Tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan chức năng để quản lý tốt thu nhập của các cá nhân, qua đó đưa tất cả các đối tượng phải nộp thuế TNCN vào diện quản lý.. 4/ Phương pháp nghiê
Trang 1-*** -
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội - năm 2012
Trang 2-*** -
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ HÙNG SƠN
Hà Nội - năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học,
độc lập của tôi Các kết quả nên trong Luận văn là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRẦN HÀ GIANG
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 4
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 4
1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân 4
1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 6
1.1.3 Nguyên tắc đánh thuế thu nhập cá nhân 7
1.1.4 Phương pháp đánh thuế thu nhập cá nhân 10
1.1.5 Vai trò của thuế Thu nhập cá nhân 12
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 16
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân 16
1.2.2 Nội dung quản lý thuế thu nhập cá nhân 18
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN 23
1.3 KHẢO SÁT KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ QUẢN LÝ THUẾ TNCN VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM 25
1.3.1 Về Tổ chức bộ máy quản lý 25
1.3.2 Về việc xác định kỳ tính thuế, đơn vị thuế và đối tượng nộp thuế 27
1.3.3 Đối với việc khấu trừ, kê khai, nộp thuế 27
1.3.4 Về công tác kiểm tra, thanh tra thuế 28
1.3.5 Về các hình thức hỗ trợ đối tượng nộp thuế 29
1.3.6 Bài học kinh nghiệm có thể áp dụng ở Việt Nam 30
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 33
Trang 52.1 TỔNG QUAN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH THUẾ 33
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 40
2.2.1 Thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân từ năm 1991 đến năm 2008 40
2.2.2 Thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân từ năm 2009 đến nay 47
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 61
2.3.1 Những thành tựu đạt được 61
2.3.2 Một số hạn chế 68
2.3.3 Nguyên nhân 79
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 85
3.1 ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU QUẢN LÝ THUẾ TNCN CỦA NƯỚC TA ĐẾN NĂM 2015 85
3.1.1 Thuế thu nhập cá nhân phải đảm bảo chính sách động viên hợp lý, công bằng, góp phần ổn định, nâng cao đời sống của người nộp thuế, tạo động lực để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển 85
3.1.2 Quản lý Thuế thu nhập cá nhân phải đảm bảo tính hiệu quả, là công cụ động viên nguồn thu, đáp ứng một phần chi tiêu cần thiết, hợp lý của ngân sách nhà nước 85
3.1.3 Thuế thu nhập cá nhân phải phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập, cạnh tranh, thu hút các chuyên gia có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao vào làm việc tại Việt Nam 87
3.2 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 88
3.2.1 Dự thảo các giải pháp cho những bất cập của chính sách thuế TNCN xẩy ra trong thực tiễn theo hướng: 88
Trang 63.2.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế TNCN,
đề cao sự tự giác, nâng cao ý thức từ tuân thủ pháp luật của người nộp
thuế 94
3.2.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý thuế Thu nhập cá nhân 95
3.2.4 Nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ làm công tác quản lý thuế TNCN: 96
3.2.5 Tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan chức năng để quản lý tốt thu nhập của các cá nhân, qua đó đưa tất cả các đối tượng phải nộp thuế TNCN vào diện quản lý 97
3.2.6 Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý thuế TNCN trên toàn quốc 98
3.2.7 Nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra đối với thuế TNCN 100 3.2.8 Tăng cường hợp tác, nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về quản lý thuế TNCN 102
3.2.9 Phát triển hệ thống dịch vụ kế toán, tư vấn, kê khai thuế: 102
3.3 KIẾN NGHỊ 102
3.3.1 Kiến nghị Quốc Hội 102
3.3.2 Kiến nghị Chính Phủ 103
3.3.3 Kiến nghị Bộ Tài chính 103
KẾT LUẬN 105 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Ứng dụng Quản lý thuế TNCN
Mã số thuế Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm y tế Thu nhập cao
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.3 So sánh số thuế TNCN phải nộp trong tháng giữa
Luật thuế mới và Luật thuế cũ giữa những người có
điều kiện hoàn cảnh khác nhau
55
Trang 9MỞ ĐẦU
1/ Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra:”Áp dụng thuế thu nhập cá nhân thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, đảm bảo công bằng xã hội và tạo động lực phát triển” Trong chiến lược cải cách thuế đến năm 2010 cũng đã đặt ra yêu cầu:” Cần sớm xác định các bước đi thích hợp để tăng tỷ trọng các nguồn thu trong nước cho phù hợp với tiến trình hội nhập Mở rộng diện thuế trực thu và tăng tỷ lệ thu từ thuế trực thu”
Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu tính trên phần thu nhập thực tế mà các cá nhân nhận được trong từng năm, từng tháng, từng lần phát sinh thu nhập Xét về góc độ phát triển, thuế thu nhập cá nhân thể hiện mức
độ phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia Trong nền kinh tế thị
trường, thuế thu nhập cá nhân được coi là công cụ phân phối thu nhập đảm bảo công bằng xã hội giữa các cá nhân thuộc các tầng lớp dân cư trong xã hội,
đảm bảo nguồn thu quan trọng cho NSNN và góp phần điều tiết vĩ mô nền
kinh tế Một quốc gia chỉ được coi là ở đỉnh cao của nền văn minh nhân loại khi thu nhập được phân phối công bằng hợp lý và mỗi người dân thấy được trách nhiệm và lợi ích của hành vi nộp thuế thu nhập của mình
Ở nước ta hiện nay, đi đôi với việc gia nhập WTO để phù hợp với
thông lệ quốc tế tất cả các chính sách thuế hiện hành đều đã được thay đổi theo hướng giảm nghĩa vụ thuế Chẳng hạn từ năm 2000 đến nay, thuế chuyển quyền sử dụng đất được giảm tới 25 lần, thuế trước bạ giảm 50% Hiện nay ngành thuế cũng đã xóa bỏ trên 300 loại phí không cần thiết, một số loại như phí đường bộ, hàng hải giảm tới 30%-40% Theo tính toán ban đầu, khi cắt giảm các loại thuế và chi phí này, Nhà nước bị thất thu trên 1.000 tỷ đồng
Trang 10Hiện ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào 3 khoản thu chủ yếu gồm xuất nhập khẩu chiếm 25% ngân sách, tương đương khoảng 60.000 tỷ đồng mỗi năm
Số thu từ xuất khẩu dầu thô cũng vào khoảng 25% Như vậy còn khoảng 50% ngân sách Nhà nước là các khoản thu nội địa, nhưng khoản thu nội địa này cũng đang một ngày giảm do chính sách thuế liên tục được thay đổi để thực hiện theo cam kết Tính đến thời điểm này đã có tới trên 1.000 dòng thuế
được cắt giảm Chính vì thế để bù đắp cho sự giảm sút này Chính phủ cần
quan tâm hơn đến thuế trực thu Tuy nhiên, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cũng nên giảm dần tới mức tương ứng với các nước trong khu vực nhằm khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy, Chính phủ cần phải sớm có những giải pháp phù hợp để quản lý thuế thu nhập cá nhân nhằm tận thu cho ngân sách từ loại thuế này
Mặc dù Luật Thuế TNCN đã được áp dụng trong thực tiễn song ngay trong bản thân chính sách cũng nảy sinh những vấn đề cần tiếp tục trao đổi Mặt khác, để Luật Thuế thu nhập cá nhân thực sự phát huy được vai trò là công cụ phân phối thu nhập đảm bảo tính công bằng xã hội khi áp dụng vào thực tiễn cũng như để tận thu cho ngân sách nhà nước thì vấn đề quản lý thu thuế cần được xem xét, xử lý kỹ lưỡng Vì vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện quản lý thuế TNCN là vấn đề không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn đáp ứng
được yêu cầu cấp bách của thực tiễn đặt ra
2/ Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc chọn đề tài “Hoàn thiện quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu nhằm mục đích:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm của các nước trên thế giới về việc áp dụng và quản lý thuế thu nhập cá nhân Từ đó xem xét có chọn lọc để áp dụng vào thực tiễn của Việt Nam
Trang 11- Xuất phát từ thực tế , trên giác độ quản lý đánh giá ưu nhược điểm hiện nay của thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân và tăng thu cho ngân sách nhà nước
3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng: Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề mang tính lý
thuyết và thực tiễn về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Công tác quản lý thuế TNCN ở Việt Nam qua hai giai đoạn từ pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đến Luật thuế TNCN hiện nay, đặc biệt nhấn mạnh công tác quản lý thuế TNCN theo Luật thuế mới trong những năm gần đây dưới gốc độ quản lý của Tổng cục Thuế Việt Nam
4/ Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và tổng hợp, phương pháp định tính, định lượng và các công cụ thống kê, khảo sát thực tế
5/ Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và một số phụ lục đính kèm, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thuế TNCN và công tác quản lý
thuế TNCN
Chương 2: Thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
hiện nay
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt
Nam hiện nay
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
Thuế TNCN là loại thuế điều tiết trực tiếp thu nhập thực tế của các cá nhân và các tổ chức trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân nào khi nhận được thu nhập dưới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn nào (do lao động, hay đầu tư ) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp cho nhà nước dưới dạng thuế TNCN
Thuế TNCN đã được áp dụng từ lâu trên thế giới: Lần đầu tiên ở Anh năm 1799 thuế TNCN đã được áp dụng như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm 1842 Sau đó thuế TNCN đã được nhanh chóng lan truyền sang các nước công nghiệp khác như: Nhật (năm 1887), Mỹ (năm 1913), Pháp (năm 1914), Trung Quốc (năm 1936) Ở các nước phát triển, thuế TNCN thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu từ thuế Tuy nhiên, mức thuế cao hay thấp, đánh vào tổng thu nhập hay đánh vào từng khoản thu nhập khác nhau của các chủ thể thường phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong chính sách phân phối thu nhập của từng nước trong từng thời kỳ nhất định Sự xuất hiện của thuế TNCN do những nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, Thuế TNCN ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sự công
bằng trong phân phối thu nhập Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiện kinh tế thị trường vì thu nhập của một cá nhân hay tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào việc cung cấp các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, công nghệ, ) Trong
Trang 13điều kiện đó sự phân hoá giàu nghèo khi phân phối thu nhập là điều khó tránh
khỏi Vì vậy, cần áp dụng thuế TNCN để thực hiện điều tiết thu nhập nhằm rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội
Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của các cá nhân trong xã hội Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, thuế thu nhập cá nhân ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách thuế ở các nước trên thế giới Ở các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Anh, thuế TNCN chiếm khoảng 30-40% tổng thu ngân sách Ở các nước đang phát triển như: Thái Lan, Malaysia, Philippin, số thu thuế TNCN chiếm khoảng 15-20% tổng thu ngân sách và có xu hướng ngày càng tăng
Thuế TNCN đánh vào thu nhập của cá nhân dựa trên nguyên tắc “lợi ích”, “công bằng” và “khả năng nộp thuế” Theo nguyên tắc “lợi ích”, công dân phải có nghĩa vụ nộp thuế để được hưởng những lợi ích do Nhà nước mang lại, chẳng hạn như hệ thống luật pháp, quốc phòng, an ninh, trật tự, Thuế TNCN đảm bảo nguyên tắc “công bằng” Trong đó, những người
có thu nhập như nhau phải nộp thuế như nhau (công bằng theo chiều ngang), những người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp (công bằng theo chiều dọc) Bên cạnh đó, cần phải xem xét “khả năng nộp thuế” của đối tượng nộp để đảm bảo tính khả thi của chính sách thuế vì người dân không thể nộp thuế khi không đảm bảo thu nhập để duy trì cuộc sống tối thiểu Trên ý nghĩa đó, thuế TNCN là sắc thuế đảm bảo tính công bằng, hợp
lý và hiệu quả trong phân phối thu nhập quốc dân
Thứ hai, do nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của Nhà nước Sự giảm
dần của thuế quan do yêu cầu tự do hoá thương mại để phát triển kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải tăng nguồn thu tài chính nhà nước thông qua các loại thuế khác như thuế hàng hoá, thuế thu nhập công ty và thuế thu nhập cá nhân, trong đó thuế thu nhập cá nhân là nguồn tài chính lớn
Trang 14cho ngân sách của các quốc gia, đặc biệt đối với các nước đang phát triển Vì vậy, việc nghiên cứu và cải cách hệ thống thuế thu nhập nhằm biến chúng thành chỗ dựa ngày càng quan trọng hơn theo tiến trình phát triển của nền kinh tế là một mục tiêu được chú trọng đối với các nước đang phát triển
Thứ ba, thuế TNCN được sử dụng như một công cụ linh hoạt để điều
tiết vĩ mô, kích thích tiêu dùng hoặc đầu tư để phát triển kinh tế Một trong những lý thuyết căn bản của Kenyes về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập cho rằng mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp Do vậy,
để tăng phúc lợi xã hội cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đối
tượng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp hơn Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn giảm, ưu đãi thuế TNCN có thể có tác động trực tiếp đến định hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của nhà nước
1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
1.1.2.1 Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu, được tính trực tiếp trên thu nhập thực nhận của người nộp thuế
Xét trên phương diện quản lý thì người nộp thuế và người chịu thuế là
đồng nhất, đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế trong việc
quản lý đối tượng nộp thuế Còn xét trên phương diện kinh tế thì gắnh nặng thuế do NNT chịu và NNT không thể chuyển gánh nặng thuế của mình cho người khác Do điều tiết trực tiếp vào thu nhập của từng cá nhân nên thuế TNCN có tính nhậy cảm cao, NNT luôn có tâm lý tránh thuế, khai giảm thu nhập để nộp thuế thấp Như vậy, trong điều kiện việc quản lý thu nhập chưa bao quát, chưa đầy đủ như hiện nay đã gây ra không ít khó khăn cho công tác quản lý thuế TNCN
1.1.2.2 Thuế TNCN được tính trên phần thu nhập còn lại của NNT sau khi
đã trừ đi các khoản được giảm trừ
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều gặp khó khăn khi xác định các
Trang 15khoản được giảm trừ cho NNT về các lý do như sau: không quản lý được tất
cả các đối tượng, các trường hợp được giảm trừ, không kết nối được các thông tin để tránh giảm trừ trùng hoặc thủ tục hành chính để kiểm tra kiểm soát rất phức tạp…Điều đó khiến cho khối lượng các công việc quản lý thuế TNCN gia tăng, giảm hiệu quả quản lý cũng như thu thuế
1.1.2.3 Phạm vi, đối tượng nộp thuế TNCN rộng và phức tạp
Số lượng ĐTNT là cá nhân có thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN là rất nhiều và rất phức tạp Bao gồm cả người Việt Nam và người nước ngoài;
cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú Thu nhập chịu thuế phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau (ví dụ: đầu tư vốn, bản quyền, nhượng quyền thương mại, tiền lương tiền công, kinh doanh, trúng thưởng, thừa kế quà tặng, chuyển nhượng bất động sản ) có nguồn có thể kiểm soát được nhưng cũng có những nguồn thu nhập không thể kiểm soát được hoặc kiểm soát không đầy
đủ Do đó, để quản lý thuế TNCN được hiệu quả cần có phương pháp quản lý
phù hợp, các biện pháp quản lý chặt chẽ để vừa đảm bảo công bằng xã hội vừa đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước đồng thời không làm gia tăng các thủ tục hành chính cũng như chi phí quản lý
1.1.3 Nguyên tắc đánh thuế thu nhập cá nhân
Các nước trên thế giới mặc dù áp dụng nhiều hình thức thuế thu nhập
cá nhân khác nhau, nhưng khi ban hành thuế thu nhập cá nhân thường dựa trên các nguyên tắc nhất định
1.1.3.1 Đánh thuế trên cơ sở thu nhập chịu thuế hiện hữu:
Mặc dù cá nhân có nhiều nguồn thu nhập khác nhau, nhưng trong thực
tế không phải toàn bộ thu nhập phát sinh đều là đối tượng điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập quy định cơ sở đánh thuế thu nhập Mọi hệ thống thuế thu nhập dù đánh trên từng loại thu nhập hay trên
Trang 16tổng thu nhập nói chung đều tính thuế trên thu nhập ròng để phản ánh đúng
đắn khả năng kinh tế của người nộp thuế Vì vậy thu nhập chịu thuế được
xác định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi miễn trừ một số khoản chi phí của người nộp thuế
Hiện nay trên thế giới còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm và cách tính thu nhập nên cơ sở đánh thuế thu nhập cá nhân cũng không giống nhau Tuỳ theo chính sách thuế thu nhập của mỗi nước mà nội dung, phương pháp xác định các khoản miễn trừ và thu nhập chịu thuế có sự khác nhau Mặc khác, trên thực tế không phải mọi khoản thu nhập phát sinh cũng
đều có khả năng xếp vào thu nhập chịu thuế
Thứ nhất, về nguyên tắc tất cả các khoản thu nhập phát sinh dù bằng tiền hay hiện vật không phân biệt từ nguồn sản xuất kinh doanh hay lao động,
đầu tư đều có thể được xếp vào thu nhập chịu thuế sau khi loại bỏ những
khoản được phát luật quy định không phải chịu thuế thu nhập Nói cách khác, thu nhập chịu thuế phải gồm hầu hết các khoản thu nhập chủ yếu phát sinh, không phân biệt hình thái và nguồn gốc của chúng
Thứ hai, thu nhập chịu thuế phải là thu nhập ròng nghĩa là thu nhập sau khi đã trừ các chi phí để tạo ra nó và các khoản được phép giảm trừ Đối với thuế thu nhập cá nhân thì thu nhập chịu thuế là thu nhập sau khi đã trừ các chi phí cần thiết để tạo ra thu nhập đó
Thứ ba, việc xác định thu nhập chịu thuế phải đảm bảo tính khả thi cho công tác quản lý Một số nhà kinh tế đưa ra quan điểm cho rằng nên đánh thuế trên cơ sở thu nhập hoàn chỉnh: tức là thu nhập hiện hữu cộng lãi vốn dù là lãi
đã có thực hay mới chỉ là hứa hẹn Tuy nhiên, ý tưởng đánh thuế vào thu nhập
hoàn chỉnh có tính khả thi kém do sự phức tạp và không chắc chắn của việc xác định thu nhập chịu thuế Mặt khác, để có thu nhập hoàn chỉnh thì mỗi chủ thể tạo ra thu nhập lại có các chi phí khách quan khác nhau, chẳng hạn chi phí
Trang 17để khắc phục rủi ro, chi phí chữa bệnh Nếu dựa vào thu nhập hoàn chỉnh để
làm cơ sở đánh thuế thì vi phạm nguyên tắc công bằng Do đó, đa số các nhà hoạch định chính sách thuế đều nhất trí cho rằng thu nhập chịu thuế chỉ nên giới hạn trong phạm vi thu nhập hiện hữu mà thôi
1.1.3.2 Đánh thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến:
Đặc trưng quan trọng nhất của thuế thu nhập cá nhân là áp dụng biểu
thuế luỹ tiến, tức là mức thuế tăng lên một cách luỹ tiến theo mức thu nhập tăng lên Thuế suất luỹ tiến được coi là phương pháp hiệu quả nhất để đánh thuế theo “khả năng nộp thuế” của cá nhân Tuy nhiên để tính được mức luỹ tiến đó là điều không đơn giản
Vào cuối thế kỷ XIX các nhà kinh tế học cho rằng, khi thu nhập càng tăng thì tính hữu dụng của thu nhập đối với chủ của nó càng giảm.Nghĩa là thu nhập không được sử dụng một cách hữu ích xét trên góc độ của xã hội
Vì vậy, áp dụng thuế suất luỹ tiến đánh vào những người có thu nhập cao sẽ làm tăng tính hữu dụng đối với thu nhập và giảm thiểu sự mất mát tổng thể của xã hội
Chính nguyên tắc cắt giảm ích lợi giới hạn đó của thu nhập là cơ sở ra
đời tính luỹ tiến trong việc nộp thuế Nhiều nhà kinh tế học đương thời đã
vận dụng nguyên tắc này vào nghiên cứu xây dựng biểu thuế nhưng thiếu những cơ sở xác đáng
Hiện nay, chính sách thuế thu nhập cá nhân ở hầu hết các quốc gia đều coi trọng nguyên tắc này và mức thuế thu nhập được tính toán dựa theo phương pháp luỹ tiến nêu trên
Tuy nhiên, xung quanh vấn đề áp dụng nguyên tắc luỹ tiến đối với thuế thu nhập cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, tính luỹ tiến của thuế thu nhập cũng cần có giới hạn và khi cần áp dụng nguyên tắc luỹ tiến cũng cần phân biệt nguồn gốc của các loại thu nhập để phát huy vai trò điều
Trang 18chỉnh của thuế thu nhập Nhưng cũng có quan điểm cho rằng làm như vậy sẽ gây phức tạp trong việc thiết kế thuế suất, vì không nên dùng các loại thuế suất khác nhau cho thu nhập phát sinh từ các nguồn thu nhâp khác nhau mà nên áp dụng các khoản miễn, giảm thuế để đảm bảo chức năng của thuế thu nhập, hoặc áp dụng thuế luỹ tiến từng phần
1.1.3.3 Quy ước thời gian để xác định thu nhập chịu thuế
Việc tạo ra thu nhập có tính chất tương đối về mặt thời gian Những khoản thu nhập nhận được ở thời điểm hiện tại có thể là kết quả của các hoạt
động lao động hoặc đầu tư trong quá khứ, nhưng cũng có thể chỉ là thu nhập ứng trước của các hoạt động hứa hẹn trong tương lai Mặt khác, thu nhập phát
sinh tại những khoảng thời gian khác nhau có thể rất khác nhau Do vậy, để
đảm bảo tính khả thi và sự công bằng trong đánh thuế, một sự phân đoạn có
tính quy ước về mặt thời gian cần phải được xác định làm cơ sở cho việc xác
định thu nhập chịu thuế phát sinh trong khoảng thời gian đó Thông thường
thời gian tính thu nhập chịu thuế trùng với năm ngân sách hoặc năm kế toán
và được quy định là một năm làm cơ sở tính thuế Những khoản thu nhập phát sinh trong khoảng thời gian đó được coi là đối tượng chịu thuế thu nhập Mặc
dù vậy, đối với thuế thu nhập cá nhân, đa số các nước lấy một khoảng thời gian dài hơn một năm làm cơ sở xác định thuế thu nhập Vấn đề này được thực hiện thông qua quy định chuyển số lỗ của năm tính thuế về phía trước hoặc về phía sau Việc tính thuế thu nhập phát sinh theo năm thực chất chỉ
được coi là hình thức tạm tính Số thuế chính thức phải nộp sẽ được xác định
trên cơ sở số thu nhập phát sinh “bù trừ” trong khoảng thời gian quy ước đó (thường là một số năm nhất định)
1.1.4 Phương pháp đánh thuế thu nhập cá nhân
Trong pháp luật thuế thu nhập của mỗi nước có quy định các phương pháp tính thuế thu nhập khác nhau Về phương diện lý thuyết, tồn tại ba mô hình đánh thuế thu nhập:
Trang 191.1.4.1 Đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập:
Theo phương pháp này sẽ áp dụng một thuế suất tương ứng cho từng nguồn thu nhập phát sinh Đối với mỗi nguồn thu nhập khác nhau, sẽ có tương ứng các chi phí phát sinh tạo ra thu nhập, do vậy sẽ cho phép tính các chi phí được trừ của từng loại thu nhập đó và quy định cho mỗi loại thu nhập các mức thuế suất khác nhau Các nhà kinh tế học cho rằng, phương pháp này khó trốn thuế hơn và đảm bảo sự công bằng giữa các chủ thể trong việc điều tiết thu nhập thông qua thuế, vì nó thu “theo sát từng nguồn thu nhập” Nhưng trên thực tế, việc xác định rõ ràng từng loại thu nhập và chi phí theo từng loại thu nhập của các chủ thể trong một thời gian nhất định không đơn giản Nếu ranh giới giữa các loại thu nhập không chính xác thì ý nghĩa công bằng của thuế thu nhập sẽ không đảm bảo Mặt khác, xét trên phương diện toàn xã hội thì cách đánh thuế này cũng có thể không mang lại hiệu quả vì người nộp thuế
có thể chọn các hoạt động phi hiệu quả để chịu mức thuế suất thấp
1.1.4.2 Đánh thuế trên tổng thu nhập
Phương pháp này tiến hành đánh thuế trên tổng thu nhập mà đối tượng nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế, không phân biệt từng loại thu nhập từ các nguồn khác nhau Đồng thời việc xác định chi phí tạo ra thu nhập cũng
được xác định trên tổng số theo nguyên tắc phù hợp giữa thu nhập và chi phí
Thu nhập chịu thuế là phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí Áp dụng phương pháp đánh thuế trên tổng thu nhập có ưu điểm là đơn giản, phù hợp với các đối tượng nộp thuế khi có nhiều khoản thu nhập và việc phân ra từng loại thu nhập không có ý nghĩa lớn
1.1.4.3 Đánh thuế hỗn hợp theo tổng thu nhập và theo từng nguồn:
Đây là phương pháp kết hợp các đặc điểm của cả hai phương pháp trên
Nội dung của phương pháp này là lúc đầu đánh thuế theo nguồn hình thành thu nhập, sau đó tổng hợp tất cả các khoản thu nhập lại và đánh lên tổng thu
Trang 20nhập một mức thuế nữa Phương pháp này cho phép áp dụng thuế suất lũy tiến ngoài thuế suất thông thường trên từng loại thu nhập Cách đánh thuế này
đảm bảo sự điều tiết công bằng và thực hiện các mục tiêu cần khuyến khích
hoặc hạn chế, nhưng khi tính toán lại phức tạp vì phải xác định riêng rẽ thu nhập theo từng nguồn, chi phí phát sinh để tạo ra thu nhập, đồng thời xác định tổng thu nhập nhận được của đối tượng nộp thuế
Như vậy, mỗi phương pháp nêu trên đều có những ưu, nhược điểm riêng Việc áp dụng một phương pháp thích hợp tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của từng nước, trình độ quản lý và yếu tố tâm lý, tập quán từng dân tộc
1.1.5 Vai trò của thuế Thu nhập cá nhân
1.1.5.1 Đối với nền kinh tế xã hội
Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ phân phối thu nhập đảm bảo công
bằng xã hội
Thuế TNCN là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập của từng người, do đó đòi hỏi phải đảm bảo tính công bằng, cả công bằng theo chiều dọc và công bằng theo chiều ngang Công bằng trong điều tiết thu nhập theo chiều dọc có nghĩa là: người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người
có thu nhập thấp Công bằng trong điều tiết thu nhập theo chiều ngang có nghĩa là người có thu nhập và điều kiện hoàn cảnh như nhau thì mức nộp thuế phải khác nhau và ngược lại, người có thu nhập ngang nhau nhưng điều kiện gia cảnh sống khác nhau thì nộp thuế khác nhau Tuy nhiên, nếu chỉ có công bằng ngang thì vẫn chưa phải là sự công bằng hoàn hảo mà phải kết hợp giữa công bằng ngang và công bằng dọc Điều đó có nghĩa là, người có thu nhập thì phải nộp thuế; người có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều, người có thu nhập thấp thì nộp thuế ít căn cứ vào biểu thuế luỹ tiến từng phần; người không có khả năng tạo thu nhập thì không phải nộp thuế và được Nhà nước
hỗ trợ thêm
Trang 21Vai trò công bằng của thuế TNCN đòi hỏi cần phải được xuyên suốt trong việc quy định các nội dung trong luật thuế như đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, các khoản giảm trừ, biểu thuế, miễn, giảm thuế và cả các quy
định về chế tài nộp thuế Đặc trưng quan trọng nhất của tính công bằng theo
chiều dọc trong động viên thuế TNCN thể hiện qua việc áp dụng biểu thuế luỹ tiến Theo đánh giá của các nhà kinh tế học thế giới thì thuế suất luỹ tiến được coi là phương pháp hiệu quả nhất, nó đảm bảo cho việc động viên thuế phù hợp với khả năng của người nộp bởi vì mức thuế phải nộp sẽ tăng luỹ tiến cùng với mức tăng của thu nhập Chính sách thuế TNCN hiện nay ở hầu hết quốc gia đều áp dụng phương pháp luỹ tiến Vì vậy, khi xây dựng biểu thuế
và thuế suất cũng cần đáp ứng được các yêu cầu về mặt kỹ thuật mang tính luỹ tiến
Bên cạnh những ưu điểm của nền kinh tế thị trường như sản xuất kinh doanh phát triển, đời sống người dân được cải thiện,… là hàng loạt các nhược
điểm mà trong đó, nổi bật nhất là sự phân hóa giàu - nghèo trong xã hội ngày
càng sâu sắc Thông qua việc đánh thuế TNCN, ngân sách nhà nước mới có
điều kiện phân phối lại thu nhập trong xã hội, thực hiện điều tiết thu nhập của
những người có thu nhập cao, tăng thu NSNN để có nguồn tài chính thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo và các chính sách xã hội khác, trên cơ sở đó giảm tương đối sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, người giàu càng có nhiều điều
kiện cạnh tranh để giàu thêm và người nghèo có nhiều khó khăn càng nghèo hơn theo kiểu “kẻ ăn không hết người lần chẳng ra” Vì vậy, thông qua biểu thuế luỹ tiến từng phần, thuế TNCN động viên mạnh những khoản thu nhập cao của tầng lớp khá giả Có thể nói, điều hoà thu nhập xã hội để từng bước
đảm bảo công bằng về thu nhập, đời sống giữa các tầng lớp dân cư được xem
là vai trò quan trọng nhất mà chính sách thuế TNCN đặt ra
Trang 22Để đảm bảo được vai trò công bằng trong điều tiết thu nhập đòi hỏi
thuế thu nhập cá nhân phải được xây dựng trên cơ sở khắc phục các bất bình
đẳng, phân biệt đối xử trong chính sách thuế thu nhập hiện hành đối với cá
nhân, đó là việc đánh thuế còn phân biệt giữa người Việt Nam và người nước ngoài, còn phân biệt giữa thu nhập từ tiền lương, tiền công với thu nhập từ hoạt động kinh doanh và thu nhập của cá nhân từ chuyển quyền sử dụng đất
Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho ngân sách nhà nước
Thuế TNCN là một loại thuế có độ co giãn theo thu nhập tương đối lớn nên cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân
cư cũng không ngừng tăng lên, nếu có chính sách động viên hợp lý, ổn định thì không cần phải thường xuyên thay đổi mà vẫn thu được một mức thu mong muốn Do sự ổn định trong mức huy động thuế đã tạo ra một môi trường phù hợp với mục tiêu đầu tư kinh tế dài hạn của quốc gia, góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thu được lợi nhuận nhiều, tạo ra mức thu nhập ngày càng cao từ đó tạo nguồn thu ngày càng tăng trưởng cho NSNN
Bên cạnh đó, sử dụng công cụ thuế TNCN, Nhà nước còn hạn chế được thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp Giữa thuế TNDN và thuế TNCN tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau, khi các đơn vị tăng chi phí để giảm lợi nhuận, giảm được thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp bằng cách chi tăng tiền lương, tiền công và các khoản phải trả khác cho công nhân viên thì trong một chừng mực nào đó, thuế TNCN lại tăng lên
Ở các nước trên thế giới, thuế TNCN chiếm một tỷ trọng đáng kể trong
tổng thu ngân sách Ở các nước phát triển như Hoa Kỳ đạt 51,35%, Nhật Bản
đạt 68,97%, Australia đạt 61,36%, Newzilân đạt 58,72% Ở một số nước đang phát triển, tỷ trọng này thấp hơn so với các nước phát triển, nhưng ngày
Trang 23càng tăng lên, chẳng hạn như: Malaysia từ 30% năm 1990 lên 34,30% năm
1995, Thái Lan đạt 27,01% năm 1995,
Ở Việt Nam, thuế thu nhập cá nhân tuy hiện nay chiếm tỷ trọng nhỏ
trong tổng thu ngân sách nhà nước (khoảng 2%), song trong điều kiện phát triển kinh tế và toàn cầu hóa, thu nhập của cá nhân có xu hướng tăng nhanh,
đồng thời với việc xây dựng chính sách thuế TNCN phù hợp với thông lệ
quốc tế thì tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân trong tổng thu NSNN sẽ có khả năng tăng lên
Thuế thu nhập cá nhân góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu NSNN, thực hiện công bằng xã hội, mà còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua mức thuế TNCN
và chế độ miễn giảm thuế có thể khuyến khích đầu tư, tiết kiệm…
Chính sách thuế TNCN điều tiết theo biểu thuế luỹ tiến động viên nhiều hay ít trên số thu nhập của cá nhân sẽ có tác động thiết thực đến tiêu dùng,
đầu tư và tiết kiệm Chẳng hạn, nếu không đánh thuế TNCN vào thu nhập sử
dụng tái đầu tư, sẽ khuyến khích tăng cường đầu tư phát triển kinh tế, hoạt
động sản xuất kinh doanh phát triển, cá nhân có thu nhập tăng lên và đầu tư
nhiều hơn cho phát triển kinh tế xã hội Như vậy, rõ ràng thông qua thuế TNCN, Nhà nước sẽ chủ động điều chỉnh số thu nhập đưa vào tiêu dùng, đầu
tư hay tiết kiệm với cơ chế và nội dung điều tiết trực tiếp Vì vậy, ở mỗi thời
kỳ phát triển kinh tế khác nhau, tuỳ theo yêu cầu điều tiết vĩ mô nền kinh tế
mà chính sách thuế thu nhập cá nhân ở mỗi nước được xây dựng phù hợp
Thuế thu nhập cá nhân góp phần quản lý thu nhập dân cư
Thông qua việc kiểm tra, xác minh thu nhập tính thuế TNCN, cơ quan Thuế có thể phát hiện những khoản thu nhập hợp pháp, không hợp pháp để có những biện pháp xử lý phù hợp Qua tài liệu, số liệu về thuế TNCN giúp cho Chính phủ có thêm cơ sở để đánh giá khái quát về tình hình thu nhập xã hội,
về cơ cấu thu nhập dân cư để đề ra các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp
Trang 241.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân
Quản lý thuế TNCN là việc tổ chức, điều khiển hoạt động thu thuế TNCN của một quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu đã định
Công tác quản lý thuế thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng
đóng vai trò hết sức quan trọng Trước hết nó được coi là cầu nối trong việc đưa chính sách thuế vào thực tiễn cuộc sống, đảm bảo đạt được các mục tiêu
dự kiến khi xây dựng chính sách thuế đối với nền kinh tế xã hội Trong thực
tế, các chuyên gia hoạch định chính sách thuế của các nước phát triển đều cho rằng”chính sách thay đổi mà không có sự thay đổi về quản lý tức là chẳng có sự thay đổi nào cả” Các nhà kinh tế của Ngân hàng thế giới cũng cho rằng “ Những thay đổi trong chính sách thuế cần phải tương ứng với năng lực quản lý”
Quản lý thuế tốt không đơn giản là thu được số thuế nhiều nhất hay số thu về thuế không phải là thước đo chính xác tính hiệu quả của quản lý thuế
mà để xác định mức độ hiệu quả của quản lý thuế người ta thường dùng thước
đo được coi là tương đối chính xác đó chính là mức độ về “khoảng cách tuân
thủ” Khoảng cách tuân thủ ở đây được hiểu trên bốn khía cạnh: Sự chênh lệch giữa ĐTNT tiềm năng và ĐTNT đã đăng ký thuế; sự chênh lệch giữa
ĐTNT có đăng ký thuế với ĐTNT có đăng ký thuế nhưng không kê khai thuế;
sự khác biệt giữa số thuế thu được với số tiềm năng phải nộp theo luật; sự chênh lệch giữa số thuế mà ĐTNT đã kê khai với số thuế mà ĐTNT đã thực nộp Như vậy, quản lý thuế hiệu quả là giữ cho “khoảng cách tuân thủ” ở mức thấp nhất, có như vậy thì tính công bằng của hệ thống thuế sẽ được cải thiện
và nền kinh tế cũng sẽ phát triển ổn định, bền vững hơn
Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng về cơ bản đều nhằm đạt tới những mục tiêu sau:
Trang 25- Tập trung huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu
- Phát huy tốt nhất vai trò tích cực của thuế trong nền kinh tế Tuy nhiên, vai trò này chỉ có thể phát huy tốt trong thực tiễn khi có sự tác động tích cực của chủ thể quản lý thu thuế và nộp thuế Những tác động này được thực hiện thông qua những nội dung công việc cụ thể của công tác quản lý thuế
- Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật thuế cho các tổ chức và dân cư Trong cơ chế thị trường, Nhà nước thông qua công cụ pháp luật để thực hiện sự tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô Do đó, ý thức chấp hành luật pháp của các tổ chức kinh tế và dân cư sẽ có ảnh hưởng không nhỏ
đến việc thực hiện những tác động của Nhà nước đến nền kinh tế
Quản lý thuế TNCN là một hoạt động quản lý có nhiều đặc điểm riêng xuất phát từ những đặc điểm riêng có của thuế TNCN, cụ thể như sau:
Thứ nhất: do đây là sắc thuế mang tính trực thu, trực tiếp điều chỉnh
trên thu nhập thực nhận được của các cá nhân làm cho họ cảm nhận được một cách rõ ràng gánh nặng thuế mà họ đang là đối tượng bị điều chỉnh Đặc trưng này làm cho công tác quản lý thuế trở nên hết sức nhạy cảm, việc thực hiện các biện pháp quản lý cũng vì thế mà gây nên các phản ứng khác nhau cho các ĐTNT
Thứ hai: do thuế TNCN có đặc điểm là mang tính lũy tiến so với thu
nhập và có tính đến yếu tố gia cảnh cảnh của NNT, trong khi đó việc quản lý
hồ sơ gia cảnh của từng cá nhân nộp thuế là một việc làm hết sức khó khăn
mà không phải quốc gia nào cũng có thể thực hiện được một cách hiệu quả
Điều đó đã làm cho quá trình quản lý thuế trở nên rất phức tạp, đòi hỏi trình
độ quản lý phải cao và bao quát
Trang 26Thứ ba: Quản lý thuế TNCN là hoạt động rất phức tạp do có phạm vi
điều chỉnh rộng Số lượng các đối tượng có thu nhập chịu sự điều chỉnh của
luật thuế TNCN là rất lớn, mỗi một loại thu nhập lại có cách thức điều chỉnh riêng Việc kiểm soát các khoản thu nhập chịu thuế lại là vấn đề rất khó khăn Thêm vào đó là các quy định về đối tượng cư trú và không cư trú cùng với cách thức điều chỉnh khác nhau tương ứng đã làm cho quá trình quản lý thuế trở nên phức tạp, chi phí hành thu cao đòi hỏi phải có sự đầu tư trí lực và thời gian nghiên cứu chuyên sâu mới có thể quản lý tốt sắc thuế này
Thư tư: Quản lý thuế TNCN gắn chặt với chủ trương phân phối và quản
lý thu nhập của Chính phủ trong từng thời kỳ nhất định Vì mục tiêu cơ bản của quản lý thuế TNCN là nâng cao tính tuân thủ cho các ĐTNT và đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập giữa các ĐTNT
1.2.2 Nội dung quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.2.2.1 Quản lý đối tượng nộp thuế
Luật Thuế quy định nghĩa vụ khác nhau cho các nhóm đối tượng khác nhau Cụ thể có nhóm đối tượng có thể phải cung cấp thông tin cho cơ quan thuế về các hoạt động chính của mình hoặc các đối tượng khác, nghĩa vụ nộp
tờ khai, nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ khấu trừ đối với các khoản thanh toán cho đối tượng khác ĐTNT ở đây đề cập đến là đối tượng có thu nhập trong một kỳ tính thuế nhất định Tuy nhiên cần phải xác định rõ đơn vị tính thuế,
cơ sở phân biệt đối tượng cư trú và đối tượng không cư trú
Mỗi quốc gia trên thế giới sử dụng đơn vị tính thuế khác nhau, song chủ yếu là cá nhân, vợ chồng và hộ gia đình
Nếu áp dụng đơn vị tính thuế là hộ gia đình thì đối tượng cư trú được
kê khai nộp thuế theo hộ gia đình bao gồm NNT và người nuôi dưỡng NNT
là các cá nhân độc thân hoặc hộ gia đình chưa có con nhưng có thu nhập, người nuôi dưỡng là các con chưa đến vị thành niên, người tàn tật Khi tính
Trang 27thuế theo hộ gia đình phải qui đổi thành từng thành viên trong hộ gia đình thành các suất thuế theo quy định Trong có vẻ hợp lý tuy nhiên muốn thực hiện phương pháp này thì phải đưa ra định nghĩa cụ thể về gia đình và các gia đình phải có tính ổn định
Nếu áp dụng đơn vị tính thuế là vợ chồng thì khi đó họ có thể mở tờ khai chung hoặc có quyền lựa chọn nộp tờ khai riêng Song việc đầu tiên cần thiết phải định nghĩa là khi nào thì một ĐTNT được coi là đã lập gia đình?ví
dụ như một trong hai người đã ly hôn với lần kết hôn trước nhưng tính hợp lệ của việc ly hôn chưa chắc chắn hoặc hai người cũng có thể đã cưới, đã ly thân
và tự coi không còn kết hôn với nhau nữa nhưng dưới gốc độ pháp luật họ vẫn
là vợ chồng Những trường hợp như thế này sẽ gây khó khăn phức tạp cho công tác quản lý
Với đơn vị tính thuế là cá nhân trước hết cho phép được trừ các chi phí cho bản thân, chi phí nuôi con, nuôi bố mẹ già, nuôi người tàn tật Về chi phí nuôi con còn tùy thuộc vào chính sách xã hội của từng nước có thực hiện khuyến khích hay không khuyến khích gia đình nhiều con mà có mức giảm trừ sẽ khác nhau Trong thực tế, ở nhiều nước quy định này lại bị NNT lợi dụng để kê khai khấu trừ nhiều lần, kê trùng
Như vậy, sử dụng mỗi đơn vị tính thuế trong quản lý thuế TNCN đều có những ưu nhược điểm riêng Phương pháp thu thuế dựa vào thu nhập hộ gia
đình và vợ chồng tuy đảm bảo hơn về mặt xã hội song quá trình quản lý thuế
phức tạp,chi phí hành thu cao nên ít được các nước áp dụng Còn phương pháp dựa vào thu nhập thực tế của mỗi cá nhân có thể trong một chừng mực nhất định việc khấu trừ theo mức tiêu chuẩn hoặc suất miễn thu tiêu chuẩn khi xác định thu nhập chịu thuế có thể chưa thực sự sát đối với hoàn cảnh gia
đình của từng cá nhân cụ thể nhưng phương pháp này có ưu điểm là đơn giản,
dễ thực hiện, đáp ứng nguồn thu kịp thời cho ngân sách và thích hợp với hệ thống thuế thu nhập chuẩn nên nhận được sự ủng hộ rộng rãi
Trang 28Hệ thống thuế có phân biệt ĐTNT theo tiêu thức “cư trú” và “không cư trú” Theo tiêu thức này, các cá nhân cư trú ở một nước phải nộp thuế tại nước
đó cho mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới(không phân biệt
thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước) Cá nhân không cư trú chỉ phải nộp thuế trên phần thu nhập phát sinh tại nước đó Khái niệm cư trú và không
cư trú ở các nước khác nhau cũng được quy định khác nhau Nhiều nước quy
định cá nhân cư trú là người định cư tại nước đó và những người đến nước đó
không thường xuyên nhưng có tổng số ngày ở tại nước đó vượt quá 183 ngày trong năm dương lịch Có nước lại đưa ra định nghĩa về cá nhân cư trú là người mang quốc tịch nước đó hoặc quốc tịch nước ngoài nhưng có nhà ở, nơi ở chính, nơi hành nghề chính hay trung tâm của các quyền lợi kinh tế được đặt tại quốc gia đó
1.2.2.2 Quản lý thu nhập của các cá nhân
a Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân
Có hai cách xác định thu nhập chịu thuế khác nhau đó là: Tổng thu nhập
đã nhận và thu nhập đã nhận trừ đi các khoản chi phí để tạo ra thu nhập
Theo quan điểm đánh thuế trên tổng thu nhập đã nhận thì cách tính đơn giản nhưng thường không đảm bảo được sự công bằng trong chính sách động viên đối với từng cá nhân, từng gia đình
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều khái niệm thu nhập chịu thuế của một đối tượng bằng tổng thu nhập trừ đi các khoản được trừ của đối tượng đó trong kỳ tính thuế Các khoản phụ cấp, trợ cấp được trừ, các khoản giảm trừ khác như giảm trừ gia cảnh, giảm trừ từ đóng góp từ thiện nhân đạo…
Thu nhập chịu thuế thường được phân loại theo nguồn hình thành và nó bao gồm các loại chủ yếu sau:
hoặc từ các hoạt động hành nghề độc lập được cấp giấy chứng phép kinh doanh theo quy định)
Trang 29- Thu nhập từ tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương tiền công
b Thu nhập không chịu thuế hay thu nhập được miễn thuế
Thu nhập được miễn thuế bao gồm các loại sau:
- Thứ nhất, được miễn thuế vì lý do xã hội như: các khoản phúc lợi xã hội, học bổng, tiền bồi thường…
- Thứ hai được miễn thuế theo quy định của các hiệp định, hiệp ước, thỏa thuận quốc tế đã được ký giữa các nước
- Thứ ba được miễn thuế có thể vì lý do chính trị hoặc lý do quản lý như: Thu nhập từ quỹ lương hưu nhằm khuyến khích đóng góp lương hưu, từ nguồn viện trợ nước ngoài…
c Các khoản được giảm trừ
Một trong những đặc trưng quan trọng nhất của thuế TNCN là có tính
đến gia cảnh của người nộp thuế ĐTNT có cùng mức thu nhập nhưng có
hoàn cảnh khác nhau sẻ phải nộp thuế khác nhau Các khoản được giảm trừ có thể được thực hiện theo hai cách: Giảm trừ cá nhân và giảm trừ tiêu chuẩn Giảm trừ cá nhân được thực hiện theo phương pháp kê khai chi phí thực
tế phát sinh và phải có chứng cứ chứng minh đó là các khoản chi phí có liên quan đến việc tạo ra thu nhập như: chi phí đi lại, ăn ở, kể cả các khoản đóng
Trang 30góp bảo hiểm và giảm trừ có tính chất xã hội Phương pháp này thường được
áp dụng tại các nước phát triển có trình độ dân trí cao, hệ thống lưu trữ và kiểm soát thông tin tốt Các nước chậm phát triển chủ yếu áp dụng hình th thức giảm trừ tiêu chuẩn Đây là hình thức được thực hiện thông qua mức khởi điểm chịu thuế, là mức thu nhập trung bình xã hội đảm bảo trang trải đủ những chi phí cần thiết cả về mặt kinh tế và xã hội theo quan niệm và tập quán của từng nước
Áp dụng hình thức này tuy không đảm bảo công bằng như giảm trừ cá nhân vì mức chi phí cần thiết được cào bằng giữa các đối tượng nộp thuế nhưng việc tính toán lại đơn giản, tiết kiệm được chi phí hành thu và chi phí chấp hành tuân thủ luật thuế
1.2.2.3 Kiểm tra, thanh tra thuế Thu nhập cá nhân
Thanh tra kiểm tra là một nội dung ngày càng đóng vài trò quan trọng trong quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng Thanh tra, kiểm tra thuế TNCN là để tăng cường hiệu quả của công tác quản lý, nâng cao năng lực của cơ quan thuế trong việc phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các đối tượng nộp thuế có hành vi gian lận, trốn thuế
Tất cả các hồ sơ gửi đến cơ quan thuế đều được kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế Việc kiểm tra thuế có thể được thực hiện dưới hai hình thức: Kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế (Kiểm tra tại bàn) và kiểm tra tại trụ sở NNT Việc lựa chọn hình thức nào tùy thuộc vào mức độ phức tạp cũng như yêu cầu của việc phân tích thông tin
Thanh tra thuế được thực hiện ở mức độ và phạm vi sâu rộng hơn so với kiểm tra Việc thanh tra thuế TNCN chỉ được tiến hành đối với các trường hợp như: khi NNT có nhiều nguồn thu nhập chịu thuế khác nhau, phạm vi phát sinh các khoản thu nhập rộng không chỉ giới hạn trong một địa phương (Thanh tra định kỳ một năm không quá một lần); khi ĐTNT có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế (Chỉ được tiến hành khi có căn cứ xác định NNT khai
Trang 31thiếu nghĩa vụ thuế, trốn thuế, gian lận thuế nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự); khi có yêu cầu giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN
Hoạt động quản lý thuế TNCN chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, mỗi nhân tố có những tác động nhất định, có thể là tích cực cũng có thể là tiêu cực đối với công tác quản lý Việc xem xét các nhân tố này sẽ giúp nhà quản lý hiểu rõ hơn những thuận lợi khó khăn mà mình đang đối mặt từ đó có biện pháp quản lý thích hợp Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng
đến quản lý thuế TNCN thành hai nhóm nhân tố là nhân tố chủ quan và nhân
tố khách quan
1.2.3.1 Nhân tố chủ quan
Thứ nhất, là Bộ máy và quy trình quản lý thuế TNCN Bởi việc quản lý
thuế TNCN không chỉ là chức năng nhiệm vụ của một phòng ban, đơn vị riêng lẻ mà nó là sự kết hợp đồng thời của các bộ phận trong quy trình quản lý cũng như cũng như các phòng ban từ trên xuống dưới Quy trình quản lý thuế hợp lý, chặt chẽ, bộ máy quản lý hoạt động thống nhất, đồng bộ là một trong những điều kiện cơ bản để thực hiện tốt công tác quản lý thuế
Thứ hai, đó là điều kiện vật chất, kỹ thuật của cơ quan thuế Hoạt động
quản lý thuế gồm rất nhiều các nội dung khác nhau như: Tuyên truyền phổ biến pháp luật thuế, tiếp nhận và xử lý tờ khai đăng ký thuế, liên hệ với đối tượng nộp thuế, các cơ quan chức năng liên quan…Tất cả đều là những công việc tỉ mỉ, mất nhiều thời gian và đòi hỏi tính chính xác cao do đó đòi hỏi cơ
sở vật chất, kỹ thuật của cơ quan thuế phải hiện đại để có thể tiến hành các hoạt động quản lý được nhanh chóng, hiệu quả
Thứ ba, đó là công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế Thông qua
hoạt động này sẽ giúp người dân nâng cao nhận thức cũng như ý thức trách
Trang 32nhiệm của mình trong việc thực hiện chính sách thuế, từ đó nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế Ở các quốc gia có công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế được thực hiện rộng rãi, hiệu quả thì tại đó người dân còn cảm thấy
tự hào khi được nộp thuế cho Ngân sách nhà nước
Thứ tư, là trình độ, tác phong làm việc và đạo đức nghề nghiệp của đội
ngủ cán bộ thuế Thuế TNCN là một sắc thuế có tính nhạy cảm cao đòi hỏi cán bộ thuế phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao để có thể giải đáp
được hết các vướng mắc của ĐTNT cũng như có thể xử lý linh hoạt được các
tình huống phát sinh trong quá trình quản lý Bên cạnh đó đạo đức nghề nghiệp và thái độ hành xử với ĐTNT cũng là vấn đề hết sức quan trọng Mềm dẻo, linh hoạt nhưng không trái pháp luật là yêu cầu không thể thiếu đối với cán bộ thuế nói chung và cán bộ quản lý thuế TNCN nói riêng
1.2.3.2 Nhân tố khách quan
Thứ nhất, là chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước: Chính sách kinh tế vĩ
mô của Nhà nước có tác động quan trọng đối với công tác quản lý thuế nói chung và công tác quản lý thuế TNCN nói riêng Cụ thể các giải pháp tăng cường quản lý kinh tế - xã hội như giám sát hoạt động của tất cả các kênh đầu
tư bao gồm chứng khoán, ngân hàng, vàng, bất động sản các giải pháp tăng cường việc thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế sẽ tác động tích cực đến hiệu quả công tác quản lý, giám sát thu nhập và do đó tạo thuận lợi hơn cho công tác quản lý thuế TNCN
Thứ hai, là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuế của Nhà nước:
Các văn bản pháp quy về thuế là cơ sở pháp lý để hướng dẫn các tổ chức cá nhân thực hiện nghĩa vụ về thuế , là căn cứ để kiểm tra, xử phạt những trường hợp vi phạm Nếu hệ thống văn bản này đầy đủ, hoàn chỉnh, dễ hiểu sẽ tăng thêm tính khả thi của loại thuế đó, ngược lại nếu hệ thống văn bản này không
đầy đủ, chưa hoàn chỉnh và mang tính trừu tượng nhiều thì sẽ gây khó khăn
Trang 33cho công tác quản lý thuế Đặc biệt đối với thuế TNCN, loại thuế có tác động rất lớn đến ĐTNT thì hệ thống văn bản pháp quy càng đòi hỏi phải chặt chẽ
và hoàn chỉnh
Thứ ba, là điều kiện kinh tế, môi trường pháp lý của mỗi nước Điều kiện
kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý thuế TNCN Như đã biết, thuế TNCN tính trực tiếp vào thu nhập của mỗi cá nhân Ở các nước phát triển thu nhập bình quân đầu người cao nên thuế TNCN chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng thu ngân sách nhà nước Điều đó đồng nghĩa với việc người dân sống trong điều kiện đầy đủ, mức sống cao sẽ có khả năng đóng thuế TNCN cao hơn Điểm đặc biệt quan trọng là ở các nước phát triển, với
điều kiện khoa học kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý cao, lượng tiền mặt
dùng trong lưu thông rất nhỏ Hầu như mọi cá nhân đều có tài khoản ở Ngân hàng, Việc thanh toán chủ yếu được thực hiện thông qua Ngân hàng vì vậy nên mọi khoản thu chi của cá nhân đều được quản lý dễ dàng Việc tính thuế TNCN trở nên dễ dàng hơn, công tác quản lý thu thuế cũng thuận lợi hơn rất nhiều Môi trường pháp lý của mỗi quốc gia cũng có ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế Một quốc gia có môi trường pháp lý hoàn chỉnh sẽ giúp cho việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước của người dân cũng như tính cưỡng chế của thuế cao không có khe hở để các đối tượng có thể trốn thuế Ngược lại, nếu thiếu hụt một trong các quy định về quản lý cũng như các biện pháp cưỡng chế thuế sẽ làm giảm đáng kể tính tuân thủ của các ĐTNT và do
đó sẽ làm cho công tác quản lý thuế đạt hiệu quả không cao
1.3 KHẢO SÁT KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ QUẢN LÝ THUẾ TNCN VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM
1.3.1 Về Tổ chức bộ máy quản lý
Để quản lý thuế hiệu quả trước hết phải có một mô hình tổ chức bộ máy
quản lý thuế phù hợp và hoạt động hiệu quả Có thể thấy mô hình bộ máy
Trang 34quản lý ở Hà Lan là một trong những mô hình tổ chức hiệu quả và có thể áp dụng ở Việt Nam
Ở Hà Lan bộ máy quản lý vừa được tổ chức theo mô hình chức năng vừa được thực hiện theo sắc thuế Cụ thể mô hình chức năng được thể hiện ở cấp
trung ương còn ở địa phương việc phân chia công việc lại được thực hiện theo sắc thuế Việc thực hiện mô hình quản lý đan xen, kết hợp này đã có tác động tích cực đối với công tác quản lý thuế như: nâng cao tính hiệu quả, cải thiện khả năng kiểm tra, kiểm soát và tăng tính hiệu lực trong hoạt động của cơ quan thuế Cụ thể, việc phân chia thành các bộ phận như quản lý kê khai và
kế toán thuế; kiểm tra, thanh tra thuế và quản lý thu nợ…ở cấp trung ương sẽ làm tăng khả năng kiểm tra,kiểm soát của cơ quan thuế Trong khi đó ở cấp vùng, cấp địa phương cơ cấu tổ chức của cơ quan thuế lại được phân chia theo sắc thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân…Cách phân chia như vậy có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan Thuế do các chuyên gia trong từng lĩnh vực có kiến thức chuyên sâu sẽ dễ dàng hơn trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đảm bảo nhanh chóng, hiệu quả hơn Ngoài ra việc bố trí cán bộ trong từng đơn vị cũng có những điểm khác biệt Đội ngũ cán bộ thuế ở Hà Lan sẽ được phân loại thành các mức từ B đến I, trong đó B là mức thấp nhất với nhiệm vụ đơn giản và có tính giới hạn nhất định, còn I là các chuyên gia cao cấp nhất, chịu trách nhiệm giải quyết tất cả các vấn đề phức tạp, theo đó mức lương của họ cũng được trả
ở mức cao nhất
Ngoài ra ở Hà Lan còn có một trung tâm trao đổi và phát triển nguồn nhân lực chuyên đào tạo, cung cấp thông tin cho các cán bộ thuế trong cả nước Trung tâm có nhiệm vụ cơ bản là cung cấp các thông tin chính xác cho các cán bộ thuế để họ có thể sử dụng trong công việc một cách hiệu quả nhất Ngoài ra trung tâm còn tổ chức các khóa học đào tạo các kiến thức về nhiều
Trang 35lĩnh vực nhằm nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ công chức nói chung và
đội ngũ cán bộ thuế nói riêng khi đến tham gia theo học Như vậy với các
hoạt động trên, trung tâm này đã góp một phần không nhỏ trong việc phát triển nguồn nhân lực cho cơ quan Thuế nói chung và công tác quản lý thuế TNCN nói riêng
1.3.2 Về việc xác định kỳ tính thuế, đơn vị thuế và đối tượng nộp thuế
Qua nghiên cứu chính sách thuế TNCN của các nước ta nhận thấy ở các quốc gia khác nhau thì kỳ tính thuế và đơn vị thuế cũng khác nhau song nhìn chung hầu hết các nước đều xác định kỳ tính thuế theo năm tài chính hoặc năm dương lịch Đối tượng nộp thuế TNCN cũng được phân chia thành cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú Các quốc gia xác định kỳ tính thuế đối với cá nhân cư trú theo năm tài chính và thường là năm dương lịch bao gồm:
Hà Lan, Pháp, Hàn Quốc, Thái Lan…Hầu hết các nước đều lựa chọn đơn vị nộp thuế theo từng cá nhân riêng biệt, tuy nhiên ở Pháp việc kê khai nộp thuế
được thực hiện với đơn vị thuế là hộ gia đình; Ở Thái Lan đơn vị thuế thường
là cặp vợ chồng, theo đó người chồng thường có trách nhiệm kê khai các khoản thu nhập của cả hai vợ chồng và thanh toán tất cả các khoản thuế này Tuy nhiên nếu muốn thì vợ chồng cũng có thể kê khai và nộp thuế riêng và biểu thuế suất được áp dụng đối với các trường hợp kê khai chung và kê khai riêng là khác nhau Tương tự như vậy ở Malayxia phụ nữ có gia đình có thể lựa chọn việc kê khai thu nhập chung với chồng hoặc kê riêng rẽ Sự lựa chọn này cho phép người chồng không đủ để ảnh hưởng hoàn toàn các khoản giảm
trừ và trợ cấp theo quy định
1.3.3 Đối với việc khấu trừ, kê khai, nộp thuế
Hầu hết các quốc gia đều sử dụng một trong hai hình thức thu nộp thuế là khấu trừ tại nguồn và kê khai trực tiếp, cụ thể:
Tại Pháp và Trung quốc, tất cả các đối tượng nộp thuế không thuộc diện nộp thuế theo phương pháp khấu trừ tại nguồn đều phải thực hiện kê khai thuế
Trang 36thu nhập hàng tháng và nộp tất cả các loại thuế có liên quan cho cơ quan thuế
địa phương Tờ khai thuế phải được nộp cho cơ quan thuế trong vòng 7 ngày
sau khi hết tháng Cuối năm các hộ nộp thuế phải kê khai thu nhập trong năm tính thuế vào một tờ khai chung và nộp cho cơ quan thuế trước ngày 28/2 năm sau, trừ các hộ có thu nhập từ sản xuất, kinh doanh có thể nộp muộn hơn Các
đối tượng nộp thuế trong thời hạn 30 ngày kể từ khi kết thúc năm dương lịch
Riêng Trung Quốc số thuế đã nộp ở nước ngoài đối với khoản thu nhập nhận
được ở nước ngoài sẽ được trừ vào số thuế phải nộp, tuy nhiên số thuế được
trừ tối đa bằng số thuế phải nộp tính theo Luật Thuế của Trung Quốc tính cho khoản thu nhập nhận được đó
Tại Malaysia, lao động cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công cũng thực hiện nộp thuế theo phương pháp khấu trừ tại nguồn Tổ chức, cá nhân phải khấu trừ thuế trước khi trả thu nhập cho cá nhân dựa theo biểu thuế do cơ quan Thuế cung cấp Các cá nhân không cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công cũng thực hiện nộp thuế theo phương pháp khấu trừ tại nguồn theo theo
tỷ lệ 29% trên tổng số tiền lương nhận được
1.3.4 Về công tác kiểm tra, thanh tra thuế
Công tác quản lý thuế nói chung và công tác kiểm tra, thanh tra thuế nói riêng ở Hà Lan đã đạt được hiệu quả cao nhờ sự thành công của một trung tâm dịch vụ điều tra thuộc cơ quan Thuế và Hải Quan và các chính sách xử phạt nghiêm khắc, công khai Ngay khi nhận được hồ sơ khai thuế do ĐTNT gửi đến, cơ quan Thuế sẽ tiến hành kiểm tra đối chiếu để phát hiện sai lệch (nếu có) để kịp thời yêu cầu sửa đổi, bổ sung Trường hợp ĐTNT không đồng
ý với ý kiến đánh giá của cơ quan Thuế, họ có thể làm đơn kiến nghị về vấn
đề này và vấn đề này sẽ được chuyển cho một cán bộ thuế khác giải quyết
nhằm đảm bảo sự khách quan, trung thực trong công tác thuế
Bên cạnh hoạt động hiệu quả của trung tâm dịch vụ điều tra trên, công tác kiểm tra thanh tra thuế TNCN ở Hà Lan còn có sự hỗ trợ hiệu quả của
Trang 37trung tâm xử lý và phát triển các sản phẩm thông qua cơ chế phân tích rủi ro tiềm năng của mình Đây cũng là một tổ chức dự án của cơ quan Thuế và Hải Quan Một trong những nhiệm vụ chính của trung tâm này là phân tích các rủi
ro tiềm ẩn trong việc đánh thuế và thu nộp thuế Dựa trên việc phân tích các thông tin, trung tâm sẽ tìm ra các mục có mức độ rủi ro cao nhất để cơ quan Thuế tập trung kiểm tra nhằm hạn chế mức thấp nhất tình trạng trốn lậu thuế Cùng với sự trợ giúp của hai trung tâm trên thì các chính sách xử phạt nghiêm khắc và công khai cũng là nhân tố quan trọng cải thiện tính tuân thủ của các đối tượng nộp thuế Chính sách xử phạt ở Hà Lan được chia thành 2 nhóm đối tượng: Nhóm các đối tượng nộp tờ khai thuế chậm và nhóm các đối tượng kê khai thuế không chính xác Với nhóm thứ nhất, mức xử phạt thay
đổi theo năm từ 1 năm đến 5 năm Mức thấp nhất là 113 euro và cao nhất là
1134 euro cho thời gian 5 năm Trong khi đó, nhóm thứ 2 có thể xử phạt từ 25% đến 100% số thuế phải nộp Do mức xử phạt nghiêm, phạt kết hợp với
cơ hội bị phát hiện là rất lớn do sự hoạt động hiệu quả của 2 trung tâm nên tính tuân thủ của ĐTNT là rất cao và do đó quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng hiệu quả hơn
1.3.5 Về các hình thức hỗ trợ đối tượng nộp thuế
Trong điều kiện hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng cơ chế
đối tượng nộp thuế tự tính, tự kê khai nộp thuế thì công tác tuyên truyền hỗ
trợ NNT ngày càng trở nên vô cùng quan trọng Nhìn chung, trên thế giới việc hỗ trợ ĐTNT thường có các hình thức sau: thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; thông qua các hình thức phát hành sách, tạp chí về thuế, thành lập ủy ban quảng cáo, tổ chức các trung tâm thuế, thực hiện hệ thống thông tin tài chính, sử dụng băng video, tư vấn qua điện thoại, các hình thức
hỗ trợ trực tiếp…
Trang 38Ở Canada ngoài việc xuất bản các ấn phẩm về thuế họ còn cho ra đời chương trình tư vấn thuế đặc biệt và các chương trình trả lời tự động để trả lời tất cả các câu hỏi qua điện thoại Ngoài ra các chương trình tự nguyện, các chương trình giao lưu, thảo luận nhằm tăng cường hiểu biết về thuế cho các
hộ kinh doanh cũng góp phần không nhỏ trong việc hỗ trợ các đối tượng nộp thuế thực hiện tốt nghĩa vụ của mình
1.3.6 Bài học kinh nghiệm có thể áp dụng ở Việt Nam
Từ việc nghiên cứu về lý luận kinh nghiệm quản lý thuế thu nhập cá nhân của một số quốc gia trên thế giới có thể rút ra một số bài học cho công tác quản lý thuế TNCN ở Việt Nam như sau:
Thứ nhất, việc kê khai thuế thường được thực hiện theo năm dương lịch
với các mẫu tờ khai khác nhau phù hợp với từng loại thu nhập (thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập kinh doanh; thu nhập từ đầu tư vốn…) và phù hợp với từng đối tượng nộp thuế (đối tượng cư trú và không cư trú) Đối với
cá nhân cư trú việc kê khai thường được thực hiện theo năm tài chính, thường
là năm dương lịch còn cá nhân không cư trú thì việc kê khai thuế được thực hiện ngay khi có phát sinh thu nhập
Đối với các loại thu nhập có kỳ tính thuế theo năm được kê khai tạm nộp theo tháng hoặc theo quý, hết năm mới thực hiện kê khai quyết đoán Thời hạn nộp tờ khai quyết đoán thường là sau 90 ngày kể từ khi kết thúc năm tài chính Nước ta năm tài chính được áp dụng là năm dương lịch nên thời hạn nộp tờ khai quyết toán thuế là 30/3
Thứ hai, về phương thức tổ chức thu Hầu hết các nước đều áp dụng kết
hợp phương pháp khấu trừ tại nguồn và kê khai trực tiếp Phương thức khấu trừ tại nguồn, kê khai tạm nộp theo tháng sau đó cuối năm quyết toán là một phương thức hợp lý được áp dụng đối với các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh thường xuyên Phương thức kê khai nộp thuế trực tiếp được áp dụng đối với các khoản thu nhập phát sinh không thường xuyên
Trang 39Thứ ba, công tác thanh tra, kiểm tra thuế được thực hiện dựa trên phương
pháp phân tích rủi ro và có một bộ phận chuyên biệt thực hiện công việc này Việc thanh tra, kiểm tra thuế trong quản lý thuế TNCN là hết sức quan trọng Tuy nhiên do đặc thù của sắc thuế này là số lượng đối tượng nộp thuế lớn nên việc tiến hành thanh tra, kiểm tra tất cả các đối tượng là khó có thể thực hiện
được Vì vậy việc lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra dựa trên phương pháp
phân tích rủi ro như Hà Lan là phương pháp đúng đắn và có thể nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra phải đi liền với các biện pháp xử phạt công minh thì quản lý thuế mới đạt hiệu quả nhất
Thứ tư, tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình kết hợp và việc bố trí cán
bộ theo tính chất phức tạp của từng công việc Một bộ máy quản lý được phân chia theo chức năng sẽ là lựa chọn tốt nhất trong cơ chế đối tượng nộp thuế tự tính,tự khai tự nộp thuế như hiện nay Tuy nhiên, do đặc thù số lượng đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là rất lớn, nội dung quản lý phức tạp đòi hỏi phải có mức độ chuyên sâu nhất định nên có thể mô hình tổ chức quản lý theo chức năng ở cấp trung ương kết hợp với mô hình quản lý theo sắc thuế ở các cấp quản lý thấp hơn sẽ là sự lựa chọn thích hợp cho công tác quản lý TNCN
ở Việt Nam Ngoài ra việc bố trí cán bộ theo mức độ phức tạp của công việc
tương ứng với mức lương, thường tương xứng cũng là một giải pháp rất hiệu quả trong việc bố trí sắp xếp cán bộ quản lý
Thứ năm, công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế cần được tăng
cường và thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.Vì theo luật quản lý thuế hiện hành thì ĐTNT hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc tính thuế và kê khai, nộp thuế của mình nên họ phải hiểu rõ trách nhiệm và quyền lợi của họ trong việc thực hiện các chính sách thuế, nhất là chính sách thuế mới như luật thuế TNCN ở Việt Nam
Trang 40Thứ sáu, việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc kiểm soát
thu nhập là hết sức quan trọng và cần thiết Muốn kiểm soát được tờ khai thuế TNCN cần phải kiểm soát được thu nhập cũng như các khoản miễn, giảm trừ của ĐTNT vì vậy các thông tin từ phía Ngân hàng, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp là hết sức hữu ích Tuy nhiên vấn đề cốt lõi ở đây là phải có những quy định mang tính pháp lý bắt buộc trong việc cung cấp, trao đổi thông tin giữa các bên liên quan Thực tiễn của Hà Lan trong vấn đề này là một kinh nghiệm rất đáng để tham khảo
Trên đây là những nhận định cơ bản mang tính chất lý luận về vấn đề thuế TNCN và nội dung quản lý thuế TNCN cũng như những kinh nghiệm quản lý thuế TNCN của các quốc gia trên cơ sở đó đi sâu vào phân tích thực trạng quản lý thuế TNCN ở nước ta hiện nay trong chương 2