm 2009, nhưng điều đó cũng không làm giảm thất nghiệp.Số người thất nghiệp đã tăng từ 1,05 triệu người năm 1997 lên 1,29 triệu người năm 2009 Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm từ 2,9 năm 1997 xuống 2,3 năm 2000, nhưng đến năm 2009 lại tăng lên 2,6 Số người thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp tăng lên đáng kể trong năm 2008 và 2009 là do tác động kinh tế của khủng hoảng tài chính toàn cầu.

- Cũng theo TS Papola, Đề án 1956 đặt mục tiêu đào tạo mỗi năm 1 triệu lao động nông thôn trong đó số lao động nông thôn được đào tạo nghề nông nghiệp chiếm khoảng 1/3 nhưng do năng suất lao động trong nông nghiệp thấp nên nông nghiệp đang ngày càng không thu hút được những lao động trẻ Xu hướng già hóa nông nghiệp chính là một trong những cản trở quan trọng cho việc đạt các mục tiêu này.

- Cũng trong lần khảo sát này, nhóm chuyên gia của TS Papola nhận thấy, ngoài số người thất nghiệp thì chất lượng việc làm là một trong những thách thức lớn về việc làm mà Việt Nam phải đối mặt Đại đa số việc làm nằm trong khu vực phi chính thức hoặc loại hình phi chính thức, việc làm không thường xuyên và không có bảo trợ xã hội Khoảng 3/4 trong tổng

số việc làm được đánh giá là “dễ bị tổn thương”, như việc làm gia đình không được trả lương hoặc tự làm; thu nhập không ổn định và dao động.

- Dự báo, 10 năm sau, lao động trong ngành nông nghiệp sẽ giảm xuống cả về vụ sẽ tăng lên cả về tỷ trọng và số lượng.

6 Phương hướng và mục tiêu:

Dự thảo Báo cáo Chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011- 2015

đã đưa ra mục tiêu tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động xã hội đến năm 2015 còn 35 - 40%, đến năm 2020 còn 30% Chúng ta thấy gì qua những con

số đó?

Trước hết, đây là một mục tiêu quan trọng xét theo nhiều mặt Một mặt, nước ta xuất phát từ nông nghiệp đi lên và mục tiêu tổng quát đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Mặt khác, năng suất lao động là yếu

tố quan trọng hàng đầu để nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng tích luỹ đầu tư, tăng thu nhập Trong khi năng suất lao động của nhóm ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ hiện cao gấp 4,6 lần của nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thuỷ sản, nên việc rút bớt lao động nông nghiệp sang làm công nghiệp - xây dựng và dịch vụ sẽ có tác động nâng cao năng suất lao động chung Bên cạnh đó, tỷ trọng về lao động của nhóm ngành nông, lâm nghiệp- thuỷ sản trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân hiện cao gấp 2,5 lần tỷ trọng GDP nên không thể không giảm tỷ trọng về lao động của nhóm ngành này Chính vì những

lẽ đó mà tỷ trọng lao động của nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thuỷ sản đã giảm

Ngày đăng: 22/06/2014, 01:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w