Hiệu quả nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương 1.2.1 Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở Nghiệp vụ thị trường mở NVTTM là nghiệp vụ mua, bán
Trang 1Häc viÖn ng©n hµng
NguyÔn viÖt anh
Gi¶I ph¸p n©ng cao hiÖu qu¶ CÔNG CỤ
NGHIỆP vô thÞ tr-êng më TRONG ĐIỀU
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo Ngân hàng nhà n-ớc việt nam
Học viện ngân hàng
Nguyễn việt anh
GiảI pháp nâng cao hiệu quả CễNG CỤ
NGHIỆP vụ thị tr-ờng mở TRONG ĐIỀU HÀNH
Trang 3T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c tµi liÖu, sè liÖu, kÕt qu¶ trong luËn v¨n lµ trung thùc vµ cã nguån gèc râ rµng!
Ng-êi cam ®oan
NguyÔn ViÖt Anh
Môc lôc
Trang 4Trang phô b×a
Lêi cam ®oan
Danh môc ch÷ viÕt t¾t
DANH MỤC BẢNG,BIỂU, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.2.3 Hàng hóa tham gia giao dịch nghiệp vụ TTM 12
1.3 Kinh nghiệm về hiệu quả nghiệp vụ TTM tại một số nước 28
1.3.1 Kinh nghiệm về nghiệp vụ TTM tại một số nước 28
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về nghiệp vụ TTM đối với Việt Nam 32
Trang 5Nam giai đoạn 2000-2010
2.3 Đánh giá kết quả hoạt động thị trường mở giai đoạn 2000-2010 72
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả nghiệp vụ TTM 86
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý và cơ chế tổ chức bộ
máy đấu thầu nghiệp vụ TTM
3.3.3 Kiến nghị đối với các bộ ngành liên quan 104
Trang 7PBC Ng©n hµng trung -¬ng Trung quèc
Trang 8
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở tới dự trữ
ngân hàng
18
Sơ đồ 1.2 Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở qua lãi suất 19
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tỏ chức và điều hành hoạt động nghiệp vụ thị
Biểu đồ 2.3 Doanh số thị trường mở, doanh số cho vay qua đêm,
doanh số cho vay tái cấp vốn năm 2009 – 2010 66 Biểu đồ 2.4 Biểu đồ tăng trưởng M2 của nền kinh tế năm 2000 -
Biểu đồ 2.5 Biểu đồ lãi suất trúng thầu nghiệp vụ thị trường mở
thấp nhất và cao nhất giai đoạn năm 2000 – 2010 69 Biểu đồ 2.6 Diễn biến lãi suất trúng thầu cao nhất nghiệp vụ thị
trường mở giai đoạn 2000 – 2010 so với các lãi suất cơ bản khác 70 Biểu đồ 2.7 Diễn biến lãi suất, lạm phát và tăng trưởng GDP giai
đoạn 2000 - 2010
72
Trang 9Lời mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ngay từ khi đất n-ớc ta tiến hành đổi mới vào năm 1986 thì nền kinh tế
đất n-ớc chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị tr-ờng Trong nền kinh tế thị tr-ờng đặc biệt là theo xu h-ớng hội nhập NHNN Việt Nam với t- cách là NHTW, là Ngân hàng của các ngân hàng với nhiệm vụ xây dựng, điều hành chính sách tiền tệ, quản lý Nhà n-ớc về hoạt động Ngân hàng cũng không ngừng đổi mới mọi mặt hoạt động của mình để đáp ứng nhu cầu chung của xu h-ớng đó
Và đổi mới rõ nhất trong vấn đề này là việc NHNN tiến hành xây dựng CSTT ngày càng tiến gần tới thông lệ quốc tế - chuyển từ việc sử dụng các công cụ trực tiếp sang sử dụng các công cụ gián tiếp trong điều hành CSTT Trong đó Nghiệp vụ thị tr-ờng mở đ-ợc biết đến nh- một công cụ gián tiếp mang nhiều -u điểm nhất và có xu h-ớng trở thành công cụ chủ yếu trong
điều hành CSTT của NHNN Việt Nam
Đứng tr-ớc xu h-ớng hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa trong lĩnh vực Ngân hàng thì việc xem xét nghiên cứu và lựa chọn một công cụ có hiệu quả trong điều hành CSTT đang là một vấn đề cấp thiết Do đó em lựa chọn đề tài
cho khóa luận của mình là: “ Giải pháp nâng cao hiệu quả cụng cụ Nghiệp vụ thị tr-ờng mở trong điều hành chớnh sỏch tiền tệ của Ngân hàng Nhà n-ớc Việt Nam”
2 Mục đích nghiên cứu:
Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc điều hành công cụ Nghiệp
vụ thị tr-ờng mở của NHNN Việt Nam để đ-a ra các biện pháp nâng cao hiệu quả cho việc sử dụng công cụ này mà mục tiêu nghiên cứu của đề tài này cần thể hiện đ-ợc:
- Nghiên cứu chung về cơ sở lí luận hiệu quả Nghiệp vụ thị tr-ờng mở, việc vận dụng Nghiệp vụ thị tr-ờng mở của một số n-ớc và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích thực trạng hoạt động thị tr-ờng mở Việt Nam, tìm ra những tồn tại và nguyên nhân
Trang 10- Đ-a ra các giảp pháp thiết thực và phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Nghiệp vụ thị tr-ờng mở của NHNN Việt Nam
- Đóng góp một số kiến nghị với các cơ quan hữu quan nhằm mở rộng hành lang pháp lý tăng tính hấp dẫn
3 Đối t-ợng nghiên cứu:
Đối t-ợng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả nghiệp vụ thị tr-ờng mở nhằm làm cho hoạt động thị tr-ờng mở thực sự sôi động Nghiệp vụ thị tr-ờng
mở với vai trò là công cụ chủ yếu trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam Đồng thời nghiên cứu mối quan hệ của công cụ này với các công cụ khác nhằm phối hợp sử dụng để nâng cao hiệu quả CSTT và khẳng định khả năng can thiệp của NHNN Việt Nam trên thị tr-ờng tài chính - tiền tệ nói riêng
và trong nền kinh tế nói chung
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng ph-ơng pháp nghiên cứu truyền thống, sử dụng phép biện chứng duy vật lịch sử, ph-ơng pháp thóng kê, kết hợp lí luận với thực tiễn
để phân tích, so sánh, đánh giá nhằm rút ra bản chất, tồn tại tìm nguyên nhân và
đề xuất các giải pháp, kiến nghị
5 Kết cấu của Luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục cỏc tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 ch-ơng:
Chương 1: Cơ sở luận về hiệu quả nghiệp vụ thị tr-ờng mở trong điều hành chớnh sỏch tiền tệ của Ngõn hàng trung ương
Chương 2: Hiệu quả nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chớnh sỏch tiền tệ của Ngân hàng Nhà n-ớc Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả nghiệp vụ thị tr-ờng mở tại Ngân hàng Nhà n-ớc Việt Nam
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA
Trang 11NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1.1 Các công cụ của chính sách tiền tệ
1.1.1 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương là tổng thể tất cả các biện pháp, công cụ mà NHTW sử dụng nhằm điều tiết khối lượng tiền tệ, tín dụng,
ổn định tiền tệ, góp phần đạt được các mục tiêu của các chính sách kinh tế
Nội dung của CSTT thể hiện thông qua việc thiết kế hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ bao gồm các mục tiêu tổng quát và
hệ thống mục tiêu điều hành
1.1.1.1 Mục tiêu tổng quát (mục tiêu cuối cùng)
Mục tiêu CSTT hầu như thống nhất ở các nước Sự điều chỉnh lượng tiền cung ứng nhằm mục tiêu trước hết là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ sở đó góp phần tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm Ngoài các mục tiêu vĩ
mô trên, một số nước còn tập trung vào các mục tiêu cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm mục tiêu nên NHTW không thể theo đuổi tất cả các mục tiêu trên trong một khoảng thời gian nhất định Điều này buộc NHTW phải có sự lựa chọn và
ưu tiên cho những mục tiêu quan trọng tông từng thời kỳ mặc dù mục tiêu ổn định giá cả luôn là mục tiêu dài hạn của NHTW
1.1.1.2 Mục tiêu điều hành
Các mục tiêu chính sách trên chỉ là mục tiêu cuối cùng mà các CSTT nhắm tới Bên cạnh đó các NHTW đều xây dựng hệ thống mục tiêu điều hành mang tính định lượng cụ thể hơn Mục tiêu điều hành của CSTT bao gồm mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động
a, Mục tiêu trung gian
Bằng việc sử dụng các công cụ của CSTT, NHTW không thể tác động trực tiếp và ngay lập tức đến các mục tiêu cuối cùng là giá cả, sản lượng và công ăn việc làm Ảnh hưởng của CSTT chỉ xuất hiện sau một khoảng thời
Trang 12gian nhất định Để khắc phục hạn chế này, NHTW của tất cả các nước thường xác định các chỉ tiêu cần đạt được trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng Các chỉ tiêu này trở thành mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động
Tiêu chuẩn để lựa chọn mục tiêu trung gian: (1) Có thể đo lường được một cách chính xác và nhanh chóng; (2) Có thể kiểm soát được để có thể điều chỉnh mục tiêu đó cho phù hợp với định hướng của CSTT; (3) Có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng
Tổng lượng tiền cung ứng và lãi suất đều thoả mãn các tiêu chuẩn trên, tuy nhiên NHTW chỉ có thể lựa chọn một trong hai chỉ tiêu vì lý do, nếu đạt được mục tiêu về tổng khối lượng tiền cung ứng thì phải chấp nhận sự biến động của lãi suất và ngược lại
b, Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu hoạt động là các chỉ tiêu có phản ứng tức thời với sự điều chỉnh của công cụ CSTT đồng thời có mối quan hệ chi phối tới các mục tiêu trung gian, được xác định trên cơ sở các tiêu chí: (1) phải đo lường được nhằm tránh những suy diễn thiếu chính xác làm sai lệch dấu hiệu của CSTT; (2) phải có mối quan hệ trực tiếp và ổn định với công cụ của CSTT; (3) phải
có mối quan hệ và chặt chẽ và ổn định với mục tiêu trung gian được lựa chọn
Trên cơ sở các tiêu chí trên, các chỉ tiêu thường lựa chọn làm mục tiêu hoạt động của NHTW gồm: lãi suất liên ngân hàng, dự trữ không vay, dự trữ đi vay
1.1.2 Các công cụ của chính sách tiền tệ
1.1.2.1 Các công cụ trực tiếp
a, Lãi suất
Lãi suất được xem là một công cụ gián tiếp thực hiện CSTT trong điều khiển mức cung ứng tiền cho nền kinh tế, bởi lẽ lãi suất không trực tiếp làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ trong lưu thông Sự biến động của lãi suất có thể kích thích hoặc kìm hãm sản xuất Do vậy, lãi suất là một công cụ quan trọng của
Trang 13NHTW trong thực hiện CSTT
Thông qua chính sách chiết khấu đối với các ngân hàng, NHTW thực hiện quản lý gián tiếp lãi suất cho vay của các ngân hàng đối với nền kinh tế Khi muốn điều chỉnh lãi suất của các ngân hàng, NHTW điều chỉnh các lãi suất của mình, từ
đó tác động đến lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, cuối cùng sẽ tác động đến lãi suất huy động, cho vay của các ngân hàng Ngoài ra, NHTW có thể quản lý trực tiếp lãi suất của các TCTD đối với nền kinh tế thông qua quy định các mức lãi suất cụ thể về cho vay và huy động Tuy nhiên hình thức quản lý trực tiếp lãi suất này chỉ phù hợp tại các nước có hệ thống tài chính tiền tệ chưa phát triển,
và xu hướng chung là giảm dần sự quản lý trực tiếp này
b, Hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là một trong những công cụ can thiệp trực tiếp của NHTW để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của hệ thống tổ chức tín dụng cung ứng cho nền kinh tế đảm bảo mức tăng trưởng của tổng phương tiện thanh toán theo mục tiêu đề ra Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các ngân hàng phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế Mức dư nợ quy định cho từng ngân hàng căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của ngân hàng, trong định hướng cơ cấu kinh tế và trong giới hạn tổng dư nợ tín dụng dự tính của toàn
bộ nền kinh tế trong một thời gian xác định
Hạn mức tín dụng được sử dụng để khống chế tổng dư nợ tín dụng, qua đó khống chế tổng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế Do vậy cơ chế tác động của
nó mang tính áp đặt của NHTW đối với hệ thống ngân hàng
c, Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tương quan giữa sức mua của đồng nội tệ và đồng ngoại tệ, hay có thể nói là giá cả của đồng tiền này đo bằng một đồng tiền khác Tỷ giá vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại tệ Đến lượt mình, tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều
Trang 14tiết cung cầu ngoại tệ, có tác động mạnh mẽ đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước Chính sách tỷ giá tác động nhạy bén và mạnh
mẽ đến sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hoá, tình trạng tài chính tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, vốn đầu tư và dự trữ của quốc gia
Về thực chất thì tỷ giá không phải là công cụ CSTT bởi lẽ tỷ giá không làm tăng giảm khối lượng tiền trong lưu thông, mà chỉ góp phần thay đổi cơ cấu khối lượng tiền Tuy nhiên tại nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, có mức độ đôla hoá cao, thì tỷ giá được xem là một công cụ bổ trợ quan trọng cho điều hành CSTT
1.1.2.2 Các công cụ gián tiếp
a, Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc (DTBB) là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoản tiền gửi tại NHTW trong một thời kỳ nhất định DTBB được tính trên cơ sở tỷ lệ DTBB do NHTW quy định đối với từng loại tiền gửi cấu thành nên nguồn vốn hoạt động của một ngân hàng Tỷ lệ DTBB do NHTW quy định và được xác định bằng một tỷ lệ % nhất định trên tổng số
dư tiền gửi của khách hàng tại NHTM Tỷ lệ DTBB được áp dụng có phân biệt đối với các loại tiền gửi có thời hạn khác nhau, quy mô và tính chất hoạt động của NHTM
DTBB tác động tới cung ứng tiền tệ bằng cách gây ra thay đổi số nhân cung ứng tiền tệ Tỷ lệ DTBB tăng lên sẽ làm giảm số tiền gửi được nâng đỡ bởi một mức nhất định của cơ số tiền tệ và dẫn đến việc thu hẹp cung ứng tiền Mặt khác, tỷ lệ DTBB giảm xuống sẽ dẫn đến một sự tăng lên của cung ứng tiền tệ do việc tạo thêm tiền gửi gấp nhiều lần Việc quy định tỷ lệ DTBB do NHTW quyết định tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của nền kinh tế
b, Chính sách chiết khấu
Chiết khấu là một trong những hình thức cho vay của NHTW đối với các NHTM Khi cấp một khoản tín dụng cho NHTM, một mặt NHTW đã làm tăng
Trang 15lượng tiền cung ứng, mặt khác tạo cơ sở cho các NHTM tạo bút tệ cũng như khai thông được năng lực thanh toán của họ
Chính sách chiết khấu bao gồm các quy định về hạn mức chiết khấu, lãi suất chiết khấu và điều kiện cho vay của NHTW đối với các ngân hàng NHTW cho vay ngắn hạn trên cơ sở chiết khấu các chứng từ có giá của ngân hàng NHTW kiểm soát công cụ này chủ yếu bằng cách tác động tới giá cả khoản vay thông qua lãi suất chiết khấu căn cứ vào mục tiêu của CSTT là thắt chặt hay nới lỏng, từ đó tác động tới lượng tiền trong lưu thông
Sự thay đổi về lãi suất chiết khấu được xem là một dấu hiệu thông báo của NHTW trong định hướng thực hiện CSTT Các tuyên bố của NHTW về chiều hướng biến động lãi suất chiết khấu (tăng lên hoặc giảm xuống) có tác dụng hướng dẫn hành vi của thị trường theo định hướng CSTT
c, Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM) là hoạt động NHTW mua, bán GTCG như tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW, chứng chỉ tiền gửi trên thị trường tiền tệ, nhằm làm thay đổi cơ số tiền tệ mà đặc biệt
là tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng, qua đó tác động đến khối lượng tiền cung ứng Do vậy, thị trường này có khả năng tiếp nhận được một lượng rất lớn nghiệp vụ của NHTW mà không làm cho giá cả biến động mạnh
NVTTM là công cụ CSTT quan trọng của NHTW Nghiệp vụ này là yếu
tố quyết định quan trọng nhất đối với những thay đổi trong cơ số tiền tệ và đó cũng là nguồn gốc chính gây nên những biến động trong cung ứng tiền tệ NVTTM là một trong những cửa ngõ quan trọng để NHTW phát hành tiền vào lưu thông hoặc rút bớt tiền trong lưu thông về thông qua mua hay bán các các loại GTCG Qua nghiệp vụ mua bán này NHTW làm tăng hay giảm
dự trữ của các NHTM, tác động đến khả năng tín dụng của các ngân hàng này
và từ đó làm tăng hay giảm lượng tiền cung ứng
Trang 161.2 Hiệu quả nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương
1.2.1 Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM) là nghiệp vụ mua, bán giấy tờ có giá (GTCG) giữa một bên là NHNNVN với bên kia là các TCTD ( TCTD) trong đó NHNNVN đóng vai trò là người điều hành hoạt động thị trường Nghiệp vụ TTM là một trong các công cụ được NHNNVN sử dụng để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
Các đối tác trong giao dịch NVTTM có thể là các NHTM, các doanh nghiệp hoặc các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác Có hai loại nghiệp vụ thị trường mở:
- Nghiệp vụ thị trường mở năng động nhằm thay đổi mức dự trữ và cơ
số tiền tệ
- Nghiệp vụ thị trường mở thụ động nhằm bù lại những chuyển động của các nhân tố khác đã ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ
1.2.2 Các thành viên tham gia nghiệp vụ TTM
Dựa trên mục đích giao dịch, có thể phân các tác nhân trên thị trường
mở thành hai nhóm: NHTW, các TCTD, định chế tài chính, quĩ đầu tư, công
ty và doanh nghiệp lớn…
Tuy nhiên, theo nguyên tắc NVTTM là thị trường không giới hạn người tham gia, mọi nhà đầu tư đều có thể là đối tác giao dịch với NHTW nếu thoả mãn những tiêu chuẩn cụ thể của NHTW ở các nước Các tiêu chuẩn được đặt
ra nhằm vào đáp ứng hai mục đích
- Các đối tác phải đảm bảo được độ tin cậy nhất định
- Việc giao dịch với các đối tác đó có hiệu quả xét ở khía cạnh can thiệp vào thị trường tiền tệ của NHTW
1.2.2.1 Ngân hàng Trung ương
NHTW với vai trò tổ chức, xây dựng và điều hành các hoạt động NVTTM NHTW nghiên cứu và điều kiện cần thiết cho sự ra đời, hoạt động
Trang 17của thị trường cũng như thực hiện các biện pháp hỗ trợ sự phát triển của thị trường, tạo điều kiện cho sự mở rộng các công cụ cho thị trường, hoàn thiện
cơ sở vật chất, xây dựng các quy định và tiêu chí thực hiện giao dịch, giám sát hoạt động của thị trường NHTW cũng thu thập, công bố và phổ biến các thông tin về thị trường; đảm bảo hệ thống thanh toán an toàn và trôi chảy Trên cơ sở dự báo các diễn biến tiền tệ, tình hình vốn khả dụng của các TCTD NHTW quyết định thời điểm mua hoặc bán, khối lượng, phương thức thực hiện, thời hạn mua bán và chủng loại giấy tờ có giá…
NHTW cũng là người can thiệp thị trường khi cần thiết thông qua thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng nhằm kiểm soát tiền tệ, đảm bảo đủ phương tiện thanh toán cho các TCTD cũng như nhu cầu tín dụng của nền kinh tế
Thông qua hoạt động của NVTTM, NHTW tham gia NVTTM không phải là mục tiêu kinh doanh mà ngoài việc điều tiết vốn khả dụng của hệ thống NHTM, gián tiếp tác động đến lãi suất thị trường làm cho mục tiêu CSTT đi theo định hướng đã định
1.2.2.2 Các Ngân hàng Thương mại
Các NHTM là thành viên then chốt, chủ yếu tham gia NVTTM của NHTW và là đối tác quan trọng của NHTW xét trên hai phương diện: độ tin cậy
và tính hiệu quả Các NHTM tham gia thị trường nhằm điều hoà vốn khả dụng, bảo đảm khả năng thanh toán, phân tán rủi ro Giúp NHTM tìm kiếm cơ hội về nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hoặc NHTM thực hiện việc mua bán chứng khoán
Sự tham gia của các NHTM trong các giao dịch NVTTM có ý nghĩa quan trọng ở hai yếu tố là độ tin cậy và tính hiệu quả NHTM là trung gian tài chính lớn nhất, nắm giữ một khối lượng lớn, đa dạng và phong phú về chủng loại chứng khoán, có mạng lưới hoạt động rộng và gắn kết thành hệ thống qua trung tâm thanh toán NHTM đóng vai trò quan trọng cung ứng vốn cho nền kinh tế, vừa là người cho vay và đi vay trên thị
Trang 18trường tiền tệ Mặt khác, các NHTM tham gia thị trường nhằm điều hoà mức dự trữ ngân quỹ để đảm bảo khả năng thanh toán, cho vay khoản vốn
dư thừa để hưởng lãi
1.2.2.3 Các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Các tổ chức này bao gồm: các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư, hội tiết kiệm … Ở một quy mô hoạt động lớn, các tổ chức này thường
sở hữu khối lượng lớn các giấy tờ có giá và họ thường xuyên thay đổi cơ cấu danh mục đầu tư nhằm đảm bảo mức sinh lợi cao nhất và rủi ro dự tính thấp nhất cho vốn đầu tư
1.2.2.4 Các nhà giao dịch sơ cấp
Các giao dịch NVTTM tại các nước phần lớn thực hiện thông qua vai trò của các nhà giao dịch sơ cấp Các nhà giao dịch sơ cấp này tham gia NVTTM với tư cách là người trung gian và hưởng lợi do chênh lệch giá mua bán Để thực hiện được điều này các nhà giao dịch sơ cấp phải có nguồn vốn
đủ mạnh đáp ứng yêu cầu quy định của NHTW và phải sẵn sàng thực hiện vai trò người tạo lập thị trường trong tất cả các phiên đấu thầu tín phiếu kho bạc
Các nhà giao dịch chuyên nghiệp (Tổ chức môi giới – nhà môi giới)
Các nhà giao dịch chuyên nghiệp với chức năng môi giới tiền tệ là người trung gian nối liền người vay, bán các công cụ tài chính với người cho vay, mua các công cụ tài chính để thu hoa hồng môi giới Họ không kinh doanh cho trạng thái (hoặc tình hình) vốn của mình Ngoài ra, họ cũng có thể thực hiện vai trò trung gian trong giao dịch trên thị trường cho các đối tượng
kinh doanh về lĩnh vực này Họ thường hoạt động dưới tư cách công ty
Để giảm thiểu rủi ro tín dụng, thanh toán và giao nhận đối với các giao dịch, các NHTW thường đưa ra tiêu chí chọn lựa các đối tác thực hiện nghiệp vụ NHTM dưới sự giám sát chính thức của các đơn vị giám sát nghiệp vụ hoặc là các nhà môi giới giao dịch có đăng ký với uỷ ban chứng khoán và hối đoái
Trang 19Giao dịch thông qua môi giới sẽ giúp cho cả người mua và người bán tiết kiệm được chi phí tìm hiểu nhau, tránh tình trạng thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và các yêu cầu của họ cũng được đáp ứng với mức
độ cao hơn Với vai trò là người trung gian, thu nhập của các nhà môi giới chính là phí hoa hồng khi thực hiện giao dịch hộ Mặt khác, họ phải đáp ứng chuẩn mực tối thiểu về vốn quy định bởi các tổ chức chủ quản và họ cũng phải có số vốn tối thiểu nhất định
1.2.2.5 Các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh lớn
Thành viên này thường có các thương phiếu, tín phiếu, trái phiếu chính phủ, họ có nhu cầu bán các giấy tờ có giá ( bán hẳn hoặc tạm thời) để lấy tiền mặt hoặc kiếm lời trong thời gian ngắn Các doanh nghiệp lớn khi thừa vốn tiền tệ, có thể mua các loại giấy tờ có giá ngắn hạn để kiếm lời Các hoạt động mua bán qua NVTTM của doanh nghiệp – kinh doanh có thể họ trực tiếp thực hiện hoặc có thể tiến hành qua những nhà môi giới chuyên nghiệp, qua môi giới của các NHTM
1.2.3 Hàng hóa giao dịch nghiệp vụ TTM
Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở là những loại giấy tờ có giá, có tính thanh khoản cao được sử dụng trong các giao dịch mua vào hoặc bán ra của NHTW trên NVTTM Do có kỳ hạn thanh toán ngắn hoặc dài hạn, những công cụ vay nợ được mua bán trong thị trường tiền tệ chịu mức dao động giá tối thiểu nên đó là loại đầu tư ít rủi ro nhất, nhằm đạt mục tiêu điều chỉnh dự trữ của hệ thống ngân hàng một cách có hiệu quả nhất Thông thường hàng hoá chủ yếu được giao dịch qua NVTTM bao gồm:
1.2.3.1 Tín phiếu kho bạc
Tín phiếu kho bạc là loại chứng khoán Chính phủ thường được phát
hành nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách trong năm tài chính Thời hạn của tín phiếu kho bạc thường là dưới 12 tháng Tín phiếu kho bạc là công cụ chủ yếu của NVTTM ở hầu hết NHTW các nước vì lý do:
Trang 20- Có tính thanh khoản cao
- Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn và vì thế có thể đáp ứng nhu cầu can thiệp của NHTW với mức độ và quy mô khác nhau
Ngoài ra, việc sử dụng TPKB trong các giao dịch NVTTM có một số
ưu điểm như: NHTW có thể bán TPKB thay cho việc phát hành tín phiếu NHTW để thực hiện CSTT thắt chặt, khi đó gánh nặng về chi phí để thực hiện CSTT sẽ chuyển sang ngân sách và được biểu hiện trên số liệu ngân sách Nhà nước Mặt khác khi thị trường tiền tệ chưa phát triển, số dư tín phiếu kho bạc lớn thì việc sử dụng tín phiếu kho bạc để thực hiện CSTT sẽ giảm rủi ro của việc phân tách thị trường
1.2.3.2 Tín phiếu NHTW
Tín phiếu NHTW là loại giấy tờ có giá ngắn hạn do NHTW phát hành
để làm công cụ cho NVTTM Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm hàng hoá trên NVTTM có một số ưu, nhược điểm sau:
- Tăng cường tính độc lập của NHTW trong việc thực thi CSTT
- Có tác dụng như một công cụ linh hoạt trong việc quản lý vốn khả dụng
- Làm cho chi phí hoạt động của NHTW tăng lên
- Có nguy cơ xuất hiện phân khúc thị trường giữa thị trường TPKB và thị trường tín phiếu NHTW, các đối tác sẽ tập trung mua loại tín phiếu nào có lãi suất cao hơn Từ đó có thể tác động tới mục đích phát hành GTCG và giảm hiệu quả tác động của 2 loại hàng hoá này
1.2.3.3 Chứng chỉ tiền gửi
Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của ngân hàng hay các định chế tài chính phi ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã gửi vào ngân hàng trong một thời gian nhất định với một mức lãi suất định trước Thời hạn của chứng chỉ tiền gửi thường là ngắn hạn (từ 7 ngày trở lên, có trường hợp thời hạn lên tới 3 – 5 năm ) Sự ra đời của chứng chỉ tiền gửi đánh dấu sự thay đổi
Trang 21cơ bản trong cơ chế quản lý ngân hàng: chuyển từ quản lý tài sản nợ sang quản lý tài sản có vì nó cung cấp một hình thức huy động vốn chủ động cho ngân hàng thay vì chông chờ vào người gửi tiền CD được sử dụng khá phổ biến trên thị trường tiền tệ do các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần thiết mà không phải rút tiền gửi trước hạn
1.2.3.4 Thương phiếu
Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện thanh toán một số tiền xác định Thương phiếu thường do các công ty, doanh nghiệp nhằm bổ sung nhu cầu vốn ngắn hạn Thời hạn của thương phiếu thường là từ 1 đến 270 ngày, nhưng phần lớn thương phiếu có thời hạn ngắn hơn 30 ngày Luật và pháp lệnh thương phiếu tại các nước thường đảm bảo tính chất an toàn cho công cụ này bằng cách quy định về điều kiện được phát hành thương phiếu Lãi suất áp dụng đối với thương phiếu thấp hơn lãi suất vay ngân hàng khiến cho thương phiếu có tính hấp dẫn nhất định Việc mua bán thương phiếu của NHTW trên thị trường mở sẽ tác động mạnh đến dự trữ của các ngân hàng hoặc tiền gửi của khách hàng tại NHTM
đến giả cả tín phiếu kho bạc trên thị trường tài chính
1.2.3.6 Trái phiếu chính quyền địa phương
Là giấy nhận nợ dài hạn do chính quyền địa phương phát hành Trái phiếu chính quyền địa phương thường khác với trái phiếu Chính phủ ở điều
Trang 22kiện ưu đãi về thuế thu nhập từ trái phiếu và thường được các chính quyền địa phương lớn phát hành Loại trái phiếu này thường được các NHTM sử dụng
để tái chiết khấu NHTW Loại chứng khoán này được các nhà đầu tư ưa chuộng một phần là do sự can thiệp của NHTW qua việc mua bán lại trái
phiếu này cũng tương tự như tái phiếu chính phủ
1.2.4 Phương thức giao dịch nghiệp vụ thị trường mở
1.2.4.1 Các phương thức giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở
Có 2 loại phương thức giao dịch trên thị trường mở là giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn) và giao dịch (mua bán) có kỳ hạn
a, Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn)
Giao dịch không hoàn lại là các giao dịch mua bán GTCG của NHTW theo phương thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị trường Theo phương thức này, quyền sở hữu của GTCG là đối tượng giao dịch được chuyển sang cho NHTW hoặc ngược lại cho các thành viên tham gia giao dịch Do vậy tác động của giao dịch này đối với dự trữ ngân hàng thường là dài hạn
b, Giao dịch mua bán có kỳ hạn
Phương thức giao dịch này thường được sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời thông qua các hợp đồng mua lại (Repos) hoặc hợp đồng mua lại đảo ngược Repos được sử dụng khi NHTW thực hiện mua GTCG với thoả thuận là sau một thời gian ngắn trong tương lai người bán sẽ mua lại các GTCG đó Repos đảo ngược được sử dụng khi NHTW thực hiện bán GTCG với thoả thuận người mua sẽ bán lại vào một ngày xác định trong tương lai Thông thường, Repos và Repos đảo ngược được sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn với mục đích điều tiết vốn khả dụng của các NHTM một cách linh hoạt Giao dịch theo hợp đồng Repos thực chất là một khoản cho vay của NHTW có bảo đảm bằng các GTCG có tính thị trường cao
Các giao dịch mua bán có kỳ hạn được sử dụng chủ yếu trong NVTTM
do các lý do: (i) Đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu
Trang 23những ảnh hưởng không dự tính trước đến dự trữ ngân hàng, (ii) Chi phí giao dịch thấp hơn các giao dịch mua bán hẳn, (iii) Thích hợp trong trường hợp các định hướng của CSTT không hoàn hảo dẫn đến phải sử dụng các giải pháp khắc phục, (iiii) Làm giảm bớt thời gian thông báo, do đó mà giảm bớt biến động của thị trường trước các quyết định hàng ngày của NHTW
1.2.4.2 Phương thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở
Các giao dịch NVTTM thường được thực hiện thông qua 2 phương thức đấu thầu là đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất
a, Đấu thầu khối lượng
Đấu thầu khối lượng là phương thức đấu thầu với lãi suất được NHTW công bố trước NHTW công bố khối lượng tiền cần mua hoặc cần bán bằng phương thức đấu thầu và ấn định mức lãi suất thực hiện NHTW công bố điều kiện đặt thầu để các thành viên đăng ký số tiền dự thầu trên cơ sở chấp thuận mức lãi suất đã xác định trước Sau khi mở thầu NHTW sẽ xác định tỷ lệ giá trị đạt thầu và phân bổ cho từng tổ chức tham gia đặt thầu
Việc phân bổ thầu được tiến hành thực hiện như sau: Trước hết toàn bộ
số lượng đăng ký dự thầu được cộng lại với nhau Nếu tổng khối lượng đặt thầu nhỏ hơn hoặc bằng khối lượng NHTW chào mua/chào bán thì toàn bộ các đơn dự thầu đều được phân bổ theo khối lượng đặt thầu Nếu tổng khối lượng đặt thầu lớn hơn khối lượng NHTW chào mua/chào bán thì khối lượng trúng thầu của từng thành viên được phân bổ tỷ lệ thuận với khối lượng đặt thầu của thành viên đó Các đơn dự thầu sẽ được phân bổ như sau:
Tỷ lệ % phân bổ thầu: k = A/
1
n i i
b
trong đó:
- A: là khối lượng NHTW chào mua/chào bán
- n: là tổng số thành viên tham gia dự thầu
- bi là khối lượng đặt thầu của thành viên thứ i
- k là tỷ lệ phân bổ thầu
Trang 24Trên cơ sở xác định được tỷ lệ k, khối lượng trúng thầu của thành viên thứ i (Wi) được xác định như sau: Wi = k x bi
b, Đấu thầu lãi suất
Theo phương thức đấu thầu lãi suất thì các thành viên tham gia tự đăng
ký số tiền ứng với mỗi mức lãi suất do tự mình lựa chọn
- Trường hợp NHTW cần cung ứng tiền thêm vào lưu thông thông qua việc mua GTCG, các đơn dự thầu được sắp xếp theo thứ tự và được phân bổ theo các mức lãi suất từ cao xuống thấp Nghĩa là những đơn dự thầu ứng với lãi suất cao sẽ được ưu tiên phân bổ trước cho đến khi khối lượng phân phối được sử dụng hết Nếu tại mức lãi suất thấp nhất được chấp nhận, khối lượng đăng ký dự thầu lớn hơn khối lượng được phân phối thì quá trình phân bổ như sau:
Gọi: - A: là khối lượng NHTW chào mua/chào bán
- rt : là mức lãi suất thứ t được đăng ký
- b(rt)i là khối lượng đặt thầu của thành viên thứ i ứng với mức lãi suất rt
- b(rt) là tổng khối lượng đặt thầu của các thành viên ứng với mức lãi suất rt
- rm là mức lãi suất cuối cùng được chấp nhận
Đối với trường hợp NHTW đấu thầu để bơm thêm vốn khả dụng cho hệ thống ngân hàng thì: r1 rt rm
- k(rm) là tỷ lệ % trúng thầu được phân bổ tại mức lãi suất cuối cùng
k(rm) =
A - 1
1 ( )
m t t
Trang 25Trên thế giới có hai phương thức đấu thầu lãi suất là đấu thầu theo kiểu
Mỹ và đấu thầu theo kiểu Hà Lan Nếu đấu thầu theo kiểu Mỹ thì tất cả các mức lãi suất đã đăng ký trong phạm vi đặt thầu đều thực hiện theo đúng mức lãi suất đã đăng ký Nếu đấu thầu theo kiểu Hà Lan thì tất cả lượng đặt thầu được xác định cùng mức lãi suất đạt thầu
1.2.5 Hiệu quả của nghiệp vụ TTM
1.2.5.1.Quan niệm về hiệu quả của nghiệp vụ TTM
Hiệu quả nghiệp vụ TTM thể hiện ở kết quả sự tác động của hoạt động thị trường mở trong việc thay đổi dữ trữ của các TCTD, lãi suất thị trường hay nói rộng hơn là kết quả của việc thực thi chính sách tiền tệ trong giữ ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Hoạt động TTM có hiệu quả sẽ phát huy đến mức tối đa vai trò của công cụ này trên cơ
sở tận dụng những ưu điểm vốn của nó
* Cơ chế tác động của nghiệp vụ TTM
- Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng
Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng tác động ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qua ảnh hưởng đến tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia NVTTM) và tiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác tham gia NVTTM)
Sơ đồ 1.1 Cơ chế tác động của NVTTM tới dự trữ ngân hàng
Dự trữ mở rộng cho vay giảm
Khối lượng TD giảm
MS giảm
Trang 26Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi của ngân hàng tại NHTW sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra Trường hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì
số tiền mua GTCG sẽ làm giảm số dư tiền gửi của họ tại hệ thống ngân hàng Kết quả là dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm sút tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra Sự giảm sút dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ làm giảm khả năng cho vay của ngân hàng và vì thế khối lượng tín dụng giảm dẫn đến cung tiền sẽ giảm Ngược lại, khi NHTW thực hiện mua GTCG trên thị trường mở, kết quả làm dự trữ của các ngân hàng tăng lên Như vậy, khi NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường nó sẽ tác động đến dự trữ của các ngân hàng, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng
- Về mặt giá - Tác động qua lãi suất
Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:
Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung
cầu vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Đến lượt nó, cung cầu tiền trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi Mức lãi suất ngắn hạn này, thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất, sẽ truyền tác động tới các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính Tại một mức lãi suất thị trường xác định, tổng cầu AD của nền kinh tế, và do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết định
Sơ đồ 1.2 Cơ chế tác động của NVTTM qua lãi suất
Giá TPKB giảm
LS thị trường tăng tăng
Trang 27Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung
cầu về loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu AD và sản lượng
Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của hệ thống ngân hàng Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn, làm lãi suất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và tác động vào làm tăng các lãi suất thị trường Bên cạnh đó khi NHTW thực hiện bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở sẽ làm tăng cung tín phiếu kho bạc trên thị trường,
từ đó làm giảm giá của tín phiếu kho bạc Điều này làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tín phiếu kho bạc theo hướng tăng lên, dẫn đến sự chuyển dịch vốn đầu tư sang tín phiếu kho bạc Để cân bằng lãi suất và hạn chế sự dịch chuyển vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên Khi lãi suất thị trường tăng lên thì hoạt động đầu tư của các chủ thể đối với nền kinh tế sẽ giảm xuống do
tỷ suất sinh lời giảm Từ đó tổng cầu trên thị trường giảm xuống và góp phần làm giảm sản lượng, ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng
* Vai trò của nghiệp vụ TTM
- Đối với ngân hàng Trung ương
Để thực hiện nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, NHTW đã xây dựng
và thực thi các công cụ CSTT nhằm đưa tiền ra và rút tiền về từ lưu thông theo tín hiệu thị trường Trong đó, NVTTM là công cụ CSTT gián tiếp quan trọng nhất tại nhiều quốc gia làm thay đổi cung - cầu tiền tệ dẫn đến thay đổi
Lãi suất thị trường tăng
Trang 28lãi suất trên thị trường tiền tệ Thông qua việc mua bán GTCG tại thị trường
mở, NHTW có thể mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng và tác động một cách tốt nhất đến cơ số tiền tệ, lượng tiền cung ứng Như vậy, NVTTM đã tạo điều kiện cho NHTW hạn chế sử dụng các công cụ mang tính trực tiếp trong điều hành CSTT
Bên cạnh mục đích điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, thông qua mua bán GTCG trên thị trường mở, NHTW còn cấp tín hiệu cho thị trường về định hướng điều hành CSTT trong tương lai là nới lỏng hay thắt chặt Đặc biệt khi thực hiện NVTTM thường xuyên và hiệu quả, lãi suất thị trường mở có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng, chỉ đạo lãi suất thị trường và qua đó NHTW có thể hạn chế những biến động của lãi suất thị trường
NVTTM là một công cụ CSTT có tính chủ động cao NVTTM do NHTW chủ động khởi xướng, khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vốn khác của NHTW thường do các ngân hàng có nhu cầu vay vốn chủ động khởi xướng Như vậy, NHTW có thể chủ động thực hiện NVTTM theo định kỳ hoặc vào các thời điểm cần thiết NVTTM có thể được thực hiện linh hoạt xét trên góc độ về khối lượng cũng như thời gian giao dịch NHTW có thể thực hiện NVTTM ở quy mô lớn/nhỏ (khối lượng mua bán GTCG lớn/nhỏ) với thời hạn dài/ngắn tuỳ theo quyết định mua/bán GTCG
NVTTM có thể khắc phục được những hạn chế của các công cụ kiểm soát tiền tệ trực tiếp và các công cụ gián tiếp khác Các giao dịch NVTTM có tính hai chiều, qua đó NHTW có thể bơm thêm tiền vào lưu thông hoặc rút tiền từ lưu thông, trong khi công cụ TCV chỉ có thể bơm thêm tiền vào lưu thông Mặt khác, với công cụ NVTTM, NHTW có thể chủ động hơn trong việc điều tiết lưu thông, không phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của NHTM như trong công cụ TCV Qua việc tính toán và dự báo vốn khả dụng
Trang 29cũng như lượng tiền cung ứng, NHTW có thể biết chính xác được khối lượng tiền cần bơm thêm hoặc rút về từ lưu thông
- Đối với các đối tác của ngân hàng Trung ương
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong cơ chế thị trường ngày càng đa dạng dẫn đến hoạt động quản lý và sử dụng vốn khả dụng cần phải chủ động và linh hoạt hơn Hiện nay trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn với thời gian dưới 12 tháng thường chiếm tỷ trọng từ 60-70% Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay đối với các ngân hàng là làm thế nào để sử dụng vốn linh hoạt hiệu quả và giải quyết được khó khăn tạm thời về vốn khả dụng trong thời gian ngắn, không gây ách tắc trong thanh toán cũng như đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng
Thị trường mở là nơi các đối tác của NHTW được chủ động tham gia mua bán GTCG với NHTW và lãi suất thực sự là mang tính thị trường Thông qua thị trường mở, các ngân hàng có thể sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư vào các GTCG để thu được lợi tức và đáp ứng nhu cầu dự trữ thứ cấp Khi cần thiết, các ngân hàng có thể bán lại các GTCG này trên thị trường mở để giải quyết khó khăn về nguồn vốn Các thành viên tham gia thị trường mở thường là các đối tác có độ tin cậy cao, nên việc mua bán GTCG trên thị trường mở có độ an toàn rất cao Bên cạnh đó, những điều kiện về chủng loại và chất lượng các GTCG được giao dịch trong NVTTM sẽ gián tiếp làm thay đổi danh mục đầu tư GTCG của các ngân hàng, từ đó cải thiện theo hướng tích cực cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng, làm giảm dự trữ không sinh lợi và cải thiện bảng tổng kết tài sản của ngân hàng
Ngoài ra, NVTTM góp phần đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh của các TCTD Các TCTD không chỉ đơn thuần thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống như cho vay, bảo lãnh, dịch vụ … mà còn sử dụng một nguồn vốn nhất định để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh mới là mua bán các
Trang 30GTCG NVTTM cũng thúc đẩy các mối quan hệ mang tính kinh doanh giữa các thành viên tham gia thị trường
NVTTM do các ngân hàng tự nguyện tham gia thực hiện theo các nguyên tắc thị trường, không mang tính chất bắt buộc như DTBB và cũng không có tác động như một hình thức "đánh thuế" đối với hoạt động của các ngân hàng như DTBB Lãi suất trên thị trường mở cũng mang tính chất thị trường chứ không bị áp đặt như trong công cụ chiết khấu GTCG của NHTW
Như vậy, thị trường mở tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hiệu quả hơn và đa dạng hoá thêm các nghiệp vụ kinh doanh của các ngân hàng
- Đối với nền kinh tế
Mặc dù thành viên của NVTTM chủ yếu là các tổ chức tín dụng, tài chính
và NHTW nhưng NVTTM cũng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
Thông qua việc phát hành, mua bán GTCG trên thị trường mở, các chủ thể của thị trường mở đã làm tăng thêm tính thanh khoản cho các GTCG này Điều này góp phần thúc đẩy các thị trường tài chính phát triển Từ đó, tạo điều kiện cho các trung gian tài chính thu hút vốn trong nền kinh tế và thay đổi thói quen tiết kiệm, tiêu dùng của các hộ gia đình trong nền kinh tế
Thị trường mở có sự gắn kết chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, đặc biệt
là thị trường nội tệ liên ngân hàng Sự phát triển của thị trường mở tác động mạnh đến sự hoàn thiện và phát triển của thị trường liên ngân hàng
Mặt khác, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế thế giới Việt Nam phải thực hiện các cam kết yêu cầu của các
tổ chức tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế hay các quốc gia phát triển, trong đó có yêu cầu về cải cách hệ thống ngân hàng và nâng cao tính minh bạch trong các hoạt động của NHTW Tại các quốc gia phát triển hay các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đều sử dụng NVTTM trong điều hành
Trang 31CSTT để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô Chính vì vậy, việc sử dụng NVTTM là một điều kiện cần thiết để hội nhập nền kinh tế vào khu vực và thế giới
* Ưu điểm của nghiệp vụ TTM
So với các công cụ khác của chính sách tiền tệ thì nghiệp vụ thị trường
mở có một số ưu điểm như sau:
Một là, Nghiệp vụ thị trường mở có tác động nhanh, chính xác và có
Hai là, Nghiệp vụ thị trường mở rất linh hoạt Khi có một sai lầm xảy
ra trong lúc tiến hành nghiệp vụ thị trường mở, NHTW có thể ngay lập tức đo ngược lại hiệu quả của việc sử dụng công cụ đó Nếu NHTW thấy rằng việc cung ứng tiền tệ tăng quá nhanh do NHTW mua chứng khoán trên thị trường
mở quá nhiều, thì nó có thể sửa chữa ngay lập tức bằng cách bán lại chứng khoán vừa mua
Ba là, Nghiệp vụ TTM là công cụ chính sách tiền tệ chủ động cho phép
NHTW có thể tạo ra những biến động có khả năng hướng dẫn xu hướng thị trường trên cơ sở dự báo nhu cầu vốn khả dụng Mặt khác, việc hoàn thành nghiệp vụ thị trường mở không phụ thuộc nhiều vào ý nghĩ chủ quan của các đối tác Lợi dụng tác động của các lực lượng thị trường, NHTW có thể buộc các đối tác hoạt động theo mục tiêu của mình Khả năng sử dụng các công cụ này hơn hẳn nghiệp vụ tái chiết khấu Ở nghiệp vụ tái chiết khấu, NHTW có thể khuyến khích hoặc hạn chế khối
Trang 32lượng tái chiết khấu và có thể chống hạn mức tái chiết khấu nhưng không thể kiếm
soát được nhu cầu tái chiết khấu của các NHTM
1.2.5.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả nghiệp vụ TTM
Nghiệp vụ TTM là một công cụ CSTT có tính chất tự nguyện theo các nguyên tắc thị trường và linh hoạt nên sự vận hành của nghiệp vụ TTM phụ thuộc nhiều vào các yếu tố xuất phát từ bản thân NHTW và từ các thành viên
thị trường
Thứ nhất, Khả năng dự báo về vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng
Với vai trò tổ chức, xây dựng và điều hành các hoạt động Nghiệp vụ TTM, trên cơ sở dự báo các diễn biến tiền tệ, tình hình vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, NHTW quyết định thời điểm, khối lượng chào mua-bán GTCG, thời hạn và phương thức giao dịch Nghiệp vụ TTM nhằm điều tiết thị trường tiền tệ theo mục tiêu đã xác định
Khi dự báo vốn khả dụng dư thừa trong ngắn hạn, NHTW sẽ thực hiện các phiên chào bán GTCG hoặc phát hành tín phiếu NHTW nhằm thu hút và hấp thụ vốn khả dụng dư thừa của hệ thống ngân hàng Trường hợp dự báo vốn khả dụng thiết hụt thì NHTW sẽ thực hiện chào mua GTCG hoặc chứng chỉ tiền gửi để cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng Vì vậy, việc quyết định thực hiện các phiên giao dịch Nghiệp vụ TTM và kết quả giao dịch Nghiệp
vụ TTM phụ thuộc rất nhiều vào độ chính xác của việc dự báo vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng Nếu việc dự báo vốn khả dụng của NHTW phù hợp với thực tế diễn biến thị trường thì khả năng tham gia phiên giao dịch Nghiệp
vụ TTM của các ngân hàng sẽ cao hơn Nếu dự báo sai hoặc ngược chiều thì kết quả giao dịch Nghiệp vụ TTM sẽ rất thấp hoặc không có đối tác nào khác tham gia giao dịch Nghiệp vụ TTM
Thứ hai, Sự phát triển và hoàn thiện của thị trường tiền tệ
- Sự đa dạng về khối lượng và chủng loại hàng hoá được giao dịch
Trang 33Để tham gia thị trường mở, nhất là khi cần bổ sung nguồn vốn, các ngân hàng phải nắm giữ một lượng hàng hoá nhất định về cả khối lượng và chủng loại phù hợp với điều kiện và nhu cầu giao dịch của NHTW Chỉ khi các hàng hoá nắm giữ của ngân hàng phù hợp với nhu cầu giao dịch của NHTW thì các ngân hàng mới có thể tham gia giao dịch Nghiệp vụ TTM Khi thực hiện giao dịch Nghiệp vụ TTM, NHTW thường yêu cầu sử dụng các GTCG có độ rủi ro rất thấp và tính thanh khoản cao Chính vì vậy, các GTCG do Bộ Tài chính hay chính NHTW phát hành thường được NHTW
ưu tiên chấp thuận Các GTCG này thường được nắm giữ bởi các ngân hàng
có tiềm lực tài chính mạnh, quy mô lớn hoặc nguồn vốn dồi dào Bên cạnh đó, NHTW cũng chấp thuận các GTCG khác như: GTCG do Chính phủ các nước phát triển phát hành, GTCG do chính quyền địa phương phát hành hoặc GTCG do các tổ chức tín dụng, tài chính có độ tín nhiệm cao phát hành
Chính vì vậy, danh mục GTCG được chấp thuận sử dụng trong giao dịch Nghiệp vụ TTM càng đa dạng thì các ngân hàng cũng có thêm sự lựa chọn trong cơ cấu đầu tư GTCG nhằm đảm bảo tính thanh khoản và khả năng sinh lợi
- Số lượng thành viên tham gia thị trường
Nghiệp vụ TTM là công cụ có tính chất tự nguyện theo các nguyên tắc thị trường, không có tính chất bắt buộc Chính vì vậy, hoạt động Nghiệp vụ TTM không chỉ phụ thuộc vào NHTW mà còn bị chi phối bởi môi trường kinh tế vĩ mô, sự tham gia thị trường và nhu cầu giao dịch của các thành viên tham gia thị trường
Các ngân hàng tham gia Nghiệp vụ TTM nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản và mục tiêu lợi nhuận từ việc kinh doanh GTCG Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của mình, các ngân hàng có thể thực hiện việc bán các GTCG, vay từ các tổ chức tài chính, tín dụng khác trên thị trường vốn hoặc vay từ NHTW Việc giao dịch trên thị trường mở phụ thuộc vào khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản của ngân hàng thông qua thị trường tiền tệ và thường
Trang 34được lựa chọn cuối cùng bởi vì các lý do phi kinh tế Khả năng tìm kiếm các nguồn vốn khác của ngân hàng phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển của thị trường tiền tệ quốc gia
Chính vì vậy, nếu ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu thanh khoản của mình trên thị trường tiền tệ qua việc huy động các nguồn vốn mới, bán các tài sản, vay các ngân hàng khác,… hoặc thông qua các công cụ khác thì việc giao dịch Nghiệp vụ TTM tại NHTW sẽ giảm thiểu Khi đó khả năng tác động của Nghiệp vụ TTM sẽ bị hạn chế
- Sự phong phú về các hính thức giao dịch và quy định về nghiệp vụ thị trường mở
Nhìn chung, nghiệp vụ thị trường mở rất đa dạng về hình thức giao dịch, hàng hoá giao dịch, tần suất giao dịch, đối tác giao dịch, kỳ hạn giao dịch Các quy định về Nghiệp vụ TTM này đều có tác động nhất định đến sự vận hành của Nghiệp vụ TTM
Hiện nay, Nghiệp vụ TTM thường được NHTW thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau: NHTW mua hẳn hoặc bán hẳn GTCG, NHTW mua hoặc bán có kỳ hạn các GTCG, NHTW phát hành tín phiếu NHTW, cầm cố các chứng chỉ tiền gửi, cho vay không có bảo đảm hoặc hoán đổi ngoại tệ Việc quyết định sử dụng các hình thức nào phụ thuộc vào thực tế diễn biến thị trường và sự phát triển của NHTW và hệ thống ngân hàng tài chính Hình thức mua bán có kỳ hạn GTCG là hình thức giao dịch Nghiệp vụ TTM chủ yếu tại nhiều NHTW xuất phát từ tính linh hoạt của hình thức này và tiết kiệm chi phí giao dịch Hơn nữa, NHTW sử dụng hình thức này có thể khắc phục
dễ dàng các sai lầm của mình Bên cạnh đó, hàng hoá của Nghiệp vụ TTM thường là các GTCG có thu nhập cố định (lãi suất cố định) và tính thanh khoản cao như chứng khoán của chính phủ, tín phiếu NHTW Vấn đề nổi lên gần đây là sự thiếu hụt các GTCG đủ điều kiện giao dịch trên thị trường mở của các ngân hàng, xuất phát từ quy mô thị trường trái phiếu chính phủ nhỏ
Trang 35Ngoài ra, các giao dịch hoán đổi ngoại tệ cũng chỉ được thực hiện tại một số quốc gia
Một quy định nữa của NHTW cũng tác động đến sự vận hành Nghiệp
vụ TTM là quy định về đối tác tham gia thị trường Tại nhiều quốc gia, chỉ có các ngân hàng mới được giao dịch trên thị trường mở Tuy nhiên tại Ấn Độ và
Ba Lan thì các đối tác chủ yếu lại là các nhà giao dịch sơ cấp Tại Hàn Quốc thì ngân hàng, công ty tín thác và đầu tư, công ty chứng khoán cũng là các đối tác trên thị trường mở Chính vì vậy, quy định về đối tác thị trường mở của NHTW tác động rất lớn tới sự sôi động và quy mô hoạt động của thị trường
1.3 Kinh nghiệm về hiệu quả nghiệp vụ TTM tại một số nước
1.3.1 Kinh nghiệm về nghiệp vụ TTM tại một số nước
1.3.1.1 Nghiệp vụ thị trường mở tại Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED, NHTW của Mỹ) bắt đầu thực hiện nghiệp vụ TTM từ cuối những năm 1920 Khi đó, Nghiệp vụ TTM được sử dụng như một công cụ hỗ trợ thực hiện cho vay chiết khấu của Fed Nhưng đến nay, Nghiệp vụ TTM được coi là công cụ CSTT linh hoạt, có hiệu quả và quan trọng nhất của Fed vì hoạt động Nghiệp vụ TTM có tính chất quyết định đến sự thay đổi dự trữ của hệ thống ngân hàng và lãi suất thị trường Để điều hành Nghiệp vụ TTM, Fed đã thành lập Uỷ ban nghiệp vụ thị trường mở (FOMC) Theo định kỳ 6 tuần/lần, FOMC họp bàn phân tích các diễn biến kinh tế - tiền tệ và các yếu tố ảnh hưởng để đưa ra các quyết định về mục tiêu tăng trưởng M1, M2 và lãi suất liên ngân hàng định hướng, lãi suất chiết khấu
từ đó quyết định khối lượng GTCG giao dịch trên thị trường mở, phương thức giao dịch và thời hạn giao dịch
FED lựa chọn những chứng khoán có tính thanh khoản và độ an toàn cao làm công cụ thực hiện Nghiệp vụ TTM nhằm đạt được mục tiêu điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng một cách có hiệu quả nhất Chứng khoán Chính phủ Mỹ (đặc biệt là tín phiếu kho bạc) là công cụ chủ yếu được
Trang 36sử dụng trong các giao dịch Nghiệp vụ TTM do có khối lượng giao dịch trên thị trường lớn, có tính thanh khoản và độ an toàn cao Thời hạn của các chứng khoán Chính phủ được giao dịch trên thị trường khá đa dạng, từ dưới 01 năm đến trên 10 năm
Đối tác giao dịch chủ yếu của FED là các ngân hàng Tuy nhiên hầu hết các giao dịch Nghiệp vụ TTM thực hiện thông qua các nhà giao dịch chứng khoán chính phủ chuyên nghiệp (ngân hàng)
Tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà FED áp dụng hình thức mua bán hẳn hoặc mua bán có kỳ hạn, thông qua hình thức đấu thầu lãi suất Các giao dịch mua bán hẳn thường được sử dụng khi việc dự báo các nhân tố ảnh hưởng đến mức dự trữ của các NHTM như khối lượng tiền ngoài lưu thông, khả năng chi tiêu của Chính phủ … cho thấy mức dự trữ cần được tiếp tục điều chỉnh trong một thời gian dài Ngoài ra khi cần tăng dự trữ, bên cạnh việc mua hẳn, Fed
có thể sử dụng thêm hình thức cho trả trước hạn các chứng khoán Thực chất
cả 2 nghiệp vụ mua bán hẳn và thanh toán trước hạn chứng khoán đều có tác động giống nhau
Trong trường hợp dự báo cho thấy cần thay đổi tạm thời dự trữ của các ngân hàng, hoặc không dự báo được chính xác mức độ cũng như thời hạn biến động của dự trữ, Fed có thể thực hiện phương thức mua bán có kỳ hạn ngắn thông qua các hợp đồng Repos, với thời gian thường không quá 15 ngày
1.3.1.2 Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc
Vai trò ổn định thị trường tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Trung
Quốc (PBOC) được thể hiện ở hai hoạt động chủ yếu:
- Thứ nhất, PBOC là cơ quan chủ đạo trong việc xây dựng và thực thi
hệ thống quy phạm pháp luật điều hành thị trường, quy định cơ cấu tổ chức quản lý, vận hành thị trường dưới sự chỉ đạo của PBOC, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức tài chính và phi tài chính tham gia thị trường
Trang 37- Thứ hai, PBOC trực tiếp tham gia thị trường thông qua các công cụ
như nghiệp vụ thị trường mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu (trong đó nghiệp vụ thị trường mở chiếm vị trí chủ đạo) nhằm tạo ra những tác động điều chỉnh lãi suất, cung cầu tiền tệ trên thị trường
Trung Quốc đã xây dựng được một khung khổ pháp luật tương đối hoàn chỉnh, đặc biệt là thị trường tín dụng liên ngân hàng và thị trường trái phiếu liên ngân hàng Điểm đáng chú ý nữa là Trung Quốc đã có thể kiểm soát thống nhất đối với thị trường tiền tệ trên cơ sở một mạng lưới kết nối quốc gia giữa các thị trường bộ phận Nhờ vậy, PBOC đã có thể can thiệp một cách chủ động và linh hoạt để thực thi chính sách tiền tệ của mình
1.3.1.3 Nghiệp vụ thị trường mở tại Ngân hàng Trung ương Châu Âu
CSTT của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) đã thực sự hiệu quả
và giúp cho nền kinh tế liên minh không ngừng lớn mạnh, đồng tiên chung của liên minh luôn ổn định và không ngừng tăng giá so với các đồng tiền của các nền kinh tế lớn khác như Mỹ hay Nhật Bản
Nổi lên trong CSTT của ECB, NVTTM như là một công cụ chủ yếu của ECB trong việc điều hành CSTT Bao gồm 3 loại
Nghiệp vụ tái cấp vốn chính (Main refinancing opration)
Đây là hoạt động tái cấp vốn ngắn hạn chủ yếu của ECB cho các tổ chức tín dụng Doanh số hoạt động của bộ phận nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng rất lớn doanh số hoạt động của NVTTM ECB tổ chức đấu thầu với bảo đảm bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn đã được lưu ký tại NHTW các quốc gia thành viên Điều kiện để các TCTD có thể tham gia đấu thầu là phải đảm bảo
dự trữ bắt buộc Việc xét thầu tập trung tại ECB, tuy nhiên các thủ tục về lưu
ký các chứng khoán đảm bảo và nộp phiếu dự thầu đều được thực hiện tại NHTW các nước và các chi nhánh của NHTW Việc xác định khối lượng đấu thầu của từng phiên giao dịch do ECB thực hiện, trên cơ sở tổng hợp phân tích các báo cáo dự đoán vốn khả dụng của các TCTD
Trang 38 Nghiệp vụ tái cấp vốn dài hạn (Longer – turn refinancing opration) Đây là bộ phận NVTTM được thực hiện theo một chiều là ECB cho vay các TCTD theo hình thức tái cấp vốn chính Tuy nhiên nghiệp vụ này được thực hiện một tháng một lần và thời hạn cho vay là ba tháng (thời hạn Repo) với điều kiện phải được đảm bảo là các chứng khoán đủ tiêu chuẩn đã được lưu ký tại NHTW của các nước thành viên
Nghiệp vụ điều chỉnh tinh (Fine – turn opration)
Đây là bộn phận NVTTM bao gồm cả “bơm” và “rút” tiền từ lưu thông
về và nó chỉ được thực hiện trong trường hợp có sự biến động lớn của thị trường mà ECB không lường trước được hoặc do khả năng dự đoán vốn khả dụng của ECB không được chính xác Nghiệp vụ này đòi hỏi phải thực hiện nhanh để điều chỉnh thị trường (thông thường trong vòng hai giờ đồng hồ) vì vậy không có nhiều TCTD đủ điều kiện tham gia nghiệp vụ này Nó thường được thông qua đấu thầu nhanh (Quick tender) hoặc quan hệ song phương và thời hạn cũng không theo một quy định cụ thể nào mà phụ thuộc vào tình hình diễn biến của thị trường Theo đó, hình thức “bơm” tiền của nghiệp vụ này là mua bán chứng khoán có kỳ hạn, giao dịch Swaps ngoại hối Các hình thức
“rút tiền từ lưu thông về” cũng bao gồm nhận tiền gửi (với lãi suất phù hợp), giao dịch Swaps ngoại hối, bán chứng khoán có kỳ hạn, phát hành chứng chỉ tiền giử của ECB
Tuy nhiên, ECB cũng có các hình thức ngoài hoạt động của NVTTM như thể thức cho vay qua đêm (Marginal Lending Facility), thể thức tiền giử (Deposit Facility) để tác động đến vốn khả dụng của các TCTD
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về hiệu quả nghiệp vụ TTM đối với Việt Nam
Nghiên cứu NVTTM của NHTW một số nước và vận dụng hợp với điều kiện phát triển thị trường tài chính, kinh tế tại Việt Nam là cần thiết Một
số bài học kinh nghiệm được rút ra là:
Trang 39Một là, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các công cụ NVTTM và các
công cụ CSTT khác trong việc điều hành CSTT như chính sách cho vay tái chiết khấu, chính sách dự trữ bắt buộc NVTTM không thể phát huy hiệu quả nếu không có các chính sách khác hỗ trợ phối hợp trong đó chính sách tái chiết khấu được chú trọng hơn
Hai là, thị trường mở chỉ có thể phát huy hiệu quả trên cơ sở phát triển
đồng bộ các thị trường khác như: thị trường trái phiếu, tín phiếu Chính phủ, thị trường thứ cấp mua bán các loại GTCG với nhiệm vụ tạo hàng hoá cho thị trường mở, làm cho thị trường sôi động, tăng tính hấp dẫn Thông qua hình thức này tác động đến khối lượng dự trữ của các NHTM, lãi suất thị trưòng và hiệu quả của CSTT
Ba là, đối tác tham gia giao dịch không nhất thiết chỉ là các TCTD Tuỳ
theo mức độ phát triển của thị trường mà các đối tác có thể mở rộng sang các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán và các doanh nghiệp khác (như ở Mỹ
- bao gồm cả các tổ chức môi giới - nhà môi giới) Khi đối tác tham gia giao dịch NVTTM càng đa dạng thì khả năng điều tiết tiền tệ và thực thi CSTT qua NVTTM càng trở nên linh hoạt và hiệu quả
Bốn là, để tăng tính linh hoạt trong điều chỉnh của NHTW trên thị
trường mở, ở các nước sử dụng các giao dịch mua đi bán lại (kỳ hạn) đều được sử dụng phổ biến hơn mua bán hẳn Các thời hạn của giao dịch mua bán lại thường cũng hết sức đa dạng
Năm là, thời hạn cho một giao dịch có kỳ hạn của các nước thường là rất
ngắn như giao dịch qua đêm, có thời hạn từ 1 đến 7 ngày, hay các giao dịch có thời gian dài hơn nhưng không được sử dụng thường xuyên bằng các giao dịch có thời gian ngắn hạn Qua đó, giúp cho NHTW có thể phát huy được tính chủ động linh hoạt trong điều tiết thị trường tiền tệ và điều hành CSTT
Sáu là, dự báo và quản lý vốn khả dụng có vai trò quan trọng, quyết
định hiệu quả hoạt động của công cụ NVTTM Vì thế các nước rất chú trọng nâng cao công tác thu thập và xử lý thông tin về dự báo nhu cầu vốn khả
Trang 40dụng Tại Việt Nam công tác này hiện nay vẫn chưa được đầu tư, quan tâm đúng mức so với yêu cầu thực tế
Bảy là, vấn đề công nghệ thông tin luôn được quan tâm và được coi
như là một tiêu chí đánh giá sự phát triển của NVTTM Việc có công nghệ lạc hậu làm tăng thời gian và chi phí vận hành hoạt động NVTTM, do đó nỗ lực hiện đại hoá công nghệ thông tin và các phần mềm nghiệp vụ chuyên sâu luôn phải được liên tục hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và theo kịp các nước trong khu vực cũng như trên thế giới
Kết luận Chương 1 Trong chương 1, Luận văn đã tập trung vào những cơ sở lý luận chủ yếu về chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương; làm rõ mục tiêu của CSTT, công cụ thực hiện CSTT Đồng thời, nêu khái niệm về nghiệp
vụ thị trường mở, vai trò của nghiệp vụ TTM trong điều hành chính sách tiền tệ Ngoài ra trong Chương này, Luận văn cũng tập trung chỉ ra các
cơ chế để hoạt động nghiệp vụ thị trường mở như thành viên tham gia, hàng hóa tham gia, phương thức giao dịch, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiệp vụ TTM
Thêm vào đó, tác giả cũng tập trung nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng công cụ nghiệp vụ TTM của một số quốc gia như Mỹ, Trung Quốc
và Ngân hàng trung ương Châu Âu từ đó tham khảo và rút ra những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam