Trong điều kiện nền kinh tế mở, phân công lao động quốc tế ngày càng ở mức độ cao như hiện nay, việc giao thương đó không dừng lại ở quan hệ buôn bán giữa cư dân hai nước ở khu vực biên
Trang 2HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NGUYỄN THỈ PHƯỢNG
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO CHAT LƯỢNG
HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN BIÊN GIỚI TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
C H U Y Ê N N G À N H : T À I C H Í N H , Lưu T H Ô N G T I E N t ệ v à t í n D U N G
M Ã S Ố : 5 0 2 0 9
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐÕ TẤT N G Ọ C
I n Ọ C VIỆN NGÂN HANG
Trang 3L Ờ I CAM Đ O A N
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng./
Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2003
Tác giả luận văn
N g u y ễ n T h ị P h ư ợ n g
Trang 4Chương 1: N H Ữ N G V Ấ N Đ Ể L Ý L U Ậ N C H U N G V Ể T H A N H T O Á N
Q U Ố C T Ê V À T H A N H T O Á N B I Ê N G IỚ I
1.1 Thanh toán quốc tế đối với hoạt động của NHTM 4
1.1.1 Khái niệm về Thanh toán quốc tế 41.1.2 Phân biệt các hình thức Thanh toán quốc tế 51.1.3 Vai trò của Thanh toán quốc tế đối với hoạt động của
1.1.4 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới hoạt động Thanh
1.1.5 Nguồn luật điều chỉnh hoạt động Thanh toán Quốc tế 12
1.2.1 Khái niệm về thanh toán biên giới 141.2.2 Đặc điểm của thanh toán biên giới 15
Chương 2 : THỰC TR ẠN G HOẠT Đ ỘNG THANH TO Á N BIÊN GIỚI
TẠI NGÂN HÀNG N ÔNG N G H IỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG T H Ô N VIỆT NAM
2.1 Tình hình buôn bán qua biên giới Việt - Trung 17
2.1.1 Đặc điểm địa lý các tỉnh biên giới Việt - Trung 17
2 1.2 Tinh hình buôn bán qua biên giới Việt - Trung 212.1.3 Nhũng tác động tích cực của hoạt động buôn bán qua biên
giới Việt Trung đối với nền kinh tế - xã hội Việt Nam 26
Trang 52.2 Hoạt động thanh toán biên giới của Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Việt Nam
2.2.1 Khái quát mô hình tổ chức và hoạt động của Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 292.2.2 Quá trình triển khai hoạt động thanh toán biên giới
tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
2.2.3 Đánh giá kết quả hoạt động thanh toán biên giới Việt -
Trung tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
2.2.4 Những tồn tại trong hoạt động thanh toán biên giới 582.2.5 Nguyên nhân của các tồn tại 60
C h ư ơ n g 3: MỘT s ố GIẢI PH ÁP NHẰM MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HO ẠT ĐỘ NG THANH TO Á N BIÊN GIỚI TẠI NGÂN HÀNG NÔ NG N G H IỆP VÀ PH ÁT TRIỂN NÔNG THÔ N VIỆT NAM
3.1 Định hướng xuất nhập khẩu của Việt Nam 2001-2010 693.1.1 Mục tiêu và quan điểm phát triển xuất nhập khẩu 2001-
3.1.2 Triển vọng phát triển xuất nhập khẩu với các nước láng
3.2 Giải pháp đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Trang 63.3 Kiến nghị 77
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 773.3.2 Kiến nghị đối với các Bộ, ngành, địa phương 783.3.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮVIÊT TẮT
CHXHCN : Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa
CHND : Cộng hoà Nhân dân
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNo : Ngân hàng Nông nghiệp
NHNo&PTNT : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
XNK : Xuất nhập khẩu
Trang 8Số Mục lục Nội dung bảng Trang
2.1 2.2.2.1 Kim ngạch Xuất nhập khẩu hàng hoá VN-TQ
2.7 2.2.22 Doanh số thanh toán biên giới qua NHNo &
PTNT Việt Nam thời kỳ 2000-2002 48
2.8 2.2.22 Phân tích tỷ trọng thanh toán biên giới qua các
chi nhánh của NHNo & PTNT Việt Nam 48
2.9 2.2.22 Doanh số thu đổi CNY của NHNo & PTNT Việt
2.3 2.2.22 So sánh doanh số thanh toán biên giới giữa các
chi nhánh của NHNo & PTNT Việt Nam 48
Trang 9MỞ ĐẨU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Việt Nam là quốc gia có chung đường biên giới đường bộ với ba nước: Trung Quốc, Lào và Cam-pu-chia Điều kiện đó đã tạo ra quan hệ giao thương từ nhiều đời nay Trong điều kiện nền kinh tế mở, phân công lao động
quốc tế ngày càng ở mức độ cao như hiện nay, việc giao thương đó không
dừng lại ở quan hệ buôn bán giữa cư dân hai nước ở khu vực biên giới, mà ngày càng mở rộng và phát triển, đặc biệt là quan hệ buôn bán qua biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc
Sau hơn 10 năm kể từ khi chính thức bình thường hoá quan hệ ngoại giao (1991), mậu dịch biên giới Việt - Trung đã đạt nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế của đất nước và mục tiêu xoá đói giảm nghèo, đặc biệt đối với khu vực vùng cao các tỉnh biên giới phía Bắc, nơi có trên 4 triệu dân gồm 30 dân tộc sinh sống, nhưng có tỷ lệ dân số đói nghèo và mù chữ cao nhất cả nước Kim ngạch buôn bán hai chiều giữa hai nước đã đạt mức 3 tỷ USD năm 2002, phấn đấu đạt mục tiêu 5 tỷ USD vào năm 2005 như thoả thuận giữa lãnh đạo cấp cao của hai chính phủ Việt Nam - Trung Quốc
Bên cạnh những kết quả to lớn đó, buôn bán qua biên giới cũng đặt ra rất nhiều vấn đề bức xúc, như: nạn buôn lậu, gian lận thương mại, hệ thống ngân hàng chưa làm chủ được thị trường tiền tệ khu vực biên giới làm ảnh hưởng đến an ninh biên giới
Vì vậy, muốn cho kinh doanh thương mại phát triển, cần có một thị trường tiền tệ ổn định, phương thức thanh toán an toàn, thuận tiện, và điều quan trọng là nhà nước phải thiết lập được sự quản lý trên lĩnh vực tiền tệ ở khu vực biên giới
Trang 10Là Ngân hàng thương mại đầu tiên triển khai nghiệp vụ thanh toán biên giới, đến nay NHNo & PTNT Việt Nam đã có 5 trong số 6 chi nhánh tiếp giáp Trung Quốc trực tiếp tham gia thanh toán, bao gồm: chi nhánh NHNo Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang và Lào Cai Dự kiên trong thời gian tới, NHNo & PTNT Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện tại chi nhánh NHNo tỉnh Lai Châu, đồng thời xúc tiến triển khai nghiệp vụ thanh toán biên giới với Lào và Campuchia.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn đề tài “Giải pháp mở rộng và nâng
cao chất lượng hoạt động thanh toán biên giói tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển N ông thôn Việt N am ”
2 Mục đích nghiên cứu.
Bằng phương pháp nghiên cứu khoa học trên cơ sở nhận thức lý luận
và kiến thức thực tế, tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động thanh toán biên giới tại NHNo & PTNT Việt Nam, phân tích nguyên nhân của những mặt còn tồn tại, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng của hoạt động thanh toán biên giới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động thanh toán biên giới của NHNo & PTNT Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Tới nay, chỉ mới có thanh toán biên giới Việt- Trung nên Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu tại các chi nhánh của NHNo & PTNT Việt Nam tại khu vực biên giới với Trung Quốc)
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Luận vãn tập trung nghiên cứu các vấn
đề thực tế phát sinh trong thời gian 3 năm (2000-2002), đồng thời đặt vấn đề nghiên cứu trong từng bối cảnh lịch sử xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của hoạt động thanh toán biên giới
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn kết hợp sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, vận dụng những nguyên lý chung từ các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp tổng hợp điều tra, phân tích và so sánh, cũng như sử dụng các mô hình ước lượng để đưa ra những luận chứng, luận chúng có sức thuyết phục, từ đó rút ra các vấn đề cần đề đạt
5 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục công trình nghiên cứu, luận văn gồm 3 chương:
Chuông 1 Những vấn đề lý luận chung về Thanh toán quốc tế và Thanh
toán biên giới.
Chương 2 Thực trạng hoạt động Thanh toán biên giới tại Ngàn hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Chương 3 Một sô giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt
động thanh toán biên giới tại Ngán hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Trang 12Chương 1
NHỮNG VÂN ĐỂ LÝ LUẬN CHUNG
VỂ THANH TOÁN QUỐC TÊ VÀ THANH TOÁN BIÊN GIỚI
1.1 THANH TOÁN QUỐC TÊ Đ ố i VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯONG MẠI.
1.1.1 Khái niệm về thanh toán quốc tế.
Thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các chủ thể của các nước có liên quan Khác với thanh toán trong nước, thanh toán quốc
tế có các đặc điểm riêng:
- Chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế ở các quốc gia khác nhau Mỗi giao dịch thanh toán quốc tế liên quan tới tối thiểu hai quốc gia, thông thường là ba quốc gia
- Hoạt động thanh toán liên quan đến hệ thống luật pháp của các quốc gia khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau Do tính phức tạp đó các bên tham gia thường lựa chọn các quy phạm pháp luật mang tính thống nhất và theo thông lệ quốc tế
- Đồng tiền dùng trong thanh toán quốc tế thông thường tồn tại dưới hình thức các phương tiện thanh toán ( Hối phiếu, séc, thẻ, chuyển khoản ),
có thể là đồng tiền của nước người mua hoặc ngưòi bán, hoặc có thể là đồng tiền của nước thứ ba, nhưng thường là loại ngoại tệ được tự do chuyển đổi
- Ngôn ngữ sử dụng trong thanh toán quốc tế phổ biến là tiếng Anh
- Thanh toán quốc tế đòi hỏi trình độ chuyên môn, trình độ công nghệ tương xứng với trình độ quốc tế
Trang 131.1.2 Phân biệt các hình thức thanh toán quốc tế.
1.1.2.1 Phản biệt theo đối tượng thanh toán.
Xét theo đối tượng thanh toán, thanh toán quốc tế được chia làm hai loại:
- Thanh toán mậu dịch là quan hệ thanh toán phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hoá dịch vụ thương mại theo giá cả quốc tế Các bên mua bán bị ràng buộc với nhau bởi hợp đồng thương mại Nội dung của hợp đồng phải quy định rõ cách thức thanh toán
- Thanh toán phi mậu dịch là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đến hàng hoá hay cung ứng lao vụ, không mang tính thương mại
1.1.2.2 Phân biệt theo cơ chê thanh toán.
Thanh toán quốc tế được chia thành:
- Thanh toán theo thông lệ quốc tế (hay Thanh toán quốc tế)
- Thanh toán song biên (hay Thanh toán biên giới) thực hiện theo thoả thuận riêng giữa hai nước có chung biên giới
Điểm khác biệt cơ bản giữa thanh toán quốc tế và thanh toán biên giới là
ở phạm vi thực hiện, nguồn luật áp dụng, thông lệ và tập quán có tính quốc tế hay trong phạm vi hẹp giữa hai nước theo quy ước riêng
1.1.3 Vai trò của Thanh toán quốc tê đối với hoạt động của Ngân hàng
thương mại.
1.1.3.1 Thanh toán quốc tê tạo điều kiện thu hút khách hàng, mở rộng thị
phần kinh doanh của Ngăn hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính, thực hiện chức năng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và cung ứng dịch vụ ngân hàng Thông qua hoạt động kinh doanh đa năng, Ngân hàng thương mại đã thiết lập nên mối quan hệ không chỉ với các tổ chức, khách hàng trong nước,mà còn
5
Trang 14năng ngân hàng quốc tế của Ngân hàng thương mại.
Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng không chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán, mà còn tư vấn cho khách hàng về điều kiện thanh toán, hướng dẫn về kỹ thuật thanh toán quốc tế nhằm giảm rủi ro, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng, tạo sự an tâm, tin tưởng cho khách hàng trong giao dịch ngoại thương
Trong điều kiện cạnh tranh giữa các ngân hàng, đặc biệt là với các ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài ngày càng gay gắt
và xu hướng phát triển ngoại thương, đầu tư tài chính mang tính quốc tế như hiện nay, Thanh toán quốc tế là nghiệp vụ không thể thiếu để Ngân hàng thương mại có thể ít nhất là giữ được các khách hàng như hiện có, đồng thời tạo cơ hội thu hút thêm khách hàng mới
1 1 3 2 Thanh toán quốc tê làm tăng thu nhập cho Ngân hàng
thương mại.
Ngoài việc tăng nguồn vốn huy động, tạo điều kiện mở rộng hoạt động tín dụng, thông qua Thanh toán quốc tế, ngân hàng còn tạo ra nguồn thu đáng kể từ thu phí dịch vụ thanh toán, tài trợ xuất khẩu, mua bán ngoại tệ
1.1.33 Thanh toán quốc tế làm giảm rủi ro trong kinh doanh của Ngân
hàng thương mại.
Thông qua hoạt động Thanh toán quốc tế, ngân hàng có thể quản lý việc sử dụng vốn vay và giám sát được tình hình kinh doanh của khách hàng, tạo điều kiện quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư Mặt khác, việc kinh doanh
đa năng là phương sách hiệu quả để phân tán rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng
Trang 15ra nguồn vốn rẻ và tương đối ổn định Ngoài ra các khoản khách hàng nộp để giải chấp lô hàng nhập khẩu do ngân hàng quản lý khi chưa đến hạn thanh toán cũng là một nguồn tạo thanh khoản cho ngân hàng dưới hình thức tiền tập trung chờ thanh toán.
1.13.5 Thanh toán quốc t ế làm tăng cường quan hệ đôi ngoại.
Thanh toán quốc tế giúp cho quy mô hoạt động của ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, hoà nhập với các ngân hàng trên thế giới, góp phần nâng cao uy tín trên trường quốc tế Trên cơ sở đó, ngân hàng có điều kiện phát triển quan hệ đại lý, khai thác nguồn tài trợ trên thị trường tài chính quốc tế, nguồn tài trợ từ ngân hàng nước ngoài để đáp ứng nhu cầu vốn phát triển kinh tế - xã hội
1.1.4 Những nhân tô chủ yếu ảnh hưởng tói hoạt động Thanh toán quốc
tê của Ngân hàng thưong mại.
1.1.4 ỉ Nhóm nhân tô khách quan.
y Chính sách kinh tê vĩ mô của Nhà nước.
Các chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi nước được đưa ra nhằm mục đích điều tiết, định hướng phát triển nền kinh tế của nước đó Trong các chính sách này, có một số chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thương và ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động thanh toán quốc tế, như:
Trang 16chính sách thuế, chính sách quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu, chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách quản lý ngoại hối
+Đối với chính sách th u ế và chính sách quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu: nếu chính sách đưa ra không hợp lý sẽ dẫn đến không khuyến khích
xuất khẩu hoặc thu hẹp nhập khẩu ( hoặc cả hai), dẫn đến giảm kim ngạch xuất nhập khẩu Ngoài ra, chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho hoạt động xuất nhập khẩu cũng như thanh toán quốc tế là rất cần thiết, bởi nhũng hoạt động này mang tính rủi ro cao
+ Chính sách kinh t ế đối ngoại nối chung và chính sách ngoại thương
nói riêng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với hoạt động thanh toán quốc tế
Kinh tế đối ngoại là một lĩnh vực rất rộng bao gồm hoạt động ngoại thương, đầu tư tài chính, dịch vụ quốc tế, chuyển giao công nghệ và nhiều hoạt động kinh tế khác, trong đó ngoại thương là hoạt động trọng tâm, Chính sách kinh
tế đối ngoại chính là cơ sở nền tảng và có tác động trực tiếp đến hoạt động thanh toán quốc tế
+ Chính sách ngoại hối là nhũng quy định pháp lý, những thể lệ của
Ngân hàng Nhà nước trong vấn đề quản lý ngoại tệ, quản lý vàng bạc, đá quý
và các giấy tờ có giá trị bằng ngoại tệ; cũng như việc trao đổi, sử dụng, mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ và trong quan hệ thanh toán, tín dụng với nước ngoài Với chức năng trung gian thanh toán, khi thực hiện thanh toán quốc tế, hệ thống Ngân hàng thương mại đóng vai trò kiểm soát luồng tiền ra vào của một đất nước Vì vậy, các Ngân hàng thương mại được phép hoạt động thanh toán quốc tế phải tuân thủ đầy đủ, chấp hành nghiêm ngặt các quy định về quản lý ngoại hối do ngân hàng nhà nước ban hành Ngược lại, nếu chính sách ngoại hối của Nhà nước đưa ra không đúng đắn sẽ tác động xấu đến cán cân thanh toán, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cân đối ngoại tệ đáp úng nhu cầu thanh toán quốc tế của ngân hàng
Trang 17> S ự phát triển của hoạt động ngoại thương:
Đây là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng Sự phát triển của kinh tế đối ngoại và đặc biệt là hoạt động ngoại thương sẽ làm phát sinh nhiều nhu cầu thực hiện nghĩa vụ tiền tệ của quốc gia này đối với một quốc gia khác Đây chính là điều kiện để Ngân hàng thương mại mở rộng và phát triển nghiệp vụ thanh toán quốc tế
> Tỷ giá hôi đoái:
Trong hoạt động thanh toán quốc tế, thông thường người ta không sử dụng đơn vị tiền tệ trong nước, mà sử dụng các ngoại tệ mạnh tự do chuyển đổi Để xác định giá trị quy đổi của đồng tiền nước này sang đồng tiền nước khác, người ta sử dụng khái niệm " Tỷ giá hối đoái "
Tỷ giá hối đoái là một nhân tố rất nhạy cảm, được xác định bởi mối quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ Không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu, biến động của tỷ giá hối đoái còn ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng Việc cân nhắc mua hay bán ngoại
tệ trở nên khó khăn khi tỷ giá thay đổi liên tục, bất thường, hậu qủa là nguồn ngoại tệ phục vụ thanh toán bị ảnh hưởng Thực tế diễn biến cung cầu ngoại
tệ những năm qua đã cho thấy các ngân hàng buộc phải lựa chọn : hoặc chấp nhận co hẹp hoạt động thanh toán quốc tế, hạn chế đối tượng khách hàng, hoặc phải chịu lỗ về kinh doanh ngoại tệ, bù lại ngân hàng sẽ giữ được khách hàng Nếu biết chọn thời điểm và tính toán khả năng cân đối ngoại tệ, cân nhắc lợi ích tổng thể từ các dịch vụ khác do hoạt động thanh toán quốc tế đem lại ( nguồn tiền gửi, ký quỹ, tín dụng, dịch vụ phí ) Đây có thể là cơ hội để ngân hàng có thêm khách hàng mới
> M ôi trường pháp lý: Để tạo khả năng hội nhập với cộng đồng quốc
tế trong thương mại quốc tế cũng như trong thanh toán quốc tế, khung pháp
lý của mỗi quốc gia đòi hỏi phải được bổ sung, hoàn thiện theo hướng chuẩn mực quốc tế Hoạt động thanh toán quốc tế một mặt thực hiện theo các quy
Trang 18chuẩn quốc tế, mặt khác phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan của mỗi quốc gia Do vậy đứng về góc độ quản lý nhà nước, các văn bản pháp lý phải được ban hành đồng bộ, tránh chồng chéo, bất cập dẫn đến buông lỏng hoặc sơ hở, đồng thời đảm bảo phù hợp với quy chuẩn quốc tế, tạo ra khung
cơ sở pháp lý đầy đủ và hoàn chỉnh cho hoạt động thanh toán quốc tế
1.1.4.2 Nhóm nhản tố thuộc về bản thân Ngân hàng thương mại
> Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Việc ngân hàng xây dựng chiến lược kinh doanh triển khai nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại sớm sẽ tạo ra cho ngân hàng đó có được lợi thê ban đầu; tạo được bề dầy về kinh nghiệm và chiếm lĩnh được thị phần phục vụ doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
Địa bàn hoạt động cũng là yếu tô quan trọng Hầu hêt doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu đều tập trung tại các thành phố lớn, nơi vốn đã diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng trong việc tiếp thị khách hàng Do vậy, nếu chậm đưa hoạt động thanh toán quốc tế vào những địa bàn này, ngân hàng sẽ không thu hút được khách hàng nếu không có đội ngũ cán bộ chuyên môn cao, công nghệ ngân hàng hiện đại và nguồn lực tài chính đủ lớn
Tóm lại, để đủ sức cạnh tranh chiếm lĩnh được thị trường phục vụ khách hàng xuất nhập khẩu, ngân hàng phải có chiến lược kinh doanh tổng thể, đồng bộ
> Khả nàng nguồn lực của Ngàn hàng thương mại
Để đáp ứng yêu cầu của hoạt động thanh toán quốc tế, Ngân hàng thương mại phải có hệ thống ngân hàng đại lý đủ để đáp ứng nhu cầu dịch vụ của khách hàng, là điều kiện để ngân hàng mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế ở cả hai chiều: thanh toán xuất khẩu và thanh toán nhập khẩu Ngoài
ra, ngân hàng phải có nguồn vốn, nguồn ngoại tệ đủ lớn, có các hoạt động tín
Trang 19dụng và kinh doanh ngoại tệ phát triển, có điều kiện cung ứng dịch vụ linh hoạt, lãi suất, phí, tỷ giá, điều kiện bảo lãnh, vay vốn và có đội ngũ cán bộ
có chuyên môn cao
Về công nghệ: Công nghệ ngân hàng tiên tiến sẽ góp phần phát triển thêm các dịch vụ ngân hàng mới, nâng cao chất lượng dịch vụ, đẩy nhanh quá trình thanh toán, tạo điều kiện thuận lợi trong giao dịch với khách hàng Hiện nay để có thể thực hiện chức năng thanh toán quốc tế, Ngân hàng thương mại phải tham gia ít nhất vào một mạng truyền tin có tính bảo mật cao như SWIFT Ngoài ra, có thể sử dụng một số mạng khác như Telex
Trong tương lai gần, khi thương mại điện tử chính thức thực hiện tại Việt Nam, ngân hàng còn phải từng bước chuẩn bị cơ sở công nghệ thông tin
đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của nghiệp vụ Thanh toán quốc tế
> Chính sách khách hàng:
Để duy trì và phát triển các mặt hoạt động của ngân hàng nói chung, hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng, ngân hàng cần phải có tầm nhìn chiến lược trong xây dựng chính sách khách hàng Lựa chọn đối tượng khách hàng, tạo dựng quan hệ bền chặt, áp dụng chính sách linh hoạt và tạo uy tín ngày càng cao Việc xếp loại khách hàng không chỉ căn cứ vào chất lượng quan hệ tín dụng mà còn xét đến uy tín của khách hàng trong thanh toán
> Uy tín của Ngân hàng thương mại trong Thanh toán quốc tế.
Uy tín của ngân hàng trong nước và trên thị trường quốc tế là tiêu chí tổng hợp từ rất nhiều yếu tố: chất lượng dịch vụ, kỹ thuật xử lý nghiệp vụ, khả năng thanh toán Một ngân hàng có uy tín sẽ là điều kiện đầu tiên để khách hàng (hoặc bên đối tác của họ) lựa chọn giao dịch Nhờ đó, uy tín của bản thân khách hàng cũng được nâng lên, độ rủi ro giảm đi và khách hàng giảm được chi phí mua hàng vì không phải trả thêm các phí phát sinh từ việc ngân hàng giao dịch có uy tín không cao Đây là điều kiện quan trọng để ngân hàng thu hút thêm khách hàng, tăng doanh thu và mở rộng thị phần
Trang 20thanh toán quốc tế Tuy nhiên, uy tín của một ngân hàng không chỉ do ngân hàng trung ương của nó quyết định mà phụ thuộc phần lớn vào uy tín của mỗi chi nhánh thành viên.
1.1.5 Nguồn luật điều chỉnh hoạt động Thanh toán Quốc tế.
Khác với thanh toán nội địa, trong quan hệ thanh toán quốc tế, không chỉ đòi hỏi các chủ thể tuân theo những quy định pháp lý của quốc gia, mà còn phải tuân thủ các quy định pháp lý mang tính quốc tế cũng như tập quán, thông lệ ở các nước đối tác Các văn bản pháp lý làm cơ sở cho Thanh toán Quốc tế hiện bao gồm:
1.1.5.1 Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thanh toán Hối phiếu.
Hiện nay có một số điều ước quốc tế và luật quốc gia về hối phiếu quan trọng được ngân hàng và các bên tham gia hoạt động thương mại quốc
tế lựa chọn làm cơ sở pháp lý cho quan hệ thanh toán hối phiếu Cụ thể gồm:
- Luật thống nhất về Hối phiếu đòi nợ và Hối phiếu nhận nợ 1930 (Uniform Law for Bills of Exchange and Promissory Note of 1930 - ULB): áp dụng phổ biến ở châu Âu và được đưa vào Luật thương mại của hầu hết các quốc gia thuộc châu Âu
- Hiệp ước về Hối phiếu đòi nợ và Hối phiếu nhận nợ quốc tế của Liên hiệp quốc 1988: được Hội nghị toàn thể lần thứ 43 của Liên hiệp quốc thông qua ngày 09.12.1988
- Luật Hối phiếu 1882 của Anh (BEA): áp dụng tại Anh và các nước phụ thuộc (Khối thịnh vượng chung)
- Quy tắc thương mại thống nhất (Uniform Commercial Code - UCC): áp dựng tại Mỹ
Cho đến nay, Việt Nam chưa chính thức phê chuẩn hoặc đưa vào hệ thống Luật quốc gia văn bản nào trong số các bộ luật trên đây Việc các bên viện dẫn, tham chiếu nguồn luật nào hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện
Trang 211.1.5.2 Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thanh toán Séc.
Nhìn chung, các quốc gia sử dụng Séc làm phương tiện thanh toán quốc tế đều áp dụng những quy định có liên quan đến việc lưu thông Séc trong Công ước Giơnevơ 1931
1.1.5.3 Thoả ước giữa các ngán hàng.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình triển khai thực hiện thanh toán các hợp đồng do chủ thể trong nước ký kết với chủ thể nước ngoài, ngoài việc
áp dụng những văn bản pháp lý quốc tế chung, hệ thống ngân hàng các nước thường ký kết với nhau những thoả ước thống nhất (dưới dạng hiệp định, thoả thuận ) về các vấn đề liên quan đến hoạt động tiền tệ, tín dụng và thanh toán
1.1.5.4 Quy tắc thực hành áp dụng trong Thanh toán Quốc tê
Do tính phức tạp và đa dạng của nghiệp vụ, với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện thống nhất các nguyên tắc thực hành nghiệp vụ, Phòng Thương mại quốc tế ICC đã soạn thảo và ban hành những quy tắc và định nghĩa thống nhất, áp dụng cho mỗi phương thức thanh toán quốc tế Những tài liệu này chí mang tính quy phạm tuỳ nghi, nghĩa là các bên muốn
áp dụng phải thoả thuận ghi vào hợp đồng Tuy nhiên, các quy tắc soạn thảo đểu tham khảo luật lệ, quy chế của các quốc gia cũng như quốc tế, nên được phần lớn các nước công nhận và đưa vào bộ luật của quốc gia
Những tài liệu đang có hiệu lực và áp dụng phổ biến hiện nay gồm:
- Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, ấn bản số
500 (Uniform Custom and Practice for Documentary Credit - UCP 500), hiệu lực từ 01 -01 -1994
- Quy tắc thống nhất hoàn trả liên ngân hàng theo Tín dụng chứng từ,
ấn bản số 525 (Uniform Rules for Bank to Bank Reimbursement under Documentary Credit - URC 525), hiệu lực từ 01-07-1996
Trang 22- Quy tắc thống nhất về nghiệp vụ Nhờ thu, ấn bản số 522 (Uniform Rules for Collection - URC 522), hiệu lực từ 01-01-1996
- Thực hành Tín dụng dự phòng quốc tế, ấn bản số 590 (International Stanby Practices - ISP 98), hiệu lực từ 01-01-1999
1.2 THANH TOÁN BIÊN GIỚI.
1.2.1 Khái niệm về thanh toán biên giói.
Thanh toán biên giới là khái niệm mới xuất hiện một số năm gần đây
Có thể thấy rằng, khái niệm thanh toán biên giới gắn liền với hoạt động buôn bán qua biên giới Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm này vẫn chưa có một định nghĩa chính thống
Buôn bán qua biên giới có thể được hiểu theo nhiều khái niệm khác nhau Nếu xét từ định nghĩa “Ngoại thương là việc mua, bán hàng hoá và dịch vụ qua biên giới quốc gia, hình thành trên cơ sở của nền kinh tế hàng hoá và sự phân công lao động quốc tế”, thì buôn bán qua biên giới cũng là hình thức của ngoại thương
Xét theo yếu tố địa lý, buôn bán qua biên giới là hình thức trao đổi hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp và cư dân ở khu vực biên giới trên đất liền giữa hai nước Có lúc, người ta gọi buôn bán qua biên giới là hình thức mậu dịch tiểu ngạch (để phân biệt với phần còn lại là mậu dịch chính ngạch, hai bộ phận cấu thành kim ngạch ngoại thương của quốc gia)
Trong thực tế hoạt động trao đổi hàng hoá qua các cửa khẩu biên giới đường bộ hiện nay, cơ quan Hải quan phân biệt: hàng hoá xuất nhập khẩu có thực hiện thủ tục mở tờ khai hải quan thuộc về mậu dịch chính ngạch; còn hàng hoá mua bán của dân cư, tiểu thương ở khu vực biên giới (không bắt buộc mở tờ khai hải quan) thuộc mậu dịch tiểu ngạch
Như vậy, có thể thấy rằng, buôn bán qua biên giới là một hình thức
Trang 23thương mại quốc tế đặc biệt Khái niệm buôn bán qua biên giới hiện nay không còn phân biệt ở hình thức ngoại thương, mà ở hình thức thanh toán:
thanh toán theo thông lệ quốc tế bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hay theo quy
ước riêng của hai nước có chung biên giới
Thực tế cho đến nay, khái niệm thanh toán biên giới vẫn chưa thống nhất Một số ý kiến gọi là thanh toán tiểu ngạch hoặc thanh toán biên mậu Tuy nhiên, cả hai cách gọi này đều không hợp lý, vì:
Thứ nhất: Thanh toán biên mậu (biên mậu: mậu dịch biên giới - cách
gọi tắt theo ngôn từ Hán - Việt) không bao hàm thanh toán phi mậu dịch, hoặc buôn bán nhỏ của dân cư, trong khi nhũng hoạt động này lại không nhỏ
Thứ hai: Nếu gọi là thanh toán tiểu ngạch cũng không phù hợp với
thực tế trao đổi hàng hoá quan biên giới hiện nay Phạm trù “tiểu ngạch” và
“chính ngạch” đã không còn cơ sở để phân biệt
Theo tác giả, khái niệm thanh toán biên giới là việc thanh toán các
nghĩa vụ tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan
hệ khác giữa các chủ thể của hai nước ở khu vực biên giới theo các quy định của chính phủ hai nước có chung biên giới và phù hợp với thông lệ quốc tế.
1.2.2 Đặc điểm của Thanh toán biên giới.
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ được gắn liền với khâu thanh toán Việc thanh toán có thể được thực hiện bằng hình thức hàng đổi hàng trực tiếp Hình thức này diễn ra chủ yêu khi hoạt động thương mại chưa phát triển, hoặc khi quan hệ thương mại chính thức giữa hai quốc gia chưa được thiết lập Còn hình thức thanh toán phổ biến là lựa chọn đồng tiền của nước thứ ba, chủ yếu là ngoại tệ mạnh, bằng các phương thức thanh toán phổ biến, áp dụng theo chuẩn mực quốc tế, thông qua các Ngân hàng thương mại
So với thanh toán quốc tế (thanh toán theo thông lệ quốc tế), thanh toán biên giới có những đặc điểm sau:
Trang 24Thanh toán biên giới gắn liền với hoạt động buôn bán qua biên giới Chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán biên giới thuộc hai quốc gia có chung đường biên giới
Đồng tiền sử dụng trong thanh toán biên giới chủ yếu là bản tệ của nước có chung biên giới
Ngôn ngữ sử dụng trong thanh toán biên giới là ngôn ngữ của hai nước có chung biên giới
Phương thức giao dịch trực tiếp, không qua mạng viễn thông quốc tế Hành động theo thoả thuận giữa các chủ thể tham gia, trên cơ sở thông lệ quốc tế
Trang 25Chương 2
TH ỤC TR Ạ N G H O Ạ T Đ Ộ N G TH A N H TO Á N BIÊN GIỚ I TẠ I NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIEN n ô n g THÔN VIỆT NAM
2.1 TÌNH HÌNH BUÔN BÁN QUA BIÊN GIỚI VIỆT - TRUNG
Trong số các nước láng giềng, Việt Nam và Trung Quốc có mối quan
hệ giao thương lâu đời nhất Quan hệ buôn bán giữa hai nước chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi yếu tố địa lý, lịch sử và nền văn hoá có nhiều nét tương đồng
2.1.1 Đặc điểm địa lý các tỉnh biên giới Việt - Trung.
Tiếp giáp với Trung Quốc là 6 tỉnh biên giới của Việt Nam, bao gồm: Quảng Ninh, Lạng Sơn (giáp tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc), Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu (giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc)
Quảng Ninh: Là tỉnh biên giới ở phía Đông Bắc nước ta, có diện tích
5.938 Km2, dân số 1,025 triệu ngưỡi (năm 2000), đặc điểm địa hình khá đặc biệt, có đường biên giới với Trung Quốc 225 Km trên đất liền và 250 Km đường biển Từ xa xưa, Quảng Ninh đã là đầu mối giao dịch, buôn bán và thông thương hàng hoá với thị trường Trung Quốc Quảng Ninh có hai cửa khẩu quốc gia chính là Móng Cái (huyện Hải Ninh) và Hoành Mô (huyện Bình Liêu), hai cửa khẩu phụ là Pò Hèn (huyện Hải Ninh) và Quảng Đức (huyện Quáng Hà), ngoài ra còn nhiều cửa khẩu địa phương
Quảng Ninh có tiềm năng kinh tế cực kỳ to lớn Thiên nhiên đã ban cho vùng này nguồn tài nguyên phong phú đa dạng, đặc biệt là tiềm năng du lịch Các mỏ than đá ở đây lớn nhất nước, vùng biển rộng lớn trở thành khu vực nuôi trồng thuỷ sản đầy triển vọng Cảng Cái Lân đang được xây dựng thành cảng nước sâu lớn nhất miền Bắc Quảng Ninh có đầy đủ các yếu tố để
V I Ẹ N N C K H N G A N H A N G
T H Ư V I Ệ N
Trang 26phát triển thành trung tâm mậu dịch thương mại và dịch vụ lớn của miền Bắc Riêng đối với ngành du lịch, Quảng Ninh đặt mục tiêu đến năm 2005 sẽ đón
3 triệu lượt khách, trong đó có 1 triệu lượt khách quốc tế Hiện nay, tại Quảng Ninh đang tích cực thu hút vốn đầu tư nước ngoài, xây dựng một hệ thống dịch vụ đồng bộ, đa dạng và hấp dẫn
Ngày 18-9-1996, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định cho phép Quảng Ninh được áp dụng thí điểm một số chính sách theo hướng “khu kinh
tế mở” tại khu vực của khẩu Móng Cái - đối diện với thị xã Đông Hưng của Trung Quốc Sự phát triển xuất nhập khẩu, thương mại và du lịch sẽ làm cho Móng Cái trở thành khu vực năng động, hội nhập với nền kinh tế trong khu vực rộng lớn của hai nước Việt - Trung, tăng cường cạnh tranh và thực hiện phương châm hợp tác đa phương cùng phát triển
Lạng Sơn: Là tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, có đường biên giới với
tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc dài 253 Km, qua địa bàn 5 huyện, 20 xã và 01 thị trấn biên giới Tỉnh có diện tích 8.187 Km2, trong đó đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên, dân số 718 nghìn người
So với một số tỉnh miền núi khác, Lạng Sơn có hệ thống giao thông khá thuận lợi, có tuyến đường sắt và đường bộ xuyên Việt đi qua và liên vận sang tận Trung Quốc Thị xã Lạng Sơn chỉ cách Hà Nội 150 Km Đặc biệt, Lạng Sơn có 2 của khẩu quốc gia Đồng Đăng, Hữu Nghị từ lâu đời đi sang Trung Quốc, nối bằng đường bộ và đường sắt với các nước châu á khác và sang châu Âu Các xã giáp biên giới còn có hàng trăm đường mòn mà từ lâu đời nhân dân hai biên giới Việt - Trung qua lại, giao lưu tình cảm, trao đổi kinh tế với nhau
Chính sách mở cửa biên giới đã làm cho Lạng Sơn trở thành trung tâm thương mại lớn của cả nước Việc tập trung xây dựng chợ Đông Kinh ở trung tâm thị xã Lạng Sơn, phối hợp với xây dựng cơ sở hạ tầng tại khu vực các cửa khẩu Hữu Nghị, Đồng Đăng, Tân Thanh và một số xã biên giới đã tạo tiền đề
Trang 27đẩy nhanh các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu, du lịch và dịch vụ ở khu kinh tế mở Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng bình quân 20% mỗi năm Dự báo đến năm 2010 kim ngach xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh sẽ là3,5 tỷ USD, trong đó hàng khai thác tại địa phương sẽ chiếm khoảng 10%
Cao Bằng: Là tỉnh miền núi biên giới phía Bắc cách xa các thành phố
và trung tâm kinh tế lớn, diện tích tự nhiên 8.444 Km2, trong đó diện tích nông nghiệp đang sử dụng chỉ chiếm có 8 % Dân số 501 nghìn người với trên 20 dân tộc thiểu số, tình trạng dân trí thấp với tình trạng trên 30% dân số
mù chữ, thuộc loại nghèo nhất cả nước Cao Bằng có chiều dài biên giới giáp Trung Quốc là 314 Km với cửa khẩu quốc gia Tà Lùng, cửa khẩu địa phương Hùng Quốc và Sóc Hà, 11 chợ biên giới
Cao Bằng có cơ sở hạ tầng rất thấp kém và lạc hậu, không có đường sắt
và đường thuỷ, chí có tuyến đường bộ từ Hà Nội theo quốc lộ 3 qua Thái Nguyên và quốc lộ 4 qua Lạng Sơn lên Cao Bằng Điều đó ảnh hưởng rất lớn tới việc lưu thông hàng hoá từ miền xuôi lên Cao Bằng, cũng như xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới Việt - Trung
Ngày 9-9-1998 Chính phủ đã quyết định áp dụng thí điểm một số chính sách tại một số khu vực cửa khẩu bao gồm: khu vực của khẩu quốc gia
Tà Lùng và xã Tà Lùng - huyện Quảng Hoà; khu vực của khẩu Hùng Quốc
và xã Hùng Quốc - huyện Trà Lĩnh ; khu vực của khẩu Sóc Giang và xã Sóc Giang - huyện Hà Quảng Các khu vực nói trên được gọi chung là “khu vực kinh tế của khẩu Cao Bằng”, được hưởng chính sách ưu đãi đặc biệt
Từ ngày mở của biên giới, thị trường thị xã Cao bằng và các huyện biên giới trở nên tấp nập Thuế xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới chiếm hơn 1/3 thu ngân sách trên địa bàn, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc trong tỉnh được nâng lên rõ rệt
Hà Giang: Là một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước hiện nay, với diện tích tự nhiên rộng 7.834 Km2, trong đó chủ yếu là núi đá, dân số
Trang 28612 nghìn người gồm 22 dân tộc, có đường biên giới dài 274 Km với Trung Quốc.
Hà Giang có cửa khẩu quốc gia Thanh Thuỷ và các cửa khẩu địa phương là Phú Bảng, Xín Mần và Sămpun Trong những năm qua, Hà Giang
đã xây dựng được các chợ, trạm để tổ chức lưu thông hàng hoá giữa các khu vực qua biên giới của hai tỉnh Hà Giang (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc) Khu trung tâm thương mại dịch vụ cửa khẩu quốc gia Thanh Thuỷ đang đi vào hoàn chỉnh để trở thành mũi nhọn phát triển kinh tế mậu dịch đường biên giới
Lào Cai: Là tỉnh miền núi tiếp giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, có
diện tích hơn 8.000 Km2, dân số gần 600 nghìn người với 27 dân tộc, trước khi có chủ trương mở cửa biên giới, nền kinh tế của tỉnh là nông nghiệp lạc hậu, tự cấp tự túc
Từ sau khi có chính sách mở cửa biên giới với Trung Quốc, nền kinh tế Lào Cai ngày càng khởi sắc Khu vực kinh tế cửa khẩu Cốc Lếu và thị xã Lào Cai (đối diện với bên kia là huyện Hà Khẩu - Trung Quốc) đã phát triển nhanh chóng Hiện nay, cùng phối hợp với Trung Quốc thực hiện dự án
“vành đai kinh tế “ dọc theo tuyến Côn Minh - Hà Khẩu - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Lào Cai sẽ có tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế thương mại
và dịch vụ phục vụ xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới; đồng thời, khu du lịch Sa Pa cũng sẽ trở thành một khu nghỉ mát và du lịch lớn, thu hút khách
du lịch trong và ngoài nước, đặc biệt là khách du lịch Trung Quốc qua đường sắt và đường bộ
Lai Châu: Nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, Lai Châu là tỉnh miền
núi cao, có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc và Lào Diện tích tự nhiên 17.000Km2, trong đó đất canh tác nông nghiệp chỉ chiếm 10%, địa hình chia cắt, hiểm trở Dàn số 590 nghìn người với 21 dân tộc anh em, 60% dân số sống bằng nghề làm nương rẫy, tỷ lệ dân số mù chữ, du canh du cư
Trang 29du lịch.
Như vậy, đến nay trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã
có 25 cặp cửa khẩu chính thức và 59 cặp đường mòn biên giới, trong đó có những cặp cửa khẩu quốc gia như Móng Cái (Quảng Ninh) - Đông Hưng, Hữu Nghị (Lạng Sơn) - Bằng Tường, Lào Cai - Hà Khẩu Ngoài ra còn có
13 chợ biên giới được mở để phục vụ cho các hoạt động giao lưu kinh tế giữa hai nước
2.1.2 Tình hình buôn bán qua biên giới Việt - Trung.
Có thể chia lịch sử buôn bán giữa hai nước ra làm bốn thời kỳ:
2.1.2.1 Thòi kỳ trước Pháp thuộc (trước 1858).
Theo Đại Việt sử ký toàn thư (tác giả Ngô Sỹ Liên và các Sử thần triều Lê) - tài liệu cổ nhất còn lưu lại được, thì từ khi Triệu Đà lập nước Nam Việt, xưng là Nam Việt Vũ Vương (năm 207 trước Công nguyên), quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc đã bắt đầu hình thành Các loại hàng hoá được mang ra trao đổi gồm thóc gạo, các sản vật quý hiếm như sừng tê giác, ngà voi, đồi mồi, châu ngọc của người Việt đem đổi lấy đồ điền khí, đồ sắt, trâu
bò, ngựa, dê của người Trung Quốc
Dưới triều Lý (1010 - 1225), Trần (1226 - 1400), chẳng những thương nhân Trung Quốc sang Việt Nam buôn bán mà cả người Việt Nam cũng sang
buôn bán ở Trung Quốc Ngày nay, chúng ta tìm thấy ở những khu vực mậu
dịch sầm uất thời đó như Vân Đồn (Quảng Ninh), Kỳ Lừa (Lạng Sơn) rất nhiều tiền đời Tống, chứng tỏ trong quan hệ mua bán, đổi chác, đồng tiền của
Trang 30Trung Quốc đã được dùng làm phương tiện thanh toán.
Tóm lại, thực hiện chính sách lớn, xuyên suốt trong lịch sử chế độ quan chủ, những người đứng đầu vương triều Việt Nam độc lập tự chủ luônáp dụng nguyên tắc “hoà hiếu” với phương Bắc Mặc dù cũng có những giai đoạn bế quan toả cảng, song các hoạt động kinh tế, nhất là hoạt động trao đổi buôn bán ở vùng biên giới giữa hai nước vẫn luôn diễn ra, vượt khỏi sự cấm đoán của chính quyền trung ương Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là quan hệ kinh tế giữa hai nước trong suốt hơn 20 thế kỷ, phần ưu thế chủ động luôn thuộc về phía Trung Quốc, đồng tiền Trung Quốc được sử dụng làm phương tiện thanh toán
2.2.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc (1858 -1954).
Với Pháp, Trung Quốc không chỉ trở thành thị trường tiêu thụ hàng hoá nội địa của những thành phố công nghiệp Bắc Kỳ (tên gọi do chính quyền thực dân Pháp quy định cho Bắc Việt Nam), mà còn là thị trường tiêu thụ hàng hoá của cả Pháp và châu Âu Hàng công nghiệp của Pháp trở thành nhu cầu cấp thiết của cư dân vùng biên giới, còn vị thế của hàng Trung Quốc
bị giảm sút dần Trong quan hệ buôn bán giữa hai nước, Trung Quốc bắt đầu
ở vào tình trạng nhập siêu Hơn nữa, tiền tệ trao đổi đa số sử dụng đồng bạc Pháp làm đơn vị thanh toán chung Tuy nhiên, hoạt động thanh toán vẫn diễn
ra một cách tự phát
2.1.2.3 Thời kỳ từ khi hai nước Việt Nam, Trung Quốc giành được độc lập
> Giai đoạn trước năm 1991:
Tháng 9-1951, Chính phủ hai nước Việt - Trung bắt đầu lập quan hệ mậu dịch với nhau Hai bên đã ký các Hiệp định về mậu dịch và tiền tệ Tháng 1-1953, Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc ký kết Nghị định thư mậu dịch giữa hai nước và mậu dịch tiểu ngạch biên giới Việt - Trung Cũng trong năm này, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ra Quyết định số 321/Ttg ban
Trang 31cả hai nước thời kỳ đó chưa phát triển, Việt Nam ở trong tình trạng nền kinh
tê thời chiến, rất khó khăn để lo ổn định đời sống nhân dân và cung cấp vũ khí, lương thực cho tiền tuyến Quan hệ hàng hoá giữa hai nước chủ yếu là viện trợ và buôn bán trong hệ thông Xã hội Chủ nghĩa
Trong thời gian chiến tranh biên giới (1978 - 1986) đã làm quan hệ thương mại giữa hai nước tạm thời bị gián đoạn
> Giai đoạn sau 1991:
Tháng 11-1991, Việt Nam và Trung Quốc chính thức ra thông cáo chung về bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, mở ra thời kỳ mới cho quan
hệ hợp tác phát triển và buôn bán qua biên giới Đây là việc làm đáp ứng với nguyện vọng chung và lợi ích cơ bản lâu dài giữa hai dân tộc, phù hợp với xu thế chung của thời đại Hoà bình và phát triển, mở rộng giao lưu kinh tế và văn hoá không chỉ là trào lưu chung, mà còn là đòi hỏi bên trong của công cuộc xây dựng kinh tế ở mỗi nước
Từ khi binh thường hoá quan hệ đến nay, Chính phủ hai nước Việt Nam, Trung Quốc đã ký kết trên 20 Hiệp định về kinh tế - thương mại, làm cho buôn bán qua biên giới giữ hai nước được phục hồi và không ngừng phát triển Buôn bán qua biên giới là một bộ phận đáng kể trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước, tỷ lệ này dao động trong khoảng 50-60%
Hàng hoá của Việt Nam xuất sang Trung Quốc bao gồm 4 nhóm chính:
- Nhóm hàng nguyên liệu (than đá, dầu thô, quặng kim loại, các loại tinh dầu, cao su tự nhiên
Trang 32- Nhóm hàng nông sản: Chè, rau, gạo, sắn lát, các loại hoa quả nhiệt đới như chuối, xoài, thanh long, chôm chôm, vải, nhãn
- Nhóm hàng thuỷ sản tươi sống: Tôm, cá, cua, mực
- Nhóm hàng tiêu dùng: Giầy dép, xà phòng, hàng thủ công mỹ nghệ,
đồ gia dụng cao cấp
Trong số các mặt hàng nêu trên, nhiều mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đã khẳng định được thương hiệu và chiếm lĩnh thị phần như dầu thô, hải sản, hoa quả, cao su, giày dép Bitis Đặc biệt đối với cao su, hiện Trung Quốc đang nhập khẩu 60% sản lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam (gần 80.000 tấn)
Hàng hoá Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc gồm 5 nhóm mặt hàng chính:
- Dây chuyền sản xuất đồng bộ: Dây chuyền sản xuất của nhà máy đường, xi măng lò đứng
- Máy móc thiết bị: Thiết bị y tế, vận tải, máy nông nghiệp
- Nguyên nhiên liệu: Xăng dầu, phân bón, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng
- Mặt hàng nông sản: Bột mì, đường, hoa quả ôn đới
- Hàng tiêu dùng: Sản phẩm điện tử, quần áo, đồ chơi trẻ em
So với hoạt động ngoại thương nói chung, đã được chuẩn hoá theo quy định pháp luật và thông lệ quốc tế, hoạt động buôn bán qua biên giới Việt - Trung hiện nay có những nét đặc trưng cơ bản:
- Hình thức buôn bán đa dạng: Hàng hoá buôn bán qua biên giới bao
gồm cả hình thức xuất nhập khẩu chính ngạch, tiểu ngạch và các hình thức tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu Việc lưu thông hàng hoá diễn ra không chỉ
ở các cửa khẩu quốc tế của quốc gia, mà ở cả các cửa khẩu địa phương biên giới, đường mòn tự phát, chợ biên giới Bên cạnh hình thức buôn bán chính ngạch còn xen lẫn hình thức buôn bán dân gian tự phát Đa dạng hoá về
Trang 33phương thức trao đổi đã làm cho hoạt động ngoại thương giữa Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét đặc trưng và cũng là lợi thế của cả hai bên về mặt địa lý
- Lực lượng tham gia hết sức đông đảo và thuộc nhiều thành phần:
Chủ thể tham gia vào hoạt động buôn bán qua biên giới bao gồm nhiều thành phần khác nhau, như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các cá nhân Do điều kiện để tham gia buôn bán rất đơn giản, nhiều khi không cần phải có trình độ ngoại thương đúng tiêu chuẩn như ở các thị trường khác, đặc biệt đối với tầng lớp cư dàn biên giới có điều kiện giao dịch trực tiếp, có mối quan hệ hiểu biết lãn nhau, nên hầu như mọi đối tượng đều có thể tham gia vào thị trường này
- Chủng loại hàng hoá phong phú: Các loại hàng hoá buôn bán qua
biên giới không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và tiêu dùng của
cư dân biên giới mà còn phục vụ nhu cầu của các tỉnh nội địa, nên bao gồm nhiều chủng loại và chất lượng khác nhau, từ hàng nông lâm thuỷ sản, hải sản tươi sống đến các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, từ hàng đạt tiêu chuẩn chất lượng cấp quốc gia đến loại hàng chưa được đánh giá phẩm cấp, nhất là đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo đường tiểu ngạch và chợ biên giới
- Hình thức thanh toán linh hoạt: Do tính đa dạng của các chủ thể
tham gia và chủng loại hàng hoá xuất nhập khẩu qua biên giới, nên phương thức thanh toán cũng hết sức đa dạng Những hình thức thanh toán chủ yếu gồm: hàng đổi hàng, thanh toán bằng ngoại tệ mạnh hoặc bằng đồng bản tệ của các quốc gia có chung biên giới
- Hình thức buôn bán đơn giản, tính pháp lý không cao, trình độ
nghiệp vụ ngoại thương thấp: Hình thức trao đổi hàng hoá diễn ra chủ yếu tại
khu vực biên giới hiện nay là hình thức buôn bán trao tay Địa bàn hoạt động chủ yếu diễn ra tại các tính biên giới, hình thức vận chuyển bằng đường bộ, với các phương tiện vận chuyển từ hiện đại đến thô sơ, thậm chí bằng sức
Trang 342.1.3 Những tác động tích cực của hoạt động buôn bán qua biên giói
Việt Trung đối vói nền kinh tê - xã hội Việt Nam.
Giao lưu kinh tế qua biên giới Việt Trung đã tác động sâu sắc đến nhiều mặt kinh tế - xã hội và văn hoá của Việt Nam, đặc biệt là ở các tỉnh biên giới phía Bắc, nơi có kinh tế của khẩu Hình thức thương mại này đã góp phần thực hiện ba mục tiêu là phát triển kinh tế, cải thiện đời sống dân cư và tăng cường quan hệ láng giềng
2.13.1 Buôn bán biên giới đã góp phần phát triển thương mại, thúc đẩy
quá trình chuyên dịch nền kinh tê tự cung tự cấp sang nền kinh tê sản xuất hàng hoá.
Trao đổi hàng hoá là hoạt động chủ yếu trong các hình thức giao lưu kinh tế trên biên giới Việt - Trung Kim ngạch buôn bán hai chiều trên biên giới Việt - Trung từ chỗ chỉ chiếm 2% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước năm 1989 đã lên tới 4% năm 1990 và trong khoảng 5-7% hiện nay Dự kiến kim ngạch buôn bán hai chiều giữa hai nước sẽ đạt 5 tỷ USD vào năm
2005 theo tinh thần thoả thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước
Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vùng biên ngoài ý nghĩa tích cực
là cầu nối giao lưu kinh tế- xã hội, đáp ứng những nhu cầu bức xúc trong quan hệ tình cảm và trao đổi hàng hoá giữa nhân dân hai nước Việt - Trung, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở hai bên biên giới, còn gây tác động mạnh mẽ, thúc đẩy nhanh quá trình phân công lao động xã hội, tạo thêm nhiều ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm không chỉ cho hàng vạn người lao động ở các tỉnh biên giới phía Bắc mà cả ở nhiều tỉnh vùng xuôi
Nhờ tác động tích cực của mở cửa biên giới với các hoạt động sôi độngngười mang vác Nhiều giao dịch mua bán thậm chí không có hợp đồng kinh
tế, hoặc nếu có thì cũng không theo thể thức hợp đồng ngoại thương chuẩn
Trang 35của thị trường vùng biên, kinh tế của các tỉnh biên giới phía Bắc, đặc biệt là khu vực thị xã, thị trấn, phố chợ, cửa khẩu đã có sự biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế, đang từ tình trạng sản xuất tự cung tự cấp, thiếu đói lương thực nhiều năm, nay đã chuyển hướng mạnh sang sản xuất hàng hoá, phát triển mạnh các hoạt động thương mại và dịch vụ Thị trường vùng biên đã thực sự trở thành nhân tố tạo vùng, hình thành nên các trung tâm kinh tê lớn về trao đổi hàng hoá với Trung Quốc, thu hút nhiều tỉnh và thành phố trong cả nước cùng tham gia các hoạt động xuất nhập khẩu
2.13.2 Buôn bán biên giói có tác động tương hỗ, thúc đẩy các hoạt động
kinh tế phát triển.
Tác động đó được thể hiện ở những mặt sau:
- Thứ nhất: Thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn: Nông
nghiệp Trung Quốc có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đã có bước phát triển tích cực và đạt được nhiều thành tựu trong sản xuất nông lâm
và phát triển nông thôn như: lai tạo giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, kỹ thuật canh tác tiên tiến
Trao đổi hàng hoá nông lâm sản với Trung Quốc, một mặt chúng ta đã khai thác được thị trường gần để tiêu thụ sản phẩm Đây lại là thị trường dễ tính, không đòi hỏi quá khắt khe về chất lượng nên có tác dụng quan trọng trong sản xuất nông lâm nghiệp và xuất khẩu của Việt Nam Mặt khác, qua trao đổi hàng hoá, chúng ta cũng đã nhập được nhiều vật tư, thiết bị, giống cây trồng, vật nuôi cần thiết cho sản xuất nông nghiệp, trong đó nhiều sản phẩm có hiệu quả và năng suất phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và trình độ sản xuất nông nghiệp của Việt Nam Một sô mô hình trồng trọt, chăn nuôi, trồng rùng học tập kinh nghiệm từ nước bạn đã bắt đầu được áp dụng ở một
số tính phía Bắc
- Thứ hai: Buôn bán qua biên giới góp phần tạo nên những điểm đầu
Trang 36mối quan trọng về luồng hàng hoá, tiền tệ và giao thông: Có thể thấy rằng, sự phát triển thương mại qua đường biên giới cùng với sự phát triển phân công lao động và thương mại nội địa đã tạo nên nhũng điểm đầu mối quan trọng về luồng hàng hoá, tiền tệ và giao thông, thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng biên giới và ra đời một số trung tâm kinh tế quan trọng.
Giao thông vận tải ở các tỉnh biên giới phía Bắc phần lớn dựa vào mạng đường bộ, đặc biệt là các tỉnh phía Tây Bắc Từ khi có chính sách
mở cửa biên giới, các đường ra cửa khẩu, đường đến các xã biên giới đều
đã được cải thiện một bước, góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế -
xã hội các tỉnh biên giới phía Bắc Xét trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, các trung tâm ở quy mô lớn có thể kể đến các thị trấn Đồng Đăng (Lạng Sơn), Móng Cái (Quảng Ninh), Thị xã Lào Cai (tỉnh Lào Cai), và Tà Lùng (Cao Bằng) Những trung tâm này là những điểm nút, quy tụ các luồng chảy hàng hoá trong vùng thông qua hệ thống 512 chợ lớn nhỏ miền núi, mặt khác, là đầu mối giao lưu hàng hoá của các tỉnh nội địa với Trung Quốc và ngược lại
2.1.33 Buôn bán biên giói góp phần cải thiện và nâng cao đòi sống kinh
tế - văn hoá, tinh thần cho nhân dân các tỉnh vùng biên giới.
Buôn bán qua biên giới đã góp phần làm giảm bớt tỷ lệ đói nghèo, đời sống một bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt Kinh tế phát triển đã góp phần quan trọng trong việc cải thiện và nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho nhân dân, đặc biệt là các dân tộc thiểu số khu vực biên giới Đặc biệt, nó còn là nguyên nhân quan trọng góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế - văn hoá - xã hội của khu vực biên giới, thu hẹp khoảng cách chênh lệch trong phát triển giữa miền núi và miền xuôi, giữa nhân dân dân tộc thiểu số và đa số, làm tăng cường tình đoàn kết trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Trang 372.13.4 Góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt -
Trung, tạo điêu kiện giữ gìn an ninh biên giới.
Các cửa khẩu biên giới phía Bắc có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng đối với giao lưu kinh tế - văn hoá, đồng thời có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển quan hệ hữu nghị láng giềng với Trung Quốc Từ khi bình thường hoá quan hệ đến nay, giao lưu kinh tế buôn bán qua biên giới ngày càng phát triển đã đáp ứng nguyện vọng lâu dài của nhân dân hai nước
Nhờ mở cửa, đời sống nhân được cải thiện và nâng cao Nhân dân chú tâm vào làm ăn phát triển kinh tế cho mình, đồng thời góp phần xây dựng quê hương, không còn cơ hội cho bọn kẻ xấu dụ dỗ, lôi kéo và xúi giục phá hoại an ninh biên giới
Ngoài ra, giao lưu kinh tế qua biên giới còn góp phần thúc đẩy các hoạt động giao lưu văn hoá - nghệ thuật và du lịch giữa các địa phương biên giới hai nước, từ đó, cán bộ và nhân dân hai bên biên giới có điều kiện hiểu biết nhau hơn, tham khảo kinh nghiệm xây dựng và phát triển của nhau, cùng nhau mở rộng tầm nhìn hướng tới tương lai
2.2 HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN BIÊN GIỚI CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM.
2.2.1 Khái quát mô hình tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
2.2.1.1 Mô hình tổ chức của Ngán hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam.
NHNo & PTNT Việt Nam là Ngân hàng thương mại nhà nước, được thành lập theo Quyết định số 400CT ngày 14/11/1990 của Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng và được thành lập lại theo Quyết định số 280/QĐ-NH5 ngày 15/10/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Trang 38Tháng 6 năm 2002, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chính thức phê chuẩn Điều lệ mới về tổ chức và hoạt động của NHNo & PTNT Việt Nam Theo đó, NHNo & PTNT Việt Nam hoạt động theo mô hình Tổng Công ty Nhà nước đặc biệt, thời gian hoạt động là 99 năm kể từ ngày được thành lập lại theo Quyết định số 280/QĐ-NH5 ngày 15/10/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước NHNo & PTNT Việt Nam có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, chịu sự quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước, của các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp theo chức năng và quy định của pháp luật
Đến 31-12-2002, NHNo & PTNT Việt Nam có 1.511 chi nhánh trên toàn quốc (chưa có chi nhánh tại nước ngoài), với tổng biên chế 25.634 nhân viên, trong đó:
2.2.1.2 Các nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam
- Huy động vốn bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ, vàng và các công cụ khác theo quy định của pháp luật
- Hoạt động tín dụng: cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhận dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
- Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế, dịch
vụ thu hộ, chi hộ, thu phát tiền mặt cho khách hàng
Trang 39- Các hoạt động khác:
■ NHNo & PTNT Việt Nam được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ
để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác; góp vốn với tổ chức tín dụng nước ngoài để thành lập tổ chức tín dụng liên doanh tại Việt Nam theo quy định của pháp luật
■ Tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
■ Kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và quốc tế
■ u ỷ thác, nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng
• Kinh doanh chứng khoán, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính, tiền tệ, tín dụng cho khách hàng; bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật
2.2.1.3 Kết quả một sô nghiệp vụ chủ yếu.
Hiện nay, NHNo & PTNT Việt Nam là một trong số các Ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất của Việt Nam, với số vốn điều lệ xấp xỉ 3.780 tỷ, có quan hệ tín dụng với gần 6.000 doanh nghiệp, 7,5 triệu hộ sản xuất kinh doanh và hàng chục triệu khách hàng giao dịch Đến thời điểm 31- 12-2002, tổng nguồn vốn kinh doanh đạt 100.078 tỷ, tăng 25.463 tỷ (37,8 %)
so với đầu năm; tổng dư nợ đạt 88.379 tỷ, tăng 21.319 tỷ (35,5 %) so với đầu năm; tỷ lệ quá hạn chiếm 2,3% so với tổng dư nợ
Về quan hệ đối ngoại: NHNo & PTNT Việt Nam hiện có quan hệ với trên 20 tổ chức quốc tế: Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á, Quỹ Tín dụng Nông nghiệp Quốc tế (IFAD), Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Đức (KFW), Quỹ phát triển Pháp (CFD); là thành viên
Trang 40của một số tổ chức quốc tế lớn trong đó có Hiệp hội Tín dụng Châu Á Thái Bình Dương (APRACA), Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Quốc tế (CICA)
Tới nay, NHNo & PTNT Việt Nam đã thiết lập quan hệ đại lý với 780 ngân hàng tại 91 nước trên thế giới NHNo & PTNT Việt Nam là Ngân hàng thương mại đầu tiên của Việt Nam thực hiện kiểm toán quốc tế liên tục từ năm 1994 đến nay và được các tổ chức kiểm toán quốc tế (Price Waterhouse
và Cooper and Lybrand) xác nhận là tổ chức kinh doanh tiền tệ lành mạnh,
có uy tín trên thị trường quốc tế Năm 2002, NHNo đã triển khai 62 dự án với tổng số vốn 2.097 triệu USD, trong đó số vốn qua NHNo là 1.328,89 triệu USD, đã thực hiện giải ngân 570 triệu USD
Hoạt động kinh doanh đối ngoại được chú trọng phát triển đúng hướng, đảm bảo an toàn và đạt hiệu quả kinh tế cao Doanh số thanh toán
xuất nhập khẩu năm 2002 đạt 3.136 triệu USD, tăng 60% so với 2001 ( hàng
nhập 2.378 triệu USD, hàng xuất 758 triệu USD)
Đặc biệt, từ cuối năm 1996, NHNo & PTNT Việt Nam đã chính thức được triển khai thí điểm nghiệp vụ thanh toán biên giới với Trung Quốc Đến nay, nghiệp vụ này đã trở thành một mảng hoạt động quan trọng, là nguồn thu nhập chính của một số tỉnh biên giới
2.2.1.4 Đặc điểm hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam và ảnh hưởng của nó tới hoạt động thanh toán biên giới.
'r- Thuận lợi:
- NHNo & PTNT Việt Nam hoạt động trên một quy mô rộng lớn, có mặt ở tất cả các địa bàn tỉnh, thành phố, quận, huyện trên cả nước Đặc biệt ở khu vực nông thôn, bình quân 4-5 xã có một chi nhánh NHNo Đến nay mạng lưới hoạt động của NHNo & PTNT Việt Nam có 1.665 chi nhánh trên