NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN NGÂN HÀNG --- TRẦN THANH VÂN GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ THU NGOÀI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-
TRẦN THANH VÂN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ THU
NGOÀI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH
NGHIỆP TẠI CHI NHÁNH NHNO MỸ ĐÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
Người hướng dẫn khoa học: NGƯT.TS Kiều Hữu Thiện
HÀ NỘI – 2012
Trang 21.3 PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ THU NGOÀI TÍN DỤNG ĐỐI
VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
17
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân
hàng
18
1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ THU NGOÀI
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
26
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ thu ngoài tín dụng tại một số nước
trên Thế giới
26
1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra về phát triển các sản phẩm dịch vụ thu
ngoài tín dụng đối với khách hàng Doanh nghiệp
29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ
THU NGOÀI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH
NGHIỆP TẠI CHI NHÁNH NHNo MỸ ĐÌNH
31
Trang 32.1 TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH NHNo MỸ ĐÌNH 31
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ THU NGOÀI
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI CHI
NHÁNH NHNo MỸ ĐÌNH
36
2.2.1 Các sản phẩm dịch vụ thu ngoài tín dụng chủ yếu cung cấp cho khách
hàng doanh nghiệp tại NHNo Mỹ Đình
36
2.2.2 Thực trạng việc phát triển sản phẩm dịch vụ thu ngoài tín dụng đối
với khách hàng doanh nghiệp tại Chi nhánh NHNo Mỹ Đình
37
2.3 ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ THU NGOÀI
TÍN DỤNG CUNG CẤP CHO KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ THU
NGOÀI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI
3.1.3 Định hướng phát triển một số sản phẩm dịch vụ ngân hàng chủ yếu
ngoài tín dụng của chi nhánh NHNo Mỹ đình
68
3.2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ THU NGOÀI TÍN
DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI CHI NHÁNH
70
Trang 4NHNo MỸ ĐÌNH
3.2.2 Tích cực khai thác mối quan hệ tương hỗ, gắn kết chặt chẽ giữa các
dịch vụ ngân hàng
72
3.2.6 Đẩy mạnh công tác chăm sóc khách hàng, thực hiện khuyến mãi, tạo
các dịch vụ đi kèm
77
3.2.7 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công tác đào tạo phải đi đôi với
sử dụng cán bộ sau đào tạo
78
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cty TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn
(General Agreement on Trade in Services)
KCN,KCX Khu công nghiệp, khu chế xuất
NHTM NN Ngân hàng Thương mại Nhà Nước
NHTM CP Ngân hàng Thương mại cổ phần
NHNo VN Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
NHNo Mỹ Đình
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Mỹ Đình
Trang 6TG Tiền gửi
TTKD TM Thanh toán không dùng tiền mặt
Trang 7Danh mục bảng số liệu
Danh mục biểu đồ
Trang 8
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Giữa guồng quay của một xã hội mà “hội nhập” và “phát triển” đang là mục tiêu được nhắc đến nhiều nhất, dịch vụ ngân hàng là dịch vụ được đánh giá cạnh tranh khốc liệt nhất trong giai đoạn tới đặc biệt là từ năm 2010 đến nay – từ khi Việt Nam thực hiện mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ ngân
hàng, chính thức nằm trong bản đồ thế giới phẳng Việc mở cửa thị trường là
một xu thế tất yếu, mở ra cơ hội mới cho ngành ngân hàng cũng như nền kinh
tế, đồng thời đó cũng lại là thách thức không nhỏ đối với khối Ngân hàng quốc doanh Việt nam, tránh để rơi vào tình trạng thua ngay trên “sân nhà” bởi
sự cạnh tranh của các ngân hàng cổ phần mới thành lập và đặc biệt là khối ngân hàng nước ngoài được cấp phép hoạt động ở Việt Nam, trong đó có Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Mỹ đình (NHNo Mỹ Đình ) Trước tình hình đó, đòi hỏi khối Ngân hàng nói chung và NHNo Mỹ Đình nói riêng, nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng, không chỉ dừng lại ở việc cung cấp các dịch vụ truyền thống (huy động vốn, cấp tín dụng, thanh toán chuyển tiền trong nước…) mà phải
đa dạng hóa các sản phẩm, tiện ích nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, từng bước xây dựng mô hình Ngân hàng hiện đại với các sản phẩm mang tính công nghệ cao như dịch vụ thanh toán quốc tế, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (thẻ, séc, dịch vụ ngân hàng điện tử e-banking…) NHNo Mỹ Đình là một chi nhánh non trẻ với hơn 4 năm hoạt động, kết quả kinh doanh bước đầu khả quan, tuy nhiên, muốn giữ vững và ngày càng phát triển chi nhánh theo chiều sâu và ngày một bền vững, đòi hỏi chi nhánh phải sớm xây dựng một chiến lược phát triển, hoạt động kinh doanh của riêng mình, trong đó phải đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao chất lượng cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngoài tín dụng cũng như phát triển các sản phẩm dịch
Trang 9vụ đó nhằm thỏa mãn tối đa khách hàng, thu hút khách hàng đặc biệt là khối khách hàng doanh nghiệp bởi đây là một lực lượng đông đảo trong số các khách hàng có nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng do chính nhu cầu công việc của họ khi tham gia thị trường thương mại, kinh doanh với các đối tác
Đây là một đòi hỏi thiết thực và khẩn trương, trong điều kiện đó, đề tài “Giải pháp phát triển sản phẩm dịch vụ thu ngoài Tín dụng đối với khách hàng Doanh nghiệp tại Chi nhánh NHNo Mỹ Đình” được thực hiện nhằm định
hướng phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, góp phần vào sự phát triển bền vững mang tính ổn định lâu dài của hệ thống ngân hàng nói chung và của chi nhánh nói riêng trong giai đoạn mới
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Với phạm vi của đề tài, luận văn tập trung làm sáng tỏ những luận cứ khoa học và thực tiễn về sự cần thiết phải phát triển các sản phẩm dịch vụ thu ngoài tín dụng đối với khối khách hàng doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay
Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng phát triển sản phẩm dịch vụ đối với khối khách hàng doanh nghiệp tại NHNo Mỹ Đình, luận văn nêu lên những thành tựu đạt được, những tồn tại, hạn chế và những nguyên nhân của tồn tại trong thời gian qua từ đó đề ra những giải pháp phát triển các sản phẩm dịch vụ thu ngoài tín dụng đối với khối khách hàng doanh nghiệp tại NHNo
Mỹ Đình
3 Đối tượng, khách thể, nghiệm thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu: Sản phẩm dịch vụ thu ngoài tín dụng tại
NHNo Mỹ Đình
Trang 10Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp phát triển đa dạng việc cung cấp sản
phẩm dịch vụ thu ngoài tín dụng cho các khách hàng doanh nghiệp tại NHNo
Mỹ Đình
Nghiệm thể nghiên cứu: các quy định về các loại hình sản phẩm dịch
vụ ngoài tín dụng của NHNo&PTNT Việt Nam, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo kết quả hoạt động thu phí dịch vụ ngoài tín dụng, báo cáo hoạt động thẻ, báo cáo doanh số thánh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ của NHNo Mỹ Đình, biểu phí thu dịch vụ của NHNo Mỹ Đình, khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ của NHNo Mỹ Đình, các cán bộ giao dịch viên trực tiếp giao dịch với khách hàng doanh nghiệp của NHNo Mỹ Đình, ban lãnh đạo NHNo
Mỹ Đình
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Đề tài tập trung vào nghiên cứu các giải pháp
phát triển đa dạng việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ thu ngoài tín dụng đối với khối khách hàng doanh nghiệp tại NHNo Mỹ Đình
Phạm vi thời gian: Đề tài chủ yếu lấy hoạt động thực tiễn dịch vụ thu
ngoài tín dụng tại NHNo Mỹ Đình từ năm 2008 đến năm 2011 làm cơ sở minh chứng
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp luận nghiên cứu: Luận văn sử dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu khoa học phổ biến như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp tiếp cận hệ thống để nêu vấn đề, phân tích diễn giải và đưa ra kết luận
Phương pháp phân tích tài liệu: Luận văn cũng sử dụng các phương
pháp lấy số liệu, thống kê, khái quát hoá, phân tích lôgic, so sánh nghiên cứu theo chủ đề
Trang 11Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp các khách hàng sử dụng
sản phẩm dịch vụ ngoài tín dụng tại NHNo Mỹ Đình, các cán bộ giao dịch viên trực tiếp giao dịch với khách hàng doanh nghiệp của NHNo Mỹ Đình,
ban lãnh đạo NHNo Mỹ Đình…
6 Nội dung và kết cấu của đề tài:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Dịch vụ của Ngân hàng thương mại đối với khách hàng doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng phát triển các sản phẩm dịch vụ thu ngoài tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Chi nhánh NHNo Mỹ Đình
Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm dịch vụ thu ngoài tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Chi nhánh NHNo Mỹ Đình
Trang 12CHƯƠNG 1 DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
1.1 KHÁI NIỆM DỊCH VỤ, DỊCH VỤ TÀI CHÍNH, DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
1.1.1 Dịch vụ
Trước hết cần làm rõ thuật ngữ dịch vụ khi muốn hiểu về dịch vụ ngân
hàng Cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về dịch vụ Do tính
đa dạng, phức tạp, vô hình (phi vật chất) của các loại hình dịch vụ nên việc thống nhất khái niệm về dịch vụ trở nên khó khăn, không chỉ ở nước ta mà cả trên thế giới, mỗi quốc gia đều có những cách hiểu về dịch vụ khác nhau
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng không nêu khái niệm cụ thể về dịch vụ, mà thay vào
đó là sự liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn Mỗi ngành lớn lại được chia ra các phân ngành (55 phân ngành) Trong các phân ngành lại liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể chi tiết (155 phân ngành) Đây là cơ sở thích hợp để thực hiện xúc tiến về đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ quốc tế (Phụ lục 1)
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam tập I, 1995, trang 167 giải thích: Dịch vụ là những hoạt động phục vụ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của con người
Theo [4] khi nghiên cứu về dịch vụ, dựa trên tính chất của dịch vụ đã nêu lên khái niệm dịch vụ như sau:
Dịch vụ là các hoạt động của con người được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được
Với khái niệm này dịch vụ thể hiện 2 đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất, dịch vụ là một “sản phẩm”, là kết quả của quá trình lao động
và sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người;
Trang 13Thứ hai, khác với hàng hóa là hữu hình, dịch vụ là vô hình (phi vật
chất) và không thể lưu trữ được Tính vô hình là đặc điểm chính để phân biệt sản phẩm dịch vụ với các sản phẩm của ngành sản xuất vật chất khác trong các ngành kinh tế Tính vô hình thể hiện ở chỗ quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ diễn ra đồng thời Vì dịch vụ là vô hình, nên khuôn khổ pháp lý
và chính sách để điều chỉnh rất khó xác lập chuẩn xác Do vậy, luật pháp các nước đều ở khuôn khổ mở
Có 2 loại dịch vụ:
Dịch vụ mang tính chất thương mại là những dịch vụ được thực hiện cung ứng nhằm mục đích kinh doanh để thu lợi nhuận, ví dụ quảng cáo để bán hàng, cho vay để lấy lãi…
Dịch vụ không mang tính chất thương mại (phi thương mại) là những dịch vụ được cung ứng không nhằm mục đích kinh doanh, không vì mục tiêu thu lợi nhuận, ví dụ các dịch vụ công cộng, dụng cụ y tế cộng đồng…
Phân biệt rõ hai loại dịch vụ này có ý nghĩa quan trọng,đối với hệ thống ngân hàng cũng là dịch vụ cho vay, nhưng của các Ngân hàng thương mại (NHTM) thì đó là dịch vụ mang tính chất thương mại, ngược lại ngân hàng chính sách xã hội cho vay lại không vì mục tiêu lợi nhuận mà thực hiện yêu cầu chính sách xã hội
1.1.2 Dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng
1.1.2.1 Dịch vụ tài chính:
Đối với Việt Nam, dịch vụ tài chính là một khái niệm mới và cũng chưa có một khái niệm thống nhất Đối với các nước đang phát triển, nhất là trong bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế cần có sự thống nhất về khái niệm dịch vụ tài chính tạo điều kiện thuận lợi để mở cửa các ngành dịch
vụ trong thời gian tới
Trang 14Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO): dịch vụ tài chính là tất cả các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ của các định chế tài chính bao gồm: các tổ chức tín dụng (TCTD), các tổ chức trung gian tài chính khác (các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, tiết kiệm bưu điện) và các công ty chứng khoán
Trong bảng danh mục phân loại các dịch vụ theo khu vực của WTO thì dịch vụ tài chính được xếp trong phân ngành thứ 7, trong 12 phân ngành dịch
vụ Trong dịch vụ tài chính có tất cả dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm, các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (Phụ lục 1)
1.1.2.2 Dịch vụ ngân hàng:
- Theo WTO: Dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính
Do khó phân tách rạch ròi giữa dịch vụ ngân hàng với dịch vụ tài chính khác, WTO đã phải gộp vào một phân ngành 7B “Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác”
- Theo Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS): Các dịch vụ ngân hàng gắn liền với hoạt động kinh doanh ngân hàng như: nhận tiền gửi, cho vay, cho thuê tài chính, chuyển tiền và thanh toán thẻ, séc, bảo lãnh và cam kết, mua bán các công cụ thị trường tài chính, phát hành chứng khoán, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, dịch vụ thanh toán và bù trừ, cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, dịch vụ tư vấn và trung gian hỗ trợ về tài chính và các dịch vụ khác…
Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) của Việt Nam cũng chưa có khái niệm cụ thể về dịch vụ ngân hàng mà chỉ đề cập đến thuật ngữ “hoạt động ngân hàng” như sau: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung là thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán” Theo đó, hoạt
Trang 15động ngân hàng gồm 4 nhóm sản phẩm lớn đó là: huy động vốn, tín dụng, thanh toán - ngân quỹ và các hoạt động khác
Ngoài ra, có 2 quan điểm khác nhau về khái niệm dịch vụ ngân hàng
+ Quan điểm thứ nhất cho rằng: Những hoạt động ngân hàng không
thuộc huy động vốn tiền gửi và cho vay mới gọi là dịch vụ ngân hàng như chuyển tiền, thu hộ, ủy thác, mua bán hộ, môi giới kinh doanh chứng khoán…
+ Quan điểm thứ hai cho rằng: “Tất cả hoạt động ngân hàng phục vụ
cho doanh nghiệp và công chúng đều là dịch vụ ngân hàng” [1] Theo đó dịch
vụ ngân hàng bao gồm 11 loại hình: nhận tiền gửi, cung cấp các tài khoản giao dịch; quản lý tiền mặt; trao đổi ngoại tệ (dịch vụ ngoại hối); dịch vụ về tín dụng (chiết khấu thương phiếu, cho vay tài trợ dự án, cho vay tiêu dùng); dịch vụ ủy thác; cho thuê tài chính; tư vấn tài chính; các dịch vụ bảo hiểm; môi giới đầu tư chứng khoán; dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp và các dịch vụ khác có liên quan
Theo một số tác giả khác, dịch vụ ngân hàng cần được hiểu theo hai khía cạnh:
Theo nghĩa rộng, toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối của hệ thống ngân hàng đều là hoạt động cung ứng dịch vụ cho nền kinh
Trang 161.2 CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Ngân hàng thương mại và các sản phẩm dịch vụ chủ yếu:
Theo Luật các Tổ chức tín dụng (công bố ngày 26/12/1997): Ngân hàng
là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch
vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này
để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan
Theo thống kê của Ngân hàng thế giới thì hiện nay có tới 6.000 dịch vụ ngân hàng Tuy nhiên, số lượng dịch vụ ngân hàng còn phụ thuộc vào sự phân chia các dịch vụ ngân hàng theo tiêu thức nào Phân chia các tiêu thức khác nhau sẽ có sự giao thoa giữa các nhóm dịch vụ, ví dụ thẻ tín dụng cũng có thể coi thuộc nhóm dịch vụ thanh toán nhưng cũng có thể coi là thuộc nhóm dịch
vụ tín dụng Do vậy, việc kể tên các dịch vụ hay nhóm dịch vụ ngân hàng cũng chỉ là tương đối, có thể kể một số dịch vụ của ngân hàng tạm chia theo các nhóm như sau:
1.2.1.1 Dịch vụ huy động vốn
Huy động vốn là hoạt động chủ yếu và thường xuyên của ngân hàng thương mại (NHTM), tạo điều kiện quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM Nhận tiền gửi là nền tảng, là cơ sở chính cho hoạt động tín dụng của ngân hàng, là nguồn gốc tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng
Đây là dịch vụ truyền thống, chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn vốn, các NHTM được nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác với cam kết hoàn trả đúng hạn
Chính nghiệp vụ huy động vốn tạo ra nguồn vốn quan trọng cho ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM
Trang 171.2.1.2 Dịch vụ tín dụng
Đây là dịch vụ đi liền với dịch vụ huy động vốn, NHTM cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức như: cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng nhà nước (NHNN)
Tùy theo tiêu thức phân loại dịch vụ tín dụng của ngân hàng rất phong phú và đa dạng, xét theo nhu cầu về thời gian vay vốn của khách hàng, ngân hàng thường áp dụng các hình thức cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; lãi suất cho vay áp dụng theo cung cầu trên thị trường hoặc theo quan hệ tín nhiệm lẫn nhau để áp dụng mức lãi suất cho vay phù hợp với từng đối tượng cho vay
Tuy nhiên xét trên góc độ kỹ thuật cấp tín dụng thì dịch vụ tín dụng bao gồm các loại sau đây:
- Dịch vụ cho vay tài trợ sản xuất kinh doanh: Ngân hàng cung cấp
dịch vụ này nhằm đáp ứng vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống thông qua phương thức cho vay theo từng lần và cho vay theo hạn mức tín dụng (HMTD)
- Dịch vụ cho vay đầu tư phát triển: Thực chất là cho vay trung, dài
hạn của ngân hàng để tài trợ cho các doanh nghiệp trong các dự án đầu tư như các công trình xây dựng cơ bản mới, cải tạo và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, khôi phục và thay thế tài sản cố định, cải tiến và hợp lý hóa sản xuất kinh doanh Đây là hình thức tài trợ đầu tư phổ biến ở các nước đang phát triển
- Tín dụng liên kết (tín dụng đồng tài trợ, tín dụng hợp vốn): Tín
dụng hợp vốn là phương thức cho vay mà theo đó một nhóm NHTM cùng cung cấp tín dụng đối với một dự án vay hoặc phương án vay vốn khách hàng kèm theo các điều kiện, điều khoản nhất định Việc cho vay hợp vốn thực
Trang 18hiện theo quy chế đồng tài trợ của các TCTD số 154/1998/QĐ-NHNN14 ngày 29/04/1998 của Thống đốc NHNN Việt Nam
- Chiết khấu: Ngân hàng mua thương phiếu và và chứng từ có giá
khác còn trong thời hạn hiệu lực thanh toán Người sở hữu thương phiếu khi bán cho ngân hàng sẽ nhận một số tiền nhất định bằng mệnh giá trừ đi tiền chiết khấu, tính theo giá trị chứng từ, thời hạn chiết khấu, lãi suất và các tỷ lệ chiết khấu khác Người thụ hưởng muốn nhận được số tiền này phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền hưởng lợi cho ngân hàng chiết khấu đối với các chứng từ xin chiết khấu Đây là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, là nghiệp vụ ngân hàng cổ điển ra đời rất sớm và đến ngày nay vẫn được các ngân hàng áp dụng một cách phổ biến
- Thấu chi: Thấu chi là một kỹ thuật cấp tín dụng cho khách hàng mà
ngân hàng cho phép khách hàng chi vượt số dư có trên tài khoản tiền gửi thanh toán nhưng không vượt quá hạn mức tín dụng để thực hiện các các giao dịch thanh toán kịp thời cho nhu cầu sản xuất kinh doanh Phương thức cho vay này gần giống cho vay luân chuyển nhưng khác nhau ở chỗ, thấu chi chỉ
sử dụng một tài khoản ghép - tài khoản vãng lai- của tài khoản cho vay và tài khoản tiền gửi Tài khoản vãng lai vừa thể hiện tiền gửi khách hàng vừa thể hiện các khoản ngân hàng cho vay, do đó tài khoản vãng lai vừa có dư có, vừa
có dư nợ, bên nợ tài khoản phản ánh các khoản chi của khách hàng; bên có tài khoản phản ánh các khoản thu vào của khách hàng
- Bảo lãnh ngân hàng: Bảo lãnh là cam kết bằng văn bản của ngân
hàng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay
Bảo lãnh được thực hiện một văn bản để cam kết với bên có quyền (bên thụ hưởng bảo lãnh) Nếu khi đến hạn, bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh)
Trang 19không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết đã nêu trong hợp đồng dân sự, thì ngân hàng, với tư cách là ngân hàng bảo lãnh sẽ đứng ra thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh Theo luật tổ chức tín dụng thì
“tổ chức tín dụng được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh” Như vậy bảo lãnh ngân hàng là bảo lãnh bằng năng lực chi trả
- Bao thanh toán: Để tài trợ cho các nhà xuất khẩu, người bán nói
chung khi những người này đã giao hàng nhưng phải chờ một thời gian sau mới được thanh toán, và trong thời gian chờ đợi nếu khách hàng có nhu cầu thì ngân hàng sẽ sẵn sàng trả tiền trước cho khách hàng nhưng ngược lại khách hàng phải chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng
- Cho thuê tài chính: Thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài
hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa một bên là tổ chức tín dụng (là bên cho thuê tài chính) với một bên là khách hàng thuê Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng có thể mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê Trong thời hạn thuê các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng
Đây là phương thức tài trợ cho các doanh nghiệp mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển mà không cần phải đầu tư vốn Khi các doanh nghiệp thiếu vốn cần mua sắm tài sản phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, họ có thể đến các công ty thuê mua để thuê tài sản và trả một khoản phí theo thương lượng giữa hai bên, tài sản này vẫn thuộc quyền
sở hữu của các công ty thuê mua, doanh nghiệp được quyền sử dụng trong thời gian thuê
1.2.1.3 Dịch vụ thanh toán
Ngoài các dịch vụ nhận tiền gửi và cho vay, ngân hàng còn thực hiện dịch vụ thanh toán hộ nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế Khi
Trang 20các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ Việc thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt này là an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí, hạn chế lượng tiền mặt trong lưu thông, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh tế phát triển hoàn thành tốt chức năng của mình Cùng với sự phát triển của dịch vụ thanh toán
là sự ra đời của các dịch vụ khác mà các Ngân hàng không ngừng khai thác để
mở rộng phạm vi kinh doanh của mình Trước hết là dịch vụ mở tài khoản giao dịch cho khách hàng Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi được xem là một bước đi quan trọng nhất trong lĩnh vực ngân hàng Công nghệ thông tin phát triển đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển nhiều hình thức thanh toán khác như: Nhờ thu, Uỷ nhiệm chi, thanh toán bằng thư tín dụng chứng từ (L/C), thanh toán bằng điện chuyển tiền, thẻ thanh toán… Những dịch vụ này giúp cho nền kinh tế hoạt động một cách linh hoạt và sôi động hơn
1.2.1.4 Dịch vụ mua bán ngoại tệ (Dịch vụ ngoại hối)
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi (mua bán) ngoại tệ Đó là một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ Thông qua dịch vụ mua bán ngoại tệ, một mặt ngân hàng cung cấp ngoại tệ cho khách hàng để thanh toán, mặt khác ngân hàng thu được khoản chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán Nhưng điều quan trọng hơn cả là vai trò to lớn của dịch vụ mua bán ngoại tệ
là ngày càng thu hút khách hàng giao dịch và thúc đẩy các dịch vụ khác của ngân hàng phát triển như dịch vụ thanh toán, tín dụng và thu hút nguồn tiền gửi cho ngân hàng
1.2.1.5 Dịch vụ uỷ thác
Trang 21Từ nhiều năm nay, các Ngân hàng đã thực hiện việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp thương mại Theo
đó, Ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy mô vốn họ quản lý Chức năng quản lý tài sản này được gọi là "dịch vụ uỷ thác" Hầu hết các Ngân hàng đều cung cấp dịch vụ uỷ thác với các hình thức đó là: uỷ thác
cá nhân, hộ gia đình và uỷ thác thương mại cho các doanh nghiệp
Thực hiện dịch vụ uỷ thác mang lại cho ngân hàng một số lợi thế như
bổ sung cho ngân hàng một nguồn thu nhập khá lớn từ thu lệ phí và hoa hồng
uỷ thác hàng năm Ở các nước phát triển khoản thu nhập này khoảng 10% thu nhập của ngân hàng Thông qua hoạt động uỷ thác ngân hàng có thể củng cố
và duy trì tốt mối quan hệ với khách hàng Do vậy, nhiều ngân hàng coi đây là chìa khoá mở ra hướng hoạt động mới trong tương lai
1.2.1.6 Dịch vụ bảo quản vật có giá
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản Ngân hàng giữ vàng và giao cho khách tờ biên nhận Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào cho giấy biên nhận, nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền, dùng để thanh toán các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành Lợi ích của việc sử dụng phương tiện thanh toán bằng giấy thay cho bằng kim loại đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để lấy giấy chứng nhận của ngân hàng Đó
là hình thức đầu tiên của giấy bạc ngân hàng Ngày nay, vật có giá được tách khỏi tiền gửi và khách hàng phải trả phí bảo quản
1.2.1.7 Dịch vụ quản lý ngân quỹ
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp
và nhiều cá nhân Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một
Trang 22công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán
1.2.1.8 Dịch vụ môi giới, đầu tư chứng khoán
Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu Đây là một trong những lý do chính khiến cho các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác
mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán Trong một vài trường hợp, các ngân hàng còn thành lập các công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán trực thuộc nhằm kinh doanh chứng khoán
1.2.1.9 Một số dịch vụ khác
- Dịch vụ bảo hiểm:
Ngân hàng bán bảo hiểm cho khách hàng, bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán
Ngân hàng cung cấp dịch vụ đại lý Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi Nhiều ngân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ cho khách hàng…
Ngân hàng còn cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính Ngân hàng cung cấp cho khách hàng của họ những lời khuyên tốt nhất, những hiểu biết sâu sắc nhất về lĩnh vực tiết kiệm và đầu tư Nhờ những lời khuyên có chất lượng của ngân hàng mà khách hàng có được những thông tin đáng tin cậy chính xác Dựa vào đó họ có cơ sở để dự đoán được những diễn biến của tình hình kinh doanh - xã hội… Kết quả là họ có thể xây dựng những phương án tối ưu, hoặc
Trang 23có những quyết định kịp thời trong đầu tư, sản xuất kinh doanh Từ đó họ có thể giảm thiểu được rủi ro hay thiệt hại và đạt được mức lợi nhuận tối đa
Ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ ngân hàng hiện đại như: dịch vụ ATM, dịch vụ home-banking, e-banking, phone-banking, dịch vụ ngân hàng trực tuyến, dịch vụ thẻ… Đây là những sản phẩm của công nghệ hiện đại, chúng mang lại tiện ích cao cho khách hàng và đang được khách hàng ưa chuộng
- Dịch vụ Home Banking và E-Banking và Phone Banking là những
dịch vụ ngân hàng giúp cho khách hàng là tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng và các khách hàng khác không cần phải tới ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện giao dịch với ngân hàng, tiết kiệm được chi phí, thời gian đi lại Hiện tại đã có rất nhiều tổ chức đã sử dụng dịch vụ này để xem số dư tài khoản, in sao kê tài khoản, thực hiện uỷ nhiệm chi, trả lương và mua bán ngoại tệ
- Dịch vụ ngân hàng trực tuyến hay còn gọi là cây cầu thu hẹp mọi
khoảng cách không gian và địa lý Nó được xây dựng trên nền tảng công nghệ cao với tiện ích đặc trưng là cho phép khách hàng mở tài khoản một nơi nhưng được giao dịch tại bất kỳ điểm gao dịch nào của ngân hàng trên toàn quốc
- Dịch vụ rút tiền tự động bằng thẻ ATM, và ghi nợ bằng thẻ tín dụng Hệ thống ATM và thẻ tín dụng và một bước đột phá nhằm thay đổi thói
quen của người tiêu dùng, từ việc giữ tiền mặt chuyển sang mở tài khoản và giữ tiền tại ngân hàng Với chuẩn mực quốc tế và khả năng cho phép liên kết với các ngân hàng khác, giao dịch 24/24
- Ngân hàng thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản
- Ngân hàng thực hiện dịch vụ tài trợ cho các hoạt động của Chính Phủ
Với khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng
đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính Phủ Do nhu cầu chi tiêu lớn và
Trang 24thường là cấp bách trong khi thu không đủ, Chính Phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngân hàng
Trên đây chưa đề cập hết các dịch vụ ngân hàng Tuy nhiên, thực tế không phải mọi ngân hàng đều cung cấp tất cả các dịch vụ tài chính Trong
thời đại phát triển, ngân hàng muốn trở thành tổ chức tài chính đa năng thì
phải tích cực phát triển các dịch vụ ngân hàng với chất lượng cao, làm thoả mãn nhu cầu của khách hàng
1.2.2 Các sản phẩm dịch vụ thu ngoài tín dụng của NHTM:
1.2.2.1 Nhóm sản phẩm Dịch vụ thanh toán
Nhóm sản phẩm dịch vụ thanh toán bao gồm thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế và dịch vụ kinh doanh ngoại tệ
- Dịch vụ Thanh toán trong nước:
Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, không sử dụng tiền mặt được thực hiện và được tiến hành bằng cách trích chuyển từ tài khoản đơn vị này sang tài khoản đơn vị khác hoặc bù trừ lẫn nhau giữa các đơn vị, thông qua ngân hàng
Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng bao gồm các loại chủ yếu sau: Dịch
vụ chuyển khoản, Dịch vụ trả lương cho các doanh nghiệp qua tài khoản cá nhân, Dịch vụ khấu trừ tự động
- Dịch vụ Thanh toán quốc tế: NHTM thực hiện các phương thức chủ
yếu sau:
Thứ nhất : Phương thức nhờ thu (Collection of payment):
Là phương thức thanh toán mà nhà xuất khẩu sau khi giao hàng hay cung cấp dịch vụ, ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ tiền nhà nhập khẩu trên cơ sở hối phiếu và chứng từ hàng hóa liên quan (nếu có)
Thứ hai: Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary credit):
Trang 25Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của người mua (người mở thư tín dụng)
về việc trả một số tiền nhất định cho người thứ ba (người hưởng lợi) hoặc trả theo lệnh của người này, hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó với điều kiện người này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản đã ghi trong thư tín dụng
Thứ ba: Phương thức chuyển tiền (Remittance):
Phương thức chuyển tiền là phương thức theo sự ủy nhiệm của khách hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích chuyển một số tiền nhất định từ địa phương này sang địa phương khác cho người thụ hưởng trong một thời gian nhất định
- Dịch vụ Kinh doanh ngoại tệ: Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ giao ngay
(Spot), Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ có kỳ hạn (Forward), Nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ (Option), Giao dịch tương lai
1.2.2.2 Nhóm sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại được phân ra thành ba nhóm sản phẩm đó là dịch vụ thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử và các sản phẩm dịch vụ thu ngoài tín dụng khác:
- Dịch vụ thẻ ngân hàng: Ngân hàng cấp thẻ cho khách hàng có tài
khoản dùng để thanh toán tiền mua hàng, chi trả tiền dịch vụ, hay rút tiền mặt
tự động thông qua các máy ATM, các máy đọc thẻ Công nghệ thanh toán thẻ với nhiều ưu điểm nổi trội so với thanh toán bằng tiền mặt như tập trung vốn tiền gửi vào ngân hàng, giảm thiểu rủi ro nên dịch vụ này đã phát triển ngày càng nhanh chóng
- Dịch vụ ngân hàng điện tử (e.banking): Loại hình dịch vụ này được
nhắc đến với những khái niệm như Phone banking, Mobile banking, Home banking, Internet banking liên quan trực tiếp đến các thiết bị điện tử của
Trang 26ngành Thông tin viễn thông hiện đại như máy tính cá nhân, điện thoại di động, mạng Internet
1.2.2.3 Nhóm các sản phẩm dịch vụ thu ngoài tín dụng khác:
Nhóm này bao gồm:
- Dịch vụ ngân quỹ (kiểm, đếm, phân loại, bảo quản, thu phát tiền mặt)
- Thu hộ (Ngân hàng thu hộ khách hàng trên cơ sở những chứng từ mà khách hàng cung cấp như: thu hộ lợi tức cổ phần)
- Dịch vụ giữ hộ, quản lý hộ tài sản tài chính
- Dịch vụ chuyển tiền nhanh, chuyển tiền du học sinh
- Dịch vụ cho thuê két sắt, két ngân buổi tối
- Dịch vụ tư vấn, bảo quản tài sản, kinh doanh vàng bạc đá quý, dịch
vụ ủy thác, dịch vụ môi giới,…
- Dịch vụ mua bán nhà
- Dịch vụ bảo hiểm
- Dịch vụ đầu tư tài chính, tư vấn tài chính, thẩm định dự án
- Dịch vụ môi giới chứng khoán, dịch vụ tư vấn và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, dịch vụ tài chính kế toán doanh nghiệp, tư vấn cổ phần hoá, tư vấn niêm yết, …
- Dịch vụ môi giới tiền tệ: là hoạt động cung ứng dịch vụ của các tổ chức tín dụng để dàn xếp, tạo điều kiện cho các giao dịch bao gồm các giao dịch cho vay, nhận tiền gửi, gửi tiền, mua bán giấy tờ có giá, mua bán ngoại
tệ và các giao dịch khác giữa các tổ chức tín dụng, các tổ chức nước ngoài,
có thu phí môi giới
Trang 271.3 PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ THU NGOÀI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
1.3.1 Quan niệm về phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng:
Phát triển dịch vụ ngân hàng là việc mở rộng số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng nhằm làm thoả mãn ngày càng tốt nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đảm bảo các mục tiêu của ngân hàng
Phát triển dịch vụ ngân hàng là một nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của các ngân hàng thương mại Vậy phát triển dịch vụ ngân hàng theo hướng nào? Theo các chuyên gia ngân hàng thì phát triển theo hướng hoàn thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ hiện có phù hợp với sự thay đổi của thị trường, đồng thời mở rộng các dịch vụ mới đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu của thị trường Việc triển khai các dịch vụ mới phải trên cơ sở tận dụng được tối
đa nguồn lực hiện có của ngân hàng nhằm tránh lãng phí, tăng thu nhập
1.3.2 Các tiêu chí phản ánh sự phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng
Sự phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng được phản ánh thông qua các tiêu chí sau:
- Sự gia tăng số lượng dịch vụ ngân hàng: Số lượng dịch vụ ngân
hàng là một tiêu chí để đánh giá sự phát triển theo hướng mở rộng dịch vụ ngân hàng Có thể nói dịch vụ ngân hàng càng đa dạng, ngân hàng càng có khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng đầy đủ hơn Điều đó làm tăng khả năng thu hút khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường Mặt khác số lượng dịch vụ lớn tạo cho ngân hàng có thể đa dạng hoá được rủi ro tăng khả năng sinh lời trong hoạt động kinh doanh Đây là những điều kiện ngân hàng tiếp tục mở rộng dịch vụ của mình
- Sự cải tiến chất lượng dịch vụ ngân hàng: Đây là một tiêu chí phản
ánh sự phát triển dịch vụ ngân hàng theo chiều sâu Chất lượng dịch vụ ngân
Trang 28hàng phản ánh mức độ thoả mãn của khách hàng về dịch vụ ngân hàng Khách hàng mong muốn dịch vụ ngân hàng phù hợp với nhu cầu, có tiện ích cao, đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện… Dịch vụ đáp ứng tốt nhất những mong muốn của khách hàng được gọi là dịch vụ có chất lượng cao Ngân hàng có dịch vụ chất lượng cao sẽ thu hút được khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh, uy tín và vị thế của mình trên thị trường
- Sự gia tăng số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng: Đây
cũng là một tiêu chí thể hiện sự phát triển dịch vụ ngân hàng Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng càng nhiều chứng tỏ dịch vụ đó đã đáp ứng nhu cầu của khách hàng, thích ứng được với thị trường và dịch vụ đó có khả năng phát triển
- Sự tăng trưởng doanh số hoạt động dịch vụ: Sự tăng trưởng về
doanh số hoạt động từng dịch vụ qua các thời kỳ thể hiện dịch vụ đó phát triển đến mức độ nào và được ngân hàng quan tâm đẩy mạnh phát triển nó ra sao
- Sự tăng trưởng của thu nhập dịch vụ: Đây là con số tương đối thể
hiện hiệu quả của việc phát triển dịch vụ ngân hàng, được các ngân hàng sử dụng để đánh giá sự phát triển của dịch vụ ngân hàng qua các thời kỳ
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng
- Yếu tố chủ quan thuộc về ngân hàng
+ Định hướng chiến lược phát triển dịch vụ của ngân hàng: Cơ sở lý
luận đã chỉ ra rằng bất kỳ một tổ chức nào hoạt động cũng phải có mục tiêu rõ ràng Để đạt được mục tiêu đó cần phải có một chiến lược cụ thể Bởi chiến lược là một kế hoạch hành động được vạch ra nhằm đạt được một số mục tiêu
cụ thể Nếu không có được một chiến lược dài hơn với những bước đi cụ thể ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng lúng túng, bị động và dễ mất phương hướng
Do vậy, phải xây dựng một chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng để đảm
Trang 29bảo rằng việc phát triển dịch vụ ngân hàng có kế hoạch dài hạn, không phải là những hoạt động rời rạc, tuỳ tiện, tạo ra thế chủ động trong hoạt động ngân hàng Định hướng phát triển dịch vụ ngân hàng phải bám sát vào nhu cầu của thị trường từng địa bàn hoạt động và nhằm khai thác được tối đa nguồn lực,
ưu thế cạnh tranh của mỗi ngân hàng và đạt được mục tiêu của ngân hàng
+ Vốn đầu tư: Vốn đầu tư là điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất đối
với ngân hàng trong việc đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ của Ngân hàng
Cơ sở lý luận đã chỉ ra rằng công nghệ là một điều kiện vật chất cực kỳ quan trọng để đưa đến sự thành bại cho các chủ nhân của chúng Kinh tế chính trị chủ nghĩa Mác-Lê cũng cho thấy: Lao động, Vốn và Công nghệ là ba yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố sản xuất Thiếu một trong ba yếu tố đó thì cơ sở sản xuất, dịch vụ không thể thực hiện được
Công nghệ ngân hàng ảnh hưởng quyết định đối với việc mở rộng dịch
vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ và phương thức phân phối dịch vụ đến khách hàng Ngoài ra khả năng quản lý ngân hàng, khả năng quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào trình độ công nghệ của ngân hàng Do vậy, việc ngân hàng đi tắt đón đầu các công nghệ ngân hàng hiện đại sẽ có cơ hội để phát triển các dịch vụ ngân hàng
Ngoài ra cơ sở vật chất kỹ thuật của ngân hàng chính là một phần ảnh ngân hàng Hình ảnh của ngân hàng tốt sẽ tạo cho khách hàng yên tâm thoải mái khi giao dịch và ngược lại Từ đó có thể thu hút khách hàng trong việc sử dụng dịch vụ ngân hàng Do vậy, có thể nói đây cũng là một nhân tố tác động đến sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng
Các ngân hàng ở các nước phát triển rất quan trọng trong việc lựa chọn trụ sở giao dịch, các phương tiện thiết bị phục vụ khách hàng như bàn, quầy
Trang 30giao dịch phù hợp cho giao tiếp và trao đổi với khách hàng, ghế ngồi phòng đợi, các tài liệu giấy tờ với mẫu mã đẹp, sổ séc, thẻ tín dụng, máy rút tiền tự động và kiểm tra tài khoản… và các trang thiết bị ngân hàng sử dụng nội bộ như mạng vi tính, với hệ thống thanh toán nhanh, chính xác, an toàn… để tăng thêm lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng
sẽ thu hút được khách hàng và là điều kiện cơ bản để có thể mở rộng và phát triển các dịch vụ ngân hàng
+ Hoạt động Marketing ngân hàng
Cơ sở lý luận đã chỉ ra rằng Marketing không chỉ là đáp ứng tốt nhất những mong muốn của khách hàng mà còn có lợi cho ngân hàng Marketing quan tâm đến mục tiêu cuối cùng là lợi ích của ngân hàng Nội dung của Marketing ngân hàng bao gồm 5 nội dung chính như sau: Nghiên cứu thị trường; tổ chức quản lý dịch vụ ngân hàng; giá của dịch vụ ngân hàng; hoạt động xúc tiến khuyếch trương và hoạt động phân phối dịch vụ
Trang 31Những vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của dịch vụ ngân hàng, thật vậy:
Một là, nghiên cứu thị trường Mục đích của nghiên cứu là thị trường là
kịp thời nắm bắt được sự thay đổi nhu cầu của khách hàng đối với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, để từ đó tìm ra các dịch vụ ngân hàng thích hợp đáp ứng nhu cầu của khách hàng Do vậy hoạt động nghiên cứu thị trường là cơ sở quan trọng dẫn đến sự ra đời và sản phẩm các dịch vụ ngân hàng đáp ứng nhu cầu của thị trường Hiện nay ở Việt Nam, nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng mới chỉ dùng lại ở mức sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp, họ chưa tích cực đòi hỏi dịch vụ ngân hàng cần cải tiến và mở rộng hơn nữa để phù hợp với nhu cầu của mình Do vậy, các NHTM Việt Nam cần phải tích cực điều tra, tìm hiểu nhu cầu của ngân hàng, phát hiện ra những nhu cầu hợp lý của khách hàng
Hai là, tổ chức quản lý dịch vụ ngân hàng: Nghĩa là ngân hàng phải
xem xét dịch vụ đó có khả năng phát triển ở thị trường nào, khu vực nào và dịch vụ đó thích hợp với đối tượng nào Sau đó, ngân hàng bố trí thị trường thích hợp cho dịch vụ, ngân hàng cần phải có chính sách nhằm khai thác và kiểm soát dịch vụ tốt nhất nhằm đạt được mục tiêu phát triển dịch vụ
Việc tổ chức quản lý tốt dịch vụ sẽ đem lại thắng lợi cho ngân hàng trong việc phát triển dịch vụ Bởi việc tổ chức quản lý thành công việc thực hiện dịch vụ chính là đã tạo chỗ đứng vững chắc cho sản phẩm trên thị trường
Ba là, giá cả các dịch vụ ngân hàng: Giá cả luôn là vấn đề quan trọng
trong việc thực hiện dịch vụ và thu lợi nhuận cho ngân hàng Nếu ngân hàng định giá cao trong trường hợp cho vay, giá thấp trong trường hợp huy động vốn thì khó thu hút được khách hàng Vậy phải định giá như thế nào để vừa
Trang 32đảm bảo dịch vụ có thể thích ứng được với thị trường, được khách hàng chấp nhận lại vừa đạt được mục tiêu tăng lợi nhuận của ngân hàng
Bốn là, hoạt động xúc tiến, khuyếch trương quảng bá, phân phối dịch
vụ Hoạt động này có ảnh hưởng lớn đến việc khách hàng có hiểu biết về dịch vụ và có tích cực sử dụng dịch vụ của ngân hàng hay không Do đó, thực hiện tốt hoạt động này, có nghĩa là đã đạt được mục tiêu lớn là phát triển dịch
vụ ngân hàng
Hoạt động phân phối dịch vụ phải theo định hướng khách hàng - sản phẩm, bởi mô hình này sẽ nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, từ đó tạo hình ảnh tốt đẹp trong lòng khách hàng và họ có thể sử dụng dịch vụ ngân hàng một cách tích cực hơn Điều này tạo cơ hội cho ngân hàng có thể phát triển dịch vụ
+ Tình hình khai thác mối quan hệ tương quan, gắn kết chặt chẽ giữa các dịch vụ ngân hàng
Các dịch vụ ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự tồn tại và phát triển của dịch vụ này là cơ sở để tồn tại và phát triển dịch vụ kia Do vậy ngân hàng cần phải khai thác tốt mối quan hệ này để tạo ra một hệ thống hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển từng dịch vụ, và xây dựng một hệ thống dịch vụ mạnh có thể cung cấp cho khách hàng theo phương thức trọn gói
+ Hệ thống phòng ngừa rủi ro của ngân hàng
Khi một dịch vụ ngân hàng có nguy cơ gặp rủi ro có nghĩa là không đảm bảo sự an toàn cho khách hàng và ngân hàng thì dịch vụ đó không thể phát triển được Do vậy, để có thể phát triển dịch vụ nào đó thì trước hết ngân hàng cần có một hệ thống phòng ngừa rủi ro tốt
- Nhân tố khách quan
+ Môi trường pháp lý: Bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào muốn
phát triển đều phải được thực hiện trên cơ sở một môi trường pháp lý đồng
Trang 33bộ, rõ ràng Đặc biệt là trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng , môi trường pháp lý
có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển các dịch vụ ngân hàng Bởi vì, các nhà ngân hàng, các chuyên gia kinh tế có thể sáng tạo ra các sản phẩm dịch vụ mới đáp ứng được sự đòi hỏi của nền kinh tế, của khách hàng mà luật pháp chưa cho phép thì dịch vụ đó cũng không thể đi vào thực tiễn
Tuy nhiên vấn đề nổi cộm nhất của hệ thống khung pháp lý điều chỉnh hoạt động dịch vụ ngân hàng hiện nay là tương đối phức tạp, nhiều văn bản hướng dẫn, sửa đổi, dẫn đến khó tra cứu, áp dụng, các văn bản pháp luật còn rườm rà, nặng về thủ tục hành chính, can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính trên thị trường Không những thế, một hoạt động khi thi hành có thể phải tham chiếu nhiều văn bản hướng dẫn của các cơ quan quản lý khác nhau Chính vì những vấn đề này đã kìm hãm
sự phát triển các dịch vụ ngân hàng
Ngoài ảnh hưởng của hệ thống luật pháp, sự phát triển các dịch vụ ngân hàng còn phụ thuộc vào các chính sách sau:
Chính sách tiền tệ và các công cụ của chính sách tiền tệ - ví dụ một
sự thay đổi về tỉ lệ dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng, lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu Nếu các chính sách này phù hợp và đúng đắn bảo đảm yêu cầu kinh doanh: "Bình quân lãi suất huy động phải thấp hơn bình quân lãi suất cho vay" sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các ngân hàng thương mại thực hiện được mục tiêu
Chính sách giá cả: có tác động khác nhau theo hướng xuất khẩu hay
nhập khẩu hàng hoá Một tỉ giá gữa đồng bản tệ và đồng ngoại tệ không hợp
lý kéo dài trong một thời gian sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu nếu đồng bản tệ giữ giá cao hơn và ngược lại sẽ gây khó kăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu nếu đồng bản tệ giữ giá thấp hơn Mức tỉ giá chủ yếu
Trang 34tác động lên khả năng sinh lời của ngân hàng đồng thời tác động trực tiếp tới nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ…
Nếu tỷ giá phản ánh không đúng giá trị đồng bản tệ và ngoại tệ sẽ làm cho các doanh nghiệp nhập khẩu hoặc xuất khẩu khó khăn về tài chính dẫn tới khả năng trả nợ, trả lãi ngân hàng không đầy đủ đúng hạn
+ Môi trường kinh tế: Bao gồm các yếu tố như: tiền tệ ổn định, nền
kinh tế phát triển vững chắc tác động trực tiếp tới sự phát triển các dịch vụ ngân hàng, cụ thể như sau:
Tiền tệ ổn định Đây là tiền tệ, là điều kiện cơ bản cho việc mở rộng sử
dụng dịch vụ đối với bất kỳ quốc gia nào Người dân sẽ rút tiền mặt và tiêu dùng ồ ạt khi đồng tiền bị mất giá nhanh chóng và rõ ràng không ai muốn sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt
Sự phát triển của nền kinh tế: Dịch vụ ngân hàng không thể phát triển
trong điều kiện một nền kinh tế có năng lực sản xuất kinh doanh, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp yếu kém, thu nhập dân cư còn thấp, các khoản chi tiêu nhỏ lẻ Nên sự phát triển ổn định của nền kinh tế, mức thu nhập cao và ổn định của người dân là điều kiện cần thiết của sự phát triển các dịch
vụ ngân hàng
+ Môi trường xã hội: Môi trường xã hội bao gồm: dân số, thu nhập,
trình độ dân trí… tác động mạnh mẽ đến sự phát triển các dịch vụ ngân hàng
cụ thể như sau:
Trình độ dân trí ở đây được hiểu như khả năng tiếp cận và sử dụng dịch
vụ của công chúng cũng như sự nhận thức được những tiện ích của dịch vụ Nếu người dân ít hiểu biết về các dịch vụ ngân hàng, họ sẽ không thấy được lợi ích từ việc sử dụng các dịch vụ này Từ đó làm hạn chế quá trình phát triển các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
Trang 35Khả năng tiếp cận các dịch vụ ngân hàng của các doanh nghiệp và dân
cư là một nhân tố quan trọng để các NHTM có thể phát triển các dịch vụ Hiện nay ở Việt Nam, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) chưa sử dụng hoặc sử dụng rất hạn chế các dịch vụ ngân hàng do thói quen sử dụng tiền mặt Điều đó ảnh hưởng đến mong muốn phát triển các dịch vụ của ngân hàng
Mặt khác năng lực của khách hàng thể hiện ở mức độ tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ cũng như mức độ diễn đạt chính xác, rõ ràng, đầy đủ nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng cho ngân hàng, sự am hiểu về trình
tự xử lý các dịch vụ ngân hàng, sự tích cực chủ động trong quá trình sử dụng dịch vụ, năng lực khởi xướng hợp tác trong việc kiểm tra đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng
Việc nghiên cứu mức thu nhập của dân cư cũng như năng lực của khách hàng sẽ giúp ngân hàng có thể phân loại từng nhóm khách hàng để lựa chọn việc cung cấp những sản phẩm nào phù hợp với nhu cầu và khả năng của từng nhóm khách hàng
+ Sự phát triển của khoa học công nghệ ngân hàng: Việc hiện đại
hoá công nghệ ngân hàng là điều sống còn của các NHTM trong sự tồn tại và phát triển Do vậy, các ngân hàng luôn tìm cách đổi mới công nghệ Đi kèm với đổi mới công nghệ là việc ra đời của các dịch vụ ngân hàng.Từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh cho chính ngân hàng
+ Môi trường cạnh tranh: Trong nền kinh tế thị trường, các doanh
nghiệp, các khách hàng được chủ động tìm kiếm, lựa chọn NHTM để quan hệ gửi tiền, vay tiền, thanh toán, sử dụng các dịch vụ khác… Hơn nữa, các ngân hàng cũng có quyền chủ động mời chào các dịch vụ đặt quan hệ, đưa ra nhiều hình thức khuyến mại Trong quá trình này, dịch vụ của ngân hàng nào tốt hơn, giá cả phù hợp hơn sẽ được khách hàng lựa chọn và tăng khả năng trong
Trang 36cạnh tranh Điều đó buộc các ngân hàng phải nâng cao trình độ công nghệ, phát triển các dịch vụ mang tính tiện ích cao cho khách hàng Vì vậy cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng cũng là một trong những nhân tố thúc đẩy việc mở rộng và phát triển các dịch vụ ngân hàng theo hướng đa năng hoá, hiện đại hoá
+ Quá trình hội nhập kinh tế: Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ đem lại cho
ngân hàng nhiều cơ hội như: Mở rộng thị trường, học hỏi những kinh nghiệm quản lý, kế thừa những thành tựu khoa học công nghệ ngân hàng NHTM Việt Nam có thể phát huy lợi thế của mình đó là mạng lưới rộng lớn, am hiểu thị trường hơn các đối thủ nước ngoài… Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội là những nguy cơ mà các NHTM Việt Nam cũng phải đối đầu, đó là:
Thứ nhất, theo lộ trình AFTA và hiệp định thương mại Việt Mỹ chỉ
trong một thời gian nữa, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được hoạt động, cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng Do vậy, nếu ngay từ bây giờ, hệ thống NHTM Việt Nam không tích cực nghiên cứu thị trường để có những giải pháp tạo dựng mạng lưới, phát triển các dịch vụ NH hiện đại thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cạnh tranh
Thứ hai, sau hội nhập sẽ mở ra một sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các
NHTM trong nước và các ngân hàng nước ngoài trên các lĩnh vực sau:
Thị trường tín dụng: Cạnh tranh sẽ trở nên gay gắt khi các ngân hàng nước ngoài đã hiểu rõ thị trường Việt Nam và môi trường pháp lý đảm bảo sao cho họ xử lý rủi ro để thu hồi nợ trong trường hợp cần thiết Trong đó, việc cho phép các ngân hàng nước ngoài tham gia hoạt động tái cấp vốn, tái chiết khấu, swap, forwad từ NHTM sẽ giúp họ bù đắp một phần vốn huy động còn bị hạn chế bởi lộ trình
Thị trường ngoại tệ: do có những hạn chế về kinh doanh ngoại tệ trong khi thị trường ngoại tệ, đặc biệt là thị trường đô la Mỹ có nhiều biến động, các
Trang 37NHTM Việt Nam đã phải nhường lại thị trường này cho các ngân hàng nước ngoài, nhường lại khách hàng là các tổng công ty lớn của Việt Nam cho các ngân hàng nước ngoài trong việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng khác như: tiền gửi, dịch vụ thanh toán tài trợ thương mại…
Giao dịch thanh toán và chuyển tiền, dịch vụ tư vấn, môi giới kinh doanh tiền tệ, phát triển doanh nghiệp Đây là lĩnh vực ưu thế của ngân hàng nước ngoài Ngoài ra, cạnh tranh gay gắt sẽ tập trung vào việc mở rộng đối tượng khách hàng là dân cư dưới hình thức hoạt động chủ yếu như:
Tăng vốn nội tệ thông qua huy động tiết kiệm dân cư và vốn nhàn rỗi tạm thời của các tổ chức phi kinh tế
Mở rộng hoạt động mới, nhất là dịch vụ thu phí thanh toán, chuyển tiền, tư vấn, môi giới lưu ký, quản lý danh mục đầu tư của khách hàng
Như vậy, hội nhập là tất yếu cho quá trình phát triển nền kinh tế Tuy nhiên quá trình hội nhập diễn ra mang đến cho ngân hàng nhiều cơ hội song cũng nhiều thách thức Do vậy, không còn cách nào khác là các NHTM Việt Nam phải sớm đổi mới, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển dịch vụ nhằm vượt qua những thách thức, tăng khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập
1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ THU NGOÀI TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ thu ngoài tín dụng tại một số nước trên Thế giới:
1.4.1.1 Tại Trung Quốc
Nâng cao năng lực quản trị kinh doanh: Các ngân hàng của Trung Quốc
đã sử dụng nhiều biện pháp tích cực để nâng cao năng lực quản trị kinh doanh như: Sàng lọc, tinh giảm cán bộ công nhân viên kể cả ban lãnh đạo, cho thành
Trang 38lập các Ủy ban để đánh giá tín dụng và quản lý, thuê kiểm toán độc lập nước ngoài, mời các chuyên gia nước ngoài tham gia ban lãnh đạo, cho phép bán 10% cổ phiếu cho 1 ngân hàng nước ngoài (khoảng 1-2 triệu USD)
Lành mạnh hoá về mặt tài chính: nâng cao chất lượng tài sản nợ – tài sản có: Đổi mới cơ cấu tài sản nợ, đặc biệt là nguồn vốn huy động phù hợp với tính chất thời hạn, lãi suất đầu ra của sử dụng vốn, nhằm đảm bảo nguồn vốn kinh doanh tăng trưởng ổn định, an toàn, hạn chế thấp nhất rủi ro thanh khoản và chủ động nguồn vốn cho kinh doanh
Tăng cường các biện pháp quản lý tài sản có, nâng tỷ trọng tài sản có sinh lời đạt mức tối đa, quản lý và kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng, cơ cấu đầu tư, cho vay theo từng ngành, từng nhóm khách hàng theo hướng cơ cấu lại danh mục đầu tư và đa dạng hóa khách hàng, không tập trung dư nợ quá lớn vào một ngành hàng, một khách hàng nhằm hạn chế rủi ro, đồng thời điều chỉnh cơ cấu sử dụng vốn phù hợp với cơ cấu nguồn vốn đảm bảo hoạt động kinh doanh thích ứng với cơ chế biến động của thị trường
Tích cực xử lý nợ quá hạn: sau khi tăng vốn cho 4 NHTM nhà nước tới 2,6 tỷ USD vào năm 1998 và thành lập 4 công ty quản lý tài sản để xử lý 1,4
tỷ USD nợ xấu của các ngân hàng này vào năm 1999, cuối năm 2003 ngân hàng nhân dân Trung Quốc lại rút 45 tỷ USD từ quỹ dự trữ ngoại hối bổ sung cho ngân hàng Trung Quốc và ngân hàng xây dựng Trung Quốc để có đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài vào năm 2006
Xây dựng chiến lược khách hàng: Các NHTM ở Trung Quốc phân loại khách hàng doanh nghiệp (DN), xem các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)
là khách hàng bán lẻ, thành lập các ban khách hàng theo loại hình DN khác nhau tại các chi nhánh và có trách nhiệm cung cấp dịch vụ cho DN, có thủ tục đơn giản tạo điều kiện cho các DN tiếp cận các sản phẩm dịch vụ ngân hàng như:
Trang 39Tính điểm tín dụng nhằm giảm bớt sự phụ thuộc của ngân hàng vào các khoản thế chấp, giảm bớt các công việc về thẩm định tín dụng, tính điểm tín dụng chủ yếu dựa trên số liệu thu thập về các khách hàng tiềm năng và hoạt động kinh doanh của các DN
Cho thuê tài chính là cách để tài trợ cho các tài sản của DN và do đó các NHTM cũng có những yêu cầu đơn giản hơn về các báo cáo tài chính, thế chấp, đặt cọc và thời hạn trả
Trong việc cung ứng sản phẩm thanh toán và các dịch vụ khác đã xây dựng biểu phí dịch vụ, về lãi suất tiền gửi và cho vay đối với DN, linh hoạt và hấp dẫn hơn nhằm thu hút và khuyến khích các DN sử dụng sản phẩm dịch
vụ ngân hàng
1.4.1.2 Tại Đài Loan
Phát triển đa dạng phong phú các mô hình DN là một trong những chiến lược ưu tiên hàng đầu của Đài Loan, là một định hướng rất đúng đắn góp phần tạo nên sự tăng trưởng và phát triển kinh tế cao tại Đài Loan
Để phát triển các sản phẩm dịch vụ dành cho đối tượng khách hàng
DN, các NHTM thực hiện các giải pháp sau:
Đặc biệt chú trọng công tác Marketing: Xác định thị trường mục tiêu trong từng giai đoạn hoạt động, trước hết các ngân hàng tiến hành phân khúc thị trường,
Ưu tiên đầu tư vốn các DN kinh doanh có hiệu quả ở tất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế, đặc biệt đầu tư vốn trung dài hạn cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng
Ngoài ra, đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, phát triển mạnh các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử như: Internet banking, home banking…
Trang 40Với việc cung cấp sản phẩm trọn gói như trên, đa số các NHTM ở Đài Loan có tỷ trọng thu dịch vụ ngoài tín dụng rất cao (chiếm khoảng 50%) trong tổng thu dịch vụ nói chung
1.4.1.3 Tại Singapore
Sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại ngân hàng để tăng sức cạnh tranh; cơ cấu lại tài sản, thành lập các công ty quản lý tài sản để thu hồi nợ tồn đọng; giảm chi phí hoạt động nhằm nâng cao năng lực tài chính, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển mạnh công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng, có chiến lược marketing, chiến lược khách hàng, phân khúc thị trường ở từng giai đoạn cụ thể Trên cơ sở đó xây dựng, ban hành các sản phẩm dành riêng cho các nhóm khách hàng DN phù hợp với từng loại hình, quy mô và lĩnh vực hoạt động
Về cơ cấu tổ chức và quản trị điều hành: thực hiện theo mảng nghiệp
vụ và theo đối tượng khách hàng, theo đó các NHTM hiện đại sẽ được tổ chức thành 5 khối: khối ngân hàng bán lẻ, khối ngân hàng bán buôn, khối nguồn vốn và kinh doanh tiền tệ, khối kế hoạch chiến lược và tài chính kế toán, khối công nghệ thông tin và xử lý nghiệp vụ, khối hỗ trợ kinh doanh và quản trị Trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ chủ yếu phục vụ khách hàng là DNNVV và đây cũng là thị trường với sự cạnh tranh rất lớn
Để phục vụ các loại hình DN khác nhau, các ngân hàng sẽ thành lập các bộ phận chuyên môn có trách nhiệm xây dựng các chiến lược tiếp thị, chiến lược phát triển sản phẩm dịch vụ, chiến lược giá riêng cho từng nhóm
DN Đặc biệt có các chính sách ưu tiên khác nhau thích hợp về thủ tục, về lãi suất, về phí dịch vụ đối với từng loại hình DN khác nhau trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ