Mục đích nghiên cứu của luận văn Trên cơ sở nghiên cứu các cơ sở lý luận chung, kết hợp với việc phân tích thực trạng của TTCK Việt Nam cũng như hệ thống NHTM Việt Nam để tìm ra nguyên n
Trang 1NGÂN HÀNG
TIN THỮ VI
0 01 1 93
Trang 2B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NGUYỄN THỊ THƯ HƯƠNG
TOÁN CH Ứ N G KHOÁN GIỮA CÔNG TY CHỨ NG KHOÁN VÀ
HỌC VIỆN NGÂN HÀN TRUNG TÂM THÔNG TIN-THƯ
T H U VIỆ]'
Chuyên ngành: Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng -
— -Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC s ĩ KINH TÉ
Ngưò'i hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Bất
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của Luận văn là trung thực
và chua đuợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Thu Huong
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề t à i 1
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn 2
3 Đối tuợng, phạm vi nghiên cứu của Luận văn 3
4 Phuơng pháp nghiên cứu 3
5 Ket luận của Luận văn 3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VÁN ĐÊ C ơ BAN VE NGAN HANG THƯƠNG MẠI v ớ i VIẸC THựC HIỆN NGHIỆP v ụ ĐĂNG KÝ, L ư u KÝ, THANH TOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHÚNG K H OAN 5
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thuơng m ạ i 5
1.1.1 Các nghiệp vụ cơ bản của N H TM 5
1.1.2 Tố chức và cấu trúc của ngân hàng 10
1.1.3 Mô hình hoạt động của NHTM trên TTCK 11
1.2 Hoạt động của Thị truờng chứng khoán 15
1.2.1 Các chức năng cơ bản của TTCK 15
1.2.2 Các chủ thể tham gia trên TTCK 16
1.2.3 Các hoạt động nghiệp vụ của NHTM trên T T C K : 20
1.2.3.1 Nghiệp vụ đăng ký, luu ký chứng khoán: 20
1.2.3.2 Nghiệp vụ Bù trừ chứng khoán và tiền 21
1.2.3.3 Nghiệp vụ thanh toán tiền đầu tu chứng k hoán 22
1.2.3.4 Các nghiệp vụ khác 23
1.3 NHTM với các nghiệp đăng ký, luu ký và thanh toán chứng khoán 24
1.3.1 Nghiệp vụ đăng ký chứng khoán 24
1.3.2 Nghiệp vụ ngân hàng luu ký chứng khoán 24
1.3.2.1 Các mô hình hình luu ký chứng khoán 24
1.3.2.2 Nội dung nghiệp vụ luu k ý 25
1.3.3 Nghiệp vụ thanh toán chứng khoán 26
1.3.4 Nghiệp vụ thanh toán tiền đầu tu chứng khoán 27
CHƯƠNG 2 32
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐĂNG KÝ, LUƯ KÝ VÀ THANH TOÁN CHỨNG KHOÁN TẠI BIDV - NGÂN HÀNG CHỈ ĐỊNH THANH TOÁN 32
Trang 5NHCĐTT V 35
2.3 Thực trạng hoạt động đăng ký, lưu ký và thanh toán tiền chứng khoán tại BID V " • ••• — 37
2.3.1 Mô hình tổ chức của B ID V 37
2.3.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của BIDV giai đoạn 2006 - 2010 38 2.3.3 Thực trạng nghiệp vụ đăng ký, lưu ký chứng khoán tại BIDV 44
2.3.3.1 Mở, quản lý và sử dụng tài khoản lưu ký chứng khoán 45
2.3.3.2 Nhận ký gửi chứng khoán 48
2.3.3.3 Rút chứng khoán 53
2.3.3.4 Chuyển khoản chứng k hoán 55
2.3.3.5 Cầm cố và giải tỏa chứng khoán cầm cố 56
2.3.3.6 Thực hiện các quyền liên quan đến chứng khoán 57
2.3.3.7 Thực hiện lệnh đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư 59
2.3.4 Thực hiện nghiệp vụ NHCĐTT 60
2.3.4.1 Hạch toán và thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán 60
2.3.4.2 Cho vay đảm bảo khả năng thanh to á n 66
2.3.5 Thanh toán trực tuyến tiền giao dịch chứng khoán 67
2.4 Đánh giá chung về sự kết hợp giữa NHTM với các TVLK trong hoạt động đăng ký, lưu ký và thanh toán chứng khoán 68
2.4.1 Các thành tựu đạt được 68
2.4.2 Những bất c ậ p 71
2.5 Kinh nghiệm quốc tế trong việc tổ chức mô hình lưu ký và thanh toán tiền chứng khoán 77
CHƯƠNG 3 7 V GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MỐI QUAN HỆ TRONG HOẠT ĐỘNG LƯU KY VÀ THANH TOÁN CHỨNG KHOÁN GIỮA TTCK VÀ BIDV 76
3.1 Định hướng phát triển của TTCK Việt Nam trong thời gian tới và trong hoạt động lưu ký, thanh toán tiền chứng khoán 76
3.1.1 Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam 2010 - 2020 76
3.1.2 Định hướng phát triển của TTCK Việt Nam trong hoạt động lưu ký thanh toán tiền chứng khoán 79
Trang 63.2 Định hướng phát triển mối quan hệ BIDV và TTCK trong hoạt động đăng
ký, lưu ký thanh toán chứng khoán trong thời gian tới 81
3.2.1 Phát triển hoạt động lưu ký và thanh toán tiền chứng khoán 81
3.2.2 Phát triển tổ chức phụ tr ợ 82
3.2.3 Phát triển nhà đầu tư 82
3.2.4 Phát triển cơ sở hệ thống công nghệ thông tin T T C K 82
3.2.5 Quản lý Nhà nước về T T C K 83
3.3 Giải pháp phát triển mối quan hệ trong hoạt động lưu ký, thanh toán chứng khoán giữa BIDV và T T C K 83
3.3.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động của NHTM trên TTCK 83
3.3.2 Phát triển hoạt động lưu ký và thanh toán chứng khoán 85
3.3.3 Phát triển các nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK tại BIDV 87
3.3.3.1 Hoàn thiện các điều kiện để triển khai nghiệp vụ ngân hàng lưu ký 7 .7 87
3.3.3.2 Nâng cao chất lượng NHCĐTT 88
3.3.3.3 Đa dạng các nghiệp vụ ngân hàng phục vụ T T C K 90
3.3.3.4 Nâng cao năng lực nhân sự hoạt động lưu ký, thanh toán chứng khoán 91
3.3.3.5 Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng phục vụ cho hoạt động lưu ký, thanh toán chứng khoán 92
3.3.3.6 Tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng phục vụ TTCK 7 .7 7 7. 77 92
KẾT LUẬN 96
Trang 71 BIDV: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
10 TK TTBT TV: Tài khoản thanh toán bù trừ thành viên
11 TKCK TTBT TV: Tài khoản chứng khoán thanh toán bù trừ thành viên
12 TKCK GD TV: Tài khoản chứng khoán giao dịch thành viên
Trang 8nhà đầu tư giữa CTCK và NHTM
29
TTCK Việt Nam
33
thanh toán bù trừ tiền chứng khoán giữa TTLK
và BIDV
61
chứng khoán tại BIDV
chứng khoán giai đoạn 2007 -2010
61
B1DV từ 2006-2010
44
Trang 9Ngày nay không chỉ ở những nước có nền kinh tể phát triển như Mỹ, Anh, Nhật mà ngay cả những nước đang phát triển như Thái Lan, Inđônêxia, Philippin
và Việt Nam, khái niệm Thị trường chứng khoán dường như không còn xa lạ, không còn quá mới mẻ, thậm chí thị trường chứng khoán (TTCK) giờ đây đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của thị trường tài chính, là một trong những kênh dẫn vốn vô cùng quan trọng TTCK không chỉ là nơi điều hòa vốn mà nó còn là phong vũ biểu của nền kinh tế Nhìn vào các chỉ số chứng khoán của một quốc gia, người ta có thể đánh giá mức độ phát triển của nền kinh tế quốc gia đó
Nhìn vào lịch sử hình thành và phát triển TTCK của các quốc gia ta cũng
có thể nhận thấy vai trò vô cùng quan trọng của hệ thống NHTM của các quốc gia đó trên TTCK Các NHTM không chỉ là chủ thể tạo ra hàng hoá cho TTCK
mà còn là chủ thể chính hoạt động kinh doanh trực tiếp trên TTCK, cung cấp các dịch vụ ngân hàng truyền thống và hiện đại cho TTCK
Là một cấu thành của thị trường tài chính, sự phát triển của TTCK sẽ kém bền vững nếu thiếu sự gắn kết với hệ thống NHTM Từ kinh nghiệm của nhiêu nước đã cho ta thất rằng, “nếu TTCK là một cạnh cắt của thị trường tài chính thì các NHTM vừa là nền móng vừa là xi măng” Như vậy có thể thấy hệ thống NHTM và TTCK có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, kết hợp và tác động với nhau cùng phát triển luôn giữ vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triên của TTCK trên thị trường thứ cấp và thị trường sơ cấp
Các NHTM cũng là nhân tố góp phần thúc đấy quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và hình thành các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự phát triển của TTCK Đồng thời các NHTM tạo hàng hóa cho TTCK, giúp các công ty phát hành chứng khoán, làm trung gian mua bán chứng khoán, cung cấp
Trang 10Với chức năng này NHTM có vai trò quan trọng trong việc tham gia hoạt động ngân hàng lưu ký và tổ chức hoạt động thanh toán tiền chứng khoán để giúp thị trường phát triển Do đó trong lĩnh vực này nhiệm vụ của NHTM là ngân hàng chuyên sâu phục vụ TTCK Bởi vậy tác giả luận văn đã chọn đề tài:
“Giải pháp kết hợp nghiệp vụ đăng ký, lưu ký và thanh toán chứng khoán giữa CTCK và BIDV” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu các cơ sở lý luận chung, kết hợp với việc phân tích thực trạng của TTCK Việt Nam cũng như hệ thống NHTM Việt Nam để tìm ra nguyên nhân tồn tại dẫn đến việc nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK của NHTM còn chưa phát triển đúng với tiềm năng, từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị phù hợp đế phát triển các nghiệp vụ giúp cho thị trường phát triển bền vững tăng sự kiểm soát của ngân hàng trong hoạt động lưu ký và thanh toán chứng khoán hỗ trợ công tác quản lý và giám sát thị trường, khai thác tiềm năng của NHTM để hồ trợ nhà đầu tư và thị trường cùng phát triển
Trang 113 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu TTCK Việt Nam từ lịch sử hình thành và phát triển định hướng phát triển đến 2020 Đồng thời luận văn cũng tiến hành nghiên cứu xu hướng phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam, các nghiệp vụ NHTM phục vụ TTCK như: Lưu ký, thanh toán tiền chứng khoán
Luận văn cũng sẽ tập trung xu hướng phát triển của TTCK, những thuận lợi và thách thức cũng như những bài học kinh nghiệm của NHTM trong việc cung cấp các nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK trong hiện tại và trong tương lai
Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu về mối liên hệ giữa NHTM, TTLK và CTCK (dưới tư cách là các TVLK) trong việc lưu ký và thanh toán chứng khoán
Phạm vi nghiên cứu do không thể nghiên cứu hết hệ thống NHTM Việt Nam thay vào đó tác giả tập trung nghiên cứu Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) làm điển hình
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, khái quát hóa và các phương pháp lý thuyết hệ thống, thống kê so sánh, mô hình toán thống kê và phân tích kinh tế, điều tra chọn mẫu trong nghiên cứu lý thuyết, đánh giá thưc trạng tìm giải pháp
5 Kết luận của Luận văn
- Tên Luận văn: “Giải pháp kết hợp nghiệp vụ đăng ký, lưu ký và thanh toán chứng khoán giữa CTCK và NHTM”
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Trang 12Chương 1: Những vấn đề cơ bản về NHTM với việc thực hiện nghiệp vụ
đăng ký, lưu ký, thanh toán trên TTCK
Chương 2: Thực trạng nghiệp vụ ngân hàng đăng ký, lưu ký và thanh toán
chứng khoán tại BIDV
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện mối quan hệ trong hoạt động đăng ký,
lưu ký và thanh toán chứng khoán giữa CTCK và BIDV
Trang 13CHƯƠNG 1 NHŨNG VẤN ĐÈ c o BẢN VÈ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VỚI VIỆC
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thưoiig mại
1.1.1 Các nghiệp vụ cơ bản của N tìT M
“NHTM là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”
Nghiệp vụ huy động vốn
Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ tạo vốn quan trọng hàng đầu của các NHTM Với chức năng nhiệm vụ của mình, các NHTM đã thu hút, tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng của các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư vào ngân hàng
Với nghiệp vụ huy động vốn, các NHTM đã thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng, uy tín và vị thế của ngân hàng sẽ càng được khẳng định, ngân hàng sẽ chủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ với các thành phần kinh tế, tố chức, dân cư
Nghiệp vụ sử dụng von
Đây là nghiệp vụ trực tiếp đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Đối tượng kinh doanh của NHTM là tiền tệ và quyền sử dụng tiền tệ, do vậy lợi tức của
Trang 14ngân hàng có được chủ yếu từ việc đầu tư và cho vay Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng sẽ tiến hành hoạt động cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triên sản xuất, cho các mục tiêu phát triển kinh tế của vùng, ngành kinh tế, các thành phần kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của xã hội, nhằm thúc đấy nền kinh tế phát triển Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động chính là phần lợi nhuận mà ngân hàng được hưởng Nghiệp vụ sử dụng vốn bao gồm các nghiệp vụ ngân quỹ, cho vay, đầu tư tài chính và các nghiệp vụ khác
Một NHTM có nghiệp vụ sử dụng vốn với hiệu quả cao sẽ đem lại nguồn thu lớn, nguồn lợi nhuận lớn cho ngân hàng, đồng thời nâng cao vai trò, uy tín của ngân hàng, từ đó tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường, nhờ vậy sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư đến giao dịch, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng nghiệp vụ huy động vốn và phát triển các nghiệp vụ ngân hàng khác
Các nghiệp vụ trung gian
Đó là các nghiệp vụ mà trong đó, ngân hàng đứng ra thay mặt nhà đầu tư của mình, thực hiện các yêu cầu của nhà đầu tư, nền kinh tế ngày càng phát triển, các dịch vụ của ngân hàng cũng phát triển theo để đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú đa dạng của nhà đầu tư, ngân hàng thực hiện nghiệp vụ trung gian và được hưởng thu nhập từ phí hoa hồng
Các hoạt động trung gian phản ánh mức độ phát triển của ngân hàng Ở các nước phát triển, NHTM thực hiện rất nhiều hoạt động trung gian và luôn có dịch vụ cung cấp nhiều tiện ích cho nhà đầu tư Thu nhập từ các hoạt động trung gian chiếm khoảng 30 -35% tổng thu nhập của ngân hàng
Ngân hàng thực hiện một số nghiệp vụ trung gian sau: Dịch vụ chuyển tiền, thanh toán uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, phát hành séc, bảo lãnh cho nhà đầu
tư, thu chi hộ, quản lý tài sản hộ, các hình thức thanh toán thẻ Nền kinh tế
Trang 15càng phát triển, nhu cầu về các dịch vụ chú trọng phát triển các nghiệp vụ ngân hàng trung gian.
Việc đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ cung ứng sẽ làm tăng thu nhập cho ngân hàng, tăng uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng Mặt khác, thực hiện tốt các nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ thu hút đuợc nhiều nhà đầu tư hơn, điều đó cũng tạo điều kiện phát triển hoạt động huy động vốn và cho vay của ngân hàng
Các ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính - ngân hàng nói chung đang chiếm một vị trí ngày càng quan trọng và vô cùng nhạy cảm trong nền kinh
tế, liên quan tới mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội Hiện nay, có rất nhiều tổ chức tài chính, bao gồm cả các CTCK, các công ty bảo hiểm đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng Ngược lại, ngân hàng cũng phải đôi phó với các đối thủ cạnh tranh bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ
về bất động sản, tham gia hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm, đầu
tư vào quỹ tương hồ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác
Các dịch vụ Ngân hàng liên quan đến hoạt động của TTCK:
Dịch vụ cho vay trong lĩnh vực chứng khoán: Đây là nghiệp vụ mà Ngân hàng cho vay vốn đối với các khách hàng là nhà đầu tư, CTCK hay TVLK khi họ phát sinh nhu cầu hoặc thiếu hụt vốn tạm thời trong quá trình giao dịch Một số loại hình cho vay trong lĩnh vực chứng khoán như sau:
Cho vay cầm cố chứng khoán: Là nghiệp vụ ngân hàng cho khách hàng vay sử dụng vào các mục đích hợp pháp với tài sản đảm bảo là các chứngkhoán thuộc sở hữu của khách hàng vay
Cho vay bảo chứng: Là nghiệp vụ mà ngân hàng cho khách hàng vay vốn
để thanh toán sổ tiền mua chứng khoán mà khách hàng phải thanh toán khi giao
Trang 16Nghiệp vụ môi giới chứng khoán: Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian theo đó NHTM đại diện, thay mặt khách hàng của mình thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng (NHTM chỉ đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch, còn chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình) Thông qua hoạt động môi giới, NHTM sẽ chuyến đến khách hàng các sản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư mua chứng khoán và nhà đầu tư bán chứng khoán Và tất nhiên trong hoạt động này, ngân hàng sẽ được hưởng tiền hoa hồng từ phía khách hàng, thường được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng giá trị giao dịch.
Dịch vụ ngân hàng đăng ký, lưu ký chứng khoán: Đăng ký chứng khoán là việc ngân hàng đứng ra nhận đăng ký các thông tin về chứng khoán và quyền sở hữu chứng khoán của người nắm giữ chứng khoán Lưu ký chứng khoán là việc ngân hàng thực hiện lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng và giúp họ thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán lưu ký Do giao dịch chứng khoán trên TTCK là hình thức ghi sổ nên lưu ký là quy định bắt buộc trong giao
Trang 17dịch chứng khoán, theo đó khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại thành viên lưu ký là các CTCK hoặc các Ngân hàng lưu ký Khi thực hiện dịch
vụ này, NHTM sẽ nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán Bên cạnh đó các NHTM còn phải thực hiện việc hạch toán ghi sổ chứng khoán thông qua việc mở tài khoản lưu ký chứng khoán cho khách hàng và thực hiện các dịch vụ uỷ quyền của khách hàng
có chứng khoán lưu ký
Dịch vụ ngân hàng giám sát: là dịch vụ mà theo đó ngân hàng thực hiện việc kiểm tra, giám sát, đảm bảo hoạt động quản lý quỹ của Công ty quản lý quỹ
là phù hợp với quy định của pháp luật, với điều lệ hoạt động của quỹ Bên cạnh
đó, ngân hàng giám sát còn phải thực hiện đăng ký sở hữu chứng chỉ quỹ cho nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi và thực hiện các hoạt động giúp nhà đầu tư thực hiện quyền phát sinh liên quan đến việc sở hữu chứng chỉ quỹ, lưu giữ và bảo quản an toàn tài sản quỹ, thay mặt quỹ thực hiện quyền phát sinh liên quan đến tài sản quỹ, thanh toán giao dịch quỹ
Dịch vụ ngân hàng thanh toán bù trừ trong giao dịch chứng khoán: Đây là nghiệp vụ mà một ngân hàng được chỉ định để thực hiện việc thanh toán bù trừ tiền của các giao dịch chứng khoán Thanh toán hoàn tất một giao dịch chứng khoán, trong đó các bên tham gia giao dịch trên TTCK sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền và chứng khoán của mình
Dịch vụ quản lý tài khoản tiền đầu tư chứng khoán cho nhà đầu tư: đây là nghiệp vụ mà một ngân hàng cung cấp dịch vụ quản lý tài khoản tiền để phục vụ cho các nhu cầu đầu tư kinh doanh chứng khoán của nhà đầu tư
Và một số dịch vụ khác như bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư chứng khoán
Trang 181.1.2 Tổ chức và cấu trúc của ngân hàng
Hiện nay các NHTM trên thế giới đang phát triển theo hình thức tập đoàn tài chính, xu hướng toàn cầu hoá Ngoài hoạt động trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ ngân hàng truyền thống, các NHTM lớn còn cung cấp các sản phẩm tài chính khác như bảo hiểm, chứng khoán, cho thuê tài chính, đầu tư tài chính thông qua việc thành lập các công ty con hoạt động độc lập, các chi nhánh ngân hàng hoạt động theo uỷ quyền, phân nhiệm của ngân hàng mẹ trên khắp các quốc gia, các tỉnh thành
Các NHTM Việt Nam hiện nay cũng được tổ chức hoạt động theo mô hình tổng công ty, hoạt động đa năng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Cơ cấu tổ chức gồm có: Hội sở chính điều hành vĩ mô, quản lý hoạt động các chi nhánh (một số ngân hàng đặc biệt là các NHTMCP, Hội sở chính còn thực hiện hoạt động kinh doanh trực tiếp); các Sở giao dịch, các chi nhánh ngân hàng được thành lập tại các tỉnh thành trong toàn quốc hoạt động theo uỷ quyền trong từng thời kỳ của ngân hàng mẹ; các công ty con hoạt động độc lập trong lĩnh vực bảo hiếm, chứng khoán, cho thuê tài chính, các công ty liên doanh, các công ty cổ phần hoạt động kinh doanh trong mọi lĩnh vực
Trang 191.1.3 Mô hình hoạt động của NHTM trên TTCK
Hiện nay trên thể giới tồn tại hai mô hình ngân hàng kinh doanh chứng khoán là mô hình đa năng và mô hình chuyên doanh Việc lựa chọn mô hình nào cho hoạt động kinh doanh chứng khoán của Ngân hàng thì đều là nhằm mục đích trước tiên là giảm thiêu rủi ro hệ thông tài chính nói chung đồng thời tăng thu nhập cũng như ưy tín của Ngân hàng
Mô hình ngân hcmg chuyên doanh:
Đây là sự thê hiện đặc trưng khác biệt về mặt pháp lý giữa hai ngành Ngân hàng và ngành chứng khoán Theo mô hình này thì hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đám nhận, các ngân hàng không được tham gia vào việc kinh doanh chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không đưọ'c tham gia vào việc kinh doanh
Trang 20Tuy nhiên nhược điểm của mô hình kinh doanh này là không tận dụng được những dịch vụ tiện ích mà hệ thống ngân hàng có thể cung cấp cho CTCK Điều này đã được các quốc gia có TTCK đã và đang phát triển trên thế giới quan tâm và xu hướng phát triển trên thế giới là tập trung phát triển mô hình ngân hàng đa năng, hoạt động kinh doanh cả trong lĩnh vực ngân hàng và lĩnh vực chứng khoán.
Mô hình ngân hàng đa năng:
Trong xu hướng toàn cầu hóa hệ thống tài chính của thế giới, hệ thống ngân hàng không chỉ dừng lại ở việc đi vay và cho vay đon thuần mà các ngân hàng phát triển theo mô hình đa năng là mô hình mà trong đó các NHTM vừa hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng vừa hoạt động như một ngân hàng đầu tư với việc bảo lãnh phát hành chứng
Trang 21khoán, tự doanh, môi giới chứng khoán và tham gia vào TTCK sơ cấp và thứ cấp.
Mô hình ngân hàng đa năng là mô hình ngân hàng mà trong đó các ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ tài chính khác như bảo hiểm, chứng khoán (ngoài các dịch vụ ngân hàng truyền thống) Điều đó có nghĩa là các NHTM có thể tham gia vào TTCK như là các thành viên của thị trường Các dịch vụ mà một ngân hàng đa năng cung cấp cho TTCK là dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, giao dịch tự doanh, cho vay, môi giới chứng khoán, các dịch vụ ngân hàng lưu ký, thanh toán chứng khoán Tuỳ theo mô hình tố chức cụ thê, mô hình ngân hàng đa năng bao gồm ngân hàng đa năng một phần và ngân hàng đa năng hoàn toàn:
Ngân hàng đa năng một phần: Là mô hình mà theo đó, các NHTM muốn
hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán thì phải thành lập các CTCK theo mô hình các công ty con, hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với kinh doanh tiền tệ
Mô hình này có ưu điểm nổi bật là do có sự tách biệt hoàn toàn giữa hoạt động kinh doanh chứng khoán và hoạt động kinh doanh tiền tệ nên hạn chế được rủi ro nếu có sự biến động của một trong hai thị trường
Tuy nhiên, mô hình này lại có hạn chế nhất định, đó là không khuyến khích mở rộng hoạt động kinh doanh chứng khoán do không kết hợp được các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán với các nghiệp vụ của ngân hàng, không tận dụng được thế mạnh về tài chính, kinh nghiệm và mạng lưới nhà đầu tư rộng khắp của ngân hàng, bị phân tán về nguồn lực, gây sự chồng chéo về mặt tố chức, làm giảm hiệu quả hoạt động của các NHTM Mô hình ngân hàng đa năng một phần phù hợp với những nước mới thành lập TTCK, khi mà cần có tố chức tài chính lành mạnh tham gia vào thị trường và khi hệ thống pháp luật, kiểm soát còn nhiều mặt hạn chế
Trang 22Ngân hàng đa năng hoàn toàn là mô hình hoạt động trong đó không có
sự tách bạch nào giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán NHTM không những được hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ
mà còn được trực tiếp tham gia kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán mà không cần thông qua các CTCK
Do có sự kết hợp chặt chẽ giữa hai hoạt động kinh doanh mà hoạt động ngân hàng được đa dạng hoá, phân chia rủi ro, tăng lợi nhuận và tăng khả năng tài chính, có thể chịu đựng được các biến động của TTCK Bên cạnh đó, các ngân hàng đa năng hoàn toàn có thể đối mặt một cách dễ dàng hơn với những yêu cầu thay đổi của nhà đầu tư về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và có thể tận dụng uy tín của mình trong một loại hình dịch vụ nhằm giới thiệu các loại hình dịch vụ khác Bằng việc đưa ra một tập hợp sản phẩm tài chính rộng hơn các ngân hàng chuyên doanh, ngân hàng đa năng có thể phát triển được các mối quan
hệ rộng và dài hạn với nhà đầu tư của mình
Tuy nhiên, mô hình này thường làm cho lĩnh vực kinh doanh chứng khoán của ngân hàng kém phát triến do ngân hàng thường tập trung chủ yếu vào lĩnh vực hoạt động ngân hàng Điều này đã thể hiện sự kém phát triển ở TTCK Châu
Âu tương quan với TTCK Mỹ Bên cạnh đó, còn nhược điểm là trong trường hợp biến động trên TTCK, hậu quả có thể tác động tiêu cực đến lĩnh vực kinh doanh tiền tệ giữa hai loại hình kinh doanh này Thực tế đã chứng minh thông qua cuộc đại khủng hoảng 1923 -1933, hay vụ phá sản ngân hàng Barings của Anh năm
1995 Ngược lại, trong trường hợp thị trường tiền tệ biển động có thể ảnh hưởng đên hoạt động kinh doanh chứng khoán của các ngân hàng Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Thái Lan là một minh chứng
Bên cạnh đó, mô hình ngân hàng đa năng hoàn toàn còn có thế gây ra xung đột lợi ích Xung đột lợi ích nảy sinh khi một NHTM giao dịch với nhà đầu tư
Trang 23nếu ngân hàng này chỉ có thể chọn một trong hai phương án để thực hiện giao dịch đó, một có lợi cho ngân hàng còn phương án kia thì nhà đầu tư được lợi Xung đột lợi ích cũng có thể xảy ra khi một ngân hàng tiến hành các hoạt động liên quan tới hai nhóm nhà đầu tư khác nhau và họ phải duy trì được sự cân bằng giữa các lợi ích tương ứng của hai nhóm nhà đầu tư này Rõ ràng ngay cả các ngân hàng chuyên doanh cũng phải đối mặt với nhiều tình huống phát sinh xung đột lợi ích Tuy nhiên, khi một tổ chức tài chính càng đưa ra nhiều sản phẩm dịch vụ hơn và số lượng nhà đầu tư càng được mở rộng thì càng có khả năng xảy
ra xung đột lợi ích
1.2 H oạt động của Thị trường chứng khoán
1.2.1 Các chức năng cơ bản của TTCK
Huy động vốn đầu tư cho nền kỉnh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần
mở rộng sản xuất xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các
cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau
vê tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Trang 24Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.
Đảnh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tống hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhàm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm
Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài
ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế
1.2.2 Các chủ thể tham gia trên TTCK
Tô chức phát hành
Trang 25Tô chức phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK Tố chức phát hành là tổ chức cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của TTCK Chính phủ và chính quyền địa phuơng là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ.
Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức
Nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên TTCK với mục đích kiếm lời
Nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Các định chế này có thể tồn tại dưới các hình thức công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, Quỹ lương hưu, công ty tài chính, ngân hàng thương mại và các CTCK.Các tịnh chế này có thể tồn tại d
Công ty chứng khoán:
Là một tố chức kinh doanh chứng khoán, có tư cách pháp nhân, có vốn riêng hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, hoạt động theo giấy phép của ủ y Ban Chứng Khoán Nhà nước (UBCKNN) cấp CTCK có các nghiệp vụ chính như: Môi giới chứng khoán, Tự doanh chứng khoán, Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư, Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán, Các nghiệp vụ hỗ trợ khác: Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán, Cho vay cầm
cố chứng khoán Để trở thành thành viên của SGDCK, CTCK cũng phải hội đủ
HỌC VIỆN NGẰN hang
TRUNG TẰM THỔNG tin - THU VIỆN
T H Ư V I Ệ N
S £ :
Trang 26những điều kiện do luật định và phải đăng ký kinh doanh chứng khoán trong SGDCK.
Quỹ đầu tie chứng khoán là một định chế tài chính phi ngân hàng, là nơi
tập trung mọi nguồn vốn từ các nhà đầu tư nhỏ lẻ để tạo thành quỹ vốn quy mô lớn và thực hiện đầu tư như một chủ thể duy nhất Nhà đầu tư không hưởng lợi trực tiếp từ các cổ phiếu được mua bán trên thị trường chứng khoán, mà họ sẽ được chia sẻ hiệu quả do một quá trình mua bán chứng khoán tập trung của quỹ này theo tỷ lệ vốn họ đã góp Khi tham gia Quỹ các nhà đầu tư sẽ được nhận một chứng chỉ quỹ xác nhận số vốn đã góp
Các trung gian tài chính là một tổ chức hỗ trợ các kênh luân chuyển vốn
giữa người cho vay và người đi vay theo phương thức gián tiếp Những tổ chức trung gian tài chính bao gồm: NHTM; Tổ chức công cộng/hiệp hội; Tổ chức tín dụng; Đơn vị tư vấn/cố vấn tài chính và môi giới; Các hình thức công ty bảo hiểm; Quỹ tương hỗ; Quỹ hưu trí Trong đó NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ
mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán với các vai trò làm trung gian tài chính của NHTM như tập trung vốn của nền kinh tế: Trong nền kinh tế có những chủ thể
có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụng một cách triệt để nhưng họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và có những chủ thể cần tiền đế hoạt động kinh doanh Nhưng những chủ thế này không quen biết nhau
và cũng có the không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưu thông NHTM với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ
và đem số tiền ấy cho người muốn vay vay
Trang 27Thực hiện được điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh Qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay và với số lãi suất chênh lệch có được nó sẽ duy trì họat động của mình
Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu, NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếu công ty Với chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán: Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khỏan Khi các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khỏan thanh tóan có giá trị lớn, ở mọi địa phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn
và không an toàn (ví dụ: chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản ) Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông và độc quyền quản lý các công cụ đó (séc, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán ) đã tiết kiệm cho
xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa Ở các nước phát triển phần lớn thanh toán được thực hiện qua séc và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống NHTM Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay
Trang 28Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức chuyển tiền bằng điện tử là chuyện bình thường và chính điều này đưa đến việc không sử dụng séc ngân hàng mà dùng thẻ như thẻ tín dụng Họ thanh toán bằng cách nối mạng các máy vi tính của các NHTM trong nước nhằm thực hiện chuyển vốn từ tài khoản người này sang người khác một cách nhanh chóng
Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp: Vào cuối thế kỉ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân hàng không còn họat động riêng rẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàng trung ương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng là ngân hàng của các ngân hàng Các ngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ thống các NHTM đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt
Quá trình tạo ra tiền của NHTM được thực hiện thông qua tín dụng và thanh tóan trong hệ thống ngân hàng, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng trung ương của mỗi nước
1.2.3 Các hoạt động nghiệp vụ của NHTM trên TTCK:
1.2.3.1 Nghiệp vụ đăng kỷ, lưu kỷ chứng khoán:
Là một trong những điều kiện để thực hiện giao dịch trên TTCK Trước khi thực hiện giao dịch chứng khoán, nhà đầu tư phải ký họp đồng mở tài khoản tại các CTCK hoặc các Ngân hàng lưu ký Lưu ký là việc gửi chứng chỉ chứng khoán cố phiếu, trái phiếu, hoặc các loại giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sở hữu chứng khoán vào hệ thống lưu ký chứng khoán Chứng khoán đã được lưu
ký sẽ được ghi nhận vào tài khoản lưu ký chứng khoán đứng tên nhà đầu tư Khi chứng khoán được giao dịch, tài khoản của nhà đầu tư sẽ được ghi tăng hoặc giảm mà không cần phải trao tay tờ chứng chỉ chứng khoán
Trang 29Hệ thống lưu ký chứng khoán bao gồm TTLK, các CTCK và Ngân hàng lưu ký Chứng chỉ chứng khoán của nhà đầu tư sẽ được cất giữ an toàn tại TTLK Chứng khoán đã được lưu ký sẽ được ghi nhận vào tài khoản lưu ký chứng khoán đứng tên nhà đầu tư Khi chứng khoán được giao dịch, tài khoản của nhà đầu tư sẽ được ghi tăng hoặc giảm mà không cần phải trao tay tờ chứng chỉ chứng khoán.
Lưu ký chứng khoán là bắt buộc trước khi muốn chứng khoán được giao dịch qua sàn giao dịch của SGDCK SGDCK hiện nay đóng vai trò là TTLK Việc lưu ký chứng khoán chỉ được thực hiện tại CTCK và Ngân hàng lưu ký của SGDCK
Các CTCK và Ngân hàng lưu ký đã được UBCK cấp phép hoạt động lưu
ký và đã đăng ký làm thành viên lưu ký của SGDCK
Việc lưu ký chứng khoán của nhà đầu tư sẽ được bắt đầu bằng các thủ tục
mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại CTCK hoặc Ngân hàng lưu ký Các chứng khoán sau khi được lưu ký tại CTCK hoặc Ngân hàng lưu ký sẽ được CTCK hoặc Ngân hàng lưu ký tái lưu ký tại SGDCK
Sau khi CTCK hoặc Ngân hàng lưu ký hoàn tất việc tái lưu ký tại SGDCK thì chứng khoán đó mới được phép giao dịch Chứng khoán lưu ký của nhà đầu
tư được cất giữ tại kho của SGDCK dưới dạng quản lý tổng hợp Chứng khoán của nhà đầu tư lưu ký tại SGDCK được quản lý riêng biệt với chứng khoán của chính CTCK hoặc Ngân hàng lưu ký
1.2.3.2 Nghiệp vụ Bù trừ chứng khoán và tiền
Neu đăng ký và lưu ký chứng khoán là khâu hồ trợ trước giao dịch chứng khoán, thì bù trừ chứng khoán và tiền là khâu hỗ trợ sau giao dịch chứng khoán
Trang 30Sau khi chứng khoán niêm yết đã được đưa vào đăng ký, lưu ký tập trung tại TTLK, chúng sẽ được phép giao dịch trên TTCK.
Bù trừ chứng khoán và tiền là khâu tiếp theo sau giao dịch, thực hiện việc
xử lý thông tin về các giao dịch chứng khoán, tính toán lại nhằm xác định số tiền
và chứng khoán ròng cuối cùng mà các đối tác tham gia giao dịch phải có nghĩa
vụ thanh toán sau khi giao dịch được thực hiện
Trong hoạt động bù trừ, phương thức bù trừ cũng là một vấn đề cần quan tâm Phương thức bù trừ cho các giao dịch chứng khoán được quyết định bởi phương thức giao dịch trên TTCK Nếu phương thức giao dịch là đa phương (nhiều bên mua với nhiều bên bán), điển hình có thể thấy là đối với các giao dịch khớp lệnh cổ phiếu, thì phương thức bù trừ chứng khoán và tiền sẽ là bù trừ đa phương Nếu phương thức giao dịch là song phương (một bên mua với một bên bán), điển hình có thể thấy là đối với các giao dịch thỏa thuận, thì phương thức
bù trừ cũng sẽ là bù trừ song phương
1.2.3.3 Nghiệp vụ thanh toán tiền đầu tư chứng khoán
Để thực hiện giao dịch chứng khoán ngoài việc mở tài khoản chứng khoán tại CTCK hoặc Ngân hàng lưu ký, nhà đầu tư phải ký hợp đồng mở tài khoản tiền tại CTCK hoặc Ngân hàng lưu ký Khi nhà đầu tư mua chứng khoán thì số tiền giao dịch bao gồm cả phí giao dịch, thuế kinh doanh chứng khoán sẽ được tạm thời khoanh lại
Sau khi hoàn tất hoạt động thanh toán bù trừ số tiền ròng cuối cùng mà các CTCK hoặc Ngân hàng lưu ký phải có nghĩa vụ thanh toán thì hoạt động thanh toán tiền giao dịch cho nhà đầu tư do CTCK hoặc Ngân hàng lưu ký nơi quản lý tài khoản tiền của nhà đầu tư sẽ thực hiện ghi tăng hoặc ghi giảm số tiền khớp với kết quả khớp lệnh chứng khoán
Trang 311.2.3.4 Các nghiệp vụ khác
Nghiệp vụ cho vay trong lĩnh vực chủng khoán
Đây là nghiệp vụ mà Ngân hàng cho vay vốn đối với khách hàng là nhà đầu tư, CTCK hay TVLK khi họ phát sinh nhu cầu hoặc thiếu hụt vốn tạm thời trong quá trình giao dịch Các hình thức cho vay gồm có: Cho vay cầm cố chứng khoán, cho vay bảo chứng, cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán, cho vay đảm bảo khả năng thanh toán đối với các TVLK
Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
Nghiệp vụ tự doanh (đầu tư chứng khoán)là nghiệp vụ ngân hàng tiến hành giao dịch mua, bán chứng khoán cho chính mình Các NHTM có thể thực hiện nghiệp vụ tự doanh trên thị trường giao dịch tập trung hay thị trường giao dịch phi tập trung (thị trường OTC), lệnh của các ngân hàng được đưa vào hệ thống và thực hiện như lệnh của một khách hàng
Nghiệp vụ môi giới chứng khoản
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian theo đó NHTM đại diện, thay mặt khách hàng của mình thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng
để hưởng hoa hồng (NHTM chỉ đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch, còn chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình)
Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Các NHTM có thể thực hiện việc bảo lãnh phát hành chứng khoán theo các phương thức: Bảo lãnh cam kết chắc chắn; bảo lãnh theo phương thức dự phòng; bảo lãnh với cố gắng cao nhất; bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không; bảo lãnh tối thiểu - tối đa
Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Trang 32Quản lý danh mục đầu tu là hoạt động quản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua, bán và nắm giữ các chứng khoán theo ủy thác vì quyền lợi của khách hàng Thực chất hoạt động này là một dạng của hoạt động tư vấn mang tính tổng hợp có kèm theo đầu tư trong đó khách hàng ủy quyền cho ngân hàng thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay theo những nguyên tắc
đã được thỏa thuận
Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoản
Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán là việc NHTM đưa ra những lời khuyên, phân tích các tình huống hay đưa ra các khuyênd nghị liên quan đến chứng khoán, hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích có liên quan đến chứng khoán
1.3 NHTM vói các nghiệp đăng ký, lưu ký và thanh toán chứng khoán
1.3.1 Nghiệp vụ đãng ký chứng khoán
Đăng ký chứng khoán là việc ngân hàng đứng ra nhận đăng ký các thông tin về chứng khoán và quyền sở hữu chứng khoán của người nắm giữ chứng khoán
1.3.2 Nghiệp vụ ngân hàng lưu ký chứng khoán
1.3.2.1 Các mô hình hình lưu ký chứng khoán
Mô hình lưu ký đơn cấp
Là mô hình nhà đầu tư sẽ trực tiếp lưu ký và mở tài khoản tại TTLK, không phải thông qua bất kỳ một TVLK nào, và mọi giao dịch đều được thông qua tài khoản này - là ưu việt nhất về mặt thuận tiện thủ tục cũng như an toàn đầu tư
Mô hình lim ký đa cấp
Trang 33Là mô hình mà nhà đầu tư sẽ trực tiếp lưu ký và mở tài khoản tại các TVLK Các TVLK sẽ lưu ký chứng khoán khách hàng trên tài khoản lưu ký của chính mình tại TTLK.
Mô hình lưu kỷ hỗn hợp
Là mô hình nhà đầu tư mở tài khoản lưu ký tại các TVLK và sau đó các TVLK sẽ tiến hành lưu ký từng tài khoản riêng biệt của từng nhà đầu tư tại TTLK Như vậy các nhà đầu tư dễ dàng kiểm tra tài khoản của mình ngay tại Trung tâm giao dịch, và mức phí lưu ký cũng giảm thiểu đáng kể Hệ thống này được gọi là cơ cấu lưu ký hỗn hợp, vì đó là sự kết hợp giữa mô hình lưu ký đa cấp và mô hình lưu ký đơn cấp
1.3.2.2 Nội dung nghiệp vụ lim kỷ
Lưu ký chứng khoán là việc ngân hàng đứng ra nhận đăng ký các thông tin
về chứng khoán của nhà đầu tư và giúp họ thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán lưu ký Do giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ nên lưu ký quy định bắt buộc trong giao dịch chứng khoán Theo đó, nhà đầu tư phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại các ngân hàng lưu
ký hoặc ký gửi chứng khoán Khi thực hiện dịch vụ này, NHTM sẽ nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán Bên cạnh đó, các NHTM còn phải thực hiện việc hạch toán ghi sổ chứng khoán thông qua việc mở tài khoản lưu ký chứng khoán cho nhà đầu tư và thực hiện các dịch vụ khác theo uỷ quyền của nhà đầu tư có chứng khoán lưu ký
Đối với các nhà đầu tư là nhà đầu tư trong nước trước đây chỉ được lưu ký chứng khoán tại các CTCK hoặc các NHTM trong nước, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được lưu ký tại các CTCK liên doanh với nước ngoài hoặc các NHTM liên doanh với nước ngoài hoặc các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động
Trang 34hợp pháp tại Việt Nam Tuy nhiên, quy định này đã được thay đổi, theo Quyết định số 51/2003/QĐ-BTC ngày 15-04-2003 của Bộ Tài Chính về việc sửa đổi,
bố sung một số điều của Quy chế lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán, nhà đầu tư trong và ngoài có thể mở tài khoản lưu ký chứng khoán ở bất
kỳ đâu
Theo quy định hiện hành, NHTM chỉ được mở một tài khoản lưu ký cho một nhà đầu tư Do vậy NHTM cần cung cấp dịch vụ lưu ký nhà đầu tư cần tìm hiểu trước để lựa chọn một NHTM thích hợp cho mình Trong trường hợp muốn đối sang một CTCK hoặc Ngân hàng lưu ký khác, nhà đầu tư sẽ mở tài khoản lưu ký mới tại CTCK hoặc Ngân hàng lưu ký mới, đồng thời phải làm các thủ tục đóng tài khoản lưu ký tại CTCK hoặc Ngân hàng lưu ký cũ và yêu cầu CTCK hoặc Ngân hàng lưu ký này chuyển số dư chứng khoán sang tài khoản lưu
ký tại CTCK hoặc Ngân hàng lưu ký mới
1.3.3 Nghiệp vụ thanh toán chứng khoán
Nghiệp vụ thanh toán chứng khoán bao gồm nghiệp vụ thanh toán chứng khoán và tiền chứng khoán Thanh toán chứng khoán và tiền cũng là dịch vụ hỗ trợ sau giao dịch chứng khoán, là hoạt động cuối cùng để hoàn tất các giao dịch chứng khoán, theo đó các bên tham gia giao dịch sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình: bên phải trả chứng khoán thực hiện giao chứng khoán, bên phải trả tiền thực hiện việc chuyển tiền, lần lượt trên cơ sở kết quả bù trừ chứng khoán và tiền được đưa ra ở trên Nghiệp vụ thanh toán bù trừ chứng khoán được giao cho TTLK thực hiện, theo đó TVLK bên mua phải trả chứng khoán cho TVLK được nhận chứng khoán Sau đó các TVLK gồm các CTCK và NHLK thực hiện phân
bô hoặc giao chứng khoán trên tài khoản lưu ký chứng khoán của nhà đầu tư bên mua hoặc bên bán chứng khoán Nghiệp vụ thanh toán bù trừ tiền chứng khoán
Trang 35được giao cho Ngân hàng thanh toán là Ngân hàng trung ương hoặc do NHTM thực hiện.
Đe giảm rủi ro cho các đối tác tham gia giao dịch, việc thanh toán chứng khoán và tiền luôn phải đảm bảo nguyên tắc giao chứng khoán đồng thời với việc thanh toán tiền, hay còn gọi là nguyên tắc DVP (Delivery versus Payment) Thời hạn của việc thanh toán được quyết định bởi chu kỳ thanh toán
Tùy thuộc vào điều kiện của từng nước mà chu kỳ thanh toán áp dụng có thê là T +l; T+2 hay T+3, trong đó T được hiểu là ngày giao dịch (ngày mà giao dịch được thực hiện) và 1; 2; 3 là số ngày giao dịch (không tính ngày nghỉ) tiếp theo kể từ ngày T Theo khuyển nghị của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS), của Tổ chức các ủy ban Chứng khoán quốc tế (IOSCO) cũng như của nhóm G30 (nhóm các quốc gia có TTCK phát triển), các nước nên áp dụng chu kỳ thanh toán tối đa là T+3
Trong hoạt động thanh toán chứng khoán và tiền, phương thức thanh toán cũng là mối quan tâm của các bên tham gia giao dịch Phương thức thanh toán được quyết định bởi phương thức bù trừ, do thanh toán luôn được thực hiện trên
cơ sở của kết quả bù trừ Chính vì vậy, nếu phương thức bù trừ là đa phương thì phương thức thanh toán cũng là thanh toán đa phương và tương tự, phương thức
bù trừ là song phương thì phương thức thanh toán cũng sẽ là thanh toán song phương
1.3.4 Nghiệp vụ thanh toán tiền đầu tư chứng khoán
Một trong các nghiệp vụ cơ bản của NHTM là dịch vụ quản lý tài khoản tiền gửi của nhà đầu tư cho mục đích kinh doanh chứng khoán, tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi nước mà hoạt động thanh toán tiền giao dịch chứng khoán được giao cho CTCK hay do NHTM thực hiện Tuy nhiên theo thông lệ quốc tế
Trang 36việc thanh toán tiền trong giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư thường do NHTM thực hiện.
Đe thực hiện thanh toán tiền giao dịch mua bán chứng khoán cho nhà đầu
tư, các NHTM phải có sự liên kết về hạ tầng công nghệ với các CTCK để xử lý các thông tin liên quan đến kết quả giao dịch chứng khoán Việc xử lý thông tin kiểm soát tiền trên tài khoản của nhà đầu tư phải được xử lý tức thời với việc thực hiện giao dịch chứng khoán
Tại thời điếm giao dịch của nhà đầu bên mua chứng khoán, tài khoản tiền của nhà đầu tư sẽ bị NHTM phong tỏa để ký quỹ trước khi giao dịch đầu tư mua chứng khoán được gửi vào hệ thống giao dịch
Việc giao nhận tiền giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư bên mua hoặc bên bán cũng phụ thuộc vào mô hình lưu ký chứng khoán và chu kỳ thanh toán, với mô hình lưu ký hai cấp và chu kỳ thanh toán như ở Việt nam thì việc thanh giao nhận tiền giao dịch chứng khoán cho nhà đầu tư chỉ được thực hiện sau khi NHTT thực hiện hoạt động hạch toán thanh toán bù trừ tiền giữa CTCK và Ngân hàng lưu ký bên nhận và bên trả
Ngoài thực hiện nghiệp vụ thanh toán các NHTM còn cung cấp các dịch
vụ hồ trợ tài chính cho nhà đầu tư như cho vay thấu chi, cho vay cầm cố hoặc cho vay ứng trước chứng khoán ngay trong phiên giao dịch
Trang 37So đồ 1.2 - Quy trình thanh toán tiền chứng khoán của nhà đầu tư giũa CTCK và NHTM
Bước 1: Nhà đầu tư đặt lệnh mua tại CTCK
Bước 2: Dựa trên thông tin lệnh đặt mua chứng khoán, phần mềm CTCK tính toán số tiền nhà đầu tư mua + phí giao dịch gửi thông tin qua cổng giao diện thanh toán giữa NHTM và CTCK cổng giao diện thanh toán giữa NHTM và CTCK xác thực thông tin về Nhà đầu tư do NHTM và CTCK quản lý Nếu hợp
lệ thực hiện Bước 3, nếu không hợp lệ phản hồi thông tin cho CTCK
Bước 3: cổng giao diện thanh toán giữa NHTM và CTCK gửi thông tin
cơ ban (Mã nhà đầu tư, sổ tài khoản nhà đầu tư và số tiền mua chứng khoán) vào
hệ thống quản lý tài khoản của NHTM
Bước 4: Hệ thống quản lý tài khoản Nhà đầu tư của NHTM tự động phong tỏa tiền ký quý mua chứng khoán trên tài khoản nhà đầu tư Nêu sô tiên trên tài khoản nhà đầu tư không đủ chương trình tự động gửi thông báo cho CTCK, nếu
đu tự động phong toa gửi xác nhận phong tỏa cho CTCK
Bước 5: Căn cứ kết quả phong tỏa tiền của NHTM, CTCK gửi lệnh giao dịch vào hệ thống giao dịch của SGDCK
Trang 38Bước 6: Vào ngày thanh toán theo từng chu kỳ thanh toán, CTCK gửi chi tiết kết quả tiền giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư bên mua và bên bán cho NHTM đế thực hiện giao nhận tiền trên từng tài khoản của nhà đầu tư
Bước 7: Quá trình xác thực thông tin giữa CTCK và NHTM thực hiện giống Bước 2
Bước 8: NHTM hạch toán ghi tăng giảm tài khoản tiền của nhà đầu tư
Trang 39K É T L U Ậ N C H Ư Ơ N G 1
Cùng với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế, TTCK và hệ thống các NHTM của một quốc gia ngày càng chiếm vị trí quan trọng, các NHTM ngày càng có xu hướng tham gia vào TTCK Chương 1 của luận văn đã phần nào khái quát hóa được vê TTCK, các chức năng cơ bản của TTCK, các chủ thể tham gia trên TTCK đồng thời cũng nêu được khái niệm về NHTM, các mô hình NHTM tham gia vào TTCK cũng như những nghiệp vụ ngân hàng chuyên sâu trong lĩnh vực chứng khoán Có thể nói việc nghiên cứu phát triển các nghiệp vụ ngân hàng phục vụ TTCK hiện nay đang là một yêu cầu bức thiết Để tìm ra những giải pháp nhằm phát triển những nghiệp vụ này chúng ta sẽ cùng nghiên cứu thực trạng của TTCK Việt Nam hiện nay, đánh giá những gì đã làm được và chưa làm được tại một NHTM vừa làm chức năng vai trò Ngân hàng lưu ký — Ngân hàng thanh toán trong việc cung ứng các nghiệp vụ đó thông qua chương 2 luận văn
Trang 40Ngày 18/12/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
171/2008/QĐ-TTg về việc thành lập TTLK Việt Nam trên cơ sở chuyển đổi, tổ
chức lại TTLK (được thành lập theo Quyết định số 189/2005/QĐ-TTg ngày 27
tháng 7 năm 2005), đơn vị sự nghiệp có thu sang hoạt động theo mô hình công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu của Nhà nước
Theo Quyết định này, TTLK Việt Nam sẽ có vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng; có
tư cách pháp nhân, có con dấu riêng; được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước,
NHTM trong nước, nước ngoài; là đơn vị hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính;
thực hiện chê độ tài chính, chế độ báo cáo, thống kê, kế toán và kiểm toán theo
quy định của pháp luật
TTLK Việt Nam có trụ sở chính tại Hà Nội và chi nhánh tại Thành phố Hồ
Chí Minh Căn cứ vào tình hình phát triển TTCK, Bộ Tài chính quyết định việc
thành lập thêm chi nhánh tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
v ề chức năng, TTLK Việt Nam có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký,
lưu ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ hoàn tất
giao dịch chứng khoán cho các chứng khoán niêm yết tại SGDCK, SGDCK và
chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết theo quy định của pháp luật