1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy ngành thuỷ sản trên địa bàn tỉnh nghệ an

105 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Tín Dụng Ngân Hàng Góp Phần Thúc Đẩy Ngành Thủy Sản Trên Địa Bàn Tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Văn Thành
Người hướng dẫn TS. Trần Hữu Liên
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kinh tế tài chính - Ngân hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 37,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát huy nội lực và những tiềm năng sẵn có về mặt nước, nguồn lợi, khí hậu, thời tiết và điều kiện tự nhiên, dưới sự tác động của các nguồn vốn, nhất là tín dụng ngân hàng trong những nă

Trang 1

NGẲN HAN G ->HA NC<H VIỆT NAM

TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VẪN THẠC SỸ KINH TẾ

N Ộ I - 2 0CÕ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã đuợc nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực và chua đuợc ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác.

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm lời cam đoan trên.

Người cam đoan

Nguyên Văn Thành

Trang 4

1.1.4 Vị trí, vai trò, chủ trương quan điểm phát triển ngành Thuỷ sản trong

1.2 Tín dụng, vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển nền kinh

C hương 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG

NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH NGHỆ AN ĐỐI VỚI VIỆC THÚC ĐẨY s ự PHÁT TRIEN n g à n h

Trang 5

2.2.1 Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản năm 2001 - 2005 36

2.2.7 Công tác bảo vệ nguồn lợi và quản lý chất lượng thú y, thuỷ sản 43

2.2.9 Bộ máy và công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực thuỷ sản 44 2.3 Thực trạng đầu tư tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

Nông thôn Nghệ An đối với việc thúc đẩy sự phát triển ngành Thuỷ

2.3.1 Vài nét về tình hình hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương

2.3.2 Thực trạng đầu tư tín dụng đối với ngành Thuỷ sản của Ngân hàng

C h ư ơ n g 3: GIẢI PHÁP TÍN DỤNG NGÂN HÀNG GÓP PHẦN THÚC

3.1 Định hướng, mục tiêu, giải pháp phát triển kinh tế thuỷ sản Nghệ An

3.1.1 Quan điểm chỉ đạo về sự phát triển ngành Thuỷ sản Nghệ An 66

Trang 7

Bảng 2.9 2.3.2.2 Cơ cấu đầu lư theo ngành kinh tế Ngân hàng

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nghệ An 54

Bảng 2.10 2.3.2.2 Cơ cấu dư nợ phân theo ngành kinh tế Ngân hàng

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nghệ An 55

Bảng 2.11 2.3.2.2 Cơ cấu dư nợ phân theo thời gian từ năm 2001 -

Bảng 2.12 2.3.2.2 Tinh hình nợ quá hạn Ngân hàng Nông nghiệp và

Trang 8

Bảng 3.1 3.1.3 Chỉ tiêu kế hoạch ngành thuỷ sản Nghệ An giai

Bảng 3.2 3.1.4 Nhu cầu vốn phát triển ngành thuỷ sản Nghệ An

Sơ đồ 2.1 2.3.2.1 Mổ hình tổ chức mạng lưới Ngân hàng Nông

Trang 9

DANH M ưc C H Ữ VIẾT TẮT

Doanh nghiệp Doanh nghiệp Nhà nước Tổng thu nhập quốc dân Liên minh Châu Âu Hợp tác xã

Hiện đại hoá Hoạt động kinh doanh Nuôi trồng thuỷ sản Ngân hàng thương mại Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tiết kiệm

Thâm canh Thâm canh và bán thâm canh Xuất khẩu

Sản xuất kinh doanh

Tổ chức Thương mại Thế giới

Uỷ ban nhân dân

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của để tài nghiên cứu.

Vùng biển Nghệ An là một trong những vùng biển rộng Bắc miền Trung, nơi hội tụ các đặc trưng thiên nhiên của vùng ven biển nhiệt đới gió mùa Với

bờ biển dài 82 km theo vùng vòng cung lõm về phía Tây Diện tích vùng biển 4.239 hải lý vuông Theo dọc bờ biển có 6 cửa lạch từ các sông lớn nhỏ đổ ra biển và các mũi đá nhô ra Phía ngoài có các đảo lớn như đảo Song Ngư, đảo Mắt, Hòn Con Nét đặc trưng ở vùng biển này là chế độ nhật triều không đều chịu sự tác động của dòng hải lưu nóng từ ngoài khơi phía Nam và một dòng hải lưu từ phía Bắc vào pha trộn ở độ sâu 30-40 m (gọi là vùng nước nổi) Với yếu

tố hải lưu pha trộn ấy tạo ra những điều kiện thuận lợi thu hút nhiều loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cũng như có trữ lượng lớn, tập trung, đã tạo cho Nghệ An nhiều lợi thế để phát triển kinh tế thuỷ sản.

Phát huy nội lực và những tiềm năng sẵn có về mặt nước, nguồn lợi, khí hậu, thời tiết và điều kiện tự nhiên, dưới sự tác động của các nguồn vốn, nhất là tín dụng ngân hàng trong những năm qua ngành Thuỷ sản Nghệ An đã và đang

có những bước phát triển nhất định, tạo ra nhiều sản phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, đem lại hiệu quả kinh tế -

xã hội, góp phần làm giàu kinh tế địa phương.

Song những kết quả đạt được so với tiềm năng, lợi thế cũng như truyền thống vốn có, kinh tế thuỷ sản Nghệ An còn chưa được khai thác tương xứng với

vị thế của nó Để ngành Thuỷ sản phát triển bền vững, mang lại hiệu quả cao, khẳng định là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, Nghệ An cần phải giải quyêt nhiều vấn đề từ tầm vĩ mô đến vi mô của nhiều cấp ngành Trong đó vốn

là vấn đề hết sức quan trọng cần được quan tâm hàng đầu Xuất phát từ tình hình

đó, việc nghiên cứu giải pháp tín dụng đối với ngành Thuỷ sản là hết sức cấp thiết nhằm đảm bảo thực hiện chương trình phát triển kinh tế-xã hội, vừa đảm bảo an toàn vốn, đổng thời nâng cao năng lực tài chính cho Ngân hàng Do vậy đầu tư vốn cho ngành Thuỷ sản có hiệu quả mà trước hết là vốn tín dụng Ngân

Trang 11

2 Mục đích nghiên cứu của luận văn.

Làm rõ vai trò, tiềm năng của kinh tế thuỷ sản trong nền kinh tế quốc dân Phân tích đáng giá thực trạng ngành Thuỷ sản của tỉnh Nghệ An trong thời gian qua.

Phân tích, đánh giá thực trạng tín dụng neân hàng đối với quá trình phát triển kinh tế thuỷ sản Nghệ An, những kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân tồn tại.

Đề xuất một số giải pháp trong đầu tư tín dụng ngân hàng góp phần phát triển ngành Thuỷ sản của tỉnh Nghệ An.

3 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.

Nghiên cun vấn đề tín dụng NHNo Nghệ An đối với quá trình phát triển ngành Thuỷ sản trên địa bàn của tỉnh.

v ề thời gian nghiên cứu: Chủ yếu nghiên cứu thời gian từ năm 2000 đến nay và định hướng cho những năm tiếp theo 2006 - 2010.

4 Phương pháp nghiên cứu.

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và tư duy đổi mới, phân tích, diễn giải kết hợp với phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh và phân tổ thông kê.

5 Kết cấu luận văn.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương.

Chương 1: Vai trò của tín dụng ngân hàng với sự phát triển ngành Thuỷ sản Chương 2: Thực trạng tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn Nghệ An đối với việc thúc đẩy sự phát triển ngành Thuỷ sản Nghệ An.

Chương 3: Giải pháp tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy ngành Thuỷ

sản Nghệ An phát triển.

2

Trang 12

Chương 1 VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Đ ố i VỚI VIỆC

PHÁT TRIỂN NGÀNH THUỶ SẢN

Việt Nam là một quốc gia có ưu thế về kinh tế biển, biển có vị trí vô cùng quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế Do vậy, khai thác tối đa mọi tiềm năng và lợi thế nhiều mặt của biển để phát triển kinh tế biển và vùng ven biển với tốc độ nhanh, tạo sự chuyển biển căn bản và toàn diện theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hoá, góp phần tăng cường bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia là một trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “Phát huy lợi thế về thuỷ sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên hàng đầu trong khu vực Phát triển mạnh nuôi trổng thuỷ sản nước ngọt, nước lỡ và nước mặn, nhất là nuôi tôm, theo phương thức tiến bộ, hiệu quả và bền vững môi trường Tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả khai thác hải sản xa bờ; chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, ổn định khai thác gần bờ; nâng cao năng lực bảo quản, chế biển sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế và trong nước Mở rộng và nâng cấp các cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá Giữ gìn môi trường biển và sông, nước, bảo đảm cho sự tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản" [5], Để thúc đẩy ngành Thuỷ sản phát triển phải có nhiều giải pháp, trong đó tín dụng ngân hàng giữ một vai trò quan trọng Bởi vậy trong chương này, trên cơ sở phân tích những điều kiện

tự nhiên, vị trí vai trò của ngành Thuỷ sản đối với nền kinh tế quốc dân sẽ làm sáng tỏ hơn vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển ngành Thuỷ sản 1.1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGÀNH THUỶ SẢN TRONG NỂN k in h TÊ QUỐC DÂN.

1.1.1 Khí hậu, thời tiết và điều kiện tự nhiẻn tác động đến kinh tế thuỷ sản.

Đặc điểm chung của khí hậu nước ta là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phân hóa đa dạng theo không gian thời gian Đặc điểm này do ảnh hưởng cúa vị trí địa lý, vai trò của biển Đông, do sự tương tác giữa điều kiện địa hình và chế

3

Trang 13

4

độ gió mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão Tây Thái Bình Dương, ở vịnh Bắc

bộ và một phần biển miền Trung chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc mạnh phần còn lại của biên miền Trung và Nam bộ chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam Theo thống kê nhiều năm các trận bão đổ bộ vào bờ biển Việt Nam mỗi năm khoảng 4-7 trận một năm, tập trung từ tháng 5 đến tháng 11 Miền Bắc và miền Trung tần suất bão khá cao, nên ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành Thuỷ sản nhất là nghề khai thác và nuôi trổng thuỷ hải sản (NTTS) Mỗi miền

có đặc trưng khí hậu, thời tiết khác nhau: Miền Bắc, nhiệt độ trung bình 22 5 -

23,5°c, lượng mưa trung bình từ 1.500 - 2.400 mm, nắng từ 1.650 - 1.750

giờ/năm, vùng biển này thuộc nhật triều với biên độ 3,2 - 3,6 m; miền Trung nhiệt độ trung bình 25,5°C- 27,5°c, mưa tập trung vào cuối tháng 9 đến tháng

11, nắng nhiều từ 2.300 - 3.000 giờ/năm, chế độ thuỷ triều gồm nhật triều và bản nhật triều, có nhiều đầm phá nuôi trồng thuỷ sản; miền Nam, khí hậu mang tính chât xích đạo, nhiệt độ trung bình 22,6°c - 27,6°c, mưa tập trung vào tháng

5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình 1.400mm - 2.400 mm, nắng trên 2.000 giờ/năm, vùng này chủ yếu chế độ bán nhật triều biên độ 2,5 - 3m.

Điều kiện tự nhiên: Việt Nam nằm bên rìa bản đảo Đông Dương Giáp biển ở phía Đông Nam và Tây Nam Là một quốc gia có lợi thế về biển đứng thứ

27 /157quốc gia ven biển, có 31 tỉnh, thành phố ven biển trên 64 tỉnh, thành phố

và đặc khu, gần một nửa dân số sống tại các tỉnh ven biển Bình quân 100 km2 đất liền có một km bờ biển Nước ta có bờ biển dài 3.260 km với nhiều cảng biển quan trọng Trên biển Đông, vùng biển Việt Nam tiếp giáp với nhiều nước láng giềng rất thuận tiện cho hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, thềm lục địa

có rất nhiều tài nguyên khoảng sản Trong nội địa có hàng vạn ha bãi triều, hồ chứa, sông suối, ao hổ ruộng trũng, eo vĩnh, đầm phá, rất thuận lợi cho NTTS.

Với những điều kiện tự nhiên, thời tiết trên nước ta có đầy đủ điều kiện

để phát triển kinh tế thuỷ sản.

1.1.2 Nguồn lực lao động.

Với hơn 4 triệu dân sống ở vùng triều và khoảng 1 triệu người sống ở đâm phá tuyên đảo của 714 xã phường thuộc 31 tỉnh, thành phô có biển và hàng chục triệu hộ nông, ngư dân cần cù chịu khó, có kinh nghiệm khai thác, nuôi trổng

Trang 14

và chế biên thuỷ sản, đã tạo ra một lực lượng lao động dồi dào và là động lực quan trọng góp phần thực hiện thăng lợi chương trình phát triển kinh tế thuỷ sản.

1.1.3 Tiềm năng phát triển ngành Thuỷ sản Việt Nam.

Việt Nam có một nguồn tài nguyên biển vô cùng phong phú như: dầu khí, thuỷ hải sản, dịch vụ hằng hải, du lịch, tài nguyên khoảng sản ven biển , đặc biệt là thuỷ sản đang có vai trò quan trọng và là tiềm năng để phát triển kinh tế

xã hội, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước.

1.1.3.1 Vê mặt nước.

Với chiều dài 3.260 km bờ biển, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông, lạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển Trong nội địa hệ thống sông ngòi, kênh rạch, hồ chứa chằng chịt (2.360 con sông), đã tạo cho nước ta có tiềm năng lớn về mặt nước Với hơn 1,7 triệu ha, trong đó có 120 nghìn ha hồ, ao nhỏ, mương, 340 nghìn ha hồ chứa nước lớn, 580 nghìn ha ruộng có khả năng nuôi thuỷ sản và 660 nghìn ha vùng triều, rất thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ, nước mặn Chưa tính mặt nước các sông và hàng nghìn ha,

eo, vịnh, đầm phá ven biển có thể sử dụng vào nuôi trồng thuỷ sản chưa được quy hoạch.

1.1.3.2 Nguồn lợi giống loài thuỷ hải sản.

Nước ta, nguồn lợi thuỷ hải sản được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực Biển có 2000 loài cá, 70 loài tôm, 50 loài cua, 600 loài rong biển.

Một số nguồn lợi giống loài chủ yếu:

- Nguồn lợi cá nước lợ, nước mặn: Đã thống kê 186 loài chủ yếu Một số loài có giá trị kinh tế như cá hồng, cá song, cá vược, cá măng, cá bớp, cá giò

- Nguồn lợi cá nước ngọt: đã thống kê được 544 loài trong 18 bộ, 57 họ,

228 giống Trong 544 loài có nhiều loài có giá trị kinh tế.

- Nguồn lợi tôm: có 16 loài chủ yếu có giá trị kinh tế và đã đưa vào nuôi: tôm sú, tôm he ấn độ, tôm nương, tôm hùm, tôm càng xanh, tôm lớt, tô rảo

- Về nhuyễn thể: phàn bố từ Bắc tới Nam, có trữ lương tương đối lớn Có một số loài chủ yếu như trai, điệp, hầu, nghêu, sò, ốc, vẹm

- Về rong tảo: với 90 loài có giá trị kinh tế, trong đó đáng kể là rong câu (có 11 loài), rong mơ, rong sụn

5

Trang 15

Thuỷ hải sản là các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, có giá trị xuất khẩu

(XK) lớn Do vậy, việc kết hợp đánh bắt với nuôi trồng và bảo vệ nguồn thuỷ hải

sản vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa duy trì hệ sinh thái.

1.1.4 Vị trí, vai trò, chủ trương quan điểm phát triển ngành Thuỷ sản

trong nền kinh tê quốc dân.

1.1.4.1 Vị trí ngành Thuỷ sản

Ngành Thuỷ sản trước hết là một ngành sản xuất vật chất có vị trí quan

trọng đối với nền kinh tế nước ta Trong lịch sử hàng ngàn năm phát triển của

Việt Nam, kinh tế thuỷ sản có vai trò và vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh

tế-xã hội của đất nước Hiện nay, thuỷ sản cung cấp gần 50% đạm có nguồn gốc

động vật cho nhân dân và là ngành kinh tế quan trọng góp phần làm cho nông-

ngư dân vùng nông thôn ven biển sử dụng có hiệu quả mặt nước, ao hồ và các

vùng đất phèn chua mặn hoang hoá, góp phần bảo đảm an ninh và chủ quyền

quốc gia trên vùng biển.

- Đối với kinh tế trong nước: Ngành Thuỷ sản từ chỗ là một bộ phận

không lớn thuộc khối kinh tế nông nghiệp, với trình độ công nghệ rất lạc hậu

vào những năm 80, nhưng với những nỗ lực đã vươn lên trở thành một ngành

kinh tế quan trọng, có tốc độ phát triển nhanh, tạo việc làm với thu nhập ngày

càng cao cho hàng chục vạn lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

vùng biển đã góp phần tích cực vào việc ổn định phát triển kinh tế đất nước.

- Đối với kinh tế thế giới: Kinh tế thuỷ sản nước ta đã khắc phục được

tình trạng tách rời với nền thương mại thế giới và xác lập được vị trí có ý nghĩa

chiến lược trong khu vực và quốc tế Sản phẩm thuỷ sản Việt Nam đã có mặt

trên 60 nước, một số nhóm đã có uy tín tại các thị trường Nhật, EƯ, Mỹ

1.1.4.2 Vai trò của ngành Thuỷ sản.

a N g u ồ n lợi th u ỷ sả n đ á p ứng nhu cầu ng à y c à n g tăn g thự c p h ẩ m cho tiêu dùng, h à n g h ó a x u ấ t k h ẩ u và ngu yên liệu ch o c h ế biến.

- Về tiêu dùng trong nước: Hiện nay, mức tiêu dùng của người Việt Nam

đối với các sản phẩm thuỷ sản ước tính chiếm khoảng gần 50% về tiêu dùng

thực phẩm chứa protein động vật trong thành phần dinh dưỡng của dân cư dưới

nhiều hình thức khác nhau đã tạo điều kiện nâng cao mức dinh dưỡng cho sức

#

6

Trang 16

khoẻ của nhân dân Sản phẩm thuỷ sản là loại thực phẩm tốt nhất, có giá trị dinh dưỡng cao, dễ hấp thụ, sạch, có tác dụng chữa bệnh và làm giảm nhiễm các bệnh hiếm nghèo như ung thư, tim mạch Trong khối lượng sản phẩm thuỷ sản sản xuất ra, ngành Thuỷ sản nội địa vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn 86%, nhung mức tiêu thụ bình quân sản phẩm thuỷ sản trên đầu người hàng năm của Việt Nam hiện tại khoảng hơn 15-17kg, vẫn rất thấp so với các nước đang phát triển hơn 27kg/người/năm; mặt khác xu thế đời sống nhân dàn ngày một khá lên, nhu cầu thực phẩm sẽ tăng Do vậy, phát triển thuỷ sản để đáp ứng nhu cầu đó.

- Về xuất khẩu (XK) thuỷ sản: ngày càng đóng vai trò quan trọng trong kim ngạch XK của nước ta cả về tốc độ và quy mô phát triển Nếu so với mặt bằng XK trong cả nước thì kim ngạch XK thuỷ sản đứng sau dầu thô và gạo Theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội của ngành Thuỷ sản phấn đấu đến năm 2010 tổng sản lượng thuỷ sản trên 3,5 triệu tấn, trong đó ưu tiên cho XK khoảng 40%.

Đến nay sản phẩm thuỷ sản Việt Nam đã có mặt trên 60 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Trong đó có các thị trường lớn như: Nhật Bản, Mỹ, các nước EU, các nước Đông Nam Á (kể cả Trung Quốc) và các thị trường khác.

b P h á t triển ngành T h u ỷ sả n g ó p p h ầ n p h á t triển kinh tê 'x ã hội.

Ngành Thuỷ sản phát triển sẽ tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho người lao động, đặc biệt là đối với ngư dân

và cộng đồng dân cư vùng ven biển và hải đảo Vùng ven biển nước ta mật độ dân cư tập trung khá đông, tốc độ tăng dân số cao so với các vùng khác, với tổng số khoảng trên 19 triệu người chiếm gần 1/4 dân số cả nước Cộng đồng dân cư này có trình độ học vấn nhìn chung thấp Khi đời sống vật chất được nâng lên, sẽ tạo điều kiện nâng cao dân trí, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.

c P h á t triển ngành T h u ỷ sản góp phơ n bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia.

Vùng biển khơi thuộc chủ quyền nước ta là nơi có nhiều nguồn lợi không chỉ về hải sản mà còn có nhiều loại khoảng sản khác Do vậy, việc khai thác hải sản vùng biển xa bờ là mang tính chiến lược lâu dài, không chỉ để khai thác tài nguyên phát triển kinh tế, cải thiện đời sống ngư dân, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hóa mà còn để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đất nước Đảng và Nhà nước ta luôn xem việc bảo vệ và khai thác vùng biển chủ quyền

7

Trang 17

của mình là một nhiệm vụ chiến lược hết sức quan trọng mà Nghị quyết Trung ương khóa v n đã xác định thuỷ sản là một ngành kinh tế mũi nhọn Nghị quyết

sô 03-NQ/TW khóa VII của Bộ Chính trị khẳng định: "Trở thành một quốc gia mạnh về biển là mục tiêu chiến lược xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc", Chỉ thị số 399 và Chỉ thị số 171/TTg của Thủ tướng Chính phủ đều khẳng định vị trí quan trọng của kinh tế biển nói chung và kinh tế thuỷ sản nói riêng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam "Phát triển mạnh và phát huy chiến lược của kinh tế biển kết hợp với bảo vệ vùng biển; mở rộng nuôi trồng và đánh bất, chế biến hải sản, tiến ra biển xa; khai thác và chê biến dầu khí; phát triển công nghiệp đóng tàu

và vận tải biển, du lịch, dịch vụ; phát triển các vùng dân cư trên biển, giữ vững

an ninh vùng biển" [10] Một lần nữa lại được khắng định trong Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương khóa IX.

1.1.43 Chủ trương, quan điểm phát triển ngành Thuỷ sản.

Định hướng phát triển ngành kinh tế thuỷ sản đã được Đại hội Đảng lần thứ IX xác định: "Phát huy lợi thế về thuỷ sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên hàng đầu trong khu vực Phát triển mạnh ngành NTTS nước ngọt, nước lợ và nước mặn, nhất là nuôi tôm, theo phương thức tiến bộ, hiệu quả

và bền vững môi trường Tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả khai thác hải sản xa bờ; chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, ổn định khai thác gần bờ: nâng cao năng lực bảo quản, chế biến sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế và trong nước Mở rộng và nâng cao cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá Giữ gìn môi trường biển và sông, nước, bảo đảm cho sự tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản" [5], Trên cơ sở đó phấn đấu sản lượng thuỷ sản đến năm 2010 đạt 3-3,5 triệu tấn, trong đó: 1/3 là sản phẩm nuôi trồng, kim ngạch xuất khấu đạt khoảng 3,5 - 4 tỷ USD [6],

Tiến tới Đại hội X, định hướng phát triến ngành, lĩnh vực vùng kinh tế,

dự thảo các văn kiện trình Đại hội X của Đảng cũng nhấn mạnh: "Phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, phục vụ xuất khẩu và thị trường nội địa đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái; chuyển đổi cơ cấu khai thác qua việc lựa chọn ngư trường, loại hình nghề nghiệp và sản phẩm đê nâng cao

#

8

Trang 18

giá trị hàng hoá, sử dụng hợp lý nguồn lợi, giảm chi phí Nâng cao sức cạnh tranh, bảo đảm tăng trưởng bền vững trong sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản " [13]

Vùng biển và ven biển nước ta là địa bàn chiến lược về kinh tế - an ninh quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển và là cửa mở lớn để đẩy mạnh giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Định hướng phát triển các vùng, các khu vực là phải phát huy lợi thế của ngành để phát triển, tạo nên thê mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu của thị trường trong

và ngoài nước Báo cáo đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: " Khu vực biển và hải đảo: xây dựng chiến lược kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km2 thềm lục địa Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch kinh tế biển Đẩy mạnh nuôi, trồng, khai thác, chế biến hải sản, thăm dò, khai thác và chê biển dầu khí; phát triển đóng tàu thuyền và vận tải biển, mở mang du lịch; bảo vệ môi trường; tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển"[5], Thực hiện chủ trương trên về chiến lược lâu dài, ngành kinh tế hải sản có hướng phát triển trong thập

kỷ đầu tiên của thể ký XXI “Thể kỷ XXI chinh phục Đại dương” được dự kiến như sau:

- Mở rộng nuôi trồng và tiến ra khai thác vùng biển khơi phải được coi là chiến lược trong những năm tới nhằm đạt được mục tiêu sản lượng và chất lượng sản phẩm, bảo vệ nguồn lợi ven bờ, đồng thời tạo ra khả năng có mặt thường xuyên và với số lượng lớn tàu thuyền đánh cá của ta trên biển khơi, góp phần bảo vệ chủ quyền và an ninh trên vùng biển của tổ quốc.

- Phát triển khai thác biển khơi xa là hướng rất quan trọng để thực hiện mục tiêu khai thác 1,3 triệu tấn hải sản vào năm 2005 và 1,4 triệu tấn hải sản vào năm 2010 Kết hợp với đầu tư đồng bộ và hiện đại hóa cho các đội tàu đánh bắt dài ngày ở các vùng biển xa với tăng cường khâu hậu cần dịch vụ ven bờ Nâng dần tỷ lệ đánh bắt xa bờ lên 35-40% vào năm 2005 và khoảng 50% cho đến năm 2010.

*

9

Trang 19

- Phát triển NTTS ven biển - khai thác tối đa diện tích mặt nước có khả năng để đưa sản lượng nuôi trổng lên 1,1 triệu tấn năm 2005 và 1,67 triệu tấn năm 2010 Từng bước đưa ngành nuôi trồng tiến lên hiện đại.

- Đẩy mạnh việc nâng cấp và đổi mới thiết bị chế biến hiện đại gắn với các vùng nguyên liệu trọng điểm, tạo ra nhiều sản phẩm góp sức cạnh trang trên thị trường khu vực và thế giới Tạo mũi nhọn xuất khẩu lớn thứ 2 (sau dầu khí) cho nền kinh tế quốc dân.

- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển khai thác và bảo vệ, làm giàu nguồn hải sản, hạn chế mức tối đa khai thác tuyến ven bờ Quy định các khu vực cấm và hạn chế khai thác nhất là mùa sinh sản Nghiêm cấm các hình thức đánh bắt mang tính huỷ diệt sinh thái như dùng chất nổ, bọc phá, hóa chất gây độc.

Mục đích của chiến lược này là:

- Không ngừng tăng phần đóng góp của ngành Thuỷ sản vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội đất nước bằng việc tăng cường XK, gia tăng thu nhập ngoại tệ và nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, giải quyết công ăn việc làm và nâng cao thu nhập, mức sống của các cộng đồng dân cư sống dựa vào nghề cá Trên cơ sở phát triển kinh tế biển và các vùng ven biển, hải đảo góp phần tích cực và thiết thực vào sự nghiệp bảo vệ an ninh và chủ quyền tổ quốc.

- Đóng góp tích cực vào việc đảm bảo an ninh thực phẩm quốc gia, nâng cao mức dinh dưỡng của nhân dân bằng cách góp phần tăng mức cung cấp sản phẩm thuỷ sản cho các thị trường trong nước và tạo điều kiện thuận lợi để người dân ven biển có thể tiếp cận được mọi loại thực phẩm.

- Đưa ngành Thuỷ sản trở thành ngành kinh tế được công nghiệp hoá và hiện đại hóa (CNH, HĐH) có luận cứ khoa học chắc chắn cho phát triển và áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại, tiên tiến, nhằm không những tạo ra hiệu quả kinh tế cao, phát huy những lợi thế so sánh mà còn góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

- Xây dựng một ngành Thuỷ sản được quản lý tốt nhằm đạt được sự phát triển ổn định, bền vững cho hiện nay và trong tương lai.

10

Trang 20

- Không tăng sản lượng khai thác nhiều trong thời kỳ 2000 - 2010 giữ mức từ 1.200.000 đến 1.400.000 tấn/năm (trong đó: khai thác cá, tôm, mực khoảng 1,3 triệu tấn, nhuyễn thể 100.000 tấn) Tăng nhanh sản lượng NTTS từ 10-13%/năm.

- Kim ngạch XK tăng với tốc độ trung bình từ 15 - 20%/năm, trong đó giai đoạn 2000-2005 tăng 20 - 25%; 2005 - 2010 là 13 - 20%/năm Giá trị xuất khẩu tương ứng là 1,8-2 tỷ USD năm 2005 và 3-3,5 tỷ USD năm 2010.

Để duy trì và phát triển ngày càng nhiều sản phẩm từ thuỷ sản hải sản có giá trị kinh tế cao trên các thị trường trong nước, khu vực và quốc tế, để chống lại giảm sút của nguồn lợi biển, táng khả năng phục hồi tự nhiên của các nguồn lợi biển, nhưng vẫn duy trì được tốc độ phát triển cao cần phải có các hành động sau đây:

+ Trong khai thác hải sản: Phân định rõ ràng các ngư trường, khu vực và mùa vụ khai thác, quy hoạch quy mô khai thác cho từng địa phương Quản lý chặt chẽ các ngư trường, nơi sinh sống, môi trường và các giống loài thuỷ hải sản Đi đôi với cơ cấu lại lực lượng khai thác ven bờ một cách hợp lý, cần phải chuyển dần sang canh tác trên vùng biển ven bờ, vừa khai thác vừa nuôi - nuôi

để khai thác, khuyến khích và hỗ trợ các cộng đồng ngư dân nuôi nguồn lợi biển bằng mọi hình thức, giao cho các cộng đồng nhất định quyền khai thác và nghĩa

vụ quản lý, bảo vệ từng vùng ven bờ biển nhất định Đồng thời quản lý ở vùng biển từ bờ biển đến 6 hải lý.

Đối với nghề xa bờ cần phải phát triển một cách thận trọng, hợp lý trên

cơ sở lấy hiệu quả làm thước đo.

+ Trong nuôi trồng thủy sản: Lấy phát triển mạnh NTTS, trong đó đặc biệt là nuôi biển và nước lợ phục vụ XK làm định hướng chiến lược cơ bản cho thời kỳ 2000-2010.

+ Trong chế biến và thương mại thuỷ sản: mở rộng mặt hàng và thị trường nhằm đa dạng hóa các mặt hàng chế biến cho tiêu thụ trong nước và XK, lấy đa dạng mặt hàng chế biến, kích thích lại tính đa dạng của sản xuất nguyên liệu và tận dụng của sản phẩm khai thác, lấy chế biến làm cơ sở cho việc nâng cao giá trị các sản phẩm thuỷ sản.

Trang 21

*

- Công nghiệp hoá, hiện đại hóa ngành Thuỷ sản theo hướng tạo được

nhiều việc làm, thu hút nhiều nhân lực; tạo ra một lượng chất xám đông đảo trong ngành Thuỷ sản đủ sức giải quyết các yêu cầu phát triển ngành và có đủ năng lực tham gia vào phân công quốc tế Dựa trên cơ sở hiệu quả đạt được để nâng cao thu nhập cho người làm nghề cá và tăng sức hấp dẫn của nghề cá Đưa ngành Thuỷ sản từ một ngành còn mang nặng tính chất công nghiệp khai thác nguyên liệu và nông nghiệp sang một ngành công nghiệp chế biến, chế tác có trình độ chuyên môn hóa cao, hợp tác hoá, liên hợp hóa ở trình độ cao

- Đê đảm bảo cho sự phát triển bền vững cần phải quản lý môi trường và quản lý sự phát triên sao cho môi trường phát triển một cách ổn định và bền vững

- Trên cơ sở quy hoạch, sắp xếp bố trí lại các tụ điểm nghề cá theo hướng

Thuật ngữ tín dụng xuất phát từ chữ La-tinh: Creditium, có nghĩa là tin

tưởng, sự tín nhiệm (trong tiếng Anh: Credit; tiếng Pháp: Credit) Theo thuật ngữ dân gian Việt Nam tín dụng có nghĩa là sự vay mượn

Tín dụng xuất phát từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động và trao đôi hàng hoá Trong quá trình trao đổi hàng hóa đã hình thành những sự kiện nợ nần lẫn nhau, phát sinh những quan hệ vay mượn để thanh toán Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa hẹp tín dụng là một quan hệ kinh tế hình thành trong quá trình chuyển quyền sử dụng tiền tệ từ tổ chức này sang tổ chức khác hay từ người này sang người khác, theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi sau một thời gian nhất định

Nói cách khác, tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời gian nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Khoản giá trị dôi ra

Trang 22

này được gọi là lợi tức tín dụng, nói theo ngôn ngữ kinh tế là tiền lãi.

Trong thực tê tín dụng hoạt động rất phong phú và đa dạng, nhưng dù ỏ bất cứ dạng nào đi nữa thì tín dụng vẫn luôn là một quan hệ kinh tế của nền sản xuất và trao đổi hàng hoá, nó tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của những quan hệ hàng hoá, tiền tệ Mục đích và tính chất của tín dụng do mục đích và tính chất của nền sản xuất hàng hóa trong xã hội quyết định Sự vận động của tín dụng luôn luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan của phương thức sản xuất trong xã hội đó

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm tổng quát về tín dụng như sau: Tín

dụng là một quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả (cả vốn và lãi) sau một thời gian nhất định.

1.2.1.2 Bản chất của tín dụng.

Tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay Giữa

họ có mối quan hệ với nhau thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, hoặc hàng hoá Quá trình vận động đó thể hiện khái quát qua 3 giai đoạn

- Giai đoạn 1: Phân phối vốn tín dụng dưới hình thức cho vay ở giai

đoạn này, vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hóa được chuyển từ người cho vay sang người đi vay Như vậy, khi cho vay, giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay, đây là đặc điểm cơ bản khác với việc mua bán hàng hóa thông thường Bởi vì, trong quan hệ mua bán hàng hóa thì giá trị chỉ thay đổi hình tháitôn tại ơ đây người bán và người mua cả hai đều có một giá trị như trước giá trị mà họ đã nhượng đi, người thứ nhất thì nhượng đi dưới hình thái hàng hoá người thứ hai nhượng di dưới hình thái tiền tệ Còn trong việc cho vay chỉ có một bên nhận được giá trị và cũng một bên nhượng đi giá trị mà thôi

- Giai đoạn 2: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất Sau khi

nhận được giá trị vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị đó để thoả mãn một mục đích nhất định, ở giai đoạn này, vốn vay được sử dụng trực tiếp nếu vay bằng hàng hoá; hoặc vốn vay được sử dụng để mua hàng hoá; nếu vay bằng tiền để thoả mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của người đi vay Tuy nhiên, người đi vay không có quyền sở hữu giá trị đó mà chi được quyền sử

13

Trang 23

1 4

dụng trong một thời gian nhất định

- Giai đoạn 3: Sự hoàn trả của tín dụng Đây là giai đoạn kết thúc một

vòng tuần hoàn của tín dụng Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở thành hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại người cho vay

Sự hoàn trả tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là dấu hiệu phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác Mặt khác, sự hoàn trả của tín dụng là quá trình quav trở về của giá trị Hình thái vật chất của sự hoàn trả là sự vận động dưới hình thái hàng hóa hoặc giá trị Tuy nhiên, sự vận động đó không phải với tư cách một lượng giá trị được vận động ban đầu, mà với một lượng giá trị lớn hơn Chính vì thế, sự hoàn trả luôn luôn phải được bảo tồn về mặt giá trị và có phần tăng thêm dưới hình thức lợi tức

1.2.1.3 Chức năng của tín dụng

Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng có 3 chức năng sau đây:

a Chức năng tập trung, phân phối vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả:

Đây là chức năng cơ bản Từ nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và thông qua tín dụng đã phân phối lại vốn đó dưới hình thức cho vay để bổ sung cho doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu về vốn nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh (SXKD) và dịch vụ đời sống của nhân dân Hiện nay, vốn tín dụng là một

bộ phận quan trọng trong toàn bộ vốn lưu động của doanh nghiệp (DN) Ngoài

ra, vốn tín dụng là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong lĩnh vực vốn cố định

Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế phân phối lại vốn tiền tệ dưới hình thức tín dụng được thực hiện bằng hai cách: phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp

- Phân phối trực tiếp là phân phối lại vốn từ chủ thể có vốn tạm thời chưa

sử dụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó cho SXKD và tiêu dùng Phương pháp phân phối này được thực hiện trong quan hệ tín dụng thương mại và việc phát hành trái phiếu của các công ty

- Phân phối gián tiếp là việc phân phối được thực hiện thông qua các tổ chức tài chính trung gian như: Ngân hàng, hợp tác xã (HTX) tín dụng, công ty tài chính Phân phối gián tiếp ngày nay có vị trí chi phối toàn bộ nền kinh tế, phân phối trực tiếp bị thu hẹp lại

Trang 24

b Chức năng thoả mãn thanh khoản.

Tín dụng thực chất là tạo ra thanh khoán cho nền kinh tế dưới dạng người cho vay cung cấp cho người vay một khoản tiền tệ để chi trả một món nợ nào

đó, hoặc thanh toán một giá trị hàng hoá, dịch vụ nào đó Tín dụng luôn luôn gắn với sự chi trả Nhờ tín dụng mà nhu cầu thanh khoản của xã hội được thoả mãn Khi các chủ thể thừa thanh khoản tạm thời cho các chủ thẻ thiếu thanh khoản vay để đáp ứng nhu cầu thanh toán

Khi một khoản thặng dư tài chính chưa được sử dụng, nó nằm trong vị thế

là tiền cất giữ Khi nó đưa ra để cho vay thì nó trở thành phưofng tiện lưu thông hay phương tiện thanh toán của nền kinh tế Khi khoản thu nhập chưa sử dụng, thì khoản thu nhập đó nằm ở phương tiện thanh toán tiềm tàng và gần như đang

ở vị thế của phương tiện cất trữ Chừng nào các tổ chức tín dụng hay chủ sở hữu khoản tiền đó thực sự đi vào lưu thông Như vậy, có thể nói rằng nhờ vào tín dụng nền kinh tế có được thanh khoản

Chức năng thanh khoản là chức năng cổ xưa nhất của tín dụng Nó xuất phát từ chỗ các nhà kinh doanh muốn có một khoản tiền để trả cho một ai đó, nhưng họ không có số tiền đó, nên họ đến một ngân hàng nào đó để xin cấp một khoản tín dụng Khoản tín dụng này được chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng để trả nợ của người xin vay Khi món tín dụng đến hạn, người xin vay phải nộp ngân hàng cho vay số tiền (thông thường là vàng) cần thiết để trả nợ và lãi cho ngân hàng Khi đó quan hệ tín dụng được chấm dứt

c Chức năng phản ảnh một cách tổng hợp và kiểm soát hoạt động của nền kinh tế.

Trong việc thực hiện chức năng tập trung va phân phối lại vốn tiền tệ nhằm phục vụ yêu cầu tái sản xuất ngày càng mở rộng, tín dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp và nhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế,

do đó tín dụng còn được xem như một trong những công cụ quan trọng của nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trình thực hiện các chiến lược hoạch định và phát triển kinh tế đất nước Ngày nay các nhà nước đều thông qua chính sách tín dụng để thực hiện các chính sách phát triển kinh tế của đất nước Với khía cạnh

đó khi nền kinh tế cần gia tăng tốc độ phát triển thì Nhà nước có chính sách mở

Trang 25

1.2.1.4 Các hình thức tín dụng.

Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng hoạt động rất đa dạng

và phong phú Người ta thường dựa vào các tiêu thức sau đây để tiến hành phân loại tín dụng

a Căn cứ vào thời hạn tín dụng: dựa vào tiêu thức này tín dụng được chia làm 3 loại:

- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng, thường

được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh (SXKD), dịch vụ, tiêu dùng của nhân dân

- Tín dung trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm

Loại tín dụng này được dùng dể cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản

cố định, cải tiến và đối mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ

có thời hạn thu hồi vốn nhanh

- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên Loại tín

dụng này dùng đến cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cai tiến và mở rộng sản xuất

có quy mô lớn Chẳng hạn như đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc kết cấu hạ tầng (đường sắt, bến cảng, sân bay )

h Căn cứ vào đối tượng tín dụng: Căn cứ vào tiêu thức này tín dụng được phân chia thành 2 loại:

- Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được cung cấp để bổ sung vốn

lưu động của DN, cá nhân hoặc cho vay để bù đáp mức vốn lưu dộng thiếu hụt tạm thời Loại tín dụng này, thường được chia thành các loại: cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay chi phi sản xuất và cho vay để thanh toán nợ dưới hình thức chiết khấu các chứng từ có giá

Trang 26

- Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được cung cấp nhằm bổ sung

vốn cố định của DN, cá nhân Loại tín dụng này, thường dùng để cho vay phục

vụ việc mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng xí nghiệp và công trình mới Thời hạn cho vay loại tín dụng này là trung hạn và dài hạn

c Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng: Dựa vào tiêu thức này tín

dụng được chia làm 2 loại:

- Tín dụng sán xuất và lưu thông hàng hoá: Đây là loại tín dụng được

cung cấp cho các nhà SXKD để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hoá

- Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng đối với các cá nhân để đáp

ứng nhu cầu tiêu dùng Loại tín dụng này, thường được cung cấp cho việc mua sắm, sửa chữa nhà cửa, phương tiện sinh hoạt cho cá nhân, gia đình Tín dụng tiêu dùng được cấp phát dưới hình thức tiền hoặc dưới hình thức bán chịu hàng hóa bán trả góp hàng hoá Việc cấp tín dụng bằng tiền thường do ngân hàng, quỹ túi dụng nhân dân và các tổ chức tín dụng khác Còn việc cấp phát tín dụng dưới hình thức hiện vật thường do các công ty, các cửa hàng thực hiện

d Căn cứ vào chủ thể tín dụng: Dựa vào thể thức này được chia làm các

loại như sau:

- Tín dụng nặng lãi.

Xét về lịch sử ra đời và phát triển của tín dụng thì cho vay nặng lãi là hình thức tín dụng xuất hiện sớm nhất Loại này đã phát triển mạnh mẽ, giữ vị trí chủ yếu trong chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến nơi mà nền sản xuất nhỏ chiếm địa vị độc tôn

Quan hệ tín dụng nặng lãi thì người đi vay đa số là những người sản xuất nhỏ, họ vay để bù đắp các thiếu hụt, bất trắc xảy ra trong cuộc sống Bên cạnh

đó còn có tầng lớp vua chúa, quý tộc, đại bộ phận đi vay để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu xa xỉ hoặc thành lập quân đội để gây chiến tranh Người cho vay là các địa chú, phú nông, tầng lớp quan lại hoặc tăng lữ

Tín dụng cho vay nặng lãi với mức lãi suất rất cao, không có giới hạn nên người đi vay chi sử dụng chủ yếu vào mục đích tiêu dùng Vì vậy, dưới "lớp vỏ" cho vay nặng lãi tín dụng không phải là động lực kích thích sản xuất và lưu

Trang 27

Quan hệ tín dụng thương mại hai bên sẽ ký với nhau giấy nhận nợ gọi là

kỳ phiếu thương mại hay gọi tắt là thương phiếu, một công cụ của tín dụng thương mại Kỳ phiếu thương mại có ba tính chất là trừu tượng, bắt buộc và lưu thông

Tín dụng thương mại mang 3 đặc điểm: Cho vay dưới dạng hàng hoá; Các chủ thể quan hệ tín dụng đều là các nhà doanh nghiệp trực tiếp hoạt động trên lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; Sự vận động, phát triển của hình thức tín dụng thương mại phù hợp với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá

- Tín dụng ngân hàng:

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các nhà SXKD, các tầng lớp dân cư, v.v được thực hiện dưới hình thức cung ứng vốn tín dụng bằng tiền Trong quan hệ tín dụng này, ngân hàng vừa là người đi vay, đồng thời là người cho vay

Tín dụng ngân hàng có 3 đặc điểm: Cho vay dưới dạng tiền tệ; Người đi

Trang 28

vay là các DN, các cá nhân và người cho vay là những ngân hàng, tổ chức tín dụng; Quá trình vận động và phát triển của hình thức tín dụng ngân hàng phù hợp với quy mô phát triển của sản xuất, lưu thông hàng hoá.

Với quy mô lớn về nguồn vốn, ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt và kịp thời ở mọi mức độ, cũng như mọi thời hạn

nợ (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) Do vậy, tín dụng ngân hàng là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và trở thành hình thức tín dụng chủ yếu của hệ thống tín dụng

- 7 ỉn dụng nhà nước:

Là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tổ chức và dân cư ở trong nước với Chính phủ nước ngoài Tín dụng nhà nước được thực hiện dưới hình thức Nhà nước phát hành công trái và các hiệp định vay nợ quốc tế để huy động vốn cho ngân sách Nhà nước

Tín dụng nhà nước ra đời nhằm mục đích thoả mãn những nhu cầu chi tiêu ngân sách trong điều kiện nguồn thu không đủ đáp ứng

- Tín dụng doanh nghiệp:

Tín dụng doanh nghiệp là quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các doanh nghiệp (DN) và công chúng Quan hệ vay mượn này được thể hiện dưới 2 hình thức:

+ Quan hệ tín dụng tiêu dùng: là tín dụng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Trong đó, các tổ chức thưorng nghiệp lớn là người cho khách hàng của mình vay bằng cách cho phép họ sử dụng một số lượng hàng hóa tiêu dùng nhất định và không phải trả tiền trong một thời gian nhất định Các tổ chức này có thê phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng của mình và cho họ hưởng một hạn mức tín dụng đê mua hàng Bằng cách này, họ có thể đẩy nhanh việc tiêu thụ hàng hoá, đổng thời buộc khách hàng phụ thuộc vào họ

+ Quan hệ tín dụng giữa DN và công chúng với tư cách là người tiết kiệm:Trong mối quan hệ này các DN là người có nhu cầu đầu tư Họ huy động vốn trực tiếp bằng cách phát hành trái phiếu trên thị trường vốn Người mua trái phiêu là người cho vay Đây là quan hệ chuyển nhượng vốn trực tiếp, nó đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn trung, dài hạn cho nhu cầu mở rộng

19

Trang 29

quy mô sản xuất của các DN và nền kinh tế.

e Căn cứ vào mức độ tín nhiệm với khách hàng:

Dựa vào tiêu thức này tín dụng được chia làm 2 loại:

- Tín dụng có đảm bảo: Là việc cho vay vốn qua các chức tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thể chấp hoặc bằng chính tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hay bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba

- Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản (tín chấp) có 3 loại như sau:

+ Loại ỉ: Tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng có tín nhiệm và

khả năng tài chính trong việc sử dụng vốn vay và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc

và lãi

+ Loại 2: Tổ chức tín dụng nhà nước cho vay không có đảm bảo bằng tài

sản theo chỉ định của nhà nước như sau: cho vay để thực hiện các dự án đầu tư thuộc chương trình kinh tế đặc biệt, chương trình trọng điểm của nhà nước, thuộc khách hàng được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi về điều kiện vay vốn theo quy định của Chính phủ

+ Loại 3: Tổ chức tín dụng cho vay qua sự bảo lãnh bằng tín chấp của

các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội cho các cá nhân, hộ gia đình, hộ gia đình nghèo thiếu vốn

1.2.2 Yai trò của tín dụng ngân hàng đối với việc phát triển kinh tế.

Vai trò của tín dụng rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất

và lưu thông hàng hoá, phát triển nền kinh tế Đây là mặt tích cực của tín dụng, mặt tốt của tín dụng Nếu để tín dụng phát triển tràn lan không kiểm soát thì chẳng những không làm cho nền kinh tế phát triển mà còn làm cho lạm phát có thể tác động xấu ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, xã hội Đây là mặt tiêu cực, mặt xấu của tín dụng Mặt tích cực của tín dụng có vai trò sau đây:

1.2.2.1 Tín dựng ngàn hàng góp phần thu hút nguồn vốn nhàn rỗi, vào quá

trình đầu tư nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Trong khi thực hiện chức năng thứ nhất là tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng ngân hàng làm giảm lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế, đặc biệt là lượng tiền mặt trong các tầng lớp dân cư, làm giảm áp lực lạm phát góp

*

2 0

Trang 30

phần ổn định tiền tệ Mặt khác, do cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch SXKD, làm cho sản xuất ngày càng phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cúa xã hội Như vậy, tín dụng đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời góp phần ổn định thị trường giá cả.

1.2.2.2 Tín dụng ngàn hàng thúc đẩy lưu thông hàng hóa và phát triển sản

xuất kinh doanh.

- Tín dụng là một trong những công cụ tập trung vốn một cách hữu hiệu trong nền kinh tế

- Đối với doanh nghiệp: Tín dụng góp phần cung ứng vốn cố định và vốn lưu động cho doanh nghiệp

- Đối với dân chúng: Tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư

- Đối với xã hội: Tín dụng làm tăng hiệu suất sử dụng đồng vốn

Tất cả những điều đó đã tạo nên sức mạnh tổng hợp tác động lên đời sống kinh tế - xã hội, tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ mà không có công cụ tài chính nào thay thế được

1.2.2.3 Tín dụng ngân hàng phục vụ điều tiết cơ cấu sản xuất, góp phần ổn

định đời sống, tạo công ăn việc làm, Ổn định trật tự xã hội.

Một mặt, do tín dụng góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hóa ngày càng gia tãng, có thể thoả mãn nhu cầu đời sống của người lao động Mặt khác, nhờ vốn tín dụng cung ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai thác các tiềm năng sẵn có về tài nguyên thiên nhiên, đất rừng, lực lượng lao động của xã hội để tạo ra lực lượng sản xuất mới nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế

Như vậy, tín dụng gắn với con người, gắn với của cải vật chất và gắn với

sự ổn định phát triển xã hội Đúng như luận điểm nổi tiếng của William Pety (1623 - 1687) “Lao động là cha còn đất là mẹ của mọi của cải”

1.2.2.4 Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội:

Các chính sách xã hội về bản chất được đáp ứng bằng nguồn vốn tài trợ không hoàn lại từ ngân sách nhà nước Song, phương thức tài trợ không hoàn lại thường bị hạn chế về quy mô và hiệu quả Để khắc phục hạn chế này, phương

21

Trang 31

thức tài trợ không hoàn lại có hướng bị thay thế bởi phương thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng ngân hàng, nhằm duy trì cung cấp nguồn tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô tín dụng chính sách Chẳng hạn, việc tài trợ vốn cho người nghèo được thực hiện phổ biến bằng tín dụng đối với người nghèo với lãi suất thấp Thông qua phương thức tài trợ này các mục tiêu chính sách được đáp ứng một cánh chủ động và có hiệu quả hơn Khi các đối tượng chính sách buộc phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả vốn đúng thời hạn thì

kỹ năng lao động của họ cũng sẽ được cải thiện từng bước Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho sự ổn định tài chính của các đối tượng chính sách và từng bước làm cho họ có thể tồn tại độc lập với nguồn tài trợ Đó chính là mục đích của việc sử dụng phương thức tài trợ các chính sách xã hội bằng con đường tín dụng

1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với thúc đẩy sự phát triển ngành Thuỷ sản.

1.2.3.1 Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu sản

xuất trong ngành Thuỷ sản theo định hướng của Nhà nước.

Công nghiệp hóa là xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, đó là một cơ cấu có mối liên hệ tương quan giữa các ngành, các khu vực, các khâu của quá trình sản xuất một cách hợp lý cho phép khai thác được nội lực và ngoại lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, đồng bộ và bền vững Hiện nay, cơ cấu kinh tế nước ta chuyển dịch chậm, chưa hợp lý, chưa phát huy được các thế mạnh để đi nhanh hơn vào cơ cấu kinh tế hiện đại Vì vậy, xây dựng cơ cấu kinh tế mới hợp lý là một yêu cầu tất yếu Với mục tiêu: Cơ cấu ngành là phát triển toàn diện nông - lâm - ngư - diêm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển nhanh một số ngành, một số lĩnh vực có lợi thế, một số ngành mũi nhọn như khai thác và chế biến dầu khí, lương thực và thực phẩm ; Cơ cấu vùng lãnh thổ để tạo điều kiện cho các vùng đều phát triển trên cơ sở khai thác thể mạnh, tiềm năng của mỗi vùng, liên kết giữa các vùng, làm cho mỗi vùng đều có cơ cấu kinh tế hợp lý, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước

Đối với ngành Thuỷ sản, trong thời gian qua vốn tín dụng ngân hàng đã tập trung đầu tư cho phát triển thuỷ sản với cơ cấu hợp lý giữa bốn khâu: Khai thác, bảo quản, chế biến và tiêu thụ; Giữa lĩnh vực nuôi trồng và khai thác hải

Trang 32

1.23.2 Tín dụng ngân hàng góp phần khai thác có hiệu quả tiềm năng về

đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên sẵn có.

Định hướng phát triển ngành thuỷ, hải sản là: Khai thác tối đa tiềm năng lợi thế vùng biển và ven biển để phát triển kinh tế, kết hợp với quốc phòng - an ninh, bảo vệ và làm chủ vùng biển của tổ quốc Để thực hiện định hướng đó ngoài các chu trương, chính sách quản lý của nhà nước phù hơp, còn một yếu tô

vô cùng quan trọng có tính quyết định đó là vốn

Nguồn lợi thuỷ sản của nước ta rất lớn, phong phú và đa dạng Đặc điểm

về vị trí địa lý của Việt Nam là hết sức thuận lợi cho sự phát triển ngành Thuỷ sản Vốn tín dụng ngân hàng cùng với các chính sách kinh tế vĩ mô thích hợp sẽ thúc đẩy công tác chuyển giao công nghệ, khuyến ngư, chương trình ứng dụng công nghệ sinh học, nâng cao chất lượng giống, phòng chống dịch bệnh đi vào cuộc sống Đặc biệt với chính sách đầu tư tín dụng hợp lý thì tiềm năng thuỷ sản nước ta sẽ được khai thác có lợi nhất về hiệu quả kinh tế và tạo điều kiện cho việc tích luỹ lâu dài của nền sản xuất xã hội

Sức lao động ở vùng biển rất dồi dào nhưng chưa được khai thác và sử dụng hợp lý Sau những năm gần dây ngành Ngân hàng đổi mới về cơ chế chính sách đầu tư tín dụng hợp lý đã hỗ trợ vốn cho nông dân và ngư dân trong việc hiện đại hóa phương tiện, nuôi trồng, khai thác và chê biến, nhờ vậy đã thu hút được một lực lượng lao động xã hội cho việc khai thác tiềm năng nguồn lợi thuỷ sản, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, mặt nước để phát triển nhiều nghề mới, tạo ra nhiều sản phẩm mới có giá trị cao cho xuất khẩu và thị trường nôi đĩa

Trang 33

1 2 3 3 T ín d ụ n g n g à n h à n g đ ã g ó p p h ầ n th ú c đ ẩ y q u á trìn h tích tụ, tập

tru n g vốn, tư liệu sả n x u ấ t, k h o a h ọ c c ô n g n g h ệ đ è p h á t triển k in h tê

th u ỷ sả n th e o h ư ớ n g c ô n g n g h iệp h o á , hiện đ ạ i h ó a đ ấ t nước.

Phát triển kinh tế thuỷ sản theo hướng CNH, HĐH là một yêu cầu tất yếu khách quan Nhưng để tiến hành CNH, HĐH ngành Thuỷ sản cần giải quyết một cách có hệ thống, các mối quan hệ giữa Vốn - Công nghệ - Thị trường trong đó khâu vốn là hết sức quan trọng và cấp thiết Với chức năng huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư và các tầng lớp kinh tế để đầu tư cho các dự án phương án SXKD, trong những năm gần đây, tín dụng ngân hàng đã phần nào đáp ứng nhu cầu vốn cho ngành Thuỷ sản phát triển, nhờ vậy mà tốc độ phát triển của ngành Thuỷ sản đạt khá cao Đặc biệt với chính sách ưu tiên vốn cho vay kinh tế hộ để phát triển đánh bắt, nuôi trồng, bảo quản và chế biến thuỷ hải sản đã giúp các hộ kinh tế vùng ven biển SXKD có lãi, tạo điều kiện để tích tụ vốn mở rộng sản xuất với quy mô ngày càng lớn hơn, chính họ có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến, có trình độ đánh bắt, nuôi trổng và chế biến, có khả năng nắm bắt thị trường một cách nhanh nhạy kịp thời Từ đó nảy sinh nhu cầu vốn để mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, áp dụng các thành tựu khoa học tiên tiến vào sản xuất kinh doanh

1 2 3 4 T ín d ụ n g n g â n h à n g g ó p p h ầ n x â y d ự n g k ế t cấ u h ạ tầ n g c ơ s ở n h ằm

th a y đ ô i bộ m ặ t n ô n g th ô n vù n g biển

Trong điều kiện nền kinh tế chưa phát triển, người dân vùng biển gặp nhiêu khó khăn về đời sống, cơ sở ha tầng, công ăn việc làm Thông qua vốn tín dụng ngắn hạn đã tạo cho người dân ven biển, vùng sông nước có nguồn lực

đê tô chức chăn thả nuôi trồng, đánh bắt, chê biển thuỷ hải sản nguồn vốn như

là một lực đẩy gắn lao động với việc làm, gắn người ngư dân - nông dân với sản xuất dịch vụ Bên cạnh đó vốn trung, dài hạn lại góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến, đầu tư cho những dự án cải tạo, xây dựng mới những xí nghiệp chế biến, những cơ sở bảo quản thuỷ hải sản, những công trình thuỷ lợi

và các cơ sở hạ tằng phục vụ cho NTTS, hệ thống dịch vụ nghề cá Như vậy vốn tín dụng đã góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở, bảo vệ môi trường sinh thái, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng biển Việt Nam

Trang 34

*

1 2 3 5 T ạo ch o d o a n h n g h iệ p , h ợ p tá c x ã , hộ n ô n g - n g ư d â n là m n g h ê th u ỷ

h ả i sản tà n g cư ờ n g h ạ c h to á n k in h tê đ ể đ ạ t hiệu q u ả k in h t ế cao.

Vốn tín dụng ngân hàng có đặc trưng cơ bản là sự vận động của nó trên

cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi Do vậy, các đơn vị kinh tế, hộ SXKD khi có nhu cầu vốn tín dụng ngân hàng cho các lĩnh vực đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thuỷ hải sản phải cân nhắc tính khả thi của dự án, giá cả sản phẩm, năng lực cạnh tranh trên thị trường, nhu cầu vốn và hiệu quả kinh tế mang lại Đặc trưng hoàn trả của vốn tín dụng đã thúc đẩy người sử dụng vốn phải quan tâm đến hạch toán chi phí, đến hiệu quả kinh tế

1 2 3 6 T ín d ụ n g n g â n h à n g g ó p p h ầ n tă n g th u n h ậ p , cả i th iện đ ò i số n g thự c

h iệ n x o á đ ó i g iả m n g h èo ch o n ô n g - n g ư dân

Tín dụng ngân hàng không những có vai trò quan trọng trong đầu tư phát triển kinh tê vùng nông thôn ven biển, mà còn góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống, xoá đói giảm nghèo cho nông - ngư dân vùng ven biển

Với chủ trương đầu tư vốn để phát triển ngành Thuỷ sản, ngân hàng đã đầu tư túi dụng cho mọi thành phần kinh tế, nhiều lĩnh vực từ khâu thăm dò, khai thác, nuôi trồng đến khâu thu gom bảo quản chế biến và tiêu thụ sản phẩm

và các dịch vụ vệ tinh của các ngành phục vụ kinh tế thuỷ sản

Vốn tín dụng ngân hàng đã tạo điều kiện cho các ngành nghề phát triển, sản lượng hàng hóa ngày càng nhiều, thu nhập người dân ngày càng tăng, đời sống kinh tế và văn hóa của dân dân từng bước được cải thiện, tỷ lệ hộ khá giàu ngày càng tăng, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng được thu hẹp Có đủ việc làm cho người lao động hạn chế tâm lý muốn thoát ly quê hương của lực lượng lao động trẻ

Tín dụng ngân hàng còn đáp ứng vốn cho các hộ nghèo có khả năng sản xuất nhưng thiếu vốn, với lãi suất ưu đãi để sản xuất, tăng thêm thu nhập, xoá đói giảm nghèo TÚI dụng ngân hàng phần nào đã hạn chế được nạn cho vay nặng lãi

Trong nhiều năm qua thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, tín dụng ngân hàng đã góp phần vào việc phát triển ngành nghề, tạo công ăn việc làm cho người lao động, xoá đói giảm nghèo, hạn chê được tiêu cực xã hội, góp phần ổn định kinh tế - chính trị nông thôn vùng biển

Trang 35

- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.

- Có dự án, phương án đầu tư, SXKD, dịch vụ khả thi, có hiệu quả

- Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các Ngân hàng thương mại

1.4 KINH NGHIỆM MỘT s ố NƯỚC TRONG KHU v ự c VỂ ĐẦU TƯ TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN NGÀNH THUỶ SẢN.

- Hầu hết các nước đều có hệ thống ngân hàng phục vụ cho nông nghiệp riêng (trong đó có ngành Thuỷ sản) Nhà nước cấp 100% vốn tự có và được ưu đãi đặc biệt để tạo điều kiện cho ngân hàng phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp nông thôn

- Để tạo điều kiện cho các Ngân hàng nông nghiệp phục vụ tốt lĩnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp, Nhà nước phải có chính sách tài trợ hỗ trợ cho các ngân hàng này như: không phải nộp thuế hoặc giảm các khoản nộp thuế, không phải ký quỹ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước trong khi các ngân hàng khác đều phải ký quỹ bắt buộc

2 6

Trang 36

- Quy chế cho vay nhìn chung có tiêu chuẩn xác định rõ ràng đối với từnơ đối tượng vay vốn, cho vay cả vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Đối với cho vay hộ sản xuất với một mức vốn vừa phải không yêu cầu thể chấp tài sản đều

áp dụng cả hình thức cho vay trực tiếp và gián tiếp

- Đối tượng vay vốn chủ yếu ở địa bàn nông thôn là hộ nông ngư dân lãi suất cho vay nông nghiệp, ngư nghiệp đều thấp hơn lãi suất trung bình so với các đối tượng khác

- Có sự tách bạch giữa tín dụng thương mại và tín dụng ưu đãi chỉ định cua Chính phủ đối với lĩnh vực cần khuyên khích phát triển theo mục đích của nhà nước

- Lãi suất tín dụng đã được tự do hóa ở nhiều nước

- Tín dụng chính sách được thực hiện ở hầu hết các nước đang phát triển Chính phủ can thiệp khá mạnh vào phân phối và điều hành các khoản tín dụng chính sách nhưng có giới hạn, không giảm lãi một cách tràn lan

- Các nước đều xây dựng cho mình một chính sách túi dụng theo hướng mở

và hội nhập quốc tế, có chính sách huy động vốn trong nước và ngoài nước [23]

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã nghiên cứu vị trí vai trò của ngành Thuỷ sản trong nền kinh

tê quốc dân và vai trò của tín dụng ngân hàng ảnh hưởng tới phát triển ngành Thuỷ sản Trong chương 2, luận văn đi sâu phân tích thực trạng tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nghệ An đối với ngành Thuỷ sản Nghệ An, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy ngành Thuỷ sản tỉnh Nghệ An phát triển nhanh, bền vững theo đúng chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH NGHỆ AN ĐÔÌ VỚI VIỆC THÚC ĐẨY Sự PHÁT TRIEN n g à n h THƯỶ s ả n n g h ệ a n

2.1 ĐẶC ĐIỂM T ự NHIÊN VÀ NHÂN T ố ẢNH HƯỞNG s ự PHÁT TRIỂN NGÀNH THUỶ SẢN NGHỆ AN.

2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và môi trường để phát triển ngành

Thuỷ sản.

2 1 1 1 VỊ tr í đ ịa lý.

Nghệ An có diện tích tự nhiên 16.487,29 km2, bao gồm 19 huyện, thành phố, thị xã, quy mô hành chính có 436 xã, 20 phường và 17 thị trấn, theo số liệu thống kê đến 31/12/2005 dân số trung bình Nghệ An có 3.003.170 người, mật

độ dân số 182,1 người/km2 Phía Bắc giáp Thanh Hoá, phía Nam giáp Hà Tĩnh, phía Tây giáp Lào, phía Đông giáp biển Đông Nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, Nghệ An có hệ thống giao thông thuận lợi Trên bộ có các con đường xuyên quốc gia đi qua như Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc- Nam Đường biển có thể mở rộng giao lưu với các tỉnh trong nước và quốc tế

Có 2 cảng lớn là cảng hàng hóa Cửa Lò và cảng cá Cửa Hội với tầm cỡ quốc gia

Hệ thống sông ngòi nội tỉnh dày đặc, rất thuận lợi cho giao thông vận tải, cùng như phát triển thuỷ sản Đường hàng không với sân bay Vinh nối liền các đường bay thành phố Hổ Chí Minh và Hà Nội Đây là điều kiện thuận lợi để Nghệ An thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội nói chung và kinh tế thuỷ sản nói riêng và là lợi thế để Nghệ An mở rộng quan hệ với các tỉnh bạn và quốc tế

2 1 1 2 K h í h ậ u th u ỷ văn.

Do nằm ở đoạn giữa bờ phía Tây vịnh Bắc Bộ nên vùng biển Nghệ An chịu ảnh hưởng của thềm lục địa và của nước biển trong các yếu tố khí hậu thuỷ văn thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa (khoảng trung gian giữa hai miền khí hậu miền Bắc và miền Trung)

Trang 38

Khí hậu thuỷ văn ở đây có 2 mùa rõ rệt: mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng

3 năm sau, mùa nóng từ tháng 4 đên tháng 10; Mùa lạnh thường có gió mùa Đông Bắc có đặc điểm là khô lạnh, hay mưa phùn, mùa này ảnh hưởng trực tiếp đên cả khai thác và NTTS đặc biệt là nuôi tôm vì nhiệt độ xuống thấp, nhiệt độ nước biển khoảng 18-20°C; Mùa nóng có gió Đông Nam và gió Tây Nam (gió Lào), nóng ẩm, mưa nhiều, bão nhiều, trung bình hàng năm chịu ảnh hưởng khoảng 5-6 cơn bão, trong đó 1-2 cơn ảnh hưởng trực tiếp tới Nghệ An

Với điều kiện khí hậu như vậy, Nghệ An có thể phát triển nuôi tôm từ tháng 4 đến tháng 10 Tập trung chính từ đầu tháng tư đến đầu tháng 8 để tránh bão lụt thường xảy ra trong tháng 8 và 9

2 1 1 3 B iể n , cá c h ệ th ố n g sô n g n g ò i, k ê n h rạ c h , h ồ, đ ậ p , a o ch u ô m

a Biển:

Bờ biển Nghệ An dài 82km theo hình vòng cung lõm vào phía Tây, trước đây có tên gọi Bờ-Răng-Dông (Brandon) Diện tích vùng biển 4.239 hải lý vuông từ 18°,46-19°,17 vĩ tuyến và 105°36-108° kinh tuyến Từ 40 mét nước sâu trở vào, đáy biển tương đối bằng phẳng, từ 40 - 60 mét nước sâu là vùng đáy có nhiều rạn đá và đảo san hô ngầm Ven bờ biển thường có độ sâu 4-11 mét ra xa (quãng kinh tuyến 107°) có độ sâu 50-60 mét

Hình thế bờ biển vuông góc với hướng gió Đông Bắc và Tây Nam nên hướng gió nào cũng dễ tràn vào Gió Đông Bắc thường gây sóng mạnh hoặc mưa

độ nhiệt hạ thấp có ít nhiều khó khăn cho hoạt động thuyền nghề trên biển

Nét đặc trưng ở vùng biển này là chế độ nhật triều không đều chịu sự tác động của dòng hải lưu nóng từ ngoài khơi phía Nam và một dòng hải lưu từ phía Bắc vào pha trộn ở độ sâu 30-40 mét (gọi là vùng nước nổi) Với yếu tố hải lưu pha trộn ấy tạo ra những điều kiện thuận lợi thu hút nhiều loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cũng như trữ lượng lớn và tập trung

Dọc bờ biển có nhiều mũi đá nhô ra như mũi đá Ông Cộc (Cửa Trap) mũi Đắc (Cửa Quèn), mũi Rồng (Cửa Lò) Phía ngoài có các đảo lớn như Song Ngư cao 125m nằm giữa Cửa Lò và Cửa Hội, các hòn Mắt, hòn Con cao 218m, dài 1,5 km Đảo Song Ngư và Đảo Mắt còn là chỗ ẩn nấp cho các loại tàu thuyên đánh cá trong tình huống sóng gió bất kỳ.Theo dọc bờ biển có 6 cửa lạch

*

2 9

Trang 39

từ các sông lớn nhỏ đổ ra biển: Cửa Hội từ sông Lam (sông Cả), Cửa Lò từ sông Cẩm, Cứa Vạn từ sông Bùng, Cửa Thời từ sông Thai, Cửa Quèn từ Kênh sông Mai và sông Đò Ông, Cửa Trap (Cờn) từ Bến Nghè (Mai Giang).

Các cửa sông và cửa biển là nơi trú đậu, là cơ sở cảng bến cho các đội tàu đánh cá, đồng thời các cứa sông hàng năm còn đưa ra biển một khối lượng dinh dưỡng và mùn bã phù sa, là nguồn thức ăn tốt cho các giống loài hải sản

b Hệ thống sông ngòi:

Sông Cả (Sông Lam) dài 523km, bắt nguồn từ nước Lào chảy qua địa phận Nghệ An rồi đổ ra biển Đông, diện tích khoảng 27.200km2, có 151 nhánh (phụ lưu hoặc chi lưu) toả ra khắp mọi vùng trong tỉnh từ miền ngược đến miền xuôi đến tận vùng ven biển , hàng năm sông cả đổ ra biển 21,92 tỷ khối nước

và 4.208 tấn bùn cát cùng các loại phù du, các ổ trứng cá và cá con Nguồn cá, tôm tập trung nhiều ở sông Cả với trữ lượng lom, đây là nguồn sinh sản, chăn nuôi các loài tôm, cá nước ngọt, nước lợ Trữ lượng thuỷ sản được phân bổ đều trên mọi vùng kể cả vùng cao, vùng sâu, được xem là một ưu đãi khá hậu của thiên nhiên trên đất Nghệ

c Hồ, đập, ao chuôm:

Hệ thống hồ, đập, ao chuôm rất nhiều và đa dạng vào loại lớn của cả nước Theo số liệu thống kê tính đến nay cả tỉnh có gần 700 hồ chứa lớn nhỏ với diện tích khoảng 9.429 ha phân bổ đều ở các vùng trung du và miền núi đã tạo

ra những vùng chăn nuôi thuỷ sản theo hộ dân hoặc tập trung với các loại thuỷ sản có giá trị dinh dưỡng, kinh tế cao, tạo điều kiện đời sống và cồng ăn việc làm cho dân cư

2 1 1 4 T à i n g u y ê n th u ỷ sản

Nằm trong khu vực hệ cá biển vịnh Bắc bộ nên hầu hết các loài cá có ở vịnh đều có ở vùng biển Nghệ An

Viện nghiên cứu Hải sản (Bộ Thuỷ sản) đã xác định vùng biển Nghệ An

có 267 loài trong 91 họ, trong đó có 62 loài có giá trị kinh tế Cá ven bờ có 121 loài chiến 46,32%, nhóm cá nổi có 20 loài, nhóm cá đáy và gần đáy có 101 loài chiêm 54,76%, có loại cá đặc sản có giá trị kinh tế cao như cá sú vàng Tôm có

20 loài thuộc 8 giống và 6 họ (tôm he, tôm rảo, tôm bộp, tôm sắt, tôm hùm có

#

3 0

Trang 40

gia tn kinh tê cao) Các bãi tôm chính là vịnh Diễn Châu, lạch Quèn và bãi tôm Cửa Hội Mực ống có 10 loài Mực nang 10 loài Ngoài ra còn có các loài sò trai, nghêu, ốc biển, cua biển và con ruốc biển (moi)

Các vùng cửa sông, ven biển, bãi triều và đầm nước lợ có 55 loài ron® biển thuộc 27 giống của 4 ngành rong như rong Lam, rong Lục, rong Nâu có cac loai tong kinh tê như rong Giấy, rong Cải biển hoa hoặc rong Bóng trên Mơ v.v

Trữ lượng cá, tôm: Trữ lượng cá tầng gần đáy và đáy, kể cả cá nổi sát đáy ước tính khoảng 74 nghìn tấn Vùng biển ven bờ có khoảng 4.600 tấn vùng biển

xa bờ (trên 50km) có trữ lượng khoảng 29.000 tấn

2 1 1 5 D iệ n tíc h có k h ả n ă n g n u ô i trồ n g th u ỷ sản.

Nghệ An là một trong những địa phương của nước ta được thiên nhiên ưu đãi về tiềm năng NTTS Với 2.286 ha mặt nước mặn lợ ở Nghi Lộc, Diễn Châu Quynh Lưu, thị xã Cửa Lò và Thành phô Vinh, 30.000 ha măt nước ngọt trên địa bàn toàn tỉnh, tổng cộng là 32.286 ha mặt nước, là tỉnh có diện tích mặt nước lớn so với nhiều nơi từ Hà Tĩnh trở vào (trên dải miền Trung) Với diện tích mặt nước đầy hứa hẹn này, sẽ tạo điều kiện cho NTTS Nghệ An phát triển

va gop phân tích cực trong hoạt động kinh tế thuỷ sản của cả nước

2 1 1 6 C a c n h â n tô k h á c ả n h h ư ở n g đ ến s ư p h á t triển th u ỷ sản.

Nghệ An hội tụ đầy đủ các lợi thê về đường biển, đường sắt, đường bộ đường hàng không và là cửa biển quan trọng của Bắc Miền Trung, rất thuận lợi cho giao lưu VƠI cac tinh thanh phô trong nước, cũng như các quốc gia trong khu vực và trên thế giới

Cang Cưa Lo, cang ca Cưa Hội có vai trò rất lớn và là đầu mối quan trọng tiong viẹc xuât nhập khâu, đông thời là nơi tâp kết các sản phẩm thuỷ sản cua cac tàu thuyên đánh băt xa bờ từ phía Nam, phía Bắc nhập hàng để cung cấp cho Thành phố Vinh, các huyện miền núi phía tây Nghệ An, nước bạn Lào và các tỉnh phía Bắc Với các đầu mối giao thông quan trọng của đường sắt từ Bắc tơi Nam, quoc lọ 1A, quôc lộ 7 đi qua cửa khâu Thanh Thuỷ sang Lào, nên hàn® hải sản từ đây có thể lan toả đi khắp các vùng trong nước và nước Lào

Ngay nay, thuy san đã trơ thành đặc sản không thê thay thê đươc phuc vu

*

31

Ngày đăng: 18/12/2023, 16:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w