GIẢO DỤC VẢ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ Nước VIỆT NAMỌC VIỆN NGÂN HẰNG Thư viện - Học viện Ngân Hàng LV .000410 NGÔ HƯƠNG LAN GIẢI PHÁP THỦC ĐẨY Sự THAM GIA CỦA CÁC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH TRONG
Trang 1GIẢO DỤC VẢ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ Nước VIỆT NAM
ỌC VIỆN NGÂN HẰNG
Thư viện - Học viện Ngân Hàng
LV 000410
NGÔ HƯƠNG LAN
GIẢI PHÁP THỦC ĐẨY Sự THAM GIA CỦA CÁC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2008
Trang 2H Ọ C V IỆ N N G Â N H À N G
NGÔ HƯƠNG LAN
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY Sự THAM GIA CỦA CÁC
TRUNG GIAN TÀI CHÍNH TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIEN
THỊ TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN VIỆT NAM
C H U Y Ê N NGÀNH : K IN H T Ế T À I C H ÍN H - N G Â N H À N G
M Ã SỐ : 6 0 3 1 1 2
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HUỔNG DẪN KHOA HỌC : T S ĐÀO L Ê MINH
H Ọ C V IỆ N N G Â N H À N G TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN
T H Ư V I Ệ N
sểjJsủLắM /ữi.
H À NỘI - â008
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà nội, ngày 20 tháng 5 năm 2008
Tác giả luận văn
Ngô Hương LanLớp cao học 702 - Khoa Sau đại học
Trang 41.1.1 K h ái niệm trường chứng khoán
1 1 2 Vai trò của thị trường chứng khoán
1.1.3 C ác chủ thê tham gia thị trường chứng khoán
1.2 H O Ạ T ĐỘNG C Ủ A C Á C T R U N G GIAN T À I CH ÍN H T R Ê N
T H Ị TRƯ Ờ N G CH Ú N G K H O Á N
1.2.1 K hái niệm tru n g gian tài chính
1.2.2 Sự tham gia của cá c tru n g gian tài chính trên thị trường
chứng khoán - M ột tất yêu khách quan
1.2.3 H oạt động củ a cá c tru n g gian tài chính trên thị trường
chứng khoán
1.3 KIN H N G H IỆ M CỦ A M Ộ T s ố NƯỚC T R Ê N T H Ê G IỚ I TRO N G
V IỆ C T H Ú C Đ Ẩ Y S ự T H A M G IA C Ủ A C Á C TRU N G GIAN TÀ I
C H ÍN H T R Ê N T H Ị T R Ư Ờ N G CHỨN G K H O Á N
K ết luận chương 1
CHƯƠ NG 2 TH Ụ C TRẠ N G H O Ạ T ĐỘNG C Ủ A CÁ C TRUNG GIAN
TÀ I CHÍNH T R Ê N T H Ị TRƯ Ờ N G CHỨNG KHOÁN V IỆ T NAM
2 1 C Á C T R U N G G IAN T À I C H ÍN H V IỆ T NAM
2.1 1 C ác công ty chứng khoán
2 1 2 C ác quỹ đầu tư
2 1 3 C ác công ty quản lý quỹ
TRANG
1
3
3335
272732
4 0
Trang 52.2 H O Ạ T ĐỘNG C Ủ A C Á C T R U N G GIAN TÀ I CHÍNH T R Ê N TH Ị
TRƯ Ờ N G CH Ú N G K H O Á N V IỆ T NAM
C H Ư 0N G 3 G IẢ I P H Á P T H Ú C Đ A Y s ự T H A M GIA CỦA C Á C
Ở V IỆ T NAM
V IỆ T NAM Đ ẾN NĂM 2 0 1 0
3.2 GIẢI PH Á P TH Ú C Đ Ẩ Y s ự TH AM GIA CỦA CÁC TRUNG GIAN
77
TÀI CHÍNH T R Ê N TH Ị TRƯ Ờ N G CHÚNG KHOÁN V IỆ T NAM
3.2.1 T ăng cường tiềm lực tài chính của các trun g gian tài chính 77
3.2.2 Đa dạng hoá cá c tổ chức tài chính nhằm tạo ra sự cạnh tranh 79
lành m ạnh trên thị trường tài chính quốc gia
tru n g gian tài chính trên thị trường chứng khoán
Trang 63 3 Đ IỂU K IỆ N T H Ụ C T H I G IẢ I PH Á P T H Ú C Đ A Y s ự TH A M GIA 85
CỦ A C Á C T R U N G GIAN T À I C H ÍN H T R Ê N TH Ị TRƯ Ờ N G CHÚNG
K H O Á N V IỆ T NAM
T À I L IỆ U T H A M K H Ả O
PH U L U C
Trang 7DANH MỤC KÝ HIÊTI CÁC CHỮ VIẾT TẮT
8 Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HỒ Chí Minh HSTC
Trang 8Bảng 2.8 Doanh thu bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành của các
Bảng 3 1
Sơ đồ
Dự báo một số chỉ tiêu cụ thể đến năm 2010 và 2020 77
Sơ đổ 2.2
Biêu đồ
Biểu đồ 2.3: Nguồn vốn chủ sở hữu của các công ty chứng khoán 29
Biểu đổ 2.-5: Doanh thu hoạt động tự doanh của một số công ty chứng
Biểu đổ 2.7: Giá trị bảo lãnh phát hành của các công ty chứng khoán
Trang 9Quy mô vốn điều lệ của các công ty mới niêm yết 58
Danh sách các thành viên lưu ký tính đến tháng 3/2008 Danh sách các công ty chứng khoán tính đến tháng 3/2008 Danh sách các ngân hàng lưu ký tính đến tháng 3/2008 Danh sách các công ty quản lý quỹ tính đến tháng 3/2008
9 khuyến nghị nhằm quốc tế hoá TTCK của nhóm G30Danh mục đầu tư của Vietnam Fund Limited
So sánh dịch vụ chứng khoán của các CTCK Việt Nam và các CTCK ở nước ngoài
B á o c á o tài ch ín h củ a S S I q u a c á c năm
Trang 10PHẦN M Ở ĐẦU
1 Sự cần thiết củ a đề tài nghiên cứu
Thị trường chứng khoán là một bộ phận không thể thiếu được trong hệ thống thị trường tài chính của các nước theo nền kinh tế thị trường Sự tham gia của các trung gian tài chính có một ý nghĩa quan trọng trong việc làm tăng chất lượng và hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán Điều này được lý giải bởi chi phí giao dịch và sự kiểm soát vấn đề thông tin không cân xứng, sự lựa chọn đối nghịch
và rủi ro đạo đức Việc tăng cường hoạt động của các trung gian tài chính cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc giám sát thị trường Mặt khác, kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực hoạt động quan trọng của các trung gian tài chính Phát triển các hoạt động trên thị trường chứng khoán là một hướng chiến lược quan trọng của các trung gian tài chính, là yếu tố quyết định thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
Việt Nam đang từng bước thực hiện cải cách hệ thống tài chính Nội dung của cải cách là xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán nhằm hoàn thiện cấu trúc của thị trường tài chính, đồng thời, thực hiện cải cách về tổ chức và hoạt động của các trung gian tài chính Thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán là một xu thê khách quan Có thể nói, sự phát triển trong tương lai của thị trường chứng khoán cũng như của các trung gian tài chính phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán V ì vậy, nhận thức đúng vai trò và thúc đẩy hoạt động của các trung gian tài chính trong quá trình phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam là rất cần thiết
BỞI vậy, tác giả đã lựa chọn vấn đề “G i ả i p h á p t h ú c đẩy s ự t h a m g i a c ủ a c á c
t r u n g g i a n t à i c h í n h t r ê n t h ị t r ư ờ n g c h ứ n g k h o á n V i ệ t N a m ” làm đề tài nghiên cứu
2 M ục tiêu nghiên cứu của luận văn
2.1 Nghiên cứu sự tham gia của các trung gian tài chính thông qua hoạt động của các trung gian tài chính trong tiến trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán
2.2 Phàn tích, đánh giá hoạt động của các trung gian tài chính trong tiến trình xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam, phân tích các nguyên nhân làm hạn chế hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán
1
Trang 112.3 Đề xuất các giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là: các trung gian tài chính và hoạt
động của các trung gian tài chính trong tiến trình xây dựng và phát triển thị trường
chứng khoán của Việt Nam trong giai đoạn 2000-03/2008
4 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp
với các phương pháp phỏng vấn, thu thập thông tin, tổng hợp, so sánh và phân tích
tình huống, v.v để nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
1 Tổng kết những vấn đề lý luận về vai trò và sự tham gia của các trung gian
tài chính trong quá trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán
2 Phân tích thực trạng các trung gian tài chính và sự tham gia của các tổ chức này
trong tiến trình hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam
3 Đề xuất các giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính
trên thị trường chứng khoán Việt Nam
6 Bô cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận khoá luận bao gồm 3 chương:
Chương I : Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị tracing chứng khoán.
C hư ơn g I I : Thực trạng hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường
chứng khoán Việt Nam
C hư ơn g I I I : Giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên
thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 12C H Ư Ơ N G 1 : H O Ạ T Đ Ộ N G C Ủ A C Á C T R U N G G IA N T À I C H ÍN H
T R Ê N T H Ị T R Ư Ờ N G C H Ứ N G K H O Á N
1.1.1 K hái niệm thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng Với chứng khoán nợ, chẳng hạn như trái phiếu, chủ sở hữu có quyền được nhận lãi định kỳ và nhận toàn bộ giá trị cam kết, sau một thời hạn nhất định, từ giá trị tài sản của tổ chức phát hành
Khác với chứng khoán nợ, cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với một phần tài sản khi công ty được bán đi, kèm theo với một phần lợi nhuận do tài sản đó làm ra Ngoài ra, cổ đông còn có quyền tham gia quản lý công ty thông qua quyền tham gia và bỏ phiếu tại Đại hội cổ đông, quyền mua trước đối với cổ phiếu phát hành mới Với các đặc tính đó, chứng khoán được xem là các tài sản tài chính mà giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị kinh tế cơ bản của các quyền của chủ
sở hữu đối với tổ chức phát hành
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ cấp (Primary Market) hay thị trường thứ cấp (Secondary Market), tại Sở giao dịch (Stock Exchange) hay thị trường giao dịch qua quầy (Over - the Counter Market), ở thị trường giao ngay (Spot Market) hay thị trường có kỳ hạn (Future Market)
1.1.2 Vai trò của thị trường chứng khoán
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực với sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (W TO), của Liên minh Châu Âu, của các khối thị trường chung, đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triển kinh tê với tốc độ và hiệu quả cao Thực tê
3
Trang 13T hứ n hất, thị trường chứng khoán, với việc tạo ra các công cụ có tính thanh
khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế
T hứ h a i, thị trường chứng khoán góp phần thực hiện tái phân phối công bằng
hơn thông qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công chúng, giải toả sự tập trung quyền lực kinh tê của các tập đoàn, song vẫn tập trung vốn cho phát triển kinh tế Việc tăng cường tầng lớp trung lưu trong xã hội, tăng cường sự giám sát của xã hội đối với quá trình phân phối đã giúp nhiều nước tiến xa hơn tới một
xã hội công bằng và dân chủ Việc giải toả tập trung quyền lực kinh tế cũng tạo điều kiện cạnh tranh công bằng hơn qua đó tạo hiệu quả và tăng trưởng kinh tế
T h ứ b a , thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu
và quản lý doanh nghiệp Khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên, môi trường kinh doanh trở nên phức tạp hơn nhu cầu về quản lý chuyên trách cũng tăng theo Thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc tiết kiệm vốn và chất xám, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà Nước Cơ chế thông tin hoàn hảo tạo khả năng giám sát cao của TTCK đã làm giảm tác động của các tiêu cực trong quản lý, tạo điều kiện kết hợp hài hoà giữa lợi ích của chủ sở hữu, nhà quản lý và những người làm công
T hứ tư, hiệu quả của quốc tế hoá thị trường chứng khoán Việc mở cửa thị
TTCK làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế Điều này cho phép các công ty có thể huy động nguồn vốn rẻ hơn, tăng cường đầu tư từ nguồn tiết kiệm bên ngoài, đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế và mở rộng các cơ hội kinh doanh của các công ty trong nước
T h ứ n ăm , thị trường chứng khoán tạo cơ hội cho Chính Phủ huy động các
nguồn tài chính mà không tạo áp lực về lạm phát, đổng thời tạo các công cụ cho việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính Phủ
T h ứ s á u , thị trường chứng khoán cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu
kỳ kinh doanh trong tương lai Việc thay đổi giá chứng khoán có xu hướng đi trước
Trang 14chu kỳ kinh doanh cho phép Chính Phủ cũng như các công ty đánh giá kế hoạch đầu
tư cũng như việc phân bổ các nguồn lực của họ TTCK cũng tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế
Ngoài những tác động tích cực trên đây, TTCK cũng có những tác động tiêu cực nhất định Thị trường chứng khoán hoạt động trên cơ sở thông tin hoàn hảo Song ở các thị trường mới nổi, thông tin được chuyển tải tới các nhà đầu tư không đầy đủ và không giống nhau Việc quyết định giá cả, mua bán chứng khoán của các nhà đầu tư không dựa trên cơ sở thông tin và xử lý thông tin Như vậy, giá cả chứng khoán không phản ánh giá trị kinh tế cơ bản của công ty và không trở thành cơ sở để phân phối một cách có hiệu quả các nguồn lực
Một số tiêu cực khác của TTCK như hiện tượng đầu cơ, hiện tượng xung đột quyền lực làm thiệt hại cho quyền lợi của các cổ đông thiểu số, việc mua bán nội gián, thao túng thị trường làm nản lòng các nhà đầu tư và như vậy, sẽ tác động tiêu cực tới tiết kiệm và đầu tư Nhiệm vụ của các nhà quản lý thị trường là giảm thiểu các tiêu cực của thị trường nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư và đảm bảo cho tính hiệu quả của thị trường
Như vậy, vai trò của TTCK được thê hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau Song vai trò tích cực hay tiêu cực của thị trường chứng khoán có thực sự được phát huy hay hạn chế phụ thuộc đáng kể vào các chủ thể tham gia thị trường
1.1.3 C ác chủ thê th am gia thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một thực thể phức tạp mà ở đó có sự tham gia của rất nhiều chủ thể khác nhau Các chủ thể này có thể tham gia với mục đích huy động vốn, đầu tư vốn, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, hay quản lý Nhà Nước
1.1.3.1 Chính Phủ
Chính Phủ tham gia vào thị trường chứng khoán với hai tư cách Thứ nhất,
Chính Phủ với tư cách là người tổ chức và quản lý thị trường mà đại diện ở đây là
Uỷ ban chứng khoán Nhà Nước, cơ quan quản lý Nhà Nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Uỷ ban chứng khoán Nhà Nước tổ chức, hướng dãn và quản lý các thị trường chứng khoán, đổng thời soạn thảo các văn bản pháp luật về chứng
5
Trang 15khoán và thị trường chứng khoán để trình các cấp có thẩm quyền xem xét quyết định, cũng như tổ chức và hướng dẫn thực hiện các văn bản đó.
Ngoài Uỷ ban Chứng khoán Nhà Nước, các co quan quản ]ý Nhà Nước khác như Ngân hàng Nhà Nước, Bộ Tài chính Các bộ chủ quản cũng có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý đối với các thành viên tham gia thị trường
Chẳng hạn Ngân hàng Nhà Nước, cơ quan quản lý Nhà Nước trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng có nhiệm vụ quản lý, hướng dẫn hoạt động của các NHTM và tổ chức tín dụng khác, bao gồm cả các hoạt động của các tổ chức này trên thị trường chứng khoán Đồng thời, Ngân hàng Nhà Nước có thể làm đại lý phát hành trái phiếu, tín phiếu Chính Phủ Sự phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà Nước trong hoạt động quản lý thị trường, quản lý các thành viên có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn cho hoạt động của thị trường
Thứ hai, Chính Phủ tham gia thị trường như là một nhà phát hành và kinh
doanh chứng khoán Để tài trợ cho các dự án đầu tư hoặc chi tiêu dùng, Chính Phủ
có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn Trái phiếu Chính Phủ, Tín phiếu Kho Bạc là loại hàng hoá chủ đạo của TTCK Ngân hàng Nhà Nước có thể tham gia thị trường khi sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để thực thi chính sách tiền tệ Chính Phủ cũng có thể tham gia thị trường cổ phiếu khi cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà Nước hoặc muốn tham gia quản lý, nắm quyền kiểm soát các doanh nghiệp
Vai trò của Chính Phủ đối với sự hình thành và phát triển TTCK là rất quan trọng, đặc biệt là đối với những thị trường mới nổi như TTCK ở Việt Nam
1.1.3.2 C á c d o a n h n g h iệp
Các doanh nghiệp là chủ thể quan trọng trên thị trường chứng khoán Các doanh nghiệp cung cấp các loại hàng hoá quan trọng cho thị trường chứng khoán
Cổ phiếu và Trái phiếu doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao hơn Trái phiếu Chính Phủ
và là một công cụ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Các các công ty cổ phần có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu để thu hút vốn trên thị trường Công ty có thể tự mình phát hành CK hoặc phát hành thông qua đại lý hoặc bảo lãnh phát hành
Phát triển hoạt động phát hành chứng khoán của các doanh nghiệp sẽ đa dạng hoá các công cụ đầu tư, đồng thời tạo điều kiện phát triển các dịch vụ cho các TGTC
*
ệ
6
Trang 16nhu nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành, nghiệp vụ ngân hàng tín thác, nghiệp vụ tư vấn phát hành.
Đê thực hiện nghiệp vụ đầu tư và nghiệp vụ ngân quỹ, các doanh nghiệp có thể tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường Khi thực hiện nghiệp vụ ngân quỹ, doanh nghiệp chủ yếu mua bán các chứng khoán có độ thanh khoản cao, ngược lại, khi thực hiện nghiệp vụ đầu tư chứng khoán, doanh nghiệp thường lựa chọn một danh mục đầu tư đa dạng, bao gồm các loại chứng khoán khác nhau, với các mức độ rủi ro khác nhau
Trong thời gian qua, thị trường cũng ghi nhận một hoạt động khác của doanh nghiệp, đó là hoạt động mua bán chứng khoán nhằm thâu tóm và sáp nhập doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh chứng khoán của các doanh nghiệp làm phát sinh nhu cầu môi giới, tư vấn, thanh toán, quản lý danh mục đầu tư, tạo điều kiện phát triển hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường
1.1.3.3 C ác n h à đầu tư c á t h ể
Cấc nhà đầu tư cá thể là các cá nhân và các hộ gia đình Họ mua bán chứng
khoán nhằm mục đích kiếm lời và qua đó, một lượng tiết kiệm khổng lồ được huy động cho phát triển kinh tế Các nhà đầu tư có thể tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các nhà đầu tư có tổ chức, các trung gian tài chính Hoạt động kinh doanh CK của các nhà đầu tư cá thể tạo ra tính sôi động của thị trường, đồng thời tạo điều kiện để các trung gian tài chính phát triển các dịch vụ hỗ trợ thị trường
1.1.3.4 C á c trun g g ia n tài ch ín h
Các trung gian tài chính là một chủ thể quan trọng của thị trường chứng khoán, với tư cách là nhà phát hành chứng khoán, nhà kinh doanh chứng khoán và là thành viên hỗ trợ cho hoạt động của thị trường qua các nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành, tư vấn và môi giới đầu tư, cho vay chứng khoán và cho vay để mua chứng khoán, thanh toán và quản lý chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư và quản lý quỹ đầu tư Sự tham gia của các trung gian tài chính thực sự thúc đẩy phát triển thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng
7
Trang 171.2 H OẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRU N G GIAN T À I CHÍNH T R Ê N
TH Ị TRƯ Ờ N G CHỨNG KHOÁN
1.2.1 K hái niệm trung gian tài chính
Như chúng ta đã biết, chức năng cơ bản của thị trường tài chính là dẫn vốn từ những người có vốn sang những người cần vốn Các thành viên quan trọng của hệ thống tài chính bao gồm các tổ chức kinh tế; Chính Phủ; các hộ gia đình; Chính Phủ, các
tổ chức và cá nhân nước ngoài Sự chuyển dịch vốn này được thực hiện theo sơ đồ 1.1
#
ệ
8
Cách thức thứ hai là dẫn vốn gián tiếp, thông qua các TGTC Các trung gian tài chính như các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng khác, các tổ chức bảo hiểm và các TGTC khác có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tích tụ, tập trung và phân phối vốn trong nền kinh tế, đồng thời, các tổ chức này cũng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính như các dịch vụ đại lý, bảo lãnh,
Trang 18là phát hành các công cụ tài chính để thu hút vốn Mức chênh lêch mà người trung gian nhận được giữa lãi suất cho vay (hay lợi tức đầu tư) với lãi suất huy động vốn chính là chi phí trung gian hay hoa hồng trung gian.
Trên TTCK, trung gian tài chính là các tổ chức tài chính cho các khách hàng vay hoặc mua các chứng khoán trên thị trường đồng thời cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng, từ việc cung cấp các phương tiện thanh toán, bảo quản tài sản, tư vấn, môi giới đên các dịch vụ bảo hiểm v.v cho các nhà đầu tư Trung gian tài chính nắm giữ các giấy nhận nợ được phát hành bởi những người đi vay (Chứng khoán sơ cấp) và đồng thời bán các giấy nhận nợ của chính nó (Chứng khoán thứ cấp) cho những người tiết kiệm Các NHTM tham gia vào TTCK với tư cách là nhà đầu tư nhà phát hành, tổ chức thanh toán, là người cho vay cầm cố và là NH lưu ký, NH giám sát Các CTCK, công ty quản lý quỹ —TGTC riêng có của TTCK cung cấp một danh mục đa dạng các dịch vụ tài chính, bao gồm cả dịch vụ môi giới CK; tự doanh CK; bảo lãnh phát hành CK thuộc khu vực công và khu vực tư nhân, trợ giúp trong lĩnh vực họp nhất và sáp nhập các công ty; tư vấn đầu tư CK; dịch vụ tư vấn tài chính; quản lý danh mục đầu tư C K
Việc nêu ra định nghĩa về trung gian tài chính trên TTCK chỉ có ý nghĩa tương đối Bởi lẽ, các trung gian tài chính đã và đang phát triển theo xu hướng đa năng, cung cấp đa dạng các sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng
1.2,2 Sự tham gia của cá c tru n g gian tài chính trên thị trường chứng khoán -
M ột tất yếu khách quan.
Tại sao các trung gian tài chính có vai trò cực kỳ quan trọng trên thị trường chứng khoán? Điều này đã được Frederic s Mishkin lý giải rất thành công từ viêc
Trang 19nghiên cứu cấu trúc thị trường tài chính Mỹ giai đoạn 1970 đến 1985 Ông nhận thấy, cổ phiếu không phải là công cụ huy động vốn quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp Mỹ, đổng thời, việc phát hành những CK có thể bán được không phải
là biện pháp hàng đầu trong các biện pháp huy động vốn
Các trung gian tài chính có vai trò quan trọng đối với việc huy động vốn của các doanh nghiệp Khoảng 2/3 lượng vốn huy động của các doanh nghiệp Mỹ trong giai đoạn này là đi vay từ các NHTM Thậm chí, các TGTC nắm giữ tới 95% lượng trái phiếu doanh nghiệp và tới 50% lượng cổ phiếu mới phát hành Điều này nói lên rằng, chỉ có các doanh nghiệp hàng đầu mới có thể huy động trực tiếp và các ngân hàng là nguồn vốn quan trọng nhất đối với các DN
TTCK được xem là kênh dẫn vốn trực tiếp cho các tổ chức phát hành, tuy vậy, các tổ chức tài chính trung gian cũng có một vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển và tăng tính hiệu quả của thị trường Điều này được lý giải bởi chi phí giao dịch và sự kiểm soát vấn đề thông tin không cân xứng, sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức
TGTC có thể giảm chi phí giao dịch từ việc tiết kiệm do quy mô Với lợi thế chuyên môn hoá, các trung gian tài chính có thể giảm chi phí cho việc thu thập và
xử lý thông tin từ đó, chi phí thông tin trên một đơn vị giao dịch sẽ nhỏ hơn so với chi phí loại này của cá nhân một nhà đầu tư Các trung gian tài chính cũng tiết kiệm các chi phí giao dịch khác như chi phí luật sư, chi phí về kv thuật
Các trung gian cũng có thể tiết kiệm được các khoản chi phí do tận dụng khai thác triệt đê cơ sở vật chất, nhân lực trong việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các nhà đầu tư Trên cơ sở sô lớn, các trung gian có thể dễ dàng đa dạng hoá đầu tư điều
mà một nhà đầu tư cá thể khó có thể thực hiện được
Việc tăng cường hoạt động của các trung gian tài chính cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc giám sát thị trường Sau khủng hoảng tài chính năm 1986-
1987 Chính Phủ Anh và Chính Phủ Mỹ đã phải xem xét lại vai trò của các trung gian tài chính trên TTCK Các điều kiện pháp lý dường như đã nới lỏng hơn, tạo điều kiện đê các trung gian tham gia vào thị trường, đặc biệt là các điều kiện cho
#
10
Trang 20tính và sáp nhập công ty.
Đặc biệt, các thị trường mới nổi có hệ thống luật pháp chưa hoàn thiện, môi trường đầu tư có rủi ro cao vốn và kiến thức của các nhà đầu tư rất hạn chế nên việc tăng cường sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường có một ý nghĩa rất quan trọng, quyết định tính hiệu quả và sự phát triển của thị trường Lợi thế của các TGTC được thể hiện trong các hoạt động trên thị trường chứng khoán
1.2.3 H oạt động của cá c tru n g gian tài chính trên thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán là một thực thể phức tạp, ở đó có sự tham gia của rất nhiều đối tượng khác nhau, với các mục đích khác nhau Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán được chia thành hai nhóm
Thứ nhất, các trung gian tài chính phát hành các chứng khoán nhằm huy
động vốn cho chính họ và thực hiện mua bán chứng khoán với tư cách là nhà đầu tư chứng khoán
Thứ hai, trung gian tài chính cung cấp các dịch vụ hỗ trợ thị trường qua các
nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh chứng khoán, tư vấn, môi giới, quản lý danh mục đầu tư
và quản lý quỹ đầu tư, thanh toán và lưu ký chứng khoán, cho vay
Hoạt động của các TGTC trên thị trường chứng khoán là khác nhau, phụ thuộc vào quy định của luật pháp từng nước Trên thế giới tổn tại ba mô hình cơ bản:
Thứ nhất, m ô hình ngân hàng đ a năng toàn phần Trong mô hình này, không
có bất kỳ sự tách biệt nào giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán Các ngân hàng đa năng được phép cung cấp đầy đủ các dịch vụ: ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm Mô hình này được áp dụng tại Cộng hoà Liên bang Đức, các nước thuộc Bắc Âu, Hà Lan, Thuỵ Sỹ và áo
Mô hình ngân hàng đa năng toàn phần cho phép các TGTC tận dụng triệt để các lợi thế về nhân lực, vật lực để cung cấp các dịch vụ tổng hợp cho khách hàng Việc đa dạng hoá các dịch vụ tài chính cũng cho phép các trung gian tài chính đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, san sẻ rủi ro giữa các lĩnh vực đầu tư, tăng khả năng chống đỡ của các trung gian tài chính trước các biến động kinh tế Tuy vậy, hoạt
Trang 21động ngân hàng đa năng gây khó khăn cho công tác quản lý thị trường và ảnh hưởng tới việc kiểm soát khả năng thanh toán của hệ thống ngân hàng.
Thứ hai, m ô hình ngân hàng đ a năng một phần Trong mô hình này các ngân
hàng muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập các công ty con, có tư cách pháp nhân độc lập do vậy loại bỏ được nhược điểm của mô hình đa năng toàn phần, tạo
ra sự độc lập tương đối giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán Mô hình đa năng một phần được áp dụng tại Vương quốc Anh, Canada và
úc Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là tạo ra sự chổng chéo về tổ chức, làm giảm hiệu quả hoạt động của các trung gian tài chính
Thứ b a, m ô hình chuyên doanh Mô hình này thể hiện sự phân biệt có tính
pháp lý giữa hai ngành ngân hàng và chứng khoán Hoạt động kinh doanh chứng khoán do các công ty chứng khoán thực hiện và các ngân hàng thương mại không được phép kinh doanh chứng khoán Mô hình này được áp dụng tại Mỹ, Nhật Bản
Tuy nhiên, mô hình chuyên doanh tỏ ra không còn phù hợp trước xu thế phát triển các tổ chức tài chính theo hướng đa năng Hiện nay, các nước áp dụng mô hình chuyên doanh cũng đang chuyển sang áp dụng mô hình đa năng một phần bằng cách nới lỏng các điều kiện để cho phép các ngân hàng tham gia TTCK
Các phân tích trên cho thấy, mỗi mô hình đều có những ưu nhược điểm riêng
và không có mô hình nào là tối ưu đối với một quốc gia Việc lựa chọn mô hình hoạt động của các trung gian tài chính trên TTCK phụ thuộc vào quan điểm của các nhà quản lý thị trường, vào sự phát triển của các TGTC và phụ thuộc vào sự phát triển của TTCK Cho dù theo mô hình nào, hoạt động của các TGTC trên TTCK bao gồm các hoạt động sau:
1.2.3.1 H o ạ t đ ộn g p h á t h à n h chứ n g k h o á n
Trung gian tài chính trước hết là một doanh nghiệp và TTCK được xem là một kênh dẫn vốn quan trọng đối với loại hình doanh nghiệp đặc biệt này Luật pháp từng nước có quy định khác nhau, song về cơ bản, các TGTC có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư để huy động vốn trên thị trường
12
Trang 22Việc phát hành chứng khoán của các trung gian tài chính chịu sự điều tiết của nhiều luật khác nhau như Luật Chứng khoán Luật Doanh nghiệp Luật Ngân hàng
và Các tổ chức tín dụng Luật Kinh doanh bảo hiểm
Các NHTM CP các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính, công ty chứng khoán thường phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ chuyển đổi, trong khi
đó các quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ tương trợ thị trường tiền tệ có thể phát hành cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư để huy động vốn
Các chứng khoán do các TGTC phát hành thường có độ hấp dẫn cao đối với các nhà đầu tư do uy tín của các trung gian tài chính và thường có tính thanh khoản cao hơn so với trái phiếu, cổ phiếu của các doanh nghiệp khác phát hành
Quỹ đầu tư là một loại hình TGTC quan trọng của thị trường chứng khoán, được hình thành nhằm cung cấp cho các nhà đầu tư cá thể những danh mục đầu tư trọn gói Loại trung gian tài chính này đã xuất hiện từ lâu trên thị trường chứng khoán, nhưng mới chỉ thực sự phát triển từ những thập niên 50 60 của thế kỷ X X Bằng cách phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư các trung gian tài chính này tích tụ, tập trung những lượng vốn nhỏ lẻ từ các nhà đầu tư thành những lượng vốn khổng lồ để đầu tư chứng khoán một cách chuyên nghiệp
Với tính chất chuyên nghiệp, với uy tín cao trên thị trường tài chính, hoạt động phát hành chứng khoán của các TGTC có nhiều lợi thê hơn các doanh nghiệp thông thường khác, do đó, thường có khối lượng huy động lớn và chi phí vốn thấp hơn Các TGTC cũng là những tổ chức tiên phong trong việc sáng tạo ra các công cụ huy động mới có tính hấp dẫn cao Các trung gian tài chính cũng được xem là đối tượng huy động vốn quan trọng trên TTCK quốc tế
Hoạt động huy động vốn là điều kiện quan trọng để đáp úng các nhu cầu cho các hoạt động của các trung gian tài chính, trong đó có hoạt động kinh doanh chứng khoán
1 2 3 2 H o ạ t đ ộ n g k i n h d o a n h c h ứ n g k h o á n
Với tư cách là nhà đầu tư có tổ chức, hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính được xem là yếu tố trợ giúp cho việc tăng chất lượng và hiệu quả của thị trường Bởi lẽ, hoạt động kinh doanh chứng khoán của các TGTC có tính chuyên nghiệp cao có quy mô lớn và có tính đa dạng hoá cao
Trang 23Tuỳ theo tính chất của từng loại hình TGTC hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính cũng khác nhau Tuy nhiên có thể chia hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính thành hai nhóm: Hoạt động ngân quỹ và hoạt động đầu tư chứng khoán.
Trong hoạt động ngân quỹ, các trung gian tài chính thường đầu tư ngắn hạn vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao, chủ yếu nhằm dự trữ thứ cấp cho nhu cầu thanh toán, nhu cầu dự phòng và nhu cầu tích trữ Các chứng khoán thường được lựa chọn cho mục đích này là tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể được chuyển nhượng
Khác với hoạt động ngân quỹ, hoạt động đầu tư chứng khoán của các trung gian tài chính tập trung vào các chứng khoán có tính thanh khoản thấp hơn và với thời hạn đầu tư dài hơn Chiến lược đầu tư CK của các TGTC được xây dựng với các danh mục đầu tư đa dạng: Danh mục đầu tư trái phiếu; danh mục đầu tư cổ phiếu; danh mục đầu tư hỗn hợp
Các loại trung gian tài chính khác nhau thường lựa chọn các danh mục đầu tư khác nhau, với các mức độ rủi ro khác nhau: Các ngân hàng thương mại, các tổ chức bảo hiểm và các tổ chức tín dụng khác thường đầu tư nhiều hơn vào trái phiếu Chính Phủ; Các quỹ đầu tư chứng khoán đầu tư vào các chứng khoán được giao dịch trên thị trường tập trung; Các quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tư vào chứng khoán do các doanh nghiệp mới phát hành, thường được giao dịch trên thị trường OTC
Hoạt động đầu tư chứng khoán của các trung gian tài chính không chỉ vì mục đích tìm kiếm thu nhập qua tăng giá chứng khoán mà còn vì mục đích thôn tính và sáp nhập Lịch sử đã ghi nhận sự bành trướng thế lực của các trung gian tài chính hàng đầu trên thê giới, như việc bành trướng vào lĩnh vực bảo hiểm và môi giới chứng khoán của các ngân hàng Mỹ, qua việc thâu tóm các doanh nghiệp loại này để hình thành các công ty sở hữu ngân hàng (Bank Holding Company), hay việc hợp nhất của các ngân hàng để tạo nên các tập đoàn tài chính lớn Các quỹ đầu tư hàng đầu, với số vốn hàng trăm tỷ Đô la Mỹ, đang trực tiếp đầu tư vào nhiều nước trên thế giới
Hoạt động kinh doanh chứng khoán của các TGTC ngày càng phát triển Sự phát triển của TTCK cùng với sự xuất hiện và phát triển thị trường các công cụ phái sinh đã
#
ệ
14
Trang 24Các trung gian tài chính thường kết hợp với nhau tạo nên một tập đoàn bảo lãnh phát hành chứng khoán, trong đó, một TGTC có vai trò tổ chức đầu mối Việc thành lập các tập đoàn bảo lãnh sẽ giúp các tổ chức bảo lãnh phát hành san sẻ rủi ro, tận dụng lợi thế của tổ chức đầu mối và các tổ chức thành viên và có thể bảo lãnh phát hành lượng chứng khoán lớn vượt quá khả năng cho phép của một tổ chức bảo lãnh.
Có năm hình thức bảo lãnh phát hành là bảo lãnh với cam kết chắc chắn, bảo lãnh theo phương thức dự phòng, bảo lãnh với cố gắng cao nhất, bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không và bảo lãnh theo phương thức tối thiểu-tối đa Hình thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất có nghĩa là tổ chức bảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu không phân phối hết thì sẽ trả lại cho tổ chức phát hành phần còn lại.Trường hợp này, tổ chức phát hành có thể gặp rủi ro do không huy động đủ vốn kinh doanh
Điều này khác hẳn với hình thức bảo lãnh cam kết chắc chắn vì trong hình thức này tổ chức bảo lãnh sẽ cam kết mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù
có phân phối được hết chứng khoán hay không Trong trường hợp bảo lãnh cam kết tất cả hoặc không, nếu số chứng khoán được phân phối chưa đạt giới hạn tối thiểu đã được xác định trước thì toàn bộ số chứng khoán đã hoặc chưa phân phối đều bị huỷ
bỏ Còn bảo lãnh theo phương thức dự phòng là việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ
Trang 25mua nốt số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra công chúng Tại các nước đang phát triển, khi các tổ chức bảo lãnh còn non trẻ và chưa có tiềm lực lớn thì phương thức bảo lãnh phát hành dự phòng lại là phương thức bảo íãnh thông dụng nhất Cuối cùng, bảo lãnh theo phương thức tối thiểu- tối đa là phương thức trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh bán tất cả hoặc không Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định (mức sàn) Vượt trên mức ấy, tổ chức bảo lãnh được tự do chào bán chứng khoán đến mức tối đa quy định (mức trần) Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ.
Ngoài ra, các trung gian tài chính còn tham gia hoạt động đại lý, báo lãnh phát hành trái phiếu của Chính Phủ Các TGTC là thành viên chủ yếu của thị trường đấu thầu Tín phiếu, Trái phiếu Chính Phủ và là những nhà đầu tư lớn đảm nhiệm vai trò nhà tạo thị trường đối với các chứng khoán này Hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán của các trung gian tài chính có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán nói chung và sự phát triển của chính bản thân các trung gian tài chính nói riêng
1 2 3 4 M ô i g i ớ i c h ứ n g k h o á n
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng Nghề môi giới xuất hiện cùng với sự xuất hiện của thị trường chứng khoán và thường được xem là đặc quyền của các CTCK Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các trung gian tài chính, nhiều tổ chức khác cũng tham gia vào thị trường môi giới như các ngân hàng thương mại, các công
ty bảo hiểm, các công ty tài chính
Sự tham gia ngày càng nhiều hơn của các trung gian trong hoạt động môi giới làm tăng tính cạnh tranh, và trên cơ sở đó, làm giảm chi phí trong giao dịch chứng khoán cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới Việc thực hiện nguyên tắc trung gian của thị trường chứng khoán (Mua bán các chứng khoán thông qua môi giới) nhằm đảm bảo cho các nhà đầu tư tiết kiệm chi phí về giao dịch cũng như đảm bảo an toàn cho các nhà đầu tư và cho cả thị trường
16
Trang 26Có ba loại môi giới là: môi giới lập giá (Market Makers), môi giới thông thường (Brokers) và môi giới "hai đô la" (“Two dollar” Brokers) Chức năng của môi giới lập giá là duy trì một thị trường liên tục đối với loại chứng khoán được phụ trách Để làm được điều đó môi giới lập giá thực hiện hai nhiệm vụ: Môi giới chứne khoán hưởng hoa hồng và kinh doanh chứng khoán Trong vai trò là nhà môi giới, môi giới lập giá không được cạnh tranh với các nhà đầu tư Điều này có nghĩa là khi có người mua và người bán nhà môi giới phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước
Nhiệm vụ kinh doanh chứng khoán của môi giới lập giá được thực hiện khi chỉ có người mua mà không có người bán hoặc ngược lại Khi đó để tạo thị trường liên tục, nhà môi giới phải đóng vai trò là người bán hoặc người mua chứng khoán Trong trường hợp khác, thị trường có cả người mua và người bán, song xuất hiện khoảng chênh lệch giá giữa bên bán và bên mua mà không thể dàn xếp, nhà môi giới phải mua chứng khoán của người bán và bán lại cho người mua Điều này có thể là thiệt thòi cho nhà môi giới, song cần lưu ý, chức năng của họ là duy trì một thị trường liên tục và khi đảm bảo được điều này, anh ta đã được nhận đền bù thoả dáng
từ hoa hổng của cả bên bán và bên mua chứng khoán
Khác với môi giới lập giá, môi giới thông thường chỉ được thực hiện đơn chức năng Họ có thể là môi giới phần mua hoặc môi giới phần bán chứng khoán Môi giới "hai đô la" là loại môi giới độc lập, họ chỉ được thực hiện các công việc theo uỷ quyền của hai loại môi giới trên Sở dĩ họ có tên gọi như vậy bởi vì trước kia họ được hưởng 2 Đô la Mỹ cho mỗi tập hợp lệnh mà họ thực hiện Các nhà môigiới có thể là các nhà môi giới độc lập hoặc là thành viên của các công ty môi giới, song họ đều phải là thành viên và chịu sự quản lý chặt chẽ của Hiệp hội môi giới chứng khoán
Trong hoạt động môi giới, các trung gian tài chính được hưởng tiền hoa hồng
từ phía khách hàng, thường được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng giá trị giao dịch Luật pháp từng nước quy định khác nhau về tiền hoa hồng Một số nước vần duy trì tỷ lệ hoa hồng cố định như Thái lan (0,5% ), Indonesia (0.5% ), Trung Quốc (1,5% ), Pakixtan (1,5% ) ở một số nước khác như Anh và Mỹ,
tỷ lệ hoa hổng được xác định trên cơ sở thương lượng giữa công ty chứng khoán vói các nhà đầu tư Điều này làm tăng sự cạnh tranh giữa các tổ chức môi giới trong việc giảm chi phí và tăng chất lượng-dịch vụ
HỌCỹlỆN NGÂN HÀNG
TRUNG TÂM THÔNG TIN ■ THƯ VIỆN
T H U V I Ệ N
Trang 27Có hai hình thức tư vấn là tư vấn trực tiếp và tư vấn gián tiếp Hình thức tư vấn trực tiêp được thực hiện khi các TGTC phân tích, xử lý các tình huống đầu tư của chính khách hàng, từ đó có những khuyến nghị trực tiếp trên cơ sở một khoản lệ phí tư vấn thoả thuận Với cách thức thứ hai, các TGTC có thê chia sẻ các thông tin của mình thông qua việc phát hành các báo cáo phân tích trên các tạp chí, sách báo chuyên đề Việc phát hành các tài liệu này làm tăng uy tín và tạo thu nhập cho các trung gian tài chính.
Có thể nói, tất cả các trung gian tài chính đều tham gia hoạt động này, bằng cách trực tiêp hay gián tiếp Các trung gian tài chính phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của những lời tư vấn của mình đối với khách hàng và trong nhiều trường hợp hoạt động tư vấn phải được quản lý và cấp phép Tuy nhiên, trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư vẫn phải tự chịu trách nhiệm về các quvết định đầu tư của mình
1 2 3 6 Q u ả n l ý d a n h m ụ c đ ầ u t ư
Quản lý danh mục đầu tư là hoạt động quản lý tài sản của khách hàng thông qua việc mua, bán và nắm giữ các chứng khoán theo uỷ thác và vì quyền lợi của khách hàng Hoạt động này có thể được thực hiện bởi các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại Trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư, các trung gian tài chính phải đảm bảo tách biệt giữa tài sản của khách hàng với tài sản của mình Việc mua, bán, nắm giữ các chứng khoán chỉ được thực hiện khi có sự uỷ thác hoặc theo lệnh của khách hàng
Tuỳ theo mức độ tín nhiệm của TGTC mà khách hàng có thê uỷ quyền một phần hoặc uỷ quyền toàn bộ đối với việc quản lý tài sản Định kỳ, hoặc theo yêu cầu
Trang 28của khách hàng, các TGTC phải gửi các bản sao kê về tình hình tài sản trong danh mục cho các khách hàng, đổng thời, không được tiết lộ các thông tin về tài sản của khách hàng ngoại trừ các trường hợp đạc biệt
Trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư, các trung gian tài chính sẽ nhận được lệ phí quản lý tài sản từ phía khách hàng Hoạt động này cũng góp phần tăng
uy tín và phát triển các hoạt động khác như hoạt động lưu ký, thanh toán, tư vấn Tuy nhiên, các TGTC phải tôn trọng và ưu tiên quyền lợi của khách hàng trước quyền lợi của bản thân, và chỉ có vậy, các trung gian tài chính mới tạo lòng tin của công chúng đầu tư
1 2 3 7 Q u ả n l ý q u ỹ đ ầ u t ư c h ứ n g k h o á n
Quỹ đầu tư chứng khoán được hình thành từ vốn góp của các nhà đầu tư mà tài sản chủ yếu của quỹ là các chứng khoán được đầu tư theo các mục tiêu đã được xác định trong điều lệ quỹ Các quỹ này có thể được tổ chức theo mô hình công ty hoặc mô hình tín thác Đây là loại hình đầu tư phát triển nhất, phổ biến đối với công chúng đầu tư Do lợi ích từ chuyên môn hoá, lợi thế từ quy mô và từ đa dạng hoá hoạt động đầu tư, các quỹ đầu tư có thể tăng tính an toàn và hiệu quả của hoạt động đầu tư chứng khoán
Ngày nay, các loại hình quỹ đầu tư phát triển rất đa dạng như quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital Funds); Quỹ đầu tư phát hành chứng chi theo mệnh giá cố định (Face-amount Certificate Companies); Quỹ tín thác đầu tư (Investment Trusts); Công ty đầu tư có quản lý (Management Investment Companies); Quỹ đầu tư cổ phiếu (Stock Funds); Quỹ đầu tư trái phiếu (Bond Funds); Quỹ đầu tư hỗn hợp (Hybrid Funds); Quỹ thị trường tiền tệ
Sự xuất hiện đa dạng các loại hình quỹ đầu tư với các chứng chỉ quỹ đầu tư
có các mức độ rủi ro khác nhau đã tạo nhiều cơ hội lựa chọn hơn đối với các nhà đầu
tư từ đó tăng mức hấp dẫn của thị trường đối với công chúng đầu tư Các quỹ này được uỷ thác cho các công ty quản lý quỹ quản lý
Các công ty quản lý quỹ là pháp nhân và phải được cấp phép và chịu sự quản
lý của Uỷ ban chứng khoán Các trung gian tài chính muốn thực hiện hoạt động quản lý quỹ đầu tư CK thường phải thành lập công ty thành viên Hoạt động quản lý
19
Trang 29quỹ đầu tư chứng khoán có thể mang lại một phần thu nhập đáng kể cho các công ty quản lý quỹ dưới dạng phí và các khoản thưởng theo kết quả hoạt động của quỹ Đồng thời, nó còn giúp các TGTC duv trì và phát triển mối quan hộ với các khách hàng của mình Điều này đã thúc dẩy các trung gian tài chính trong việc giành giật quyền được tham gia phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư.
Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ là tất yếu khách quan và là sản phẩm trực tiếp của quá trình phát triển sự phân công lao động xã hội đối với mọi thị trường tài chính.Phạm vi hoạt động của quỹ đầu tư.công ty quản lý quỹ đầu tư không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn phát triển trên phạm vi quốc tế - một trong những nhân tố của quá trình toàn cầu hóa thị trường tài chính
1 2 3 8 T h a n h t o á n v à l ư u k ỹ c h ứ n g k h o á n
Lưu ký chứng khoán là việc lưu giữ bảo quản chứng khoán của khách hàng
và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán Hoạt động này thường được các NHTM hoặc các CTCK thực hiện
Theo quy định của pháp luật, các nhà đầu tư muốn kinh doanh chứng khoán phải mở tài khoản thanh toán và tài khoản lưu ký chứng khoán và phải duy trì một mức tối thiểu trên tài khoản tại ngân hàng hoặc tại công ty chứng khoán Khi nghiệp
vụ mua bán phát sinh, các tổ chức này sẽ đảm nhận thanh toán hộ các nhà đầu tư qua hệ thống thanh toán bù trừ
Thực hiện nghiệp vụ thanh toán, các trung gian tài chính có thể làm tăng nguồn vốn và thu nhập của mình đồng thời có cơ hội để thực hiện các dịch vụ theo
uỷ quyền của khách hàng Cũng giống như nghiệp vụ lưu ký, nghiệp vụ thanh toán chứng khoán cũng giúp cho việc đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư và tăng tính
an toàn, tăng khả năng giám sát của thị trường
1 2 3 9 C á c h o ạ t đ ộ n g k h á c
Các trung gian tài chính cũng có thể tham gia hỗ trợ thị trường trong vai trò của ngân hàng giám sát, hoặc đại diện của những người sở hữu trái phiếu trong vai trò của ngân hàng tín thác, hay cho vay tiền hoặc cho vay chứng khoán, v.v Các hoạt động này có thể tạo thu nhập cho các trung gian tài chính, đổng thời phát triển quan hệ của họ đối với khách hàng
2 0
Trang 30T h ứ n h ấ t , q u á t r i n h p h á t t r ì ê n c ủ a c á c t r u n g g i a n t à i c h í n h t h e o h ư ớ n g
" N g à n h à n g đ a n ă n g ” Có thể nói, chức năng của các TGTC đã và đang có sự thay đổi đáng kể Trong khi các ngân hàng đang có xu thế mở rộng lĩnh vực kinh doanh hướng về kinh doanh bất động sản, môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tham gia các lĩnh vực bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới thì các tổ chức tài chính phi ngân hàng như các công ty tài chính, các công ty chứng khoán và các công ty bảo hiểm đều cô gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng Điều này xuất phát từ mong muốn đa dạng hoá các dịch vụ tài chính nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, do lợi tức kiếm được có thể cao hơn so với các khoản tiền gửi ngân hàng, các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư nhiều hơn vào TTCK Song đầu tư chứng khoán lại là lĩnh vực có rủi ro cao đòi hỏi kiến thức chuyên môn về đầu tư và khả năng đa dạng hoá đầu tư, trong khi đó, điều này lại không phải là dễ có đối với các nhà đầu tư riêng lẻ Các nhà đầu tư cần có những công
cụ đầu tư phù hợp và các dịch vụ tài chính kèm theo như các dịch vụ tư vấn, quản
lý, thanh toán
Chính sự xuất hiện của quỹ đầu tư chứng khoán đã nói lên xu thê đầu tư mới của công chúng đầu tư và các TGTC đều cô gắng thực hiện hoạt động kinhdoanh mới này ở Mỹ, giá trị tài sản của các quỹ tương hỗ đã tăng từ 47 tỷ Đô la
Mỹ cuối năm 1970 lên 62 tỷ Đô la Mỹ vào cuối năm 1980 và tới 609 tỷ Đô la Mỹ cuối năm 1990 Tương tự như vậy, giá trị các quỹ tương trợ thị trường tiền tệ đã tăng từ 76 tỷ Đô la Mỹ năm 1980 lên tới 499 tỷ Đô la Mỹ năm 1990, trong khi, năm 1970 người ta chưa biết đến sự xuất hiện của loại quỹ này
21
Trang 312 2
Chính sự phân chia thị trường đã cản trở hoạt động đầu tư của công chúng Chẳng hạn muốn kinh doanh chứng khoán, các nhà đầu tư phải thiết lập quan hệ với các CTCK song khi cần vay tiền để mua chứng khoán, họ lại phải tới gặp các nhà ngân hàng Tưong tự như vậy, các doanh nghiệp khi cần dịch vụ tín dụng hay thanh toán, họ tìm tới các NHTM, song cần bảo lãnh, đại lý phát hành chứng khoán, họ lại phải tới các CTCK hoặc ngân hàng đầu tư Việc phải tìm hiểu, xác định quan hệ với quá nhiều trung gian tài chính cho một mục đích đầu tư đã khiến họ mong muốn có một "siêu thị tài chính ” (Financial Department Stores),
ở đó họ có thể tìm được đầy đủ các dịch vụ và có thể giảm bớt chi phí cũng như thời gian cho hoạt động đầu tư
Mặt khác, sự gia tăng cạnh tranh trên thị trường tài chính buộc các trung gian tài chính nhanh chóng phát triển các dịch vụ mới, củng cố và mở rộng hoạt động về mặt địa lý Các TGTC không muốn khách hàng của mình chuyển sang các đối thủ cạnh tranh khác do không có đủ các dịch vụ cung cấp cho họ
Để tận dụng lợi thế hiện có, duy trì và phát triển quan hệ với khách hàng, tiết kiệm chi phí, các trung gian tài chính tìm mọi cách bành trướng thế lực sang các lĩnh vực mới Nguồn vốn do các ngân hàng Mỹ quản lý trong các quỹ tương hỗ đã đạt tới 15% tổng giá trị các quỹ, các ngân hàng đều tham gia ít nhiều vào các hoạt động bảo hiểm, môi giới CK, bảo lãnh Các "siêu thị tài chính" đã xuất hiện trong
kỷ nguyên hiện đại cả ở Mỹ, Canada, Anh, Đức, Pháp Các hoạt động cơ bản của ngân hàng đa năng được trình bày trên sơ đồ 1.2
T h ứ h ai, q u á trình q u ố c tê h o á thị trường tài chín h Chính quá trình này đã
buộc các trung gian tài chính phải cạnh tranh quyết liệt với các tổ chức tài chính nước ngoài Vào cuối những năm 80 của thế kỷ X X , các nhà quản lý TTCK Anh đã nhận thấy, một lượng lớn CK của họ đang rơi vào tay các nhà đầu tư nước ngoài và, nêu như nước Anh tiếp tục hạn chế các ngân hàng của mình tham gia vào thị trường chứng khoán, họ sẽ đánh mất vị trí là trung tâm tài chính lớn nhất Điều này đã buộc Chính Phủ Anh phải nới lỏng các điều kiện hoạt động của các trung gian tài chính qua cải cách có tên gọi "Big Bang"
Trang 32S o đ ồ 1 2 : N hữ n g h o ạ t đ ộn g c ơ bản củ a ngân h à n g đa n ăn g
Tương tự như vậy, để đối phó với sự cạnh tranh của các trung gian tài chính nước ngoài, đặc biệt là các tổ chức tài chính Nhật bản, Đức, Anh, Thuỵ sỹ, Chính quyền Mỹ đã phải tăng cường thực hiện quá trình hợp nhất các ngân hàng Số lượng các ngân hàng độc lập đã giảm và quy mô trung bình của một NH đã tăng đáng kể
Trong thập kỷ 80, số các ngân hàng có quy mô dưới 1 tỷ Đô la Mỹ đã giảm 1/3, số nhân viên giảm ít nhất 100.000 người Những vụ hợp nhất tiêu biểu như hợp
nhất giữa Chemical Bank và Chase Manhatan ở New York, hay hợp nhất giữa Bank
of America và Nations Bank Việc sáp nhập không chỉ làm tãng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng Mỹ mà còn giúp nó có cơ hội củng cố, mở rộng hoạt động về mặt địa lý
T h ứ b a, q u á trình p h i qu ản lý h o á thị trường tài chín h Điều này được ghi
nhận ở những thị trường tài chính lớn như Mỹ, Anh Australia, Canada, Nhật Bản
Xu hướng nới lỏng các điều kiện xuất phát từ chính yêu cầu phát triển của thị trường
và việc nhận thức đúng về vai trò của các trung gian tài chính
Ở Anh trước "Big Bang", SGD CK không cho phép các TGTC kinh doanh chứng khoán khi nó không phải là thành viên của sở Điều này đã bị chỉ trích
Trang 33o Mỹ, các ngân hàng được thực sự tham gia vào lĩnh vực kinh doanh chứng khoán từ việc xoá bỏ đạo luật Glass-Steagall Trong những năm 80, Cục dự trữ liên bang Mỹ đã phải cho phép một số ngân hàng lớn của Mỹ được quyền bảo lãnh phát hành chứng khoán, và tới tháng 9 năm 1990, ngân hàng J.P Morgan, ngân hàng đầu tiên của Mỹ, được quyền bảo lãnh phát hành cổ phiếu.
Tương tự như vậy, năm 1972, lần đầu tiên Cục dự trữ liên bang cho phép các chi nhánh công ty sở hữu ngân hàng thực hiện nghiệp vụ tư vấn đối với các quỹ tương hỗ Năm 1986, Fed đã cho phép các chi nhánh công ty sở hữu ngân hàng thực hiện nghiệp vụ tư vấn đầu tư và cung cấp các dịch vụ môi giới cho khách hàng Theo
dự luật cải cách quản lý do Bộ Tài chính Mỹ khởi xướng năm 1991, bảo lãnh phát hành chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, quản lý quỹ đầu tư có thể được thực hiện bởi các chi nhánh của công ty sở hữu ngân hàng Các chi nhánh này chịu
sự quản lý của Uv ban chứng khoán và ngoại hối Mỹ
Trong giai đoạn 97-98, quốc hội Mỹ đã tranh luận về Dự thảo Luật cạnh tranh dịch vụ tài chính và một số Dự thảo Luật khác có liên quan, trong đó đề cập tới việc xoá bỏ các rào cản trong việc thôn tính và sáp nhập lẫn nhau giữa các tổ chức tài chính và cho phép các tổ chức này thực hiện nghiệp vụ đa năng Các thảo luận này cũng xoay quanh vấn đề phân quvền quản lý giữa Uỷ ban chứng khoán và hối đoái Uỷ ban bảo hiểm Liên bang, Quv bảo hiểm Liên bang và Cục dự trữ Liên bang Tuy nhiên đối với các trung gian tài chính, các nới lỏng về quản lý là chưa đủ
và dẫn đến sự lãng phí do trùng lặp về quản lý và về vốn trong nội bộ các trung gian tài chính Họ lo sợ rằng, khả năng cạnh tranh của các TGTC Mỹ sẽ bị ảnh hưởng, trong khi, các trung gian tài chính của các nước khác đều có cơ hội cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính đa năng
Đứng trên giác độ quản lý Nhà Nước, việc đặt ra các quy định được lý giải là
để nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư và đảm bảo an toàn cho thị trường tài chính Quá trình tự do hoá tài chính chỉ có thể thực hiện được khi nền kinh tế nói
Trang 34chung, và bản thân các trung gian tài chính nói riêng, phát triển đến một giới hạn nhất định Các trung gian tài chính, vì quyền lợi của mình, mong muốn sớm đạt được tự do hoá tài chính Song đứng trên quan điểm bảo vệ thị trường, các nhà quản
lý muốn đặt hoạt động của các trung gian tài chính trong một khuôn khổ quy định Mâu thuẫn này sẽ được giải quyết dần dần theo quá trình phát triển của thị trường
Đôi với các thị trường mới nổi, với cơ sở kinh tê còn thấp kém sự kém phát triển của các trung gian tài chính, với nhiều kẽ hở về pháp luật và năng lực quản lý thấp của các cơ quan quản lý Nhà Nước, việc hạn chế các TGTC tham gia vào thị trường chứng khoán là cần thiết, đặc biệt là đối với tổ chức tài chính nước ngoài Tuy nhiên, sự hạn chế quá mức sẽ không triệt để tận dụng lợi thế vốn có của các trung gian tài chính, do đó, làm giảm tính hiệu quả của thị trường
T h ứ tư, sự h ỗ trọ p h á t triển thị trường củ a C hín h P hủ ở những thị trường
mới nổi, công chúng thiếu lòng tin đối với các TGTC và thị trường tài chính dễ bị tổn thương do các biến động của nền kinh tế Vì vậy, các Chính Phủ đã thực hiện các giải pháp nhằm hỗ trợ phát triển thị trường, nâng cao năng lực hoạt động của các trung gian tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại
Các giải pháp cơ bản được thực hiện như tăng hỗ trợ từ thuế, từ đầu tư của Chính Phủ: tái cấu trúc, sắp xếp, sáp nhập các ngân hàng: thúc đẩy phát triển các trung gian tài chính khác, tạo sức ép về cạnh tranh trên thị trường tài chính Hơn nữa nhằm thu hút công chúng đầu tư tham gia thị trường, các nước đều quan tâm phát triển các mô hình đầu tư đa dạng với các công cụ đầu tư có rủi ro thấp Đó chính là mô hình quỹ đầu tư hay quỹ tương hỗ
Hổng Kông đã rất thành công trong việc phát triển quỹ đầu tư Năm 1998, chỉ
có khoản 400.000 người đầu tư vào các quỹ (Chiếm khoảng 8% những người trưởng thành) Sau khi chính quyền Hổng Kông thành lập quỹ Hongkong Tracker Fund đã thu hút 180.000 người đăng ký mua chứng khoán, số người trưởng thành tham gia quỹ đã tâng gấp rưỡi, chiếm gần 10% dân số trưởng thành Hiện nay, các quỹ đầu tư của Hồng Kông quản lý 230 tỷ Đô la Mỹ giá trị chứng khoán, ở Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, tỷ lệ vốn hoá do các quỹ đầu tư quản lý cũng chiếm một tỷ lệ khá cao
Trang 35ưu đãi về thuế, thông qua các chương trình về thông tin đào tạo Những sự hỗ trợ này đã thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính vào thị trường và tăng tính hiệu quả của thị trường.
Tuy nhiên, sự tự do hoá tài chính quá mức đã góp phần tạo nên khủng hoảng tài chính trong khu vực thời gian qua Đây là bài học đối với các nước trong việc quản lý hoạt động của các trung gian tài chính
ký chứng khoán Với lợi thế về chuyên môn hoá trong lĩnh vực đầu tư, lợi thế nhờ quy mô, về thông tin, về san sẻ rủi ro, các TGTC đã góp phần tạo nên tính sôi động
và hiệu quả của thị trường
Kinh nghiệm thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên TTCK của các nước trên thế giới là bài học kinh nghiệm quý báu của các quốc gia đi sau trong việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán
Trang 36CHƯƠNG 2: THỤC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRUNG GIAN
TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1 CÁC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH Ở V IỆT NAM
Trong giai đoạn đổi mới đặc biệt là giai đoạn 1995 - 2000, Việt Nam đã tiến hành cải cách mạnh mẽ hệ thống tài chính Một cải cách quan trọng hàng đầu là chuyển hoạt động của hệ thống NH theo mô hình hệ thống ngân hàng hai cấp Việc tăng cường và hoàn thiện chức năng của Ngân hàng Trung ương đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu duy trì hệ thống tài chính vững mạnh và đáng tin cậy Hệ thống doanh nghiệp cũng được cải cách mạnh mẽ, tạo điều kiện mở rộng hoạt động của các TGTC Các trung gian tài chính phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, ngày càng trở nên đa dạng hơn bao gồm các NHTM Nhà nước, NHTM
cổ phần, công ty cho thuê tài chính, công ty tài chính, quỹ tín dụng trung ương, quỹ tín dụng khu vực, quỹ tín dụng nhân dán cơ sở, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh với nước ngoài, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ vv Trong khuôn khổ luận văn này, đề tài sẽ tập trung chủ yếu vào một số loại hình trung gian tài chính mới phát triển trong thời gian gần đây là các công ty chứng khoán, các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư
2.1.1 C ác công tv chứng khoán
Theo Luật Chứng khoán năm 2007, CTCK được tổ chức dưới hình thức công
ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp Vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK như sau:
■ Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam
■ Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam
■ Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam
■ Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam
Các công ty chứng khoán có thể thực hiện các nghiệp vụ môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán nếu đáp ứng các yêu cầu về vốn pháp
27
Trang 37định và các yêu cầu khác cho từng loại hình kinh doạnh Ngoài ra, CTCK còn được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác.
Trong thòi gian qua cùng với sự phát triển không ngừng về quy mô của TTCK Việt Nam, là sự lớn mạnh của các tổ chức trung gian, đặc biệt là các CTCK Quy mô và số lượng của các CTCK không ngừng tăng trưởng (Xem biểu đồ 2.1) Trong những năm 2001-2002, số lượng các CTCK khá ít nhưng đến năm 2006-2007
số lượng các CTCK tăng mạnh Sở dĩ có sự gia tăng này là do năm 2006-2007 là khoảng thời gian mà TTCK có sư phát triển vượt bậc, TTCK phát triển “nóng”, hầu hết các CTCK đã thành lập trước đó đều đạt được lợi nhuận cao Trước sự hấp dẫn đó, các ngân hàng, tập đoàn, công ty đua nhau thành lập CTCK
Biêu đồ 2.1: Sô lượng công ty chứng khoán qua các năm
*
ệ
2 8
Số lượng công ty chứng khoán đi vào hoạt động từ năm 2007 tăng gấp 3-4 lần
so với năm 2006, nhưng kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2007 của nhiều CTCK vẫn khá tốt Điển hình là các CTCK đã có thời gian hoạt động lâu như CTCK Sài Gòn (SSI) - lợi nhuận sau thuế đạt 668,5 tỷ đồng, CTCK ACB (ACBS) - lợi nhuận sau thuế đạt 668,5 tỷ đồng, CTCK Bảo Việt (BVSC) — lợi nhuận sau thuế đạt 156,8
tỷ đồng W .và một số CTCK tuy mới triển khai hoạt động nhưng không chịu lép vế trước CTCK đàn anh như: CTCK Ngân hàng Sài Gòn Thưomg tín (SBS) - lợi nhuận sau thuế đạt 125,2 tỷ đồng, CTCK Đại Việt - lợi nhuận sau thuế đạt 39,4 tỷ đổng,
Trang 38Biểu đồ 2.3: Nguồn vốn chủ sở hữu của các CTCK
SSI là CTCK có tốc độ tăng vốn chủ sở hữu nhanh nhất và lớn nhất; năm
2007 vốn chủ sở hữu đã tăng 317% so với năm 2006 cho phép SSI mở rộng thêm hai
Trang 39công ty con là Quản lý Quỹ SSI vào ngày 03/08/2007 và Quỹ tầm nhìn SSI vào 14/11/2007.
Sự ra đời của hàng loạt các CTCK đã góp phần đáp ứng được nhu cầu dịch
vụ cho sô lượng đông đảo nhà đầu tư đang ngày một gia tăng, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng và đảm bảo lợi ích cho khách hàng Đến cuối năm 2007, số lượng NĐT mở tài khoản giao dịch tại các CTCK thành viên đạt xấp xỉ 350.000 tài khoản (gấp 3,5 lần so với thời điểm cuối năm 2006), trong đó có hơn 8.000 tài khoản của NDDTNN (gấp 4 lần thời điểm cuối năm 2006)
B iểu đ ồ 2 4 : S ố lượng tài k h o ả n m ở tại c á c C T C K q u a c á c năm
Trang 40gian gần đây số lượng khách hàng đến đầu tư không đáng kể, khiến nhiều CTCK bị thâm hụt vốn sở hữu.
Để thu hút khách hàng trên thị trường, nhiều công ty đã mở rộng dịch vụ repo
và hạ phí C ó lẽ nóng bỏng hơn cả là cuộc đua hạ phí Theo quy định, phí giao dịch thu từ các nhà đầu tư là 0,5% trên giá trị giao dịch Nhưng hiện nay, một sô CTCK
đã hạ phí đến mức thấp nhất, thậm chí có CTCK không thu phí trong 3 tháng đầu hoạt động Cuộc cạnh tranh phí giao dịch đang ở hổi căng thẳng
Vào tháng 09/2007 mức phí giảm phổ biến từ 1/2 phí giao dịch hiện hành; một số CTCK miễn phí 100% Với CTCK, đây là một hình thức khuyến mãi, kéo nhà đầu tư đến sàn giao dịch Nhưng với nhiều công ty nhỏ mới tham gia thị trường, kinh doanh đang lỗ thì việc giảm phí sẽ là một gánh nặng Sự phân hóa giữa nhóm CTCK lớn và công ty nhỏ đã rõ rệt, xu hướng sáp nhập các CTCK trong tương lai là điều không thể tránh khỏi, các CTCK nhỏ rất có thể phải sáp nhập với các công ty lớn hoặc bị mua lại