Cũng như các Công ty Tài chính trong Tổng Công ty Nhà nước khác, Công ty Tài chính Bưu Điện ra đời là một giải pháp chiến lược trong quá trình đổi mới tổ chức quản lý, nhằm thiết lập một
Trang 2NGUYỄN LAN CHI
HOÀN THIỂN VÀ PHÁT TRIỂN CÁC HOẠT Đ Ộ N G TÍN D Ụ N G , ĐẦU Tư VÀ DỊCH vụ TÀI CHÍNH
T H Ư V I Ệ N
S ố : X ± Ẳ 0 K J Q ÍL
H À N Ộ I - 2006
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kêt quả của luân văn là trung thưc và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Lan Chi
Trang 41.2 M ô hình và các hoạt động chủ yếu của Công ty tài chính 17
trong Tập đoàn kinh tế
kinh tế
1.3 Các yêu tô tác động đến hoạt động tín dụng, đầu tư và 24
dịch vụ tài chính của Công ty tài chính trong Tập đoàn
kinh tế
Tập đoàn
nhân tố chủ quan của Công ty tài chính
Trang 5trên thê giới và các bài học kinh nghiệm
tài chính trong Tập đoàn kinh tế ở một số nước trên thế giới
C H Ư Ơ N G 2: T H Ự C T R Ạ N G H O Ạ T Đ Ộ N G T ÍN D Ụ N G , Đ Ầ U 34
T Ư V À D ỊC H V Ụ T À I C H ÍN H C Ủ A C Ô N G T Y T À I C H ÍN H
BƯU Đ IỆ N
2.1 Tổng quan vê Công ty Tài chính Bưu Điện trong Tổng 34
Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam
2*2 M ô hình tổ chức và hoạt động của Công ty Tài chính 37
Bưu Điện
2.3 Thực trạng hoạt động tín dụng, đầu tư và dịch vụ tài 40
chính của Công ty Tài chính Bưu Điện
2.4 Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng, đầu tư và dịch 58
vụ tài chính của Công ty Tài chính Bưu Điện
Trang 6CHÍNH CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH Bưu ĐIỆN
Nhà nước
năm 2 0 1 0, định hướng đến năm 2 0 2 0
thông Việt Nam
3.2 Giải pháp hoàn thiện và phát triển các hoạt động tín 77
dụng, đầu tư và dịch vụ tài chính của Công ty Tài chính
Bưu Điện
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
DANH MỤC TÀI LI Ệu THAM KHẢO
Trang 7TĐKT Tập đoàn kinh tế
Trang 8Bảng Mục
lục
Trang 9Hình Mục
lục
Công ty Tài chính Bưu Điện các năm 1999 - 2005
48
Trang 10MỞ ĐẦU
Công ty Tài chính Bưu Điện là một trung gian tài chính trong Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam Cũng như các Công ty Tài chính trong Tổng Công ty Nhà nước khác, Công ty Tài chính Bưu Điện ra đời là một giải pháp chiến lược trong quá trình đổi mới tổ chức quản lý, nhằm thiết lập một công cụ tài chính hữu hiệu giúp Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam nhanh chóng chuyển đổi từ cơ chế cấp phát mang nặng tính "xin - cho" sang cơ chê vay - trả", "thương mại hoá" nguồn vốn, nguồn lực, là cầu nối giữa Tổng Công ty với thị trường tài chính, tiến tới thành lập Tập đoàn kinh tế mạnh kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực với nhiều loại hình sở hữu đan xen để sẵn sàng cạnh tranh và cạnh tranh thắng lợi khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới
Ngày 23/3/2005, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 58/2005/QĐ-TTg thí điểm thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam và các đơn vị thành viên Theo đó, Công ty Tài chính Bưu Điện là một đơn vị thành viên trong Tập đoàn kinh doanh trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ
la mọt trong nhung linh vực kinh doanh của Tâp đoàn Vì vây, bên canh chức nang phục vụ Tập đoàn, Công ty Tài chính Bưu Điện còn phải đảm bảo kinh doanh có hiệu quả các nguồn tài chính, phát triển hoạt động để thực hiện các chức năng của một Công ty Tài chính độc lập
Tuy nhiên, sau 7 năm, đến nay hoạt động của Công ty Tài chính Bưu Điện còn rất đơn điệu, hạn hẹp, quy mô nhỏ, chưa thực hiện đầy đủ các chức năng và phát huy được vai trò thực sự của một Công ty Tài chính Có thể nói
Trang 11hoạt động của Công ty Tài chính Bưu Điện thời gian qua mới chỉ mang nặng tính tập sự, làm quen, chuẩn bị các điều kiện cho việc tham gia trên thị trường tài chính Do vậy, một trong những yêu cầu cấp bách hàng đầu của Công ty Tài chính Bưu Điện là phải phát triển, đẩy mạnh hoạt động mà trong đó các hoạt động tín dụng, đầu tư và dịch vụ tài chính đóng vai trò quan trọng để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả các nguồn tài chính.
Chính vì lý do trên, đề tài “Hoàn thiện và phát triển các hoạt động tíndụng, đầu tư và dịch vụ tài chính của Công ty Tài chính Bưu Điện” được chọn
và nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về Tập đoàn kinh tế, Công ty tài chính, các hoạt động của Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng đầu tư và dịch vụ tài chính của Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế; trên
cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng, đầu tư và dịch vụ tài chính của Công ty Tài chính Bưu Điện trong Tổng Công ty Bưu chính Viễn thong Việt Nam trong thời gian qua; đề xuất một số giải pháp thích hợp nhằm hoan thiện và phát triển hoạt động tín dụng, đầu tư và dịch vụ tài chính của Công ty Tài chính Bưu Điện trong Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trong thời gian tới
3 Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các hoạt động tín dụng, đầu tư và dịch vụ tàichính của Công ty Tài chính Bưu Điện trong Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sửphương pháp hệ thông, thông kê, so sánh, tư duy chứng thực và mô hình hoá
đê nghiên cứu
5 Kết cấu của Luận văn
Ngoai phan Mớ đâu, Kêt luận, nội dung luận văn gồm 3 chương'
Chương 1: Hoạt động tín dụng, đầu tư và dịch vụ tài chính của Công ty
Tài chính trong Tập đoàn kinh tế
Chuông 2: Thực trạng hoạt động tín dụng, đầu tư và dịch vụ tài chính
của Công ty Tài chính Bưu Điện
C h ư ơ n g 3: Giải pháp hoàn thiện và phát triển các hoạt động tín dụng đầu tư và dịch vụ tài chính của Công ty Tài chính Bưu Điện
Trang 13CHƯƠNG 1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG, ĐẦU T ư VÀ DỊCH v ụ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ
Dựa trên những góc độ nghiên cứu và phân tích khác nhau mà người ta đưa ra các khái niệm khác nhau về TĐKT Có Tập đoàn được thành lập trên cơ
sơ như một hình thức tổ chức kinh tê lỏng lẻo, các công ty thành viên ký kết cac thoa thuạn liên kêt kinh tê với nhau lâp thành môt tổ chức trong đó có môt cong ty mẹ đóng vai trò chi phối chiên lược chung của Tập đoàn nhưng các thành viên vẫn giữ tính độc lập kinh doanh của mình Lại có loại hình TĐKT thanh lạp treo cơ sơ sap nhập, hình thành môt tổ chức thống nhất hoat đông theo những nguyên tắc cứng như một pháp nhân kinh tế Cũng có loại hình Tạp đoan hình thanh trên cơ sơ các thành viên thoả thuân thành lâp môt công
Trang 14ty tài chính riêng, công ty này đóng vai trò như một công ty mẹ chỉ đạo chi phối hoạt động của các công ty thành viên.
Điểm khác biệt chủ yếu nữa trong quan niệm về TĐKT là tư cách pháp nhan cua Tập đoàn Một sô người cho rằng TĐKT là pháp nhân kinh tê do Nhà nước thành lập gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau
vê sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và tài chính trên quy mô lớn Song ở nhiều nước, TĐKT không phải là định chế pháp lý tuy nó bao gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau, có mối quan hệ sở hữu và khế ước với nhau, hoạt động trong mọt hoạc nhiêu nganh khác nhau, trên môt nước hay nhiều nước
Mạc du con nhiêu ý kiến khác nhau, song theo nghĩa chung nhất có thể hiểu TĐKT là một thực thể kinh tế có quy mô lớn, bao gồm các tổ chức thành viên hoạt động trong cùng một ngành hoặc nhiều ngành khác nhau, trong phạm vi một quốc gia hoặc nhiều quốc gia, có mối liên kết chặt chẽ với nhau
về lợi ích kinh tế, tài chính, kỹ thuật - công nghệ, nghiên cứu phát triển, đào tạo, thông tin và thị trường Mục tiêu chủ yếu của các TĐKT là tối đa hoá lợi nhuận và không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của Tập đoàn trên cơ sở phối hợp, sử dụng hợp lý mọi nguồn lực của các đơn vị thành viên, đặc biệt là nguồn lực tài chính Một TĐKT luôn nhấn mạnh sự phối hợp, liên kết hoạt động của các công ty thành viên để thực hiện các mục tiêu của cả Tập đoàn hơn là hoạt động riêng rẽ của từng bộ phận
La mọt hình thưc tô chưc tiên tiến đai diên cho trình đô phát triển cao của lực lượng sản xuất và nền kinh tế xã hội, sự hình thành và liên tục phát triển của các TĐKT trong nền kinh tế thị trường xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Sự tác động mạnh m ẽ của quy luật cạnh tranh trong nền kinh t ế thị
tì ương Cạnh tranh đê tồn tại và phát triển là quy luật của sự phát triển trong
nền kinh tế thị trường Trong sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp
Trang 15các doanh nghiệp lớn có sức mạnh kinh tế đã thôn tính các doanh nghiệp nhỏ
va hình thanh cac tô chức kinh tê khống lồ Mặc khác, các doanh nghiệp nhỏ
để chống lại sự chèn ép, thôn tính của các doanh nghiệp lớn cũng tìm cách hen kêt, hợp tác với nhau đê hình thành các doanh nghiệp lớn nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh, tổn tại và phát triển Cả hai xu hướng trên cùng song song tổn tại trong quá trình phát triển, dẫn đến hình thành các TĐKT
- Sự tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ Tiến bộ khoa
học - kỹ thuật và công nghệ làm cho nhu cầu về các loại sản phẩm, hàng hoá dịch vụ luôn thay đôi và đa dạng, chất lượng cũng yêu cầu ngày càng cao hơn Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ nhằm khắc phục những rủi ro và sự bế tắc của thị trường So với doanh nghiệp nhỏ, các doanh nghiệp lớn có nhiều ưu thế hơn về vôn đê đôi mới kỹ thuật - công nghệ sản xuất, nghiên cứu chế thử sản phẩm mới, đào tạo nguồn nhân lực để sử dụng kỹ thuật - công nghệ mới Vì vậy tăng quy mô kinh doanh bằng con đường tích tụ hoặc tập trung vốn là đòi hỏi tất yếu đối với mọi doanh nghiệp để đáp ứng tốt hơn các nhu cầu đa dạng của thi trường Lợi ích của việc gia tăng quy mô còn ở khả năng đa dạng hoá hoạt động, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh
" ^ lí thê toàn câu hoá trở thành một yếu tô quyết định và ảnh hưởng sâu săc đên sự phát triển của doanh nghiệp Toàn cầu hoá về kinh tế là xu hướng
khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác để phát triển, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tê Các công ty đa quốc gia chính là sự phát triển cao của các TĐKT trong điều kiện nền sản xuất đại công nghiệp và kinh tế thị trường được mở rộng ra phạm vi quốc tê Các TĐKT đã tìm kiếm các cơ hội đầu tư ra nuơc ngoài đê tìm kiếm lợi nhuận và hình thành các công ty đa quốc gia bằng việc hình thành các chi nhánh, liên kết với các công ty khác ở nước ngoài tạo
Trang 16thanh những công ty liên doanh, liên kêt nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động dồi dào ở các nước khác.
Tư khai niẹm va phân tích nguyên nhân hình thành, có thể rút ra môt sô đặc điểm cơ bản của các TĐKT như sau:
Ve ban chat, cac TĐKT la san phâm của quá trình tích tu, tâp trung
san xuât cua các doanh nghiệp trong điều kiện ứng dụng thành tựu kinh tê kỹ thuật hiện đại và tổ chức quản lý tiên tiến
Ve cau true và tô chức, hâu hêt các TĐKT là một tâp hơp của nhiều
công ty thành viên, trong đó có một công ty lớn nhất làm trụ cột thường được gọi là công ty mẹ Các công ty thành viên chịu sự chi phối của công ty mẹ về chien lược phat tnên, tai chính, khoa học công nghê Công ty me nắm cổ phần chi phối đối với các công ty thành viên và tạo thành một cấu trúc mạng liên kết trong đó có công ty hạt nhân và các công ty vệ tinh Khi thị trường tài chính phát triển đến trình độ cao thì quan hệ sở hữu giữa công ty mẹ với các cong ty thanh viên cũng như giữa các công ty thành viên với nhau sẽ trở nên rất phức tạp, tạo ra sự gắn kết và phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ bởi các quan
hệ tài chính và chiến lược kinh doanh của cả Tập đoàn Các công ty mẹ thường năm giữ một khối lượng lớn cổ phiếu đủ để kiểm soát và chi phối các cong ty con, đông thời ngay giữa các công ty con cũng có sư nắm giữ cổ phiếu
và chi phối lẫn nhau
- Ve quan tì Ị, cac TĐKT thường có môt Ban quản tri Tâp đoàn và tru sở
nam ơ cong ty mẹ Ban quản trị Tập đoàn chỉ kiểm soát về các mặt chiến lươc phát triên, tài chính, đầu tư, nghiên cứu ứng dụng công nghệ và phát triển sản phẩm mới thông qua sử dụng các đòn bảy kinh tế, còn các công ty thành viên hoàn toàn tự chủ trong quyết định sản xuất kinh doanh của mình
Ve nguôn lực tài chính, các TĐKT hầu hêt đều nắm trong tay lưc
lượng tài chính khổng lồ, có quy mô rất lớn về vốn, doanh thu, lao động và thị
Trang 17trường Vốn trong Tập đoàn được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, có quy mô lớn do quá trình tích tụ và tập trung được đẩy nhanh, giúp Tập đoàn có khả năng đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó chi phối và tăng sức cạnh tranh trên thị trường và đạt doanh thu rất lớn Các TĐKT có thể có môt công ty tài chính hoặc ngân hàng thương mại thuộc Tập đoàn để huy động và cung ứng vốn cho các công ty thành viên theo các dự án phát triển, đồng thời giữ vai trò chi phối, kiểm soát hoạt động của các công ty thành viên Cũng có trường hợp công ty trụ cột cũng chính là công ty tài chính.
- v ề ngành và lĩnh vực kinh doanh, hầu hết các TĐKT là hoạt động đa
nganh, đa linh vực nhăm đảm bảo tính phát triển liên tục, sự mở rộng và đa dạng hoá hoạt động cả về quy mô, loại sản phẩm và thị trường
- Vê phạm VI hoạt động, nhiều TĐKT có phạm vi hoạt động vượt qua
biên giới một quốc gia Phạm vi hoạt động đa quốc gia cho phép các Tập đoàn khai thac triệt đê lợi thê so sánh ở từng khu vưc để tăng khả năng canh tranh tối đa hoá lợi nhuận, mở rộng tiêu thụ ở các thị trường mới
- Về phương thức kinh doanh, TĐKT tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh theo mô hình đa khối TĐKT thực hiện cả hai chức năng cơ bản là kinh doanh như một doanh nghiệp và liên kết kinh tế Mỗi công ty thành viên là một khối chịu trách nhiệm về hoạt động trong một khu vực địa lý hoặc một linh vực kinh doanh nhất định Trong mỗi khối lại có các công ty thành viên
chiu trách nhiệm kinh doanh một hoặc một sô mặt hàng ở một nước nhất định.
Trang 18động kinh doanh của mình trong một quốc gia hay nhiều quốc gia sẽ tách ra thành một sô công ty con cùng với ngành nghề kinh doanh của công ty mẹ Cac công ty con trơ thành chi nhánh hay công ty vê tinh và giúp cho công ty
mẹ thực hiện chiến lược kinh doanh của mình Các công ty con này sẽ luôn bị chi phối và kiểm soát bởi công ty mẹ
+ Phương thức thâu tóm: là con đường hình thành các TĐKT bằng việc
một công ty (thường là công ty có tiềm lực tài chính mạnh) tiến hành mở rộng quy mô kinh doanh ban đầu của mình bằng các biện pháp sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại một hoặc một số công ty khác
- Căn cứ vào cách thức liên kết, có các phương thức hình thành TĐKT:
+ Liên kêt theo chiêu dọc: là sự liên kết giữa các doanh nghiêp có quan
hệ gân gũi với nhau về công nghệ, trong đó, mỗi doanh nghiệp chịu trách nhiệm sản xuất một bộ phận hoặc đảm nhận một công đoạn sản xuất Các doanh nghiệp đều có tư cách pháp nhân, thực hiện phân công hiệp tác để hoàn thành mục tiêu chung Sự liên kết dọc thường dẫn đến phát triển ngành nghề theo chiều sâu, tạo điều kiện để các TĐKT củng cố vị thế cạnh tranh, nâng cao chất lượng quản lý, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp hữu hiệu hơn
+ Liên kết theo chiều ngang: là kiểu liên kết mà trong đó các doanh
nghiệp độc lập có cùng một loại sản phẩm hoặc lĩnh vực kinh doanh được liên kêt VƠ I nhau xung quanh một công ty đầu tư tài chính hoặc một ngân hàng thương mại Cac doanh nghiệp thoả hiệp với nhau để ấn đinh giá cả, chia sẻ thị trường hoặc định mức sản lượng để hạn chế cạnh tranh và tăng lợi nhuận Hình thành Tập đoàn theo kiểu liên kết này, các đơn vị thành viên sẽ có nhiều
uu thê trên thị trường và sự kiểm soát của Tập đoàn đối với các doanh nghiệp thành viên sẽ rất chặt chẽ thông qua các hoạt động đầu tư vốn và kiểm soát các giao dịch Với kiểu liên kết này, các Tập đoàn thường tạo lập được sự độc quyền rất lớn và làm giảm đi tính cạnh tranh trên thị trường
Trang 19+ Liên kết hỗn hợp: là dạng liên kết theo kiểu kết hợp cả những liên kết
theo chieu ngang và liên kết theo chiều doc trong môt TĐKT, nó bao gồm các doanh nghiệp có thê thuộc cùng một ngành hoặc nhiều ngành khác nhau song
có sự liên kêt, hỗ trợ hoặc bổ sung cho nhau Sự liên kết trong các Tập đoàn loại này có đặc tính liên ngành và rất phong phú, đa dạng
1 1 1 3 S o s á n h m ô h ỉn h T ô n g C ô n g ty N h à n ư ớ c c ủ a V iệ t N a m vớ i m ô
h ìn h T ậ p đ o à n k in h tê tr ê n th ê g iớ i
Các Tông Công ty Nhà nước ở Việt Nam ra đời vào đầu những năm 90
là một nội dung quan trọng trong việc tổ chức và cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước theo hướng kinh tế thị trường, nhằm thay thế cho mô hình Liên hiệp cac xí nghiệp đã được hình thành trong cơ chê kê hoạch hoá tập trung trước đây hoạt động với chức năng vừa là cấp hành chính trung gian, vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong các ngành kinh tế kỹ thuật; từng bước xoá
bỏ chế độ Bộ chủ quản và cấp quản lý trung gian, tách bạch chức năng quản lý hành chính nhà nước với chức năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp- tạo điêu kiện khăc phục sự manh mún nhỏ bé về vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp để từng bước nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước trong một số lĩnh vực có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Có thê nói sự ra đời của các Tổng Công ty là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật của sự phát triển xã hội và yêu cầu chuyển đổi cơ chế quản lý đối với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị tiuơng Trên thực tê các Tông Công ty Nhà nước đã ít nhiều mang dáng dấp của các TĐKT như: chúng đều là tập hợp nhiều doanh nghiệp thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về mặt lợi ích kinh tế, kỹ thuật - công nghệ thong tin hoạc thi trường; sự hình thành và phát triển của Tổng Công ty cũng băt nguồn từ yêu cầu khách quan của sự phát triển sản xuất xã hội trong điều kiện cạnh tranh và những tác động của tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ
Trang 20cung như việc quôc tê hoá nền kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh các điểm giống nhau trên, giữa chúng cũng có những khác biệt cơ bản sau đ â y
- Các Tổng Công ty Nhà nước đều thuộc sở hữu Nhà nước, trong khi các TĐKT có cơ cấu đa sở hữu và về cơ bản dựa trên sở hữu tư nhân
- Việc hình thành các Tổng Công ty ở Việt Nam trước hết và chủ yếu xuất phát từ yêu cầu tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước chứ chưa phải là nhu cầu tự thân, bên trong của sự phát triển sản xuất của các doanh nghiệp đòi hỏi phải có hình thức tổ chức sản xuất phù hợp
Moi quan hệ giưa Tông Công ty và các đơn vị thành viên còn mang nặng tính chất hành chính và tổ chức, thiếu sự gắn kết bằng lợi ích kinh tế thông qua các quan hệ tài chính Ngược lại, đối với các TĐKT giữa công ty
mẹ và các đơn vị thành viên cũng như giữa các đơn vị thành viên với nhau lại
có mối quan hệ liên kết chặt chẽ, chủ yếu bằng các quan hệ tài chính thông qua các hoạt động đầu tư hoặc cho vay lẫn nhau
- Về cấu trúc, các Tổng Công ty thường có hai cấp: Tổng Công ty và công ty thành viên (hạch toán độc lập, hạch toán phụ thuộc hoặc sự nghiệp) Trong khi đo, TĐKT có thê có nhiều cấp khác nhau (các công ty con công ty chau ), giữa công ty mẹ và công ty thành viên cũng như giữa các công ty thanh viên có môi quan hệ sở hữu lẫn nhau rất đa dạng và phức tap
- Các Tổng Công ty ở Việt Nam được gọi là quy mô lớn song trên thực
tê cũng còn rất hạn chê, hoạt động chủ yếu trong phạm vi quốc gia, trong khi các TĐKT thường có quy mô khổng lồ, phạm vi hoạt động trên nhiều nước
- Các Tổng Công ty là hình thức doanh nghiệp Nhà nước nên mô hình
tổ chức và hoạt động của nó chịu sự chi phối của Luật doanh nghiệp Nhà nước, trong khi các TĐKT của các nước là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chứ không phải là một hình thức tổ chức doanh nghiệp theo luật định
Vì vậy, các hình thức tổ chức quản lý trong các TĐKT rất đa dạng
Trang 21Từ những nhận xét trên có thể thấy rằng các Tổng Công ty Nhà nước của Việt Nam hiện nay chưa phải là các TĐKT theo đúng nghĩa của nó; đúng hơn mới chỉ là các TĐKT ở dạng sơ khai, mô hình và cơ chế quản lý còn nhiêu bât cập, chưa theo kịp các TĐKT trên thế giới Nhận thức được những hạn chế này trong mô hình hoạt động của Tổng Công ty, việc sắp xếp, tổ chức lại các Tổng Công ty một cách triệt để theo mô hình TĐKT, chuyển từ liên kết kiểu hành chính sang liên kết kiểu đầu tư là đòi hỏi cấp thiết Chính vì vậy ngày 9/8/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 153/2004/NĐ-CP chuyển đôi các Tổng Công ty sang mô hình hoạt động công ty mẹ - công ty con để thí điểm hình thành các TĐKT nhằm hoàn thiện cơ chế hoạt động của các Tổng Công ty theo hướng kinh tế thị trường.
1.1.2 Sự cần thiết của Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế
1 1 2 1 K h á i n iệ m v ề C ô n g ty tà i c h ín h
Công ty tài chính (CTTC) là một trong các trung gian tài chính hoạt động trong nền kinh tế thị trường và tên gọi CTTC mới xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ XX Các trung gian tài chính phi ngân hàng trong đó có các CTTC được hình thành trên cơ sở chuyên môn hoá môt sô hoat đông ngân hang nhăm khăc phục, hạn chê các khiếm khuyết của các ngân hàng thương mại và đa dạng hoá các định chế tài chính trong nền kinh tê thị trường Thường thì các nước đều có luật hay quy định riêng về hoạt động của CTTC Các CTTC trên thế giới đều có những đặc điểm chung: là một tổ chức kinh doanh chuyên nghiệp trên thị trường tài chính; hạch toán độc lập, được đăng
ký kinh doanh theo pháp luật; các nghiệp vụ kinh doanh được quy định rõ ràng, mang tính chuyên nghiệp trong một số nghiệp vụ nhất định, đặc biệt không được nhận tiền gửi không kỳ hạn hoặc ngắn hạn, không được làm nghiệp vụ thanh toán; các CTTC thu hút vốn bằng phát hành thương phiếu, trái phiêu hay cô phiêu và dùng sô tiền huy đông đươc để cho vay
Trang 22o Việt Nam, Luật các Tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 12/12/1997 quy định: CTTC là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyen, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ han, không làm dich vu thanh toán [21] Và theo Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của
Chính phủ về tổ chức và hoạt động của CTTC thì: “CTTC là loại hình tổ chức tin dụng phỉ ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác đ ể cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một s ố dịch vụ khác theo quy định của pháp luật nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không đươc nhận tiền gửi dưới 1
n ă m ”.[22]
Như vậy, sự khác biệt cơ bản giữa CTTC và ngân hàng thương mại ở chỗ các ngân hàng có nhận tiền gửi thường xuyên trong khi các CTTC không được nhận tiên gửi của dân chúng và tổ chức với thời hạn ngắn và dưới hình thức mở tài khoản, không thực hiện dịch vụ thanh toán và không sử dụng vốn
để làm phương tiện thanh toán
ơ các nước có nền kinh tế phát triển, sự phân chia giữa tổ chức ngân hàng và CTTC ngày càng mờ nhạt dần do sự mở rộng phạm vi hoạt động và đa dạng hoá các nghiệp vụ của các CTTC Vì vậy, để đảm bảo an toàn và phát huy cao nhất tính tích cực của loại hình này trong hệ thống tài chính quốc gia tùy thuộc vào môi trường kinh tế, bối cảnh và điều kiện mà mỗi nước có quy định về việc thành lập, giới hạn chức năng và phạm vi hoạt động khác nhau của các CTTC Mặc dù vậy, nhìn chung có thể phân loại CTTC như sau:
M ọt la, can cư vào hoạt động kinh doanh, CTTC đươc chia thành'
(1) CTTC tiêu dùng: Cung ứng phần lớn nguồn vốn của mình để cho các
gia đình và cá nhân vay, phục vụ mục đích mua sắm hàng tiêu dùng hoặc để
Trang 23thanh toán những chi phí thường xuyên như khám bệnh, sửa nhà và hầu hết được trả góp định kỳ, dài hạn; một cách cho vay khác là CTTC tiêu dùng cấp thẻ tín dụng cho khách hàng đê' họ mua sắm ở hệ thống các cửa hàng bán lẻ tổng hợp Việc cho vay để mua sắm các loại hàng hoá tiêu dùng thường là bấp bênh, không an toàn do nguy cơ khách hàng mất khả năng chi trả hoặc không thanh toán đúng hạn, nhất là trong thời kỳ suy thoái, thất nghiệp gia tăng Nhìn chung, các C IT C tiêu dùng cho những người tiêu dùng vay (là những người chưa có tín dụng từ các nguồn khác) những khoản tiền nhỏ và thu với lãi suất cao hơn lãi suất thị trường để giảm thiểu rủi ro Luật pháp các quốc gia thường quy định việc các CTTC tiêu dùng được thực hiện cho vay những khoản tiền nhỏ, kèm theo giới hạn về lãi suất tối đa và định mức khoản vay.
mua sắm các món hàng do Tập đoàn hoặc một nhà sản xuất riêng bán ra Người tiêu dùng sẽ thoả thuận với nơi bán một hợp đồng mua hàng trả góp trong đó khách hàng phải trả tiền hàng với lãi suất định kỳ Các CTTC bán hàng mua lại các hợp đồng đó và thống nhất với nơi bán hàng về các mẫu hợp đồng và thời hạn trả góp mà họ chấp nhận được Khi các CTTC mua các hợp đồng bán hàng trả góp tức là họ đã mua lại khoản nợ của người mua hàng do vậy người ta gọi là tài trợ gián tiếp Quan hệ giữa CTTC bán hàng và người bán hàng rất khăng khít Người bán hàng bán lại toàn bộ các hợp đổng trả góp cho CTTC, đổi lại họ phải chịu sự kiểm tra thường xuyên của CTTC Khi các hợp đồng trả góp đên hạn, người tiêu dùng trả tiền cho người bán hàng và người bán hàng hoàn đủ lại số tiền đó cho CTTC
(3) CTTC thương mại: Cung cấp các dạng tín dụng đặc biệt cho các
doanh nghiệp bằng cách mua những khoản tiền phải thu (các hoá đơn nợ của doanh nghiệp) có chiết khấu Việc cung cấp tín dụng này được gọi là bao thanh toán Ngoài việc bao thanh toán, các CTTC thương mại cũng chuyên
Trang 24môn hoá trong việc cho thuê thiết bị, là những thứ họ mua và sau đó cho các nhà kinh doanh thuê một số năm.
Những năm gần đây, sự phân biệt giữa ba loại hình CTTC như trên đã
mơ nhạt dân; tuy vân còn có những Công ty chuyên môn hoá theo phương thức này hoặc phương thức khác trong hoạt động tín dụng nhưng tất cả đều nhằm vào thị trường tín dụng thương mại và thị trường tín dụng tiêu dùng
Hai là, căn cứ vào mối quan hệ về sở hữu, CTTC được chia thành:
(1) CTTC độc lập: Thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh như hoạt động
tín dụng gồm cho vay, chiết khấu chứng từ có giá, bảo lãnh, bao thanh toán, các hoạt động đầu tư, kinh doanh tiền tệ, tư vấn tài chính , đối tượng phục vụ
là tất cả các tổ chức và cá nhân
này cũng giống như các CTTC độc lập Tuy nhiên, hoạt động chủ yếu của các công ty này là tìm kiếm các nguồn vốn để cung ứng cho các đơn vị thành viên trong Tập đoàn; quản lý và đầu tư các khoản vốn chưa sử dụng của Tập đoàn- làm đầu mối và tư vấn cho Tập đoàn và các đơn vị thành viên trong quan hệ với Ngân hàng, các đối tác đầu tư; cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính khác
vụ tài chính cho các khách hàng của Tập đoàn như cho vay để mua hàng hoá
do Tập đoàn sản xuất để hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn
1 1 2 2 S ự c ầ n th i ế t c ủ a C ô n g ty tà i c h ín h tr o n g T ậ p đ o à n k in h t ế
CTTC trong các TĐKT là một mô hình tổ chức được ưa chuộng ở nhiều nước trên thê giới nhằm tăng cường tiềm lực tài chính phục vụ cho yêu cầu đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Lợi nhuận của các Tập đoàn trên thế giới do hoạt động của CTTC trong Tập đoàn mang lại là khá lớn, khoảng 30% - 33% thông qua các hoạt động trên thị
Trang 25trương tai chinh tiên tệ như mua bán thương phiếu, cổ phiếu, trái phiếu tiến hành các hoạt động đầu tư tài chính, cho vay và các dịch vụ khác như môi giới đẩu tư, tư vấn tài chính Thực tiễn kinh nghiệm của các Tập đoàn trên thế giới đã khẳng định vai trò của CTTC trong việc tập trung và thu hút các nguồn lực tài chính phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phát huy thế mạnh của Tập đoàn, nâng cao vị thế của Tập đoàn trên thị trường Như vậy việc thành lập CTTC trong TĐKT là hết sức cần thiết, đóng vai trò quan trọng thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, thành lập CTTC trong TĐKT giúp Tập đoàn mở rộng lĩnh vực
hoạt động, đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh, giảm thiểu rủi ro và tìm kiếm những nguồn lợi nhuận mới từ những ngành nghề có khả năng sinh lợi cao
Thư hai, việc thành lập CTTC trong TĐKT giúp Tập đoàn tìm kiếm
khơi thông các nguồn vốn trong Tập đoàn, huy động các nguồn vốn bên ngoài thong qua viẹc xac đinh các phương thức huy đông vốn, sô lương vốn cần huy động, đối tượng để huy động vốn, thời gian huy động, các điều kiện vay trả đáp ứng đủ, kịp thời nhu cầu vốn của Tập đoàn với chi phí thấp nhất
Thứ ha, việc thành lập CTTC giúp Tập đoàn quản lý một cách tối ưu có
hiệu quả các nguồn vốn thông qua việc đảm bảo vốn đầu tư đúng định hướng phát triển, đúng công trình và dự án, đạt hiệu quả kinh tế cao, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của cả Tập đoàn
Thư tư, các CTTC giúp Tập đoàn khai thác triệt đế sức mạnh trên thị
trường tài chính - tiền tệ thông qua quản lý tập trung thống nhất các nguồn tài chính, điều hoà tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi, đảm bảo điều hành vốn linh hoạt, phat huy tôi đa năng lực nội sinh thông qua viêc thưc hiên chức năng kinh doanh tiên tệ, tham gia thị trường tài chính - tiền tệ trong và ngoài nước
Thư nam, cac CTTC góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và sức cạnh
tranh của Tập đoàn khi thực hiện chức năng hỗ trợ cho việc bán hàng hoá
Trang 26dịch vụ của Tập đoàn thông qua việc cấp tín dụng và các dịch vụ tài chính cho các khách hàng khi mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ của Tập đoàn.
1.2 M Ô H ÌN H V À C Á C H O Ạ T Đ Ộ N G C H Ủ Y Ê U C Ủ A C Ô N G T Y T À I
C H Í N H T R O N G T Ậ P Đ O À N K IN H T Ê
1.2.1 Mô hình Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tê
Các CTTC trong TĐKT thường có mô hình tổ chức như sau:
Hình L L Mô hình tổ chức của CTTC trong TĐKT
V ề loại hình sở hữu: CTTC trong TĐKT có thể là công ty 100% vốn thuộc sở hữu của Tập đoàn (công ty mẹ và các công ty thành viên) nhưng
thuờng thì nó là sở hữu hỗn hợp, trong đó công ty mẹ và các công ty thành viên trong Tập đoàn nắm giữ cổ phần chi phối
Vê phạm vi hoạt động: Thị trường chủ yếu và trước hết của các CTTC
trong TĐKT là Tập đoàn và các đơn vị thành viên, sau đó từng bước mở rộngphạm vi hoạt động ra bên ngoài, gắn liền với phạm vi và thị trường hoạt động
c ủ a Tập đ o à n H Ọ C V IỆ N N G Ằ N H À N G
TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆh
T H Ư V I Ệ N
Trang 27Các CTTC trong Tập đoàn ra đời ban đầu để cung cấp các dịch vụ tài chính trợ giúp các hoạt động kinh doanh của Tập đoàn như: huy động vốn điều hoà nguồn vốn nhàn rỗi, tài trợ bán h àn g Sau đó, khi các CTTC đã phát triển lớn mạnh, các hoạt động của nó được mở rộng ra cả bên ngoài Tập đoàn
và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ tài chính
Vê mối quan hệ giữa CTTC với các đơn vị thành viên trong Tập đoàn:
Là mối quan hệ chặt chẽ, bình đẳng, hai bên cùng có lợi; các đơn vị thành viên vừa là khách hàng, vừa là bạn hàng của CTTC; quan hệ vay và cho vay giữa CTTC và các đơn vị thành viên được thực hiện thông qua một lãi suất hợp
lý đảm bảo cho hoạt động của CTTC có hiệu quả, vừa đảm bảo tăng tính cạnh tranh, khuyên khích hỗ trợ các đơn vị thành viên phát triển theo chiến lược phát triển chung của Tập đoàn
1.2.2 Các hoạt động chủ yếu của CTTC trong TĐKT
1 2 2 1 H o ạ t đ ộ n g h u y đ ộ n g v ố n
Nhìn chung, các CTTC hoạt động từ nguồn vốn của chính mình và huy động từ các nguồn: Vốn cổ phần do các cổ đông góp; Vay nợ; Huy động tiền gui có kỳ hạn và chứng chỉ tiền gửi (thường là có kỳ hạn trên một năm); Nhận vôn uỷ thác (đê tài trợ cho các dự án cụ thể hoặc các khoản đầu tư theo chỉ dân của người sở hữu tiền) Các hình thức huy động vốn chủ yếu gồm:
- Phát hành cổ phiếu: Vốn điều lệ ban đầu của CTTC khi thành lập do
Tập đoàn quyết định do công ty mẹ và các công ty thành viên góp vốn, có thể huy đọng thêm vôn từ bên ngoài Tập đoàn thông qua việc phát hành cổ phiếu
ra cong chung Mức vôn điêu lệ của các CTTC phụ thuộc vào tính chất, phạm
vi hoạt động của nó Vốn điều lệ của CTTC được bổ sung thông qua việc tăng vốn góp từ Tập đoàn hay phát hành thêm cổ phiếu Việc phát hành cổ phiếu sẽ được cân nhắc vì nó có thể làm thay đổi hình thức sở hữu trong CTTC
- Vay nợ dưới các hình thức:
Trang 28Vay của các định ch ế tài chính: Các CTTC trong TĐKT có thể vay vốn
từ các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước, ngoài nước và các tổ chức tài chính quốc tế Khi đi vay phải được đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh hoặc có thể bằng tín chấp do tổ chức đó quy định
Phát hành trái phiếu: Trái phiếu là một loại chứng khoán nợ do CTTC
phát hành để vay vốn trung và dài hạn và được hoàn trả sau một thời hạn nhất định Chủ sở hữu trái phiếu có quyền được hưởng một khoản thu nhập cố định
va khong phụ thuộc vào tình trạng kinh doanh của CTTC Trái phiếu thường
có cùng ngày phát hành và ngày đáo hạn thanh toán Có hai loại trái phiếu gom: trai phiêu có lãi suất (thường kèm theo phiêu lĩnh lãi) và trái phiếu chiết khấu (không ghi lãi suất nhưng giá phát hành thấp hơn mệnh giá, chênh lệch giữa giá phát hành và mệnh giá là lãi trái phiếu) Các CTTC thường huy động vốn bằng hình thức phát hành trái phiếu, phạm vi huy động vốn có thể là tất cả các tổ chức và cá nhân có nhu cầu hoặc giới hạn trong phạm vi người lao động
và các đơn vị trong Tập đoàn
Phát hành chứng chỉ tiền gửi: Là giấy xác nhận khoản vay của CTTC
có ghi rõ thời hạn hoàn trả và lãi suất người cho vay được hưởng Chứng chỉ tien gưi co thê được sử dụng và chấp nhận không khác gì séc hoặc tiền mặt
Phát hành các loại giấy tờ có giá khác như: Hợp đồng mua lại là hình
thức vay ngắn hạn của CTTC trên thị trường tiền tệ thông qua hợp đồng bán chứng khoán cho các tổ chức tài chính tương đối thừa tiền mặt và thoả thuận mua lại chúng khoán đó trong thời gian ngắn (từ vài ngày đến vài tháng)
- Nhận tiên gưi cua các tô chức và cá nhân: Các CTTC trong Tập đoàn
thường chỉ được nhận tiền gửi có kỳ hạn trên một năm của các tổ chức và cá nhân Tuy nhiên, khả năng huy động vốn từ nguồn này là không lớn, do trên thị trường các Ngân hàng thương mại có ưu thế hơn trong thu hút nguồn tiền gửi này với nhiều cách thức, kỳ hạn và hấp dẫn hơn về lãi suất
Trang 29- Nhận vôn uỷ thác đầu tư: Các CTTC có thể nhận vốn uỷ thác từ các tổ
chức và cá nhân để đầu tư vào các dự án cụ thể, đặc biệt là các dự án của Tậpđoàn Ở đây, CTTC đóng vai trò là đại lý của các tổ chức và cá nhân và cótrách nhiệm thực hiện các chỉ dẫn về đầu tư của khách hàng một cách thích hợp
- Nhận tiên gửi từ công ty mẹ và các đơn vị thành viên: Bên cạnh việc
huy động vốn thông qua các hình thức trên thì một trong những hình thức huy động vốn có tính khả thi cao đối với các CTTC trong TĐKT là huy động tiền gưi co kỳ hạn từ các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của công ty mẹ và các đơn
vị thành viên Việc huy động vốn này của các CTTC cũng đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Tập đoàn và các đơn vị thành viên
- Căn cứ vào thể thức thì có các hình thức tín dụng như:
Trang 30+ Tin dụng ưng trươc: là hình thức cho vay đươc thưc hiên trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó người đi vay được sử dụng một mức cho vay trong một thời gian nhất định Tín dụng ứng trước có hai loại: Tín dụng ứng trước có bảo đảm là loại tín dụng trên cơ sở có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc
có bảo lãnh của bên thứ ba; Tín dụng ứng trước không cần bảo đảm là loại tín dụng không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa trên cơ sở uy tín của khách hàng
+ Tín dụng hạn mức: là hình thức tín dụng được thực hiện trên cơ sở hợp đông tín dụng, trong đó khách hàng được phép sử dụng dư nợ trong một giới hạn và thời hạn nhất định Loại hình tín dụng này chỉ áp dụng đối với khách hàng có uy tín và có tình hình tài chính lành mạnh
+ Chiet khâu thương phiêu: là hình thức tín dụng ngắn hạn trong đó người bán hàng hoá, dịch vụ lập ra thương phiếu thể hiện số tiền, thời hạn phải thanh toán về hàng hoá, dịch vụ đã cung cấp mà người mua chưa trả và chuyển nhượng lại quyền sở hữu thương phiếu cho CTTC để được thanh toán truớc hạn số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu CTTC chịu trách nhiệm thu tiền ở người mua hàng hoá, dịch vụ khi đến hạn
Xuất phát từ thực tế vốn điều lệ của các CTTC trong TĐKT thường là nhỏ, do vậy hạn mức tín dụng của các CTTC nhỏ hơn so với nhu cầu vốn đầu
tư của các đơn vị thành viên Vì vậy, ngoài hình thức cho vay trực tiếp các CTTC trong TĐKT thường thực hiện cho vay đồng tài trợ với các tổ chức tài chính khác, thực hiện cho vay theo uỷ thác của Chính phủ, của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đối với các dự án đầu tư của các đơn vị thành viên tiong Tập đoàn Việc cho vay vốn cho các đơn vị thành viên thông qua CTTC trong TĐKT thường đảm bảo mang lại hiệu quả cao cho cả người cho vay vàngười đi vay do lợi thế là các CTTC nắm rõ về các rủi ro tài chính của các đơn
vị trong Tập đoàn
Trang 31H o ạ t đ ộ n g đ ầ u t ư t à i c h í n h
Các CTTC trong TĐKT thường rất năng động trong hoạt động đầu tư tài chính và là mắt xích quan trọng để gắn kết các đơn vị thành viên trong Tập đoàn với thị trường tài chính tiền tệ Một trong những mục tiêu chính của việc
ra đời CTTC trong TĐKT là thực hiện chức năng đầu tư tài chính cho Tập đoàn nhằm phát triển tiềm lực, thế mạnh của Tập đoàn, đa dạng hoá ngành nghe kinh doanh cua Tập đoàn, tìm kiếm các cơ hội đầu tư có hiêu quả cao trên thị trường Thực tế cho thấy, các hoạt động đầu tư tài chính của CTTC trong các TĐKT ngày càng quan trọng và mang lại nguồn lợi không nhỏ cho
sự phát triển của Tập đoàn CTTC trong Tập đoàn vừa thực hiện tìm kiếm các nguon von đe đâu tư vào các dự án của Tâp đoàn, đầu tư vào chứng khoán của ngành, đồng thời, nó cũng thực hiện các hoạt động đầu tư trên thị trường giống như các tổ chức tài chính khác dưới các hình thức như:
Đâu tư trực tiêp như: góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp trong va ngoai Tập đoan; góp vôn hợp tác kinh doanh vào các dư án trong và ngoài Tập đoàn; đầu tư vào kỳ phiếu, trái phiếu và các loại giấy tờ có giá khác; và kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán
- Nhận đầu tư vốn do Tập đoàn, các đơn vị thành viên và các tổ chức cá nhân khac uy thác cho CTTC để đầu tư vào các dư án, góp vốn, mua cổ phần vào các dự án trong và ngoài Tập đoàn
Trang 32một tổ chức chuyên ngành nên các dịch vụ tài chính của CTTC thường được các đơn vị thành viên trong Tập đoàn và khách hàng khác tin cậy và sử dụng Các dịch vụ tài chính của CTTC trong TĐKT có thể cung cấp như:
- Các dịch vụ vê phát hành chứng khoán: tư vấn phát hành; bảo lãnh
phat hành; đại lý phát hành; lưu giữ, bảo quản chứng khoán
- Hoạt động bao thanh toán: Là hình thức chiết khấu chứng từ nhằm tài
trợ tín dụng cho các doanh nghiệp, trên cơ sở mua lại hoá đơn ghi các khoản
nợ phải thu của các doanh nghiệp phát sinh từ việc bán hàng trả chậm thực hiện việc quản lý sổ sách kế toán cho các doanh nghiệp Bao thanh toán là nghiệp vụ khá phổ biến trong hoạt động của các CTTC trên thế giới Bao thanh toán vừa là một phương thức thu hổi nợ, vừa là một kỹ thuật phòng chống rủi ro và là phương tiện tài trợ cho các đơn vị hoạt động kinh doanh
- Hoạt động cho thuê tài sản: là hình thức tài trợ các doanh nghiệp sử
dụng máy móc, thiết bị, bất động sản hoặc các loại tài sản khác trong khi các tài sản này vẫn thuộc quyền sở hữu của một công ty khác Nghiệp vụ cho thuê được chia thành hai loại: cho thuê tài chính và thuê hoạt động
- Cac dịch vụ kinh doanh ngoại hối và vàng
- Nhận uỷ thác, làm đại lý, tư vấn trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính, ngân hàng, bào hiểm và đầu tư, nhu: quản lý tài sản, vốn đầu tư cùa các
tổ chức, cá nhân theo hợp đổng; Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho các doanh nghiệp; Bảo quản hiện vật quý, giấy tờ
CO gia, cho thuê tủ két, cầm đổ và các dịch vụ khác
Qua phân tích các hoạt động cùa CTTC trong TĐKT càng cho thấy vai trò quan trọng cùa nó trong sự phát triển cùa Tập đoàn Các hoạt động tín dụng, đầu tư và cung ứng các dịch vụ tài chính là các hoạt động đẩu ra, hoạt
Trang 33động sinh lời của các CTTC Để các hoạt động này được hiệu quả thì chúng ta cân xem xét đến các yếu tô tác động, ảnh hưởng đến nó.
1.3 C Á C Y Ế U T Ố T Á C Đ Ộ N G Đ Ế N H O Ạ T Đ Ộ N G T ÍN D Ụ N G , Đ Ầ U T ư
V À D ỊC H V Ụ T À I C H ÍN H C Ủ A C T T C T R O N G T Đ K T
1.3.1 Tác động của chính sách và những quy định của Nhà nước
Nha nươc co vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của các trung gian tài chính nói chung và các CTTC trong TĐKT nói riêng thê hiện qua việc tạo dựng, duy trì, thúc đẩy môi trường kinh tế xã hội môi trường pháp lý cần thiết, giúp các trung gian tài chính hoạt động hiệu quả trong đó có các hoạt động tín dụng, đầu tư và dịch vụ tài chính của CTTC trong TĐKT Tác động đó thể hiện qua những nội dung sau:
1 3 1 1 D u y t r ì t r ậ t t ự , ô n đ ị n h x ã h ộ i v à s ự p h á t t r i ể n k i n h t ê
- Việc tạo lập, duy trì một môi trường chính trị, xã hội ổn định là nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu của Nhà nước và là điều kiện cho các doanh nghiệp ra đời và phát triển
- Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết, ổn định nền kinh tê thông qua việc hoạch đinh các chiến lược, các mục tiêu kinh tê vĩ mô và thực thi hệ thong cac chinh sach kinh tê - tài chính, đảm bảo nền kinh tê phát triển cao và ben vung Sự phat triên kinh tê của môi quốc gia có ảnh hưởng lớn đến sư phát tnên cua các định chê tài chính nói chung và CTTC nói riêng Khi nền kinh tế suy thoái, các công ty thường thu hẹp sản xuất, nhu cầu vay vốn vì thế cũng hạn chế, điều đó ảnh hưởng đến hoạt động của CTTC trong TĐKT' ngược lại trong thời kỳ hưng thịnh, nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên, tích luỹ lớn Khi đó, đòi hỏi CTTC cũng phải tăng cường hoạt động của mình để đáp ứng cho nhu cầu phát triển đó Mặt khác
Trang 34mức độ phát triển của thị trường, đặc biệt là thị trường tài chính tiền tệ có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển hoạt động của các CTTC.
Nha nươc đinh hướng đúng các xu hướng phát triển làm tiền đề cho các quyết định của TĐKT và các CTTC trong TĐKT
- Nhà nước thực hiện các chính sách hỗ trợ các TĐKT đầu tư vào các ngành, lĩnh vực được ưu tiên khuyến khích để phát triển kinh tế đất nước- đong thơi co chinh sach bao vệ sản xuất trong nước, hỗ trơ và nâng cao khả năng cạnh tranh của TĐKT
1 3 1 2 T á c đ ộ n g c ủ a m ô i t r ư ờ n g p h á p l ý
Hoạt động của CTTC trong TĐKT được tiến hành trong khung pháp lýchạt che, được xây dựng chu yếu nhăm đảm bảo tính an toàn của hê thống tài chính và bảo vệ lợi ích của toàn xã hội
Nhà nước xây dựng hệ thống khuôn khổ pháp luật nhằm quy định điều kiện thanh lập, nội dung và phạm vi hoạt động; các vấn đề về sáp nhập hợp nhat, mơ rộng linh vực hoạt động; phá sản, giải thể, an toàn và an ninh tài chinh đê kiêm soát, điêu chính hoạt động của các định chế tài chính trong
đó có CTTC trong TĐKT Yêu cầu cơ bản đối với hệ thống khuôn khổ pháp luạt la phai thông nhât, ôn định, minh bach và vân dung các tiêu chuẩn chung
đã được thừa nhận trên phạm vi quốc tế, nhằm tạo lập một môi trường cạnh tranh bình đẳng, khuyên khích các định chế tài chính phát triển
1.3.2 Tác động của chiên lược phát triển, cơ chê hoạt động của Tập đoàn
1 3 2 1 C h i ế n l ư ợ c p h á t t r i ể n c ủ a T ậ p đ o à n
Viẹc thanh lạp cac TĐKT xuât phát từ lơi ích kinh tê của các công ty thành viên và lợi ích chung của Tập đoàn Để nâng cao sức cạnh tranh tối đa hoá lợi nhuận các TĐKT thường có các chiến lược chung và thực hiện thống nhất trong toàn Tập đoàn Chính vì thế, sự phát triển của CTTC trong Tập
Trang 35đoàn phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược phát triển của Tập đoàn Trong từng thời kỳ khác nhau Tập đoàn có các chiên lược kinh doanh khác nhau phù hợp VƠI điêu kiện kinh tê, xã hội của thời kỳ đó Chiến lược phát triển của Tập đoàn bao gồm nhiều nội dung trong đó có chiến lược đầu tư tài chính của Tập đoàn có tác động quyết định đến sự phát triển các hoạt động của CTTC trong Tập đoàn Trên cơ sở các chiến lược phát triển của Tập đoàn, các CTTC trong Tập đoàn chủ động xác định các chiến lược kinh doanh của CTTC, lựa chọn phát tnên các hoạt động tín dụng, đầu tư và dịch vụ tài chính phù hợp với môi trường và điều kiện cụ thể trong từng lĩnh vực, từng khu vực thị trường, vừa nâng cao hiệu quả hoạt động vừa phát huy sức mạnh tổng hợp của TĐKT.
1 3 2 2 C ơ c h ê h o ạ t đ ộ n g c ủ a T ậ p đ o à n
Cơ chế hoạt động bao gồm các cơ chế như huy động vốn, cơ chế quản
lý tài sản, cơ chế về đầu tư, cơ chế về kiểm soát tài chính trong nội bộ Tập đoàn, nó xác định mối quan hệ giữa công ty mẹ, các công ty thành viên và CTTC TĐKT là một hình thức liên kết kinh tế Tập đoàn chỉ tồn tại và phát triển vững mạnh khi xây dựng cơ chế hoạt động dựa trên sự thống nhất lợi ích kinh tế của từng thành viên và lợi ích kinh tế chung của cả Tập đoàn Trong Tập đoàn, giữa công ty mẹ, công ty thành viên với CTTC có mối quan hệ, ràng buộc, phụ thuộc, hỗ trợ lẫn nhau nhằm phục vụ mục tiêu chung của Tập đoàn
Hầu hết các TĐKT theo đuổi chính sách quản lý phi tập trung Ban quản trị Tập đoàn thường nằm ở công ty mẹ, chỉ kiểm soát về mặt tài chính, chiên lược đâu tư của các công ty thành viên thông qua sô cổ phần đóng góp
và sử dụng các đòn bảy kinh tế Các công ty thành viên, gồm cả CTTC có Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc riêng để lãnh đạo, quản lý và điều hành các hoạt động kinh doanh của đơn vị một cách độc lập, tự chủ
CTTC được chủ động hoàn toàn trong việc sử dụng các nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh Nguồn vốn mà CTTC vay từ Tập đoàn phải được Tập
Trang 36đoàn thông qua về mục tiêu vay vốn, phương án kinh doanh và trả lãi suất theo quy định của Tập đoàn Những dự án đầu tư của công ty thành viên phù hợp với chiến lược phát triển của Tập đoàn sẽ được CTTC ưu tiên tài trợ hàng đầu Ben cạnh đo, CTTC thường được Tập đoàn giao cho vai trò điều hoà vốn tạm thời nhàn rỗi của các công ty thành viên và thực hiện đầu tư tài chính vào những lĩnh vực sinh lời cao.
Cơ chế huy động vốn nội bộ từ các đơn vị thành viên của Tập đoàn nhằm phát huy được nội lực của Tập đoàn, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài nhất là khi có biến động thị trường tài chính Các đơn vị thành viên khong nhat thiêt phai vay qua CTTC trong Tâp đoàn Ho sẽ tìm kiếm nguồn vốn nào có lợi nhất cho họ với chi phí thấp nhất Lợi thế của các CTTC trong Tập đoàn là có điều kiện cung cấp các khoản tín dụng, đầu tư, dịch vụ tài chính nhanh hơn với lãi suất, mức phí có thể hấp dẫn hơn so với lãi suất trên thị trường do lợi thế là CTTC hiểu rõ hơn về hoạt động, các rủi ro tài chính của các công ty thành viên trong Tập đoàn
1.3.3 Khả năng tài chính của Tập đoàn, Công ty tài chính và các nhân tô chủ quan của Công ty tài chính
Khả năng tài chính của Tập đoàn cũng ảnh hưởng đến các hoạt động nói chung và các hoạt động tín dụng, đầu tư và dịch vụ tài chính nói riêng của CTTC trong Tập đoàn TĐKT càng có tiềm lực về tài chính một mặt càng có nhu cau lơn ve cac nguôn vôn đê tài trợ đầu tư phát triển và mở rông sản xuất kinh doanh, mạt khac lại có nhu cầu đầu tư và tìm kiếm lơi nhuân trên thị trường tài chính tiền tệ từ các nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời Chính vì vậy CTTC trong một TĐKT có tiềm lực tài chính mạnh thì sẽ hoạt động tốt hơn và khả năng cạnh tranh lớn hơn vì thông thường mọi nguồn lực tài chính của TĐKT đều được tập trung về một đầu mối là CTTC
Trang 37Để đảm bảo an toàn hoạt động, các CTTC thường bị giới hạn các hoạt động cho vay, đầu tư và cung ứng các dịch vụ tài chính trên cơ sở vốn tự có của CTTC Do vậy, để thực hiện tốt chức năng là đầu mối huy động và cho vay vốn các dự án đầu tư phát triển của Tập đoàn thì vốn tự có của các CTTC phải đủ lớn sao cho đáp ứng được nhu cầu vay vốn và đầu tư của các dự án.
Ngoài ra, các yếu tố chủ quan bên trong CTTC cũng ảnh hưởng đến các hoạt động tín dụng, đầu tư và dịch vụ tài chính nói riêng của CTTC trong Tập đoàn, đó là: Chất lượng nguồn nhân lực như trình độ và năng lực quản lý của Ban lãnh đạo, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ - Hệ thống công nghệ thông tin đáp úng nhu cầu quản lý kinh doanh của CTTC
1.4 H O Ạ T Đ Ọ N G T ÍN D Ụ N G , Đ Ẩ U T ư V À D ỊC H v ụ T À I C H ÍN H C Ủ A
C Ô N G T Y T À I C H Í N H T R O N G T Ậ P Đ O À N K I N H T Ê Ở M Ộ T s ố N Ư Ớ C
T R Ê N T H Ê G IỚ I V À C Á C B À I H Ọ C K IN H N G H IỆ M
1.4.1 Hoạt động tín dụng, đầu tư và dịch vụ tài chính của CTTC trong
TĐ K T Ở m ột sô nước trên thê giới
1.4.1.1 Công ty GE capital trong Tập đoàn GE [28]
Tập đoàn GE (General Electric Company) được thành lập năm 1892 ở
Mỹ, khởi đầu chuyên sản xuất các sản phẩm điện gia dụng và thiết bị điện công nghiệp Đên nay, GE là Tập đoàn hoạt động xuyên quốc gia, có các công
ty con, chi nhánh hoạt động trên 100 nước với hơn 300.000 nhân viên Hoạt động của GE đã mở rộng ra các lĩnh vực như động cơ máy bay, thiết bị công nghiệp, thiết bị vận tải, y tế, các sản phẩm nhựa, các vật liệu đặc biệt, dịch vụ truyền thông, dịch vụ y tế Năm 2004, GE có tổng doanh thu là 153 tỷ USD tổng giá trị tài sản: 750 tỷ USD và lợi nhuận đạt 16,8 tỷ USD
GE Capital Corporation (GECC) là thành viên của Tập đoàn GE toàn
bộ cổ phiêu phổ thông của GECC do một công ty con khác của Tập đoàn GE Capital Services sở hữu GECC được thành lập năm 1932 với mục đích ban
Trang 38đầu là trợ giúp cho các khách hàng mua sản phẩm của GE, về sau, hoạt động của GECC mở rộng sang các lĩnh vực khác tài trợ cho các hoạt động thương mại, công nghiệp, các dịch vụ bảo hiểm GECC hiện được đánh giá là công
ty hàng đầu cung cấp các dịch vụ tài chính trên thị trường Mỹ, ngoài các dịch
vụ tài chính cung cấp cho Tập đoàn GE, GECC cung cấp các dịch vụ tài chính trên 5 lĩnh vực chính, 24 dịch vụ kinh doanh như thẻ tín dụng, tài trợ tiêu dùng, cho thuê tài sản (máy bay, tàu thuỷ, đầu máy xe lửa, vệ tinh truyền thông ); đầu tư chứng khoán; các dịch vụ bảo hiểm; kinh doanh bất động sản; tư vấn tài chính Năm 2004, GECC có tổng giá trị tài sản khoảng 500 tỷ USD chiếm 67% tổng giá trị tài sản của Tập đoàn GE; tổng doanh thu là 62,2
tỷ USD chiếm 40% tổng doanh thu của Tập đoàn; Lợi nhuận đạt 7,6 tỷ USD chiếm 45% của lợi nhuận của Tập đoàn
1.4.1.2 Công ty G M Acceptant trong Tập đoàn G M [29]
Tập đoàn GM (General Motors Corporatin) được thành lập năm 1908 ở
Mỹ, ban đầu hoạt động chủ yếu là sản xuất và kinh doanh ô tô Đến nay, GM
là Tập đoàn hoạt động xuyên quốc gia và mở rộng sang các lĩnh vực khác như truyền thông, công nghiệp giải trí và cung cấp các dịch vụ tài chính Năm
2004 có doanh thu là 193,5 tỷ USD, tổng giá trị tài sản đạt 482 tỷ USD, lợi nhuận đạt 2,8 tỷ USD và có 325.000 nhân viên
GM Acceptant Corporation (GMAC) là thành viên của Tập đoàn GM được thành lập năm 1919, toàn bộ cổ phiếu của GMAC do Công ty mẹ GM sở hữu Vai trò của GMAC rất quan trọng đối với GM và các công ty khác trong
GM vì GMAC cung cấp các dịch vụ tài chính cho cả GM lẫn các khách hàng của GM Mục đích ban đầu của GMAC là cung cấp tài chính cho các đại lý bán hàng của GM và các khách hàng tiêu dùng có thể mua các sản phẩm ô tô
GM được dễ dàng và thuận lợi Cùng với quá trình phát triển của Tập đoàn, GMAC không ngừng mở rộng hoạt động kinh doanh và thâm nhập vào các thị
Trang 39trường mới Tính đến cuối năm 2004, GAMC gồm nhiều công ty trực thuộc hoạt động ở 34 nước, cung cấp các dịch vụ chủ yếu như tài trợ bán lẻ, tài trợ bán buôn, cho vay kỳ hạn, cho thuê và thuê mua, tài chính thương mại bảo hiểm, cầm cố Đối tượng cung cấp dịch vụ của GAMC là Tập đoàn GM, nhà bán lẻ, bán buôn các sản phẩm của GM, nhà cung cấp cho GM và các tổ chức
cá nhân hoạt động trong một số ngành công nghiệp khác Năm 2004, GAMC
có tổng giá trị tài sản là 322,7 tỷ USD chiếm 67% tổng giá trị tài sản của Tập đoàn; tổng doanh thu là 32 tỷ USD chiếm 16,5% tổng doanh thu của Tập đoàn
1 4 1 3 C á c C ô n g t y t à i c h í n h t r o n g T ậ p đ o à n S o n y [3 1 ]
Tập đoan SONY thành lập năm 1946 với muc tiêu ban đầu là phát triển
và sản xuất các thiết bị viễn thông giúp phát triển nền kinh tế Nhật Bản sau chiên tranh thê giới thứ II Đến nay, SONY đã trở thành Tập đoàn xuyên quốc gia và là nhà sản xuất hàng đầu trên thế giới về các sản phẩm âm thanh, video truyền hình, thông tin và truyền thông, trò chơi giải trí, linh kiện điện tử Ngoài ra, SONY còn hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thương mại, giao nhận kho vận, quản lý bất động sản, dịch vụ tài chính Hiện SONY có 106 công ty trực thuộc với trên một nghìn chi nhánh hoạt động trên 70 quốc gia với 151.400 nhân viên Năm 2004, tổng doanh thu bán hàng của SONY là 7.496
tỷ Yên, giá trị tài sản đạt 9.090 tỷ Yên và lợi nhuận đạt 88 tỷ Yên
Tập đoàn SONY có 3 công ty cung cấp dịch vụ tài chính là Công ty Bảo hiểm nhân thọ SONY (SONY Life Insurance Co Ltd), Hãng Bảo hiểm SONY (SONY Insurance Inc), Hãng Tài chính Quốc tế SONY (SONY Finance International Inc) Hãng Tài chính Quốc tế SONY thành lập năm 1976, cung cấp các dịch vụ tài chính như kinh doanh cho thuê, kinh doanh dịch vụ thẻ tín dụng, cho thuê, cho vay, bảo hiểm phi nhân thọ, quản lý và cho thuê bất động sản Năm 2004, các dịch vụ tài chính của SONY có doanh thu 593 5 tỷ Yên chiếm 8% tổng doanh thu của Tập đoàn, tổng giá trị tài sản là 3.475 tỷ Yên
Trang 40bằng 38% tổng giá trị tài sản của Tập đoàn và lợi nhuận đạt 9,3 tỷ Yên chiếm 8,2% lợi nhuận của T ập đoàn.
Tập đoàn Sam sung được thành lập năm 1938 tại H àn Q uốc với ngành nghê ban đâu chỉ là x u ất khẩu nông sản Đ ến nay, Sam sung đã trở thành m ột
T Đ K T đa quốc gia với 35 công ty con, hàng trăm chi n hánh hoạt động khắp the gioi trên 5 linh vực chính: công nghiệp điện tử, công nghiệp nặng và cơ khí, công n g h iệp hoá chất, dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác như thương
m ại, du lịch - khách sạn, kinh doanh tổ hợp thể thao, xuất bản N ăm 2004
T ập đoàn Sam sung có giá trị xuất khẩu đạt 50 tỷ USD bằng 21% tổng giá trị xuất khẩu của H àn Q uốc, tổng doanh thu của Sam sung là 121,7 tỷ USD giá trị tài sản đạt 209 tỷ USD, lợi nhuận: 11,8 tỷ USD và có 222.000 nhân viên
T rong Tập đoàn Sam sung có 7 công ty cung cấp dịch vụ tài chính Công
ty m ẹ đều chiếm cổ phần khống c h ế trong các công ty con và Tập đoàn Sam sung đang có ý định sáp nhập các công ty này thành m ột công ty duy nhất
la C ông ty tài chính Sam sung (Sam sung Finance) H iện các định c h ế tài chính trong T ập đoàn Sam sung cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, gồm: Các dịch vụ bảo hiểm ; Q uản lý và phát hành thẻ tín dụng; Cho thuê th iết bị- Cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng, chiết khấu hối phiếu, tài trợ kin h doanh công nghệ m ới; m ôi giới trái phiêu và cổ phiếu; m ua bán nợ, m ua bán các giấy nhận
nợ, thương phiếu; quản lý tài sản; dịch vụ tư vấn đầu tư; quản lý và kinh doanh bất động sản, đầu tư m ạo hiểm vào các lĩnh vực kinh doanh m ới H àng năm các định c h ế tài chính đóng góp trên 25% tổng doanh thu của Tập đoàn
1.4.2 M ột sô bài học kinh ngh iệm
- CTTC trong T Đ K T ra đời là m ột sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, là bước phát triển cao hơn của các TĐKT M ục đích ban đầu khi các CTTC được thành lập chỉ là cung cấp dịch vụ tài chính trợ giúp cho các hoạt