3- Các quy định pháp luật về hoạt động kiểm toán 2004,NXB Chính trị Quốc gia4- Lý thuyết kiểm toán 2005, NXB Tài chính 5- Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng 2005; PGS - Nguyễn Vă
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀI
III1n 1JyQjI ■U |M ||
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
T H Ư V I Ê N
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Người cam đoan
Hoàng Thị Minh
Trang 4LỜI M Ở Đ Ầ U 1
C h ư ơ n g 1: N H Ữ N G V Â N Đ Ề c ơ B Ả N V Ể H Ệ T H Ố N G K IE M s o á t , k i ể m T O Á N N Ộ I B Ộ T R O N G N G Â N H À N G T H Ư Ơ N G M Ạ I 4 1 1 N h ữ n g v ấ n đ ề c ư b ả n v ề h ệ t h ố n g k i ể m s o á t k i ể m t o á n n ộ i b ộ đ ố i v ớ i n g â n h à n g t h ư ư n g m ạ i 4
1.1.1 Hệ thống kiểm soát nội bộ 4
1 1 1 1 K h á i n iệm v ề h ệ th ố n g k iể m s o á t n ộ i b ộ 4
1.1.12 Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ 5
1.1.13 Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội b ộ 6
1.1.14 Các nguyên tắc của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động NH 7
1.1.2 Kiểm toán nội bộ 11
1.1.2.1 Khái niệm về kiểm toán nội b ộ 11
1.1.2.2 Sự cần thiết của kiểm toán nội bộ 12
1.1.23 Mục tiêu của kiểm toán nội bộ 13
1.12.4 Các chức năng của kiểm toán nội bộ 13
1.12.5 Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ 14
1.12.6 Nguyên tắc của kiểm toán nội bộ 14
1.12.7 Phạm vi và phương pháp của kiểm toán nội bộ 15
1.12.8 Nội dung hoạt động kiểm toán nội bộ 15
1.12.9 Tiêu chuẩn của kiểm toán viên nội bộ 18
1.1.3 Mối quan hệ giữa kiểm soát, kiểm toán nội bộ và quản trị rủi ro 19
1.1.3.1 Phân biệt giữa kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ 19
1.1.3.2 Mối quan hệ giữa kiểm soát, kiểm toán nội bộ và quản trị rủi ro 19
1.1.4 Mối quan hệ giữa hệ thống kiểm soát kiểm toán nội bộ với Thanh tra ngân hàng và 20 kiểm toán bên ngoài
1.1.4.1 Với Thanh tra Ngân hàng Nhà nước 20
1.1.4.2 Đối với các cơ quan kiểm toán bên ngoài 21
1 2 H ệ t h ô n g k i ể m s o á t , k i ể m t o á n n ộ i b ộ đ ố i v ó i h o ạ t đ ộ n g t í n d ụ n g t r o n g n g â n h à n g t h ư o n g m ạ i 21
1.2.1 Sự cần thiết của kiểm soát kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín 21
MỤC LỤC
Trang 512.1.1 Tín dụng và vai trò của hoạt động tín dụng 21
12.1.2 Sự cần thiết và những lợi ích của kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng 24
1.2.2 Nội dung kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng 26
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 30
12.3.1 Các nhân tô'chủ q u a n 30
1 2 3 2 Các nhân tố khách quan 32
1 3 K i n h n g h i ệ m v ề k i ể m s o á t n ộ i b ộ c ủ a n g â n h à n g ở m ộ t s ô n ư ớ c t r ê n t h ê g iớ i v à b à i
1.3.1 Những kinh nghiệm của một số NH trên thê giới 32
1 3 2 Những kinh nghiệm có thề vận dụng đối với hoạt động kiêm soát, kiêm toan nọi bọ của NHTM Việt Nam 34
C h ư ơ n g 2 : T H ự C T R Ạ N G H O Ạ T Đ Ộ N G K I E M s o á t , k i ê m t o á n n ộ i b ộ Đ ố i
2 1 T h ự c t r ạ n g h o ạ t đ ộ n g k i n h d o a n h c ủ a N H C T V i ệ t N a m 36 2.1.1 Sơ lược về lịch sử phát triển NHCT Việt Nam 36
2.1.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của NHCT Việt Nam 38
2 2 T h ự c t r ạ n g c ô n g t á c k i ể m s o á t , k i ể m t o á n n ộ i b ộ h o ạ t đ ộ n g t í n d ụ n g t ạ i N g â n
h à n g C ô n g t h ư ơ n g V i ệ t N a m 47 2.2.1 Mô hình tổ chức và Quy chế hoạt động của hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ 47
22.1.1 Mô hình tổ chức và Quy c h ế hoạt động của bộ máy kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ từ tháng 01 năm 1991 đến tháng 04 năm 2005 47
2.2.12 Mô hình tổ chức của hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ của NHCT từ tháng 05/2005 đến nay 49 2.2.2 Thực trạng công tác kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại NHCTVN 52
22.2.1 Sơ lược hoạt động của hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ 52
22.2.2 Thực trạng công tác kiểm soát, kiểm toán nội bộ dối với hoạt động tín dụng tại NHCT Việt N am 55
Trang 62.3.1 Những kết quả đạt đ ư ợ c 6 0
2.3.2 Những hạn ch ế và tồn t ạ i 6 2
2.3.3 Những nguyên nhân dẫn đến tồn tại 6 4
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIÊN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
KIỂM SOÁT, KIỂM TOÁN NỘI BỘ Đ ố i VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI
N H C T V I Ệ T N A M 67
3 1 Đ ị n h h ư ớ n g p h á t t r i ể n h o ạ t đ ộ n g k i ể m s o á t , k i ê m t o á n n ộ i b ộ đ ó i v ớ i h o ạ t đ ộ n g t í n d ụ n g c ủ a N g â n h à n g C ô n g t h ư ơ n g V i ệ t N a m 6 7 3 1 1 Đ ị n h h ư ớ n g p h á t t r i ể n c h u n g c ủ a N H C T V i ệ t N a m 6 7 3 1 2 Đ ị n h h ư ớ n g x â y d ự n g v à đ ổ i m ớ i h o ạ t đ ộ n g k i ể m s o á t , k i ể m to á n n ộ i b ộ đ ố i v ớ i h o ạ t đ ộ n g tín d ụ n g c ủ a N H C T V i ệ t N a m 68
3.1.2.1 Mục tiêu tổng quát đối với hoạt động tín dụng 68
3.1.2.2 Định hướng công tác kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng 6 9 3 2 C á c g i ả i p h á p n h à m n â n g c a o c h ấ t l ư ợ n g k i ê m s o á t , k i ể m t o á n đ ố i v ớ i h o ạ t đ ộ n g t í n d ụ n g t ạ i N H C T V i ệ t N a m 72
3 2 1 C ơ c ấ u lạ i m ô h ì n h t ổ c h ứ c 72
3.2.1.1 Cơ cấu lại hệ thống kiểm soát nội bộ chung 72
3.2.1.2 Cơ cấu tổ chức lại bộ phận kiêm toán nội bộ 75
3 2 1.3 Cơ cấu tổ chức lại các phòng nghiệp vụ tạo sự kiểm tra lẫn nhau giữa các bộ phận tham gia quy trình tín dụng 79
3 2 2 T h i ế t lậ p h ệ t h ố n g c ơ c h ế c h í n h s á c h v à c h u ẩ n h ó a q u y t r ì n h n g h i ệ p v ụ 8 2 3 2 3 B ổ s u n g c á c th ủ t ụ c k i ể m s o á t t r o n g q u y t r ì n h tín d ụ n g 85
3 2 4 P h á t t r i ể n v à h o à n t h i ệ n b ộ p h ậ n k i ể m t o á n n ộ i b ộ 86
3 2 5 P h á t t r i ể n h o à n t h i ệ n h ệ t h ố n g t h ô n g tin v à t r u y ề n d ẫ n t h ô n g t i n 91
3 2 6 X â y d ụ n g h o à n t h i ệ n c h í n h s á c h c á n b ộ 9 2 3 3 M ộ t s ố k i ế n n g h ị 93
3 3 1 K i ế n n g h ị đ ố i v ớ i N g â n h à n g N h à n ư ớ c 93
3 3 2 K i ế n n g h ị đ ố i v ớ i N h à n ư ớ c 93
P H Ầ N K É T L U Ậ N 9 9
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TCTD
KTKS
Tổ chức tín dụng Kiểm tra kiểm soát
N gân hàng thương mại
N gân hàng công thương V iệt Nam
N gân hàng N hà nước Sản xuất kinh doanh
u ỷ ban thanh tra và giám sát Ngân hàng
u ỷ ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận, báo cáo tài chính
Trang 8M ô hình kiểm soát nội bộ theo c o s o
M ô hình chu trình kiểm toán nội bộ
M ô hình mối quan hệ quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ
Cơ cấu tổ chức N H CT V iệt N am
M ột số chỉ tiêu H Đ K D chủ yếu giai đoạn từ năm 2000-2006
Q uy mô vốn chủ sở hữu từ năm 2000-2006
V ốn huy động từ năm 2000-2006
Cho vay và đầu tư từ năm 2000-2006
D oanh số m ua bán ngoại tệ từ năm 2000-2006
Cơ cấu tổ chức hệ thống KSKT nội bộ của NH CT
M ột số kết quả kiểm tra nghiệp vụ tín dụng từ năm 2004-2006
Các mục tiêu về tài chính và an toàn hoạt động đến năm 2010
M ô hình hệ thống kiểm soát nội bộ (đề xuất)
M ô hình tổ chức bộ m áy kiểm toán nội bộ (đề xuất)
Trang 9T À I L IỆ U T H A M K H Ả O1- Quản trị Ngân hàng thương mại- Peter S.Rose (2004), xuất bản lần thứ tư, in lần thứ 2 tại Việt Nam, NXB Tài chính, Hà Nội.
2- Kiểm toán nội bộ hiện đại đánh giá các hoạt động và hệ thống kiểm soát nội hộ
(2000) - Victor Z.Brink and Nerbert Witt, xuất bản lần thứ 2; NXB Tài chính
3- Các quy định pháp luật về hoạt động kiểm toán (2004),NXB Chính trị Quốc gia4- Lý thuyết kiểm toán (2005), NXB Tài chính
5- Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng (2005); PGS - Nguyễn Văn Tiến, NXB Thống kê
6- Tài liệu tư vấn về hoạt động kiểm soát nội bộ- Dự án Tư vấn Hỗ trợ thực hiện
Dự án Tái cơ cấu ngân hàng của PricewaterhouseCoopers
7- Tài liệu Hội thảo Triển khai thực hiện Quy chế về kiểm toán nội bộ và kiểm tra kiểm soát nội bộ của Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức- GTZ
8- Tài liệu tư vấn về kiểm toán nội bộ trong khu vực công của Tổng cục Kê toán công - Pháp
9- Luật NHNN năm 1997, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 Luật bổ sung sửa đổi các tổ chức tín dụng năm 2004
10- Luật Doanh nghiệp Nhà nước số 14/2003/QH11 ngày 26/11/2003
11- Quyết định 832/TC/QĐ/CĐKT Bộ Tài chính quy định, hướng dẫn về kiểm toán nội bộ cho các doanh nghiệp Nhà nước
12- Quyết định số 03/1998/QĐ - NHNN ngày 03/01/1998 của Thống đốc NHNN Việt Nam về quy chế kiểm tra, kiểm toán nội bộ của các TCTD Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN ngày 01/08/2006 của Thống đốc NHNN Việt Nam Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/08/2006 của Thống đốc NHNN Việt Nam.13- Điều lệ hoạt động của NHCT Việt Nam năm 2003, Các quy chế, quy trình tín dụng của NHCT Việt Nam hiện hành, sổ tay tín dụng Chính sách, quy trình kiểm toán nội bộ; các văn bản hướng dẫn kiểm tra kiểm soát nội bộ hiện hành
14- Các báo cáo tổng kết năm, Báo cáo thường niên của NHCT Việt Nam
15- Các báo cáo tổng kết kiểm tra kiểm soát nội bộ hàng năm
16- Các tạp chí NHNN năm 2007
Trang 10LỞI M ỏ ĐẦU
1 Tĩnh cốp th iết của để tài
Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), Đảng và Nhà nước đang đẩy mạnh công cuộc cải cách nền kinh tế một cách sâu sắc và toàn diện Một trong những nội dung đặc biệt quan trọng là yêu cầu đổi mới hoạt động ngành ngân hàng Với đặc thù “kinh doanh quyền sử dụng tiền tệ”, hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, liên quan đên nhiều tác nhân, rất nhạy cảm với sự biến động của nền kinh tế, dễ dẫn đến những đổ vỡ dây chuyền, ảnh hưởng toàn nền kinh tế Vấn đề an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng phải đặt lên hàng đầu, ngoài các hoạt động quản trị, điều hành thì các ngân hàng không thê thiếu được hệ thống kiểm soát kiểm toán nội bộ hiệu quả Một hệ thống kiểm soát kiểm toán nội bộ vũng mạnh có thể giúp đảm bảo đạt được các mục tiêu của ngân hàng, duy trì công tác báo cáo tài chính
và báo cáo quản trị đáng tin cậy; đảm bảo tuân thủ luật pháp và các quy định, chính sách nội bộ, giảm thiểu rủi ro dẫn đến các khoản lỗ không mong muốn hoặc gây tổn hại đến danh tiếng của ngân hàng
Các quy định của u ỷ ban Basel đã nhấn mạnh tầm quan trọng và sự cần thiết phải có hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại Việc phát sinh những khoản thiệt hại đáng kê mà các ngân hàng trên thế giới phải gánh chịu trong những năm gần đây đã buộc các ngân hàng phải chú
ý nhiều hơn tới kiểm soát kiểm toán nội bộ Khi phân tích những vấn đề liên quan đến những khoản thiệt hại này, Ưỷ ban Basel đã chỉ ra rằng các ngân hàne có thể tránh được thiệt hại nếu duy trì một hệ thống kiểm soát kiểm toán nội bộ hiệu quả, thực hiện kiểm soát trên tất cả các mặt hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng Kiểm soát, kiểm toán nội bộ sẽ ngăn chặn hoặc tìm ra những nguyên nhân dẫn đến các khoản thiệt hại, qua đó hạn chế tổn thất cho ngân hàng
Trang 11Ở Việt Nam, việc củng cố và tăng cường kiểm soát, kiểm toán nội bộ trone doanh nghiệp đã bắt đầu được các nhà quản trị quan tâm Đối với các Ngân hàng thương mại, trong đó có Ngân hàng Công thương Việt Nam, hoạt động tín dụng đã và đang là hoạt động chính, mang lại thu nhập chủ yếu nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, hiện nay hoạt động này đang còn nhiều bất cập, chưa ngăn chặn, chưa phát hiện kịp thời các sai phạm, chưa hạn chế được rủi ro, thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu tương đối cao Vì vậy, nếu
có giải pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng công tác kiêm soát, kiểm toán nội
bộ đối với hoạt động tín dụng là rất cần thiết để hạn chế rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu giải pháp để tăng cường kiểm soát, kiểm toán nội bộ của các ngân hàng thương mại nói chung cũng như đối với NHCT Việt Nam nói riêng trở nên hết sức cần thiết và có tính thời sự trong
nền kinh tê hội nhập Đó chính là lý do để tác giả lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm soát, kiểm toán nội bộ đôi với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Công thương Việt N a m ”.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về kiểm soát, kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại, qua đó khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động này trong công tác quản trị điều hành ngân hàng
Phân tích thực trạng để làm rõ những kết quả và hạn chế của hệ thống kiểm soát kiểm toán nội bộ của NHCT Việt Nam qua đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của công tác này đối với hoạt động tín dụng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của NHCT Việt Nam
3 Đối tượng vã phợm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ của ngân hàng thương mại trên cơ sở các chuẩn mực, quy định và thông lệ quốc tế
Luận văn tìm hiểu nghiên cứu hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại NHCT Việt Nam, sử dụng sô liệu từ năm 2004-2006
đê phân tích hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng
Trang 124 Phương pháp nghiên cữu
Đê giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung đề tài, học viên sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin Đó là: phương pháp phân tích-tổng hợp; phương pháp đối chiếu, so sánh, mô tả và khái quát hoá đối tượng nghiên cứu Kết hợp các phương pháp này để rút ra những kết luận phục vụ cho đề tài
5 Những đóng góp của luận văn
Luận văn đã làm sáng tỏ hơn về cơ sở lý luận của hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ; Hệ thống hoá có chọn lọc các công trình nghiên cứu của các học giả về hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp nói chung
và ngân hàng thương mại nói riêng
Đề xuất một hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ phù hợp với thực tế hoạt động ngân hàng tại Việt Nam tiến gần đến chuẩn mực quốc tế, trong đó
có những giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Công thương Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động này
6 Kết cáu của luận văn
Tên luận văn: “G i ả i p h á p n à n g c a o c h ấ t l ư ợ n g k i ê m s o á t , k i ể m t o á n n ộ i
b ộ đ ô i v ó i h o ạ t đ ộ n g t í n d ụ n g t ạ i N g â n h à n g C ô n g t h ư ơ n g V i ệ t N a m ”
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục; Phần nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương, cụ thể như sau:
C h ư ơ n g 1 :Những vấn đề cơ bản về hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ
trong ngân hàng thương mại
C h ư ơ n g 2 : Thực trạng hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với
công tác tín dụng tại Ngân hàng Công thương Việt Nam
C h ư ơ n g 3 : Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng
kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Công thương Việt Nam
Trang 13Chương 1
NHỮNG VẨN ĐỀ Cơ BẢN VẼ' HỆ THốNG KIEM SOÁT
ĐỔI VỚI NGÂN HÃNG THƯỔNG MẠI
1.1.1 Hệ thống kiểm soát nội bộ
Theo Liên đoàn kê toán quốc tê (IFAC), kiểm soát nội bộ là: Tất cả các chính sách, thủ tục do nhà quản lý của tổ chức lựa chọn áp dụng đ ể đảm hảo đạt được các mục tiêu quản trị, quản lý có lỉiệu quả hoạt động kinh doanh, hao gồm cả việc tham gia vào các chính sách quản trị, hảo vệ tài sản, ngăn ngừa và phát hiện các gian lận và sai sót, đảm bảo sự phù hợp và toàn vẹn của các sô sách, k ế toán, háo cáo một cách đáng tin cậy vê các thông tin tài chính
u ỷ ban kiểm toán quốc gia của Tổng cục kiểm toán công Pháp đưa ra định
nghĩa: “Kiểm soát nội hộ là tập hợp các hiện pháp (quy trình) được tô chức, được định hình và mang tính thường xuyên do han lãnh đạo lựa chọn và được cán bộ quản lý ở tất cả các cấp thực hiện nhằm đảm bảo quá trình thông suốt trong hoạt động Các quy trình này nhằm đảm hảo thực hiện các mục tiêu:
- Thực hiện và tối ưu hoá hiệu quả hoạt động
- Bảo vệ tài sản và nguồn lực tài chính
- Độ tin cậy của thông tin k ế toán và tài chính
- Tuân thủ luật và các quy định
- Chất lượng của các hoạt động
Đó là một hệ thống có tổ chức, được định hình và mang tính thường xuyên nhằm tạo điều kiện cho mỗi đơn vị đạt được các mục tiêu của mình Kiểm soát nội bộ vượt ra ngoài khuôn khô của hoạt động kiểm tra đột xuất và gắn liền với vai trò điều hành của lãnh đạo đơn vị ”.
Trang 14Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tại khoản 2 Điều 5 Quyết định
36/2006/NHNN thì khái niệm Hệ thống kiểm tra, kiểm soán nội bộ “Lù tập hợp các cơ chế, chính sách, qui trình, qui định nội bộ, cơ cấu tô chức của tô chức tín dụng được thiết lập trên cơ sở phù hợp với qui định pháp luật hiện hành và được tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các rủi ro và đạt được các mục tiêu mà tổ chức tín dụng đó đặt ra ”.
Tóm lại, có thể hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ là các chính sách, quy trình thông lệ và cơ cấu tổ chức được thiết lập nhằm có được sự đảm bảo ở mức độ hợp lý rằng ngân hàng sẽ đạt được các mục tiêu kinh doanh và phòng ngừa, phát hiện hoặc khắc phục các sự việc xảy ra ngoài mong muốn Là công
cụ quản lý rủi ro mang tính bao quát: “ một công cụ điều hành, một công cụ
sư pham và đào tạo, một công cụ phổ biên cách làm hay Được hoà nhập vao
chính hoạt động của đơn vị, kiểm soát nội bộ là công việc của tát cả mọi người, ở mọi kháu công việc.
1.7.1.2 M ục tiêu của hệ thõng kiểm soát nội bộ
* Mục tiêu hiệu quả và hiệu năng hoạt động là sử dụng nguồn lực hiện
có một cách hiệu quả nhất:
- Hạn chê rủi ro ở mức độ chấp nhận được
- Đảm bảo sự phối hợp, cùng làm việc của toàn bộ nhân viên trong ngân hàng với một văn hoá kiểm soát lành mạnh nhằm đạt được mục tiêu của ngân hàng với hiệu năng và sự nhất quán
- Đảm bảo kết hợp hài hoà các lợi ích, đặt lợi ích của khách hàng, của nhân viên lên trên lợi ích của ngân hàng để duy trì sự trung thành, gắn bó nhằm đảm bảo cho ngân hàng phát triển ổn định, vững chắc
* Mục tiêu thông tin là độ tin cậy, tính hoàn thiện và cập nhật của thông
tin tài chính và quản lý
Trang 15- Các báo cáo được lập đúng hạn, đáng tin cậy là căn cứ đê HĐQT, Ban điều hành ra những quyết định đúng đắn.
- Các thông tin cung cấp cho Ban Tổng giám đốc, HĐQT, các cổ đông và các cơ quan giám sát đảm bảo đầy đủ, chất lượng
* Mục tiêu tuân thủ là đảm bảo mọi hoạt động của ngân hàng đều tuân thủ:
- Các quy định của pháp luật, NHNN, các yêu cầu về giám sát
- Các chính sách, quy trình nghiệp vụ nội bộ do chính ngân hàng thiết lập
1.1.1.3 Các yếu t ố cơ bản của hệ thông kiểm soát nội bộ
- Môi trường kiểm soát: tạo ra phong thái của toàn doanh nghiệp và có
ảnh hưởng tới ý thức về kiểm soát của các nhân viên; là nền móng của hệ thống kiểm soát nội bộ Môi trường kiểm soát bao gồm phương châm và phong cách kinh doanh của Ban lãnh đạo, hiệu quả của cơ cấu tổ chức, tính hợp lý của các kế hoạch và mức độ tin cậy của các ước tính của Ban lãnh đạo
- Đánh giá rủi ro: là xác định và phân tích các rủi ro đối với việc hoàn
thành các mục tiêu của doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc xác định xem các rủi
ro đó cần được quản lý như thế nào
- Các hoạt độnẹ kiểm soát: là các chính sách và thủ tục góp phần đảm
bảo các định hướng của Ban lãnh đạo được thực hiện
- Hệ thống thông tin và trao đổi thông tin:: hỗ trợ việc nắm bắt chính xác,
kịp thời các thông tin tạo điều kiện cho các thành viên thực hiện các nhiệm vụ của mình
- Đánh giá hoạt động kiểm soát: là quá trình đánh giá chất lượng kiểm soát
nội bộ một cách thường xuyên, riêng lẻ hay kết hợp cả hai Dưới góc độ này thì
kiểm toán nội bộ được xem là một phần của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Có thể mô tả các cấu phần của hệ thống kiêm soát nội bộ như sau:
Trang 161 7.1.4 Các nguyên tắc của hệ thống kiểm soát nội bộ
5 yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát được u ỷ ban Basel về giám sát hoạt động ngân hàng cụ thể hoá thành 12 nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt và kiểm tra
định kỳ toàn bộ chiến lược kinh doanh và những chính sách quan trọng của ngân hàng; hiểu rõ những rủi ro trọng yếu của ngân hàng, xây dựng những mức độ có thể chấp nhận đối với các rủi ro này và đảm bảo rằng Ban điều hành đã thực hiện các bước cần thiết để xác định, đo lường, giám sát và kiểm tra những rủi ro này; phê duyệt cơ cấu tổ chức và đảm bảo rằng Ban điều hành đang giám sát sự hiệu quả của hệ thống kiêm soát nội bộ Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm sau cùng về việc thiết lập và duy trì một hệ thống kiểm soát nội bộ đầy đủ và hiệu quả
Nguyên tắc 2; Ban điều hành chịu trách nhiệm thi hành những chiến lược
và chính sách đã được phê duyệt bởi HĐQT; nâng cao việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm tra những rủi ro mắc phải của ngân hàng; duy trì một
cơ cấu tổ chức trong đó có sự phân công rõ ràng về trách nhiệm, quyền hạn và các mối quan hệ giữa các bộ phận; đảm bảo rằng đã thực hiện nhiệm vụ được giao phó một cách có hiệu quả; thiết lập những chính sách kiểm soát nội bộ
Trang 17thích hợp; kiểm tra sự đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Nguyên tắc 3: Hội đồng quản trị và Ban điều hành có trách nhiệm nâng
cao đạo đức và tính chính trực, thiết lập văn hoá trong đó nhấn mạnh và làm cho tất cả nhân viên thấy rõ tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ Tất cả nhân viên ngân hàng cần phải hiểu rõ vai trò của mình trong quá trình kiêm soat nội
bộ và thực sự tham gia vào quá trình đó
Nguyên tắc 4: Một hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả đòi hỏi những
rủi ro trọng yếu ảnh hưởng có hại đến việc hoàn thành mục tiêu cua ngân hàng phải được nhận biết và đánh giá liên tục Sự đánh giá này phải bao trùm tất cả các rủi ro trong hoạt của ngân hàng (đó là rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành, rui
ro pháp lý và rủi ro thương hiệu)
Nguyên tắc 5: Hoạt động kiểm soát phải là một công việc quan trọng
trong các hoạt động hàng ngày của ngân hàng Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi phải thiết lập một cơ cấu kiểm soát thích hợp, trong đó sự kiểm soát được xác định ở mỗi mức hoạt động Những điều này bao gồm kiểm tra ở mức độ cao nhất; kiểm tra hoạt động đối với bộ phận, các phòng ban khác nhau; kiểm kê; kiểm tra sự tuân thủ những quy định ban hành và theo dõi
sự không tuân thủ; một hệ thống đã được phê duyệt và uỷ quyền; và một hệ thống kiểm tra đối chiếu
Nguyên tắc 6: Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi có sự phân
công nhiệm vụ hợp lý và các nhân viên đó không được phân công mâu thuẫn với trách nhiệm Những xung đột về quyền lợi phải được nhận biết, giảm thiểu tối đa và tuỳ thuộc vào sự kiểm toán độc lập, thận trọng
Nguyên tắc 7: Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi có dữ liệu
đầy đủ và tổng thể về sự tuân thủ, về tình hình hoạt động và tình hình tài chính, cũng như là những thông tin bên ngoài về những sự kiện và điều kiện
mà nó xác đáng đến việc đưa ra quyết định Thông tin phải đáng tin cậy, kip thời, có thể sử dụng được và trình bày theo mẫu biểu
Nguyên tắc 8: Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi một hệ
Trang 18thống thông tin đáng tin cậy, có thể đáp ứng cho hầu hết các hoạt động chủ yếu của ngân hàng Hệ thống này phải được lưu trữ và sử dụng dữ liệu bằng máy tính, an toàn, được theo dõi độc lập và được kiểm tra đột xuất.
Nguyên tắc 9: Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi kênh trao
đổi thông tin hiệu quả để đảm bảo rằng tất cả nhân viên đã hiểu đầy đủ và tuân thủ triệt để các chính sách và các thủ tục có liên quan đến trách nhiệm và nhiệm vụ của họ và đảm bảo rằng những thông tin cần thiết khác cũng đã được phổ biến đến các nhân viên có liên quan
Nguyên tắc 10: Hiệu quả toàn diện của hệ thống kiểm soát nội bộ là việc
theo dõi, kiểm tra phải liên tục Việc theo dõi những rủi ro trọng yếu phải là công việc hàng ngày của ngân hàng, cũng như là việc đánh giá định kỳ của bộ phận kinh doanh và kiểm toán nội bộ
Nquyên tắc 11: Phải có kiểm toán nội bộ toàn diện, hiệu quả của hệ
thống kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi nhũng ngưòi có đủ khả năng, được đào tạo thích hợp và có thể làm việc độc lập Chức năng kiêm toán nội bộ, cũng là việc theo dõi hệ thống kiểm soát nội bộ, phải được báo cáo trực tiếp cho Hội đồng quản trị hoặc Ban kiêm soát và Ban điều hành
Nguyên tắc 12: Những sai sót của hệ thống kiểm soát được phát hiện bởi
bộ phận kinh doanh, kiểm soát nội bộ, hoặc các nhân viên khác, thì phải báo cáo kịp thời cho cấp quản lý thích hợp và ghi nhận ngay lập tức Những sai sót trọng yếu của kiểm soát nội bộ phải được báo cáo cho Ban điều hành và Hội đồng quản trị
Các nguyên tắc này đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vận dụng tại Điều 5 Quyết định 36/2006/NHNN quy định về 9 nguyên tắc cơ bản của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ:
M ột là : Mọi rủi ro có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả và mục
tiêu hoạt động của tổ chức tín dụng đều phải được nhận dạng, đo lường, đánh giá một cách thường xuyên, liên tục để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và có biện pháp quản lý rủi ro thích hợp Mỗi khi có sự thay đổi về các mục tiêu
Trang 19kinh doanh, các sản phẩm, dịch vụ và các hoạt động kinh doanh mới, tổ chức tín dụng phải rà soát, nhận dạng các rủi ro liên quan để xây dựng, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, qui trình, qui định kiểm tra, kiểm soát nội bộ phù hợp.
H ai là: hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ là một phận không tách rời
của các hoạt động hàng ngày của tổ chức tín dụng Cơ chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ được thiết kế, cài đặt ngay trong mọi qui trình nghiệp vụ, tại tất cả các đơn vị, bộ phận của tổ chức tín dụng dưới nhiều hình thức như :
- Cơ chế phân cấp uỷ quyền rõ ràng, minh bạch; đảm bảo tách bạch nhiệm vụ, quyền hạn của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức tín dụng
- Cơ chế kiểm tra chéo giữa các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia một qui trình nghiệp vụ
- Qui định về hạn mức rủi ro cụ thể đối với từng cá nhân, bộ phận trong việc thực hiện các giao dịch
- Qui trình và cơ chế thẩm định, kiểm tra, chấp thuận và duyệt cho phép thực hiện các giao dịch; đảm bảo một qui trình nghiệp vụ phải có ít nhất 2 cán
bộ thực hiện, không có cá nhân nào có thê một mình tiên hành thực hiện và quyết định một qui trình nghiệp vụ, một giao dịch cụ thể, ngoại trừ những giao dịch trong hạn mức được tổ chức tín dụng cho phép phù hợp với qui định của pháp luật
Ba là: cơ chế phân cấp uỷ quyền phải được thiết lập, thực hiện một cách
hợp lý, cụ thể, rõ ràng, tránh các xung đột lợi ích; đảm bảo một cán bộ không đảm nhiệm cùng một lúc những cương vị, nhiệm vụ có mục đích, quyền lợi mâu thuẫn hoặc chồng chéo với nhau; đảm bảo mọi cán bộ trong tổ chức tín dụng không có điều kiện đê thao túng hoạt động, bưng bít thông tin phục vụ các mục đích cá nhân hoặc che dấu các hành vi, vi phạm qui định của pháp luật và qui định nội bộ
Bôn là: đảm bảo chấp hành chế độ hạch toán, kế toán theo qui định và
phải có hệ thống thông tin nội bộ về tài chính, về hoạt động, về tình hình tuân thủ trong tổ chức tín dụng và tình hình kinh tế, thị trường bên ngoài hợp lý, tin
Trang 20cậy, kịp thời nhằm phục vụ cho công tác quản trị, điều hành có hiệu quả.
Năm là: hệ thống thông tin, tin học của tổ chức tín dụng phải được giám
sát, bảo vệ một cách hợp lý, an toàn và phải có cơ chê quản lý dự phòng độc lập (back- up) nhằm xử lý kịp thời những tình huống bất ngờ như thiên tai, cháy, nổ để đảm bảo hoạt động kinh doanh thường xuyên, liên tục của tổ chức tín dụng
Sáu là: đảm bảo mọi cán bộ, nhân viên của tổ chức tín dụng đều phải
quán triệt được tầm quan trọng của hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ; vai trò của từng cá nhân trong quá trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ có liên quan đên chức năng nhiệm vụ của bản thân họ và phải tham gia thực hiện một cách đầy
đủ và có hiệu quả các qui đinh, qui trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ liên quan
Bảy là: người điều hành các bộ phận, đơn vị nghiệp vụ, các cá nhân có
liên quan phải thường xuyên xem xét, đánh giá về tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ; mọi khiếm khuyết của hệ thống này phải được báo cáo kịp thời với cấp quản lý trực tiếp; những khiếm khuyết lớn
có thể gây tổn thất hoặc nguy cơ rủi ro phải được báo cáo ngay cho Tổng Giám đốc (Giám đốc), Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát
Tám là: tất cả các cá nhân, các bộ phận ở mọi cấp của tổ chức tín dụng
phải thường xuyên, liên tục kiểm tra và tự kiểm tra việc thực hiện các qui định, qui trình nội bộ có liên quan và phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện hoạt động nghiệp vụ của mình trước tổ chức tín dụng và pháp luật
Chín là: lãnh đạo tại các đơn vị, bộ phận của tổ chức tín dụng phải báo
cáo, đánh giá về kết quả kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại đơn vị mình; đề xuất biện pháp xử lý đối với những tồn tại, bất cập (nếu có) gửi lãnh đạo cấp quản
lý “trực tiếp” theo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của lãnh đạo cấp quản
lý trực tiếp
1.1.2 Kiểm toán nội bộ
7.1.2.1 Khái niệm v ề kiểm toán nội bộ
Theo các chuẩn mực hành nghề của kiểm toán nội bộ do Viện kiểm toán
Trang 21viên nội bộ Hoa Kỳ ban hành: “Kiểm toán nội bộ là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức đ ể xem xét và đánh giá các hoạt động của tổ chức với tư cách là một sự trợ giúp đối với tổ chức đ ó ”
Theo Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ quốc tế (IIA) “Kiểm toán nội bộ là một chức năng đánh giá độc lập bên trong tổ chức, đ ể kiểm tra và đánh giá các hoạt động của tổ chức, như là một hoạt độn g phục vụ tổ chức ”
Theo Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/8/2006 của NHNNVN
nêu khái niệm “Kiểm toán nội bộ là hoạt động kiểm tra, rà soát, đánh giá một cách độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập vê tính thích hợp và sự tuân thủ các chính sách, thủ tục CỊuy trình
đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng, thông qua đó đơn vị thực hiện kiểm toán nội bộ đưa ra các kiến nghị, tư vấn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các hệ thống, các quy trình, quỵ định, góp phần đảm bảo tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp lu ậ t”.
Nhu vậy, có thể hiểu: Kiểm toán nội bộ là một bộ phận chuyên trách, hoạt động độc lập và khách quan được thành lập bên trong một tổ chức nhằm mang lại cho tổ chức sự đảm bảo về khả năng kiểm soát các hoạt động của tổ chức, tư vấn cho tổ chức các giải pháp chấn chỉnh hoạt động của mình, góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho tổ chức
7.1.2.2 Sự cẩn th iế t của kiểm toán nội bộ
Một hệ thống kiểm soát nội bộ cho dù được thiết lập công phu đến đâu thì cũng khó tránh khỏi những hạn chế bởi:
- Trình độ của cán bộ nghiệp vụ, đặc biệt là với nhữne lĩnh vực, sản phẩm mới
- Quá trình công tác của cán bộ nghiệp vụ đã trở nên mệt mỏi
- Cơ chê kiểm tra kiểm soát gắn liền với quy trình nghiệp vụ trở nên vô hiệu khi có sự cấu kết, thông đồng
- Có những cán bộ tha hoá biến chất, cố tình gian lận
Trang 22- Có sự can thiệp của lãnh đạo
Do đó cần phải thiết lập hệ thống kiểm toán nội bộ chuyên trách để khắc phục những hạn chế của cơ chế kiểm tra, kiểm soát gắn liền với quy trình nghiệp vụ Bằng việc tiếp cận hệ thống và có phương pháp, kiểm toán nội bộ
giúp tổ chức của mình thông qua việc đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý rủi ro, hệ thông kiểm soát nội bộ, sau đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của các hệ thống này
7.1.2.3 Mục tiêu của kiểm toán nội bộ
Mục tiêu thứ nhất, giúp Hội đồng quản trị, Ban lãnh đạo ngân hàng thực
hiện chức năng giám sát của mình đối với quy trình báo cáo thông tin tài chính, phi tài chính nhằm đảm bảo rằng các thông tin được công bố là trung thực, rõ ràng và không bị lạm dụng
Mục tiêu thứ hai, đánh giá tính hiệu quả của hệ thống quản lý rủi ro, hệ
thống kiểm soát nội bộ Phát hiện nguyên nhân những sơ hở, yếu kém trong hoạt động từ đó đề xuất và tư vấn cho Hội đồng quản trị, Ban điều hành các biện pháp, giải pháp để cải tiến hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống quản lý rủi ro
Mục tiêu thứ ba, giúp nâng cao vị thế của ngân hàng thông qua việc
hoàn thiện môi trường quản lý rủi ro và kiêm soát nội bộ của ngân hàng
7.1.2.4 Các chức nâng của kiểm toán nội bộ
Chức năng Kiểm tra: Là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật để xem xét,
đối chiếu mức độ trung thục của các thông tin, tài liệu và tính hợp pháp của việc thực hiện các nghiệp vụ hay lập các bản khai tài chính
Chức năng đánh giá: Thông qua kiểm tra, kiểm toán nội bộ thực hiện
đánh giá tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các số liệu, thông tin tài liệu được kiểm tra
Chức năng xác nhận: Thông qua kiểm tra, đánh giá, kiểm toán nội bộ
xác nhận thực trạng của thông tin đã kiểm tra về tính đúng đắn, trung thực và
Trang 23hợp pháp của các thông tin đó.
Chức năng tư vấn: Trên cơ sở những phát hiện trong quá trình kiểm tra,
đánh giá, kiểm toán nội bộ đề xuất và tư vấn các giải pháp để khắc phục sai sót, cải tiến và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, giúp ngân hàng đạt được mục tiêu của mình
1.1.2.5 Nhiệm vụ của kiểm toán nộ i bộ
Kiểm tra và đánh giá tính phù hợp, tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp
Kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị doanh nghiệp trước khi trình duyệt và công bố
Kiểm tra và đánh giá sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh, đặc biệt là sự tuân thủ luật pháp, chính sách nội bộ, nghị quyết của Hội đồng quản trị, của Ban điều hành
Phát hiện những sơ hở, yếu kém , gian lận trong quản lý, trong bảo vệ tài sản của doanh nghiệp; đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệ thống quản lý, điều hành kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2.6 Nguyên tắc của kiểm toán nội bộ
Đê thực hiện được chức năng và nhiệm vụ, kiểm toán nội bộ phải đảm bảo được các nguyên tắc cơ bản sau:
Nquyên tắc độc lập: kiêm toán viên không bị chi phối bởi các điều kiện
có ảnh hưởng đến tính khách quan Những sự kiện đó cần phải được quản lý ở cấp độ từng kiểm toán viên, từng cuộc kiểm toán, từng bộ phận và ở cấp độ doanh nghiệp Muốn vậy, bộ phận kiểm toán nội bộ phải độc lập với các đơn
vị, các bộ phận điều hành, tác nghiệp của tổ chức tín dụng; hoạt động của kiểm toán nội bộ phải độc lập với các hoạt dộng điểu hành, tác nghiệp của tổ chức tín dụng
Nguyên tắc khách quan: Bộ phận kiểm toán nội bộ, kiểm toán viên nội
bộ phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, công bằng, không định kiến khi
Trang 24thực hiện nhiệm vụ kiểm toán nội bộ Tức là khi độc lập về mặt nhận thức cho phép kiểm toán viên có thể thực hiện được công việc kiểm toán ở mức độ trung thực cao nhất và không có bất kỳ một sự chi phối đáng kể nào ảnh hưởng đến công việc kiểm toán.
Nguyên tắc chuyên nghiệp: kiểm toán viên phải là người có kiến thức,
trình độ và kỹ năng kiểm toán nội bộ cần thiết, không kiêm nhiệm các cương
vị, các công việc chuyên môn khác của tổ chức tín dụng
Nguyên tắc liên tục: các ngân hàng phải thiết lập được bộ phận kiểm
toán nội bộ chính thức, hoạt động lâu dài, phù hợp với quy mô và bản chất hoạt động của đơn vị
1.1.2.7 Phạm vi và phương pháp của kiểm toán nội bộ
Phạm vi của kiểm toán nội bộ rất rộng, có thể thực hiện kiểm toán ở tất
cả các nghiệp vụ trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng: cả ở lĩnh vực tài chính và lĩnh vực phi tài chính; đối với tất cả các chi nhánh, các công ty trực thuộc Phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ được thể hiện trên
3 loại : Kiểm toán và xác nhận các báo cáo tài chính và các báo cáo khác về quản trị của ngân hàng; Kiểm toán tính tuân thủ trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo các quy định của pháp luật, các quy định nội bộ; Kiểm toán hoạt động như đánh giá hiệu quả kinh tế trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng (đây là hoạt động chủ yếu mà kiểm toán nội bộ hướng tới - đáp ứng yêu cầu đặt ra là phạm vi kiểm toán phải ngày được mở rộng: T ừ h ợ p lệ v à a n
Trang 25đơn vị phải xây dựng một phương pháp đánh giá rủi ro có hệ thống nhằm:
- Phân tích và đánh giá rủi ro tiềm tàng: là những rủi ro tiềm ẩn có khả năng ảnh hưởng đên việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh của đơn vị
- Phân tích và đánh giá rủi ro kiểm soát: là độ tin cậy và tính hiệu quả của các hoạt động kiểm soát trong việc làm giảm bớt tác động hoặc khả năng xảy ra rủi ro
Dựa trên những đánh giá đó phân loại mức độ rủi ro của từng bộ phận, từng nghiệp vụ để lập kế hoạch kiểm toán hàng năm Những bộ phận có rủi ro càng cao thì tần suất kiểm toán càng lớn Tuy nhiên, kê hoạch kiểm toán còn phải tuỳ thuộc cả vào điều kiện nguồn lực của doanh nghiệp để cân nhắc giữa chi phí và lợi ích đem lại
* H o ạ t đ ộ n g 2 : T h ự c h i ệ n c á c c u ộ c k i ể m t o á n
Mỗi cuộc kiểm toán cụ thể được tiến hành theo trình tự của quy trình kiểm toán Quy trình hướng dẫn chi tiết về phương thức đánh giá rủi ro, lập kế hoạch chi tiết từng cuộc kiểm toán, cách thức thực hiện công việc kiểm toán, lập và gửi báo cáo kiểm toán, lưu giữ hồ sơ, tài liệu KTNB Quy trình được quy định áp dụng thống nhất cho các cuộc kiểm toán mà đoàn kiểm toán và KTV nội bộ phải tuân thủ khi tiến hành kiểm toán, nhằm đảm bảo chất lượng
và hiệu quả của các cuộc kiểm toán Quy trình kiểm toán thông thường gồm bốn bước:
Bước 1- Chuẩn hi kiểm toán: Nội dung chính của bước chuẩn bị kiểm toán
là khảo sát thu thập thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ, tình hình tài chính và các thông tin liên quan đên đối tượng được kiểm toán; xác định mục tiêu, nội dung, phạm vi, thủ tục và phương pháp kiểm toán thích hợp; kế hoạch nhân sự và thời gian
Bước 2 - Thực hiện kiểm toán: Đoàn kiểm toán thực hiện kiểm toán tại đơn vị
được kiểm toán với mục tiêu, nội dung, phạm vi kiểm toán, địa điểm và thời hạn ghi trong quyêt định kiểm toán Các thành viên đoàn kiểm toán thu thập và đánh giá các bằng chứng kiêm toán; kiểm tra đối chiếu, xác nhận về những nội dung
Trang 26k iể m toán.
Bước 3 - Lập và gửi báo cáo kiểm toán: Kết thúc cuộc kiểm toán, đoàn
kiểm toán lập báo cáo kiểm toán ghi rõ các ý kiến đánh giá, xác nhận, kết luận
và kiến nghị về những nội dung đã kiêm toán dựa trên cơ sở các bằng chứng kiểm toán Báo cáo kiểm toán được gửi cho đơn vị được kiểm toán và báo cáo lên cấp trên Trường hợp trong khi kiểm toán nếu có những vấn đề bất thường phải lập báo cáo đột xuất gửi cho cấp quản lý phù hợp
Hồ sơ kiểm toán: Tài liệu của mỗi một cuộc kiểm toán dược lập thành
Hồ sơ kiểm toán Các tài liệu thuộc hồ sơ kiểm toán do pháp luật quy định Hồ
sơ kiểm toán phải dược bảo quản đầy đủ, an toàn và báo mật
Bước 4 - Theo dõi sau kiểm toán: Việc theo dõi sau kiểm toán nhằm
đánh giá hiệu lực, hiệu quả của các khuyến nghị và rút kinh nghiệm cho việc xây dựng kiến nghị kiểm toán trong những lần kiểm toán sau
* H o ạ t đ ộ n g 3 : Lập b á o c á o v ê h o ạ t đ ộ n g k i ể m t o á n
- Báo cáo kiểm toán nội bộ được tổng hợp theo định kỳ (Quý, năm);
- Báo cáo theo dõi các đơn vị, bộ phận, cá nhân thực hiện các kiến nghị của kiểm toán nội bộ
* H o ạ t đ ộ n g 4 : Đ ả m b ả o c h ấ t l ư ợ n g k i ể m t o á n n ộ i b ộ
BỢ phận kiểm toán nội bộ cần phải xây dựng và duy trì các thủ tục đảm bảo chất lượng, nhằm: Đảm bảo hoạt động của kiểm toán nội bộ gia tăng giá trị các hoạt động của ngân hàng; đảm bảo các hoạt động kiếm toán nội bộ tuân thủ theo các chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức hiện thời Các thủ tục đảm bảo chất lượn2 bao gồm:
+ Đánh giá nội bộ: là việc đánh giá liên tục hay định kỳ do kiểm toán
nội bộ tự đánh giá hoặc do nhóm đảm bảo chất lượng đánh giá, bao gồm:
- Việc tuân thủ đối với luật pháp, các quy định và chuẩn mực n2ân hàng được đề cập trong yêu cầu kiểm toán
- Việc tuân thủ đối với chính sách và quy trình kiểm toán nội bộ
- Tính hiệu quả trong việc kiểm toán
- Mức độ thoả mãn của các bên hữu quan, bên được kiểm toán đối với
Trang 27công việc của kiểm toán nội bộ (qua xây dựng bảng câu hỏi).
+ Đánh giá độc lập: ít nhất 5 năm một lần bộ phận kiểm toán nội bộ phải
được đánh giá đảm bảo chất lượng một cách độc lập bởi những người có đủ năng lực và có tính độc lập từ bên ngoài ngân hàng (như các công ty kiểm toán độc lập danh tiếng) để đo lường và giám sát kết quả thực hiện công việc của kiểm toán nội bộ nhằm liên tục nâng cao chất lượng của công tác này
Có thể mô hình hoá chu trình của kiểm toán nội bộ như sau:
H ình 1.2 : M ô hình chu trình kiểm toán nội bộ
Mô hình trên có thể so sánh kiểm toán nội bộ như một vòng tròn khép kín - đặc trưng của kiểm toán nội bộ - không có điểm đầu và điểm cuối mà cần phải thường xuyên rà soát và không ngừng phát triển để vòng tròn trở thành đường xoắn lên cao
ỉ 1.2.9 Tiêu chuẩn của kiểm toán viên nội bộ
* Về đạo đức: Kiểm toán viên phải trung thực và có lương tâm nghề
nghiệp, không bị các lợi ích cá nhân chi phối; Phải khách quan, công minh không để các định kiến thiên lệch khi bày tỏ ý kiến; Có thái độ và quan hệ ứng
Trang 28sử tốt, tạo niềm tin đối với những người được trao đổi; Tự tin và thận trong trong công việc, không để mắc những rủi ro kiểm toán trọng yếu; Luôn tuân thủ tính bảo mật theo quy định
* Vê năng lực, kh ả năng: Kiểm toán viên nội bộ phải hiểu biết rộng, am
hiểu sâu về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng và phương pháp làm việc chuyên nghiệp, cụ thể:
- Phải có bằng cấp (tối thiểu là đại học chuyên ngành tài chính kê toán), phải có kinh nghiệm qua thời gian công tác về lĩnh vực kiểm toán;
- Phải thường xuyên được học tập nghiệp vụ chuyên môn;
- Phải có khả năng phân tích, đánh giá, phát hiện vấn để;
- Phải có khả năng giao tiếp tốt;
- Phải có sức khoẻ tốt; khả năng chịu đựng truớc áp lực công việc
1.1.3 Mối quan hệ giữa kiểm soát, kiểm toán nộỉ bộ và quản trị rủi ro
7.1.3.1 Phân b iệ t giữa kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ
Kiểm soát nội bộ không phải là một phòng ban cụ thể mà là hệ thống bao gồm 5 yếu tố cơ bản: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, hệ thống thông tin và trao đổi thông tin, đánh giá hoạt động kiểm soát bao trùm hết mọi chính sách, chế độ, quy trình và trong đó kiểm toán nội
bộ là một nhân tố cơ bản không thể thiếu được trong môi trường đó Kiểm soát nội bộ là công việc của tất cả mọi người ở mọi khâu trong đơn vị Còn bộ phận kiểm toán nội bộ gồm các phòng, ban được thành lập thành một hệ thống, độc lập trực thuộc cấp lãnh đạo cao nhất trong doanh nghiệp, nhằm cung cấp một sự giám sát và đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của đơn vị, trong đó có hệ thống kiểm soát nội bộ Như vậy, kiểm toán nội bộ chỉ
là một phần trong hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát kiểm toán
là cấu trúc nòng cốt của quản trị điều hành doanh nghiệp; là cơ sở nền táng, điều kiện tiên quyết của quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng
7.1.3.2 M ố i quan hệ giữa kiểm soát, kiểm toán nội bộ và quản tr ị rủ i ro
Có thê mô tả mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ và
Trang 29quản trị rủi ro theo mô hình như sau:
ro trước, trong và sau các hoạt động kinh doanh” Kiểm toán nội bộ là công tác đánh giá lại một cách hệ thống các hoạt động tài chính và phi tài chính đê đảm bảo các nhân viên của họ luôn tuân thủ các quy định, đảm bảo độ tin cậy của các báo cáo và đảm bảo sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất
tra ngãn hàng và kiểm toán bên ngoài
7.1.4.1 Vởi Thanh tra Ngân hãng N hà nước
Thanh tra ngân hàng có vai trò giám sát và thanh tra nhằm góp phần đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền Còn kiểm soát kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng
có vai trò giám sát và kiểm tra nhằm đảm bảo an toàn cho bản thân tổ chức tín dụng Cụ thể:
Trang 30- Giống nhau: cùng mục đích là thiết lập và duy trì hoạt động ngân hàng phát triển an toàn, vững mạnh, đúng pháp luật Hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ chính là hoạt động tự thanh tra (kiểm tra vòng trong), do đó về phương pháp, cách thức kiểm tra kiểm soát nội bộ về cơ bản giống thanh tra ngân hàng Nhà nước.
- Khác nhau: Thanh tra ngân hàng thực hiện trên tầm vĩ mô và theo luật định và các quy định của pháp luật (kiểm soát vòng ngoài) Còn kiểm soát kiểm toán nội bộ ở tầm vi mô, theo quy chế của Hội đồng quản trị và Ban Tổng giám đốc trên cơ sở các quy định của ngân hàng Trung ương và của pháp luật Hàng năm, Thanh tra ngân hàng đánh giá chất lượng của hoạt động kiểm soát kiểm toán nội bộ
ĩ 1.4.2 Đ ối với các cơ quan kiểm toán bên ngoài
Mục đích cơ bản của kiểm toán nhà nước là nhằm bảo vệ tài sản của Nhà nước, của kiểm toán độc lập là cung cấp những thông tin đáng tin cậy cho các bên thứ ba (chú yếu là các cổ đông, các đối tác) Do đó, kiểm toán bên ngoài chủ yếu là kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán tuân thủ Còn kiêm toán nội bộ cũng nhằm cung cấp các thông tin tin cậy, sự tuân thủ các quy định nhưng mục tiêu chủ yếu là kiểm toán hoạt động nhằm sử dụng nguồn lực hiệu quả nhất Kết quả của kiểm toán nội bộ chỉ có giá trị đối với bản thân doang nghiệp, còn kết quả của kiểm toán bên ngoài với có giá trị pháp lý
Chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát kiểm toán nội bộ
là cơ sở để kiểm toán bên ngoài xác định phạm vi của từng cuộc kiểm toán Nếu hoạt động của kiểm soát, kiêm toán nội bộ tốt thì phạm vi kiểm toán bên ngoài sẽ được thu hẹp và ngược lại
Bộ phận kiểm toán nội bộ là đầu mối: cung cấp các tài liệu, sắp xếp các công việc đê phục vụ thanh tra, kiểm toán bên ngoài
DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Sự càn thiết của kiểm soát kiểm toán đốỉ vôi hoạt động tín dụng
1.2.1.1 Tín dụng và vai trò của ho ạt động tín dụng
* K h á i n i ệ m v ê h o ạ t đ ộ n g tí n d ụ n g n g à n h à n g
Trang 31Có thể hiểu đơn thuần hoạt động tín dụng là: ngân hàng cung cấp cho khách hàng một khoản tiền Khách hàng có trách nhiệm phải trả lãi và hoàn trả gốc theo đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng.
* V a i t r ò c ủ a h o ạ t đ ộ n g tí n d ụ n g t r o n g n g â n h à n g t h ư ơ n g m ạ i ( N H T M )
Đối với nền kinh tế: hiện nay tín dụng vẫn là kênh dẫn vốn chủ yếu cho
nền kinh tế, trước yêu cầu tăng trưởng cho nền kinh tế thì nhu cầu về vốn tín dụng là chủ yếu
Đối với bản thân các ngân hàng: Hoạt động tín dụng chiếm phần lớn
trong tài sản có của ngân hàng thương mại, thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập Cho dù ngày nay, các ngân hàng hiện đại có xu hướng chuyên dịch sang đầu tư vào việc cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhưng tín dụng vẫn là hoạt động cơ bản, giữ vị trí quan trọng trong danh mục tài sản của các ngân hàng thương mại
Tuy nhiên, hoạt động tín dụng đòi hỏi kỹ thuật phức tạp, sản phẩm đa dạng: khách hàng vay vốn thuộc nhiều thành phần, nhiều ngành kinh tế khác nhau, điều kiện kinh doanh khác nhau, trình độ và phẩm chất đạo đức khác nhau do đó luôn phải đối mặt với rất nhiều rủi ro, việc quản lý hoạt động này luôn là bài toán khó đối với các ngân hàng
* C á c r ủ i r o ả n h h ư ở n g đ ế n h o ạ t đ ộ n g tí n d ụ n g t r o n g N H T M
Rủi ro lớn nhất trong hoạt động tín dụng là rủi ro tín dụng: là khả năng
xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu khi người vay không trả
nợ đúng hạn, không trả hoặc trả không đầy đủ gốc và lãi Đối với ngân hàng, rủi ro tín dụng vừa mang tính chất khách quan vừa mang tính chất chủ quan
Sự khách quan trong rủi ro tín dụng làm cho nó trở nên không thể loại trừ Mặt khác, bởi lợi nhuận phần nào cũng là một phần thưởng của rủi ro nên người ta chỉ tìm cách hạn chế rủi ro tới mức có thể chấp nhận được mà thôi
N g u y ê n n h â n d ẩ n đ ế n r ủ i r o t í n d ụ n g :
Thứ nhất, những yếu tố bất khả kháng tác động đến người vay khiến họ
Trang 32không trả nợ được hoặc trả nợ không đầy đủ cho ngân hàng Thuộc về các yếu
tố này bao gồm: thiên tai, chiến tranh, những thay đổi không dự tính trước được trong chính sách của Chính phủ, Những yếu tố bất khả kháng này, đặc biệt là những thay đổi chính sách có thể tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay
Thứ hai, trình độ yếu kém của người vay trong việc quản lý các dự án đầu
tư, phương án sản xuất kinh doanh dẫn tới sử dụng vốn vay không hiệu quả trong khi bản thân các dự án này có khả năng sinh lời tốt Sự việc này cũng có thể dẫn tới tổn thất cho ngân hàng nếu người vay không trả nợ đầy đủ, dứng hạn hoặc không có khả năng trả
Thứ ba, người vay có chủ ý lừa đảo cung cấp thông tin sai lệch hoặc cố
ý không trả nợ cho ngân hàng mặc dù họ kinh doanh có lãi Những thông tin nội bộ của doanh nghiệp đến với ngân hàng thường là thông tin không cân
xứng nên ngân hàng khó xác định độ tin cậy của các thông tin đó.
Thứ tư, ngân hàng đánh giá sai do trình độ cán bộ, thiếu am hiểu về người vay và lĩnh vực kinh doanh của họ
Thứ năm, là rủi ro đạo đức do cán bộ ngân hàng cố ý gian lận, thông đồng làm sai, lách chế độ
Tiếp đến là rủi ro tác nghiệp: là khả năng xảy ra những tổn thất khi các
nhân viên ngân hàng thực hiện sai quy trình, không tuân thủ chính sách và các quy đinh cua ngân hàng, khi các chính sách, quy trình nghiệp vụ không phù hợp với thực tiễn Rủi ro tác nghiệp cũng có thể phát sinh do chính sách và quy trình cho vay lỏng lẻo, phương pháp xem xét, phân tích còn hạn chế
Rui ro tín dụng và rủi ro tác nghiệp là hai loại rủi ro chính tác động tới chất lượng của hoạt động tín dụng ngân Rủi ro này thê hiện qua hai chỉ tiêu chính là nợ quá hạn và nợ xấu; trong đó, nợ xấu là một cảnh báo nguy cơ tổn thất rất cao
Do đó cần phải có biện pháp giải quyết và phương án dự phòng hữu hiệu, như: xây dựng các chính sách tín dụng, xây dựng quy trình phân tích và thu
Trang 33thập thông tin tín dụng, hệ thống phân loại xếp hạng khách hàng, đào tạo và
luân chuyên cán bộ tín dụng, gọi chung là xây dựng một hệ thống kiểm
soát, kiểm toán nội bộ hiệu quả
1.2.1.2 Sự cần th iế t và những lợi ích của kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với h o ạt động tín dụng
* B ả o v ệ t à i s ả n v à đ ộ ti n c ậ y c ủ a c á c t h ô n g tin
Đối với ngân hàng thương mại, có nhiều nguyên nhân buộc ngân hàng
phải đưa vấn đề an toàn tài sản, đặc biệt là an toàn trong hoạt động tín dụng
lên hàng đầu
Thứ nhất, ngân hàng có một số lượng chủ nợ khổng lồ, họ có có thể đòi
lại khoản tiền đã gửi vào ngân hàng bất cứ lúc nào nếu cảm thấy không an tâm
khi có những thôns tin bất lợi về hoạt động của ngân hàng
Thứ hai, ngân hàng cũng là một chủ nợ lớn, sử dụng tới khoảng 70% vốn
huy động để cho vay, cho vay là khoản mục sinh lời chú yếu của các NHTM
Rủi ro từ những khoản mục cho vay này ảnh hưởng lớn tới hiệu quả kinh
doanh của ngân hàng
Thứ ha, bộ máy tổ chức của ngân hàng cực lớn, bao gồm nhiều đơn vị,
thành viên phân bô trên một không gian rộng nên sự phân quyền rất mạnh,
Ban quản trị rất khó nắm bắt được tổng thể hoạt động ngân hàng để kịp thời ra
quyết định
Thứ tư, hoạt động tín dụng ngân hàng liên quan tới nhiều lĩnh vực trong
nền kinh tế Dẫn đến, các ngân hàng luôn phải đối mặt với rất nhiều rủi ro và
cực kỳ nhạy cảm khi môi trường kinh tế thay đổi
Hoạt động kiểm soát kiêm toán nội bộ được tổ chức tốt và phù hợp giúp
neân hàng bảo vệ được tài sản và độ tin cậy của các thông tin
* Đ ả m b ả o t u â n t h ủ l u ậ t p h á p v à c á c q u y đ ị n h
Với vai trò là “huyết mạch” của nền kinh tê và đặc thù về tổ chức có sự
phân quyền mạnh mẽ trong nội bộ ngân hàng nên hoạt động của ngân hàng
đòi hỏi phải chấp hành nghiêm túc pháp luật của nhà nước cũng như yêu cầu
Trang 34ngặt nghèo về sự tuân thủ các quy định nội bộ của Ban quản trị tối cao Một
hệ thống kiểm soát kiểm toán nội bộ vững mạnh sẽ đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình mà Ban lãmh đạo đã thiết lập, áp dụng cho từng hoạt động Đặc biệt là hoạt động tín dụng, do tính chất phức tạp của
nó cùng những ảnh hưởng lớn mạnh của nó tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Ban quản trị cấp cao của ngân hàng càng đặc biệt chú trọng tới việc quản lý chặt chẽ hoạt động này, hạn chế tổn thất cho ngân hàng
* D ự báo và ngăn ngừa rủi ro
Hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ trong một tổ chức đóng vai trò chủ chốt trong quản trị rủi ro Kiểm soát kiểm toán nội bộ không chỉ chú trọng tới công tác hậu kiểm mà kiểm soát, kiểm toán nội bộ mạnh phải ngăn chặn được sai phạm, dự báo và phòng ngừa rủi ro và hướng tới nâng cao hiệu quả chứ không đơn thuần chỉ tìm ra nguyên nhân để giải quyết hậu quả Việc dự báo
và ngăn ngừa rủi ro đương nhiên sẽ tốt hơn và tốn ít chi phí hơn so với những tổn thất xảy ra Đánh giá rủi ro trong quản trị rủi ro nhằm vào cả những rủi ro
có thể lượng hoá (như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản .) và rủi ro không thể lượng hoá được (như rủi ro tác nghiệp, rủi ro luật pháp, rủi ro danh tiếng của ngân hàng) Quá trình đánh giá rủi ro nhằm xác định loại rủi ro nào ngân hàng có thể kiểm soát được, loại nào không, xác định nguy cơ rủi ro mới cho các giao dịch mới, những lĩnh vực mới đánh giá rủi ro trong quản trị có nghĩa rộng hơn đánh giá rủi ro của kiêm soát, kiểm toán nội bộ Kiểm soát, kiểm toán nội bộ thường nhằm vào những rủi ro không lượng hoá được, bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng, từ phía khách hàng Ngoài ra, rủi ro cũng xảy ra do quy trình tín dụng chưa được xây dựng chặt chẽ, cơ cấu tổ chức chưa hợp lý Kiểm soát, kiểm toán nội bộ là một công cụ hữu hiệu giúp ban giám đốc ngân hàng phát hiện điểm chưa phù hợp
để kịp thời chấn chỉnh, bổ sung, hạn chế nguy cơ tổn thất cho ngân hàng
N h ư vậy, một hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ mạnh sẽ ngăn ngừa
và phát hiện những gian lận, sai sót làm cho các hoạt động tín dụng được minh
Trang 35bạch, chủ động trước rủi ro, kịp thời đưa ra những phán quyết đê bảo vệ tài sản eiữ an toàn trong hoạt động tín dụng, góp phần đem lại hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Tuy nhiên, để đạt được những lợi ích mong đợi, đòi hỏi hệ thống kiểm soát kiểm toán nội bộ phải được thiết lập hợp lý, phải trên cơ sở cân nhắc giữa chi phí và lợi ích mang lại, sẽ không thể chấp nhận với bất cứ phương pháp kiểm soát kiểm toán nào nếu chi phí của nó quá cao so với lợi ích mang lại
1.2.2 Nội dung kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối vỡi nghiệp vụ tín dụng
Các hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ được thiết kế và thực hiện nhằm vào rủi ro đã nhận diện được qua quá trình đánh giá rủi ro của hoạt động tín dụng Nhằm mang lại sự hiệu quả và hiệu năng cho hoạt động tín dụng, đảm bảo sự đáng tin cậy của các số liệu và sự tuân thủ luật pháp và các quy định nội bộ Xét một cách tổng quát, hoạt động kiểm soát, kiểm toán được hiện qua 3 bước chủ yếu sau:
M ột là: Thiết lập các chính sách, quy trình cho những mục tiêu kiểm soát
phải đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật, đáp ứng được yêu cầu quản
lý nhằm: giảm thiểu rủi ro, chống gian lận đem lại an toàn hiệu quả cho hoạt động tín dụng Các chính sách, quy trình kiểm soát phải gắn kết với hoạt động tín dụng hàng ngày, và trong quy trình đó đã được cài đặt các chốt kiểm soát nhằm hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất: từ việc chấp hành các văn bản pháp quy đến việc ban hành các chính sách, quy chế, quy trình nội bộ phù hợp như:
- Xây dựng các cơ chế, chính sách, chiến lược về tăng trưởng, về cơ cấu danh mục cho vay;
- Quy định về phân cấp uỷ quyền, về giới hạn tín dụng; về nguyên tắc phân công, phân nhiệm; về nguyên tắc bất kiêm nhiệm;
- Quy định về các điều kiện, nguyên tắc, đối tượng cho vay; điều kiện về tài sản đảm bảo; các phương thức cho vay;
- Ban hành các quy trình cho vay đối với từng loại hình sản phẩm;
- Xây dựng hệ thống đánh giá xếp hạng khách hàng làm để xét duyệt cho vay; để xác định mức trích lập dự phòng rủi ro;
Trang 36- Xây dựng hệ thống tài khoản và các quy định về hạch toán kế toán các khoản vay, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro đảm bảo tuân thủ các quy định và đáp ứng tốt yêu cầu quản lý.
H a i l à : Thực hiện các thủ tục kiểm soát tương ứng với các chính sách đã
đề ra Trong đó, vấn đề cần được coi trọng nhất là: mọi thành viên trong ngân hàng cần phải nhận thức đúng tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ, ý thức được trách nhiệm của mình trong vai trò kiểm soát viên đê tuân thủ tuyệt đối những quy định của pháp luật, của chính sách nội bộ đã đề ra
B a l à : Xác minh đánh giá việc thực hiện các chính sách này có được tuân thủ hay không; đồng thời đánh giá sự phù hợp, hiệu quả của các chính sách đó
có cần bổ sung chỉnh sửa hay không Đây là công việc thường xuyên, liên tục của bộ phận kiểm toán nội bộ:
* M ụ c t i ê u c ủ a k i ê m t o á n n ộ i b ộ h o ạ t đ ộ n g tí n d ụ n g
- Đánh giá tính nghiêm túc, đúng đắn trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghiệp vụ tín dụng bao gồm các chiến lược, chính sách, các điều kiện
- Xác định tính hiện thực chính xác, tính phù hợp của các khoản vay: dư
nợ, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu; lãi suất áp dụng; tỷ lệ tài sản đảm bảo, định giá tài sản đảm bảo, mức trích lập dự phòng
- Xác định hạch toán các khoản tín dụng, lãi có đầy đủ, cập nhật, đúng tính chất, phân loại có đúng tài khoản hay không
- Phát hiện những sơ hở, gian lận trong hoạt động tín dụng, những rủi ro
và những tiềm ẩn rủi ro để đề xuất những biện pháp giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng
* Y ê u c ầ u c ủ a k i ế m t o á n n ộ i b ộ h o ạ t đ ộ n g tí n d ụ n g
- Đánh giá việc tuân thủ các chính sách, các quy định, quy trình hoạt động tín dụng hiện hành
- Đánh giá rủi ro trong hoạt động tín dụng
- Đánh giá các thủ tục kiểm soát trong hoạt động tín dụng của toàn hệ
Trang 37thống có đảm bảo tính thích hợp, tính kinh tế, tính hiệu quả.
- Đánh giá tính trung thực và độ tin cậy của các thông tin về hoạt động tín dụng cả ở từng chi nhánh và toàn hệ thống
- Đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đề ra của hoạt động tín dụng
- Kiểm tra các biện pháp đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng
- Kiểm toán việc thực hiện triển khai chiến lược các chính sách tín dụng
- Kiểm toán cơ cấu tín dụng, kiểm toán mức độ tập trung tín dụng như thê nào, có phù hợp để giảm thiểu rủi ro và tăng hiệu quả hoạt động hay tập trung nhiều vào những danh mục kém hiệu quả hoặc tập trung quá lớn vào một số khách hàng dễ dẫn đến rủi ro
- Kiểm toán tốc độ tăng trưởng xem có phù hợp với tốc độ tăng trưởng, với chủ trương phát triển của nền kinh tế hay không
- Kiểm toán việc thực hiện chấp hành các tỷ lệ đảm bảo an toàn tín dụng theo quy định
- Kiểm toán chất lượng tín dụng, diễn biến chất lượng tín dụng Theo thành phần kinh tế, theo lĩnh vực kinh tế, theo khu vực địa lý, theo loại tiền cho vay và theo thời hạn cho vay
- Kiểm toán tuân thủ quy trình cho vay ( kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay), là kiểm toán từng bước của quy trình từ khi tiếp xúc nhận hồ sơ ban đầu của khách hàng, thẩm định tín dụng (thẩm định những chỉ tiêu tài chính,
Trang 38phi tài chính, tài sản đảm bảo ), quyết định cho vay, lãi suất áp dụng, giám sát tín dụng, thu nợ, quản lý hồ sơ, lưu giữ tài sản bảo đảm hay xử lý các khoản nợ xấu.
- Kiểm toán tính đúng đắn kịp thời của các khoản thu nhập từ lãi cho vay, tài khoản hạch toán
- Kiểm toán về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
- Kiểm toán về tổ chức, chỉ đạo điều hành nghiệp vụ cho vay, là kiểm toán về cơ cấu tổ chức các phòng ban, việc bố trí công việc như thế nào, việc phân công phân nhiệm từng cán bộ đã phù hợp hay chưa, việc triển khai các văn bản chế độ đã kịp thời đầy đủ hay chưa
- Kiểm toán về chất lượng cán bộ nghiệp vụ, khả năng đáp ứng được yêu cầu công việc đảm nhận
- Kiểm toán về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tín dụng, khả năng thiết kế các chương trình tự động ngăn chặn các rủi ro, khả năng kêt nối giữa các chương trình quản lý trong nghiệp vụ tín dụng, khả năng cung cấp thông tin đầy đủ cập nhập theo các yêu cầu
- Kiểm toán các hệ thống xếp hạng, phân loại khách hàng, đánh giá khả năng tài chính, phi tài chính của khách hàng
- Kiểm toán hệ thống kiểm soát nội bộ: tính đầy đủ, hoàn thiện, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nói chung cũng như đánh giá sự phù hợp của quy trình cho vay để có kiến nghị sửa đổi, bổ sung kịp thời
Qua kiểm tra, phân tích đánh giá, bằng những bằng chứng kiểm toán; Kiểm toán nội bộ chỉ những sai phạm, những hạn chế kiếm khuyết của hệ thống kiểm soát và đưa ra những khuyến nghị nhằm hạn chế ngăn chặn các rủi
ro eóp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng
* Phương pháp kiểm toán:
Ngoại trừ những chí tiêu có thê kiểm toán toàn bộ số dư, còn lại cần tiên hành chọn mẫu đê kiểm tra chi tiết trên mẫu đó Mẫu được chọn phải có tính đại diện cao, bao trùm tất cả các loại hình cho vay theo từng cách phân tổ:
Trang 39theo thời hạn, theo nhóm khách hàng, theo ngành sản suất, theo quy mô doanh nghiệp, theo khu vực địa lý, theo chất lượng tín dụng Trong khi có tập trung vào những món vay lớn, lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao thì mẫu vẫn phải bao gồm thoả đáng những khoản vay khác.
Về cách thức kiểm toán có thể xác nhận trực tiếp với khách hàng hoặc
có thể bằng cách gián tiếp gửi cho khách hàng bảng kê xác nhận
đối vdỉ hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Chất lượng của hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với hoạt đông kinh doanh nói chung cũng như đối vói hoạt động tín dụng nói riêng của ngân hàng chịu ảnh hường của nhiều nhân tố, cả các nhân tố chủ quan và các nhân tố khách quan
1.2.3.1 Các nhân t ố chủ quan
Trước hết, có thể kể đến quan điểm của lãnh đạo ngân hàng về vai trò
của kiểm soát, kiểm toán nội bộ Nhiều nhà lãnh đạo ngân hàng không coi trọng hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ, đầu tư không đúng mức cho hoạt động này Đặc biệt là lực lượng kiểm toán viên được lựa chọn và tuyển dụng một cách tuỳ tiện, không có một cơ chế thực sự độc lập trong hoạt động của ngân hàng, cơ sở vật chất cho hoạt động kiểm toán không được đầu tư đúng mức Khi đó, chất lượng kiểm soát, kiểm toán nội bộ sẽ không cao Ngược lại, khi lãnh đạo ngân hàng quan tâm đúng mức, kiểm soát, kiểm toán nội bộ sẽ được đặt đúng vị trí của nó, từ đó, góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hiệu quả của ngân hàng
T hứ hai, mô hình tổ chức và hoạt động của ngân hàng Khi quy mô ngân
hàng càng lớn, hoạt động càng đa dạng, phức tạp đòi hỏi hệ thống kiểm soát,
kiểm toán nội bộ cũng phải tăng cường phù hợp Sự thay đổi nếu không kịp
thời, chất lượng kiểm soát, kiểm toán nội bộ sẽ không thể cao
T h ứ ba, hệ thống thông tin, đặc biệt là hệ thống thông tin về tình hình quản
trị tài chính của ngân hàng Hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ chỉ có tác
dụng tích cực khi thông tin dược cung cấp với độ chính xác cao và cập nhật Các
Trang 40thông tin này sẽ ngay lập tức được các kiểm tra viên xử lý và báo cáo, tạo điều kiện cho lãnh đạo ngân hàng nắm sát tình hình, từ đó có những biện pháp điều chỉnh thích hợp Hệ thống thông tin tốt sẽ giúp các ngân hàng tránh khỏi các tiêu cực và rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
T h ứ tư, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ kiểm soát, kiểm toán nội bộ:
phần mềm quản trị điều hành, kiểm toán chuyên dụng, hệ thống máy tính, các thiết bị chuyên dùng sẽ là những công cụ đắc lực giúp nâng cao hiệu quả các hoạt động ngân hàng
T h ứ năm, số lượng và chất lượng cán bộ ngân hàng: Khi hoạt động ngân
hàng càng đa dạng và phức tạp, quy mô ngân hàng càng lớn, đòi hỏi ngân hàng phải có đủ số lượng cán bộ cần thiết, có đủ năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, đồng thời, ngân hàng cần có chính sách đào tạo, tuyển dụng
và đãi ngộ hợp lý nhằm thu hút nhân tài cho hoạt động nói chung và nhất là kiểm toán viên nội bộ Có như vậy, hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ mới
có thể có chất lượng như mong muốn
T h ứ sáu, tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin được cung cấp bởi bộ
phận kiểm toán một cách khách quan, kịp thời Ban lãnh đạo ngân hàng phải quan tâm đúng mức tới những thông tin báo cáo do kiểm toán nội bộ cung cấp
và được tiếp nhận xử lý một cách khách quan và kịp thời
Điều cơ bản đối với cơ cấu và tổ chức của kiểm toán nội bộ là tính độc lập trong khuôn khổ chung của ngân hàng Quan hệ báo cáo cần được thiết lập sao cho người đứng đầu bộ phận kiểm toán nội bộ có trách nhiệm là người điều hành có đủ thẩm quyền để có thê thực hiện cuộc kiểm toán nội bộ với quy mô cần thiết Vì vậy, người đứng đầu bộ phận kiểm toán nội bộ phải báo cáo trực tiếp với các cấp lãnh đạo cao nhất trong ngân hàng Hội đồng quản trị
và Ban Tổng Giám đốc