Ngân hàng thương mại cho vay các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức như cho vay ngắn hạn đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống ; cho vay tru
Trang 1LV386
Trang 2-
-Hoàng Kim Cương
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
THEO MÔ HÌNH NGÂN HÀNG BÁN LẺ
Chuyên ngành: Kinh tế, tài chính - Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TÊ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Kim Anh - HVNH
H Ọ C V I Ệ N N G Â N H À N G TRUNG TÂM THỖ NG TIN - THƯ VIỆN
T H Ư V IỆ N
S6
HÀ NỘI, 2008
Trang 3viện Ngân hàng đã quan tâm đào tạo và tạo mọi điều kiện cho em học tập, nghiên cứu, thực hiện luận văn.
Em xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc TS Nguyễn Kim Anh
đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện và hoàn thiện luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt kiến thức để
em hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cám ơn Ban Giám đốc, Phòng Tín dụng 2, Phòng Thẩm định và Quản lý tín dụng, phòng Kế hoạch - Nguồn vốn Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây đã tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành bản luận văn này
Xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã thường xuyên quan tâm, khích lệ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập
Học viên
Hoàng Kim Cương
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Người thực hiện luận văn
Hoàng Kim Cương
Trang 5Chương 1 HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Quá trình hình thành, phát triển của Ngân hàng thương mại: 11.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại: 2
1.12.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: 3
1.2 Hoạt động ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng thương mại: 4
Trang 6TẠI NGÂN HÀNG ĐẨU t ư v à p h á t t r i ể n h à t â y
2.1 Khái quát về Chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Hà Tây: 25
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển: 252.1.2 Cơ cấu tổ chức - nhân sự: 262.1.3 Kết quả kinh doanh chủ yếu: 28
2.2 Thực trạng hoạt động bán lẻ tại Ngân hàng ĐT&PT Hà Tây: 34
2.2.1 Khái quát chung về hoạt động bán lẻ của hệ thống Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam :
2.2.2 Thực trạng hoạt động bán lẻ tại Ngân hàng ĐT&PT Hà Tây: 40
2.2.2.7 Môi trường hoạt động ngân hàng bán lẻ trên địa bàn: 40 2.22.2 Thực trạng hoạt động NHBL tại NHĐT&PT Hà Tây: 43
2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động NHBL tại NHĐT&PT Hà Tây: 65
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG BÁN LẺ
TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU t ư v à p h á t t r i ể n h à t â y
3.1 Đinh hướng hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây: 78
3.1.1 Định hướng hoạt động của Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam: 783.1.2 Định hướng hoạt động của Ngân hàng ĐT&PT Hà Tây: 79
Trang 73.2.2 Đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ bán lẻ: 833.2.3 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao trình độ công nghệ thông
3.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: 893.2.5 Nâng cao chất lượng hoạt động Marketing: 923.2.6 Xây dựng hệ thống thông tin, hệ thống tính điểm khách hàng: 933.2.7 Các giải pháp khác : 94
3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước: 943.2.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước: 963.2.3 Đề xuất với Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam: 97
Trang 8NHTM : Ngân hàng thương mại
NHBL : Ngân hàng bán lẻ
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
NHĐT&PT : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
BIDV : Bank for Investment and Development of Viet Nam
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt NamNHCT : Ngân hàng Công thương
NHNN0&PTNT : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thônQTDND : Quỹ tín dụng Nhân dân
WB : World Bank: Ngân hàng Thế giới
WTO : World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giớiATM : Automatic teller machine
Máy rút tiền tự độngUBND : Uỷ ban Nhân dân
HĐND : Hội đồng Nhân dân
Trang 9Bảng 2.1 2.1.3
Kết quả hoạt động kinh doanh của NHĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007 29Bảng 2.2 2.1.3
Kết quả hoạt động huy động vốn của NHĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007 30Bảng 2.3 2.1.3
Kết quả hoạt động tín dụng của NHĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007 32Bảng 2.4 2.2.1 Các loại thẻ BIDV-ATM 38
Bảng 2.5 2.2.2.1
Thu nhập của lao động theo ngành kinh
tế trên địa bàn tỉnh Hà Tây năm 2006 41Bảng 2.6 2.2.2.1
Tình hình hoạt động của các TCTD trên địa bàn Hà Tây năm 2007 42Bảng 2.7 2.2.2.2
Tình hình huy động vốn từ dân cư tại NHĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007 45Bảng 2.8 2.2.2.2
Tình hình hoạt động tín dụng bán lẻ tại NHĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007 53Bảng 2.9 2.22.2
Số lượng máy ATM và thẻ phát hành tại NHĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007 62
Trang 10Tình hình hoạt động tín dụng tại Ngân hàng ĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007 32Biểu 2.3 2.22.2
Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng ĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007 47
Biểu 2.4 2.2.22
Huy động vốn qua phát hành kỳ phiếu, trái phiếu tại Ngân hàng ĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007
49
Biểu 2.5 2.2.22
Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng ĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007
51
Biểu 2.6 2.2.22
Kết quả hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng ĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007 54Biểu 2.7 2.2.22
Kết quả hoạt động cho vay DNVVN tại Ngân hàng ĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007 56Biểu 2.8 2.2.22
Kết quả hoạt động cho vay CBCNV tại Ngân hàng ĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007 57Biểu 2.9 2.2.22
Kết quả hoạt động cho vay thấu chi tại Ngân hàng ĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007 58
Biểu 2.10 2.22.2
Kết quả hoạt động cho vay hỗ trợ nhu cầu về nhà ở tại Ngân hàng ĐT&PT Hà Tây giai đoạn 2005-2007
59
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tiến trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, sâu rộng đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao sức cạnh tranh để tồn tại và phát triển Là ngành kinh tế giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, khi
đó trước nguy cơ cạnh tranh mạnh mẽ từ các ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng trong nước phải đối mặt với những thách thức và sức ép từ nhiều phía đòi hỏi phải cải đổi mạnh mẽ, toàn diện, đưa cơ cấu tổ chức và mô thức quản lý tiến dần đến thông lệ quốc tế, đồng thời các ngân hàng cũng phải tìm ra hướng kinh doanh mới phù hợp mà trong đó hoạt động ngân hàng bán lẻ là lĩnh vực đầy tiềm năng và là lĩnh vực chủ chốt của các ngân hàng đồng thời cũng phù hợp với xu hướng chung của các ngân hàng hiện đại trong khu vực và trên thế giới
Với hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), BIDV cũng đang trong giai đoạn thực hiện cổ phần hoá, toàn hệ thống đã và đang hội đủ các điều kiện cần thiết để sẵn sàng hội nhập vào nền kinh tế quốc tế Đồng thời BIDV cũng đang tiếp tục cuộc cách mạng toàn diện về mô hình tổ chức, phương thức hoạt động hướng tới một ngân hàng hiện đại BIDV đã xây dựng và thống nhất kế hoạch chiến lược giai đoạn 2008-2012 và tầm nhìn đến năm 2020 Theo đó BIDV sẽ trở thành một tập đoàn tài chính - ngân hàng mà trong đó hoạt động ngân hàng thương mại bán lẻ là một trong những hoạt động chủ đạo
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây (NH ĐT&PT Hà Tây)
là Chi nhánh cấp 1 thuộc hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam,
có bề dày phục vụ các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, cho vay theo chỉ định, theo kế hoạch Nhà nước là chính Tuy nhiên, khi mảng hoạt động cho vay theo chỉ định, cho vay theo kế hoạch nhà nước không còn
là nhiệm vụ của Ngân hàng thương mại Để nâng cao sức cạnh tranh, phù hợp với tình hình hoạt động trong thời kỳ mới, hình thành chi nhánh cấp 1 hoạt
Trang 12động là bước đi hợp lý Tuy nhiên, hoạt động Ngân hàng bán lẻ mới là bước đầu triển khai tại NHĐT&PT Việt Nam nói chung cũng như tại Chi nhánh NHĐT&PT Hà Tây nói riêng, do vậy kết quả đạt được vẫn chưa xứng với tiềm năng đồng thời vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập trên nhiều mặt Vì vậy, cần tìm ra những giải pháp đồng bộ để hoạt động Ngân hàng bán lẻ tại Chi nhánh NHĐT&PT Hà Tây ngày càng phát triển.
Xuất phát từ thực tế nêu trên nên việc nghiên cứu các giải pháp để mở rộng và phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Chi nhánh NHĐT&PT Hà Tây là hết sức cần thiết Đây cũng là lý do em đã thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp "Giải pháp phát triển Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây theo mô hình ngân hàng bán lẻ".
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
- Làm rõ những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về việc phát triển hoạt động Ngân hàng bán lẻ tại các NHTM
- Đánh giá thực trạng hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây, những kết quả đạt được, nguyên nhân của những tồn tại trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Hà Tây
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động bán lẻ của Ngân hàng thương mại
* Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Phạm vi nghiên cứu là hoạt động bán lẻ tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Hà Tây giai đoạn 2005-2007
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, phân tích hoạt động kinh tế, phương pháp hệ thống, tổng hợp, dự báo thống kê trong nghiên cứu
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Hoạt động ngân hàng bán lẻ
Chương 2: Thực trạng hoạt động Ngân hàng bán lẻ tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Hà Tây.
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Hà Tây.
Trang 14Chương 1: HOẠT ĐỘNG NGAN HANG BAN LE CUA CAC NGAN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1 Khái quát chung về Ngân hàng thương mại.
1.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của Ngân hàng thương mại.
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của Ngân hàng; đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Hình thức ngân hàng đầu tiên- ngân hàng của các thợ vàng, hoặc ngân hàng của những kẻ cho vay nặng lãi, thực hiện cho vay đối với các cá nhân, chủ yếu là những người giàu có trong xã hội như quan lại, địa chủ nhằm phục
vụ mục đích tiêu dùng Nhiều chủ ngân hàng lớn còn mở rộng cho vay với các lãnh chúa, vua chúa nhằm tài trợ một phần cho nhu cầu chi tiêu của chiến tranh Các hình thức cho vay thường là thấu chi, cho khách hàng chi nhiều hơn
số tiền gửi tại ngân hàng Do lợi nhuận mang lại từ việc cho vay là rất cao, nhiều chủ ngân hàng, lạm dụng ưu thế của chứng chỉ tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi khống để cho vay
Sự phá sản, sụp đổ của các ngân hàng đã gây khó khăn cho hoạt động thanh toán, ảnh hưởng xấu đến hoạt động buôn bán, ảnh hưởng trực tiếp đến những nhà buôn Bên cạnh đó do lãi suất vay cao, các nhà buôn cũng khó sử dụng nguồn vốn vay này Xuất phát từ đó, nhiều nhà buôn tự tổ chức và thành lập ngân hàng để phục vụ cho hoạt động của mình, như vậy hình thức ngân hàng thương mại ra đời Ngân hàng thương mại được hình thành và xuất phát
từ vận động của tư bản thương nghiệp Ngân hàng thương mại hình thành cũng thực hiện các nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng như huy động tiền gửi, thanh toán, cất giữ hộ và cho vay Tuy nhiên có điểm mới và rất khác trong hoạt động của ngân hàng thương mại là ngân hàng thương mại chỉ cho vay
Trang 15trong ngắn hạn, dựa trên sự luân chuyển của hàng hoá với lãi suất cho vay phải thấp hơn lợi nhuận do việc sử dụng tiền vay mang lại.
Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ, các ngân hàng thương mại cũng phát triển rất nhanh đó là sự đa dạng về hoạt động, về loại hình sở hữu ngân hàng Bên cạnh các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống, nhiều nghiệp vụ ngân hàng mới cũng được phát triển Ngân hàng thương mại từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ yếu đã mở rộng cho vay trung và dài hạn, cho vay đầu tư, Ngoài ra ngân hàng còn cho vay đầu tư lĩnh vực chứng khoán, cho thuê, cho vay tiêu dùng, Các hình thức huy động cũng ngày càng đa dạng và phong phú Các loại hình tiền gửi cũng được đưa ra nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú của khách hàng Bên cạnh đó các ngân hàng thương mại trong việc huy động còn có vay của ngân hàng trung ương, các tổ chức tín dụng, Sự phát triển của công nghệ nói chung cũng như công nghệ ngân hàng nói riêng đã và đang góp phần làm thay đổi các hoạt động cơ bản của ngân hàng, Thanh toán điện tử đang thay thế dần thanh toán thủ công, đẩy nhanh tốc độ, tính thuận tiện, an toàn trong thanh toán Các sản phẩm thẻ, dịch vụ ngân hàng tự động đang thay thế dần tiền mặt và dịch vụ của ngân hàng đang tạo ra nhiều tiện ích cho các đơn vị, cá nhân trong xã hội
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về Ngân hàng thương mại, tuy nhiên có thể hiểu Ngân hàng thương mại là loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với nhiệm vụ chính là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp môt loạt các dịch vụ tài chính đa dạng khác Khái niệm về ngân hàng đang thay đổi vì có sự pha trộn các hoạt động truyền thống của ngân hàng với các loại hình trung gian tài chính khác
1.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn :
Một trong những loại nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng thương mại là nguồn vốn huy động Do đó hoạt động huy động vốn là hoạt động quan trọng
Trang 16của các doanh nghiệp nói chung và đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng Hoạt động huy động vốn phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Bao gồm một loạt các biện pháp như mạng lưới hoạt động, chính sách lãi suất, chính sách khách hàng, hình thức huy động, nhằm huy động vốn từ các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế thông qua các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng.
Hoạt động huy động vốn có vai trò cung cấp đầy đủ và kịp thời nguồn vốn phục vụ cho các hoạt động của ngân hàng Ngoài ra hoạt động này còn có vai trò quan trọng trong việc khuyếch trương tên tuổi và uy tín của ngân hàng, thu hút khách hàng đến với ngân hàng
1.1.2.2 Hoạt động cấp tín dụng:
Hoạt động cấp tín dụng là hoạt động truyền thống và là hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại, thông thường hoạt động cấp tín dụng thường mang lại tỷ trọng nguồn thu lớn so với các nguồn thu của các hoạt động khác của Ngân hàng thương mại
Trong hoạt động cấp tín dụng hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng
và thường chiếm tỷ trong lớn nhất Ngân hàng thương mại cho vay các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức như cho vay ngắn hạn đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống ; cho vay trung, dài hạn để đầu tư thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống
Bên cạnh hoạt động cho vay Ngân hàng thương mại còn cung cấp các hình thức cấp bảo lãnh ngân hàng Bằng uy tín, khả năng tài chính của mình ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng đối với bên thứ ba.Trong hoạt động cấp tín dụng ngân hàng còn đưa ra các sản phẩm khác như chiết khấu thương phiếu, chứng từ có giá; cho thuê tài chính; bao thanh toán,
1.1.2.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ.
Trang 17Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán cho khách hàng thông qua ngân hàng, ngân hàng thương mại được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước Để thực hiện việc thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc Thông qua đó ngân hàng thực hiện hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ cho khách hàng bao gồm các hoạt động như: Cung cấp phương tiện thanh toán; thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng; thực hiện dịch vụ thu - chi hộ khách hàng;
1.1.2.4 Các hoạt động khác.
Ngoài các hoạt động huy động, cho vay đầu tư lợi nhuận, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, ngân hàng thương mại còn đóng vai trò là trung gian thực hiện các dịch vụ và hoạt động khác đáp ứng yêu cầu của khách hàng như: kinh doanh ngoại hối, uỷ thác và nhận uỷ thác, tham gia thị trường tiền tệ, cung ứng các dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính, bảo quản vật có giá, Các hoạt động trung gian này có độ rủi ro thấp hơn hoạt động cho vay và đầu tư trong khi vẫn mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng
1.2 Hoạt động ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm chung
Trong những năm gần đây, các dịch vụ tài chính ngân hàng đã thay đổi rất nhiều với sự bùng nổ của các dịch vụ ngân hàng đã làm thay đổi cách tiếp cận về các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Thời kỳ đầu các ngân hàng cung cấp các dịch vụ phục vụ cho các đối tượng chính như: các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp, các khách hàng cá nhân "giàu có" Địa điểm để tổ chức các giao dịch với nhau là tán sở ngân hàng, trong khung giờ xác định, bị
bó hẹp Khi nền kinh tế càng phát triển, các mối quan hệ kinh tế ngày càng trở lên phức tạp hơn, những yêu cầu cứng nhắc về thời gian, địa điểm, dịch vụ ngân hàng cần được thay đổi linh hoạt đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao của khách hàng Phạm vi khách hàng không chỉ hạn chế trong một số đối
Trang 18tượng khách hàng nhất định mà đưa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tới quảng đại quần chúng, các bộ phận dân cư trong xã hội.
Thuật ngữ "ngân hàng bán lẻ" xuất phát từ từ gốc trong tiếng Anh: "retail banking" được đưa vào sử dụng Mặc dù là khá mới mẻ, khái niệm này không hàm về một lĩnh vực hoạt động mới của ngân hàng Dù ngân hàng có xác định hay không xác định kế hoạch kinh doanh thì các dịch vụ ngân hàng bán lẻ vẫn luôn tồn tại Vậy "ngân hàng bán lẻ" được hiểu như thế nào?
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về hoạt động bán lẻ Theo nghĩa đen trong việc cung cấp các hàng hoá, dịch vụ thông thường thì bán lẻ được hiêu
là bán trực tiếp cho người tiêu dùng với số lượng ít, nhỏ lẻ Nó khác với bán buôn là bán cho người trung gian, cho nhà phân phối của hàng hoá đó Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực hoạt động tiền tệ, thuật ngữ bán lẻ trong ngân hàng có thể được hiểu khác đi một chút, có nhiều các định nghĩa như sau:
Theo Học viện Công nghệ Châu Á - AIT thì "ngân hàng bán lẻ là việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc là khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông"
Theo Từ điển Ngân hàng và Tin học (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia —
1996 thì "Retail banking - hoạt động ngân hàng bán lẻ/nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ/dịch vụ ngân hàng bán lẻ - là dịch vụ ngân hàng dành cho quảng đại quần chúng, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính gồm cho vay trả dần, cho vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân"
Như vậy, từ các quan điểm trên, ta có thể rút ra kết luận là hoạt động ngân hàng bán lẻ là hoạt động cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới giao dịch hoặc các công nghệ điện tử, thông tin hiện đại
Trang 191.2.2 Đặc điểm của ngân hàng bán lẻ:
Như đã đề cập ở trên để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của khách hàng
cũng như sự phát triển của nền kinh tế, ngân hàng bán lẻ ra đởi là cần thiết và ngân hàng bán lẻ có các đặc điểm như:
cả, lãi suất, và các chế độ của ngân hàng Do đó trong hoạt động việc phân đoạn thị trường khách hàng là vấn đề đáng quan tâm của các ngân hàng trong quá trình đưa ra các biện pháp thu hút khách hàng hiện nay
b Quy mô của giao dịch.
Trong hoạt động đối tượng phục vụ của ngân hàng bán lẻ là rất đa dạng, phong phú Số lượng khách hàng thì nhiều tuy nhiên quy mô trong mỗi giao dịch lại nhỏ Do đó số lượng phát sinh giao dịch nhiều đa dạng, do vậy cần phải dựa trên nền tảng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, nâng cao tiện ích của sản phẩm đồng thời giúp ngân hàng quản lý các tốt các hoạt động trong giao dịch
c Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
Sản phẩm dịch vụ NHBL phải dựa trên nền tảng của hệ thống công nghệ thông tin hiện đại Ngày nay, khi các ngân hàng đã ý thức được tiềm năng của hoạt động ngân hàng bán lẻ thì vấn đề ứng dụng công nghệ hiện đại là vấn đề
Trang 20hết sức cần thiết Cũng do tâm lý và trình độ của các khách hàng cá nhân hết sức đa dạng nên họ vừa muốn có được dịch vụ tốt nhất với chi phí thấp nhất, vừa tiết kiệm được thời gian giao dịch và mong muốn được phục vụ bất cứ khi nào họ có nhu cầu Do đó các ngân hàng phải sử dụng lượng vốn đầu tư ban đầu lớn để thiết lập cơ sở hạ tầng về địa điểm giao dịch, hệ thống công nghệ thông tin hiện đại đảm bảo khách hàng có thể sử dụng trực tiếp sản phẩm tại địa điểm giao dịch của ngân hàng, từ nhà, văn phòng của khách hàng.
d Chi phí hoạt động phát sinh.
Do lượng khách hàng của ngân hàng bán lẻ là quảng đại quần chúng, là các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, lượng phân bô khách hàng thường không tập trung Do đó để đưa sản phẩm dịch vụ tới khách hàng một các nhanh nhất thì các ngân hàng phải bỏ ra lượng vốn ban đầu đầu tư thiết lập các điểm giao dịch, hệ thống công nghệ thông tin hiện đại Do đó số lượng các điểm giao dịch phát sinh chi phí cồng cụ lao động, nhân sự, đào tạo cũng phát sinh Vì vậy các ngân hàng cần hiện đại hoá công nghệ thông tin phù hợp với xu thế phát triển chung và có quy trình kiểm tra kiểm soát doanh thu chi phí, đảm bảo lợi nhuận cũng như đảm bảo mục đích phát triển của mình trong xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt
1.2.3 Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng bán lẻ:
Đặc điểm khách hàng của ngân hàng bán lẻ có đối tượng là khách hàng
cá nhân Do đó, nắm bắt được đặc điểm tâm lý giao dịch của khách hàng cá nhân, các ngân hàng thương mại cần nghiên cứu và phát triển các sản phẩm dịch vụ phù hợp Nhìn chung, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng của ngân hàng bán lẻ có thể chia thành các nhóm
I.2.3.I Huy động vốn:
a Những vấn đề chung đối nghiệp vụ huy động vốn trong hoạt động NHBL.
Trang 21Hoạt động huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thương mại thực hiện các hoạt động kinh doanh khác Không có hoạt động huy động vốn, ngân hàng thương mại sẽ không đủ nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của mình Mặt khác, thông qua nghiệp vụ huy động vốn ngân hàng cũng
có thể đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng Từ đó, ngân hàng thương mại sẽ có các biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng
Đối với hoạt động ngân hàng bán lẻ, cơ cấu rõ nét nhất của huy động vốn xuất phát từ nguồn tiền gửi của khách hàng cá nhân Đây là nguồn tiền gửi của khách hàng để tiết kiệm, để thanh toán, chi trả các nhu cầu, Trong sản phẩm huy động vốn đối với khách hàng là cá nhân, trước tiên ngân hàng phải hiểu được khách hàng tiềm năng của mình là ai và họ có nhu cầu dịch vụ tiền gửi như thế nào, xác định được từng nhóm khách hàng cụ thể Có như vậy, ngân hàng mới có chính sách, phát triển, thiết kế các sản phẩm tiền gửi phù hợp về lãi suất, về các hình thức huy động, về các loại hình dịch vụ tiện ích, nhanh chóng, về phương thức phục vụ, nhằm thu hút tối đa lượng tiền hay nhu cầu
sử dụng dịch vụ của các nhóm khách hàng cụ thể
Nguồn vốn huy động từ khách hàng cá nhân có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng thương mại thể hiện: Đóng góp vào việc tăng trưởng nguồn vốn cho ngân hàng Tuy với một khách hàng cá nhân, lượng tiền gửi so với quy mô vốn của ngân hàng là khiêm tốn, tuy nhiên nếu huy động được từ một số lượng lớn các khách hàng cá nhân gửi tiền tại ngân hàng thì lượng vốn tăng trưởng sẽ rất đáng kể Bên cạnh đó trong cơ cấu vốn huy động
từ bộ phận dân cư, nguồn vốn huy động trung dài hạn cũng chiếm tỷ trọng lớn
do đó cũng tạo khả năng về nguồn sử dụng vốn trung dài hạn cho ngân hàng.Với đặc điểm của nguồn tiền là từ các cá nhân chủ yếu là nguồn tiền nhàn rỗi tạm thời, với mục đích đầu tư an toàn và sinh lời, do đó các khoản
Trang 22vốn huy động từ nguồn này ít lưu chuyển do đó ngân hàng chủ động được kế hoạch sử dụng vốn Bên cạnh đó, đây là nguồn tiền gửi của các cá nhân do đó
ít chịu yếu tố tác động của các yếu tố thời vụ trong kinh doanh như tác động tới các doanh nghiệp Việc gửi tiền vào ngân hàng cũng do thói quen, tâm lý của khách hàng hầu hết muốn giao dịch với ngân hàng hơn là giao dịch với các tổ chức tài chính khác
b Các sản phẩm huy động chính của NHBL
Nhìn chung lại, sản phẩm của ngân hàng bán lẻ trong hoạt động huy động vốn theo các giác độ khác nhau có thể chia thành các loại sản phẩm chính như sau:
+ Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán.
Tiền gửi thanh toán là hình thức huy động vốn của NHTM bằng cách mở cho khách hàng tài khoản gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán Tài khoản này
mở cho các đối tượng khách hàng cá nhân hoặc tổ chức, có nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng Để thực hiện thanh toán qua ngân hàng, khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng Số dư có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng có thể hình thành từ các nguồn như: khách hàng nộp tiền vào tài khoản và đặc biệt loại tài khoản này rất thích hợp cho cá nhân có nhu cầu nhận tiền chuyển từ các nguồn như: nhận tiền lương hàng tháng, nhận chuyển tiền từ tài khoản khác Số dư này nhằm duy trì khả năng thanh toán, nhu cầu chi tiêu, rút tiền của khách hàng ở bất cứ thời điểm nào Tuy nhiên, không phải lúc nào khách hàng cũng sử dụng hết số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của họ Như vậy, số dư này tạm thời nhàn rỗi cho đến khi có nhu cầu thanh toán Khoảng thời gian nhàn rỗi như vậy trở thành nguồn vốn cho ngân hàng và ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này cho các hoạt động khác của mình
Đặc điểm của hình thức này là tài khoản không kỳ hạn, do đó khách hàng
có thể chuyển tiền hoặc rút tiền tại bất cứ thời điểm nào mà họ cần, không
Trang 23phải thông báo trước cho ngân hàng Do vậy, việc lập kế hoạch cho việc sử dụng nguồn vốn này của ngân hàng cũng gặp phải khó khăn Chính VI vậy, ngân hàng thường xây dựng mức lãi suất thấp, thậm chí không trả lãi cho hình thức huy động này do đó khách hàng thường duy trì trên tài khoản với số dư thường là nhỏ Tuy nhiên, nếu ngân hàng duy trì được nhiều tài khoản này hoạt động thì số dư huy động được cũng không phải là nhỏ, cũng như tăng nguồn thu từ các dịch vụ khác đi kèm.
+ Huy động vốn qua tài khoản tiết kiệm.
Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, đây là sản phâm được thiêt kê
dành cho các đối tượng khách hàng cá nhân có tiền nhàn rỗi tạm thời nhưng chưa có thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai Đối với khách hàng khi lựa chọn hình thức gửi tiền này thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trọng hơn là mục tiêu sinh lợi Đối với ngân hàng, vì loại tiền gửi này khách hàng rút bất cứ lúc nào, do vậy tính chủ động trong việc sử dụng nguồn này cũng khó khăn, do đó ngân hàng thường đưa ra mức lãi suất thấp Ở nước
ta hiện nay, xu hướng các ngân hàng cung cấp sản phẩm tiền gửi thanh toán và tiền gửi không kỳ hạn được hợp nhất vào làm một để thuận tiện trong việc quản lý đối với khách hàng cũng như đối với ngân hàng
Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, được cung ứng đáp ứng nhu cầu
của khách hàng có nhu cầu vừa đảm bảo an toàn vừa sinh lợi, đây là nhóm khách hàng đã có kế hoạch sử dụng nguồn tiền nhàn rỗi này trong tương lai,
họ có nhu cầu gửi tiền có kỳ hạn phù hợp với kế hoạch gửi tiền của họ Nguồn vốn huy động thông qua sản phẩm này, ngân hàng chủ động được việc sử dụng trong các hoạt động khác của mình Trong sản phẩm này, ngân hàng thường đưa ra nhiều kỳ hạn hợp lý với các mức lãi suất khác nhau, chính sách chăm sóc khách hàng khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng
+ Huy động vốn qua việc phát hành giấy tờ có giá.
Trang 24Ngoài việc huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm ngân hàng thương mại còn sử dụng hình thức huy động vốn khác thông qua việc phát hành giấy tờ có giá, theo đó giấy tờ có giá là chứng nhận cua ngân hàng phát hành để huy động vốn, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định Trong hoạt động huy động vôn cua NHBL từ khu vực dân cư, ngân hàng thường phát hành các giấy tờ có giá là công cụ nợ như kỳ phiếu, trái phiếu.
+ Huy động vốn qua các hình thức khác.
Ngoài các sản phẩm như trên, các NHTM còn đưa ra thị trường các sản phẩm huy động vốn khác như phát hành hành chứng chỉ tiền gửi Đây là hình thức huy động vốn thông qua việc ngân hàng cam kết trả mức lãi suất cố định trong suốt kỳ hạn của chứng chỉ, việc thanh toán tiền gốc và lãi được thực hiện vào cuối kỳ
Các sản phẩm huy động vốn trong hoạt động bán lẻ của ngân hàng thương mại cung ứng ra thị trường một cách thường xuyên liên tục là các sản phẩm tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm Đối với các sản phẩm như phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi các ngân hàng thường cung ứng
ra thị trường tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng vốn, nguồn vốn của ngân hàng Theo đó sản phẩm này được đưa ra thị trường trong một khoảng thời gian xác định và với mục tiêu huy động được số tiền cụ thể
I.2.3.2 Cho vay cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ:
a Các sản phẩm tín dụng bán lẻ.
Hoạt động cho vay cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiêp vừa và nhỏ còn được gọi là hoạt động tín dụng bán lẻ của Ngân hàng thương mại Trong thời
kỳ trước, hầu hết các ngân hàng đều không chú trọng đến hoạt động cho vay
cá nhân và hộ gia đình và cho rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô nhỏ với rủi ro cao, chi phí thu thập thông tin lớn làm cho mức sinh lời thấp Trong nền kinh tế phát triển, mức thu nhập của người dân tăng cao đồng
Trang 25nghĩa với xu thế tiêu dùng tăng đồng thời trong hoạt động ngân hàng không chỉ diễn ra cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng với nhau mà còn cạnh tranh với các tổ chức tài chính phi ngân hàng khac Do đo cac ngan hang phai đoi mới mô hình hoạt động, thiết lập các sản phẩm dịch vụ mới hướng tới đối tượng khách hàng lớn là bộ phận dân cư trong xã hội Đó là điều kiện cho tín dụng tiêu dùng phát triển Các sản phẩm cơ bản trong cho vay tiêu dùng như:+ Cho vay sinh hoạt tiêu dùng - sản phẩm này được thiết kế và cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của gia đình như mua sắm dụng cụ gia đình, phương tiện đi lại Loại hình sản phẩm này hướng tới các nhóm khách hàng có thu nhập không cao nhưng ổn định như công nhân viên chức hưởng lương và
có việc làm ổn định đây là nhóm khách hàng có số lượng lớn
+ Cho vay hỗ trợ nhu cầu về nhà ở - loại hình sản phẩm này được thiết kế
để cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu mua nhà, hợp thức hoa nha đât, xay dựng
và sửa chữa nhà của khách hàng nhưng chưa thê thực hiện được do chưa đay
đủ về tài chính
+ Cho vay hỗ trợ du học - sản phẩm được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu
về tài chính cho người thân của gia đình có đủ tài chính để du học
+ Bên cạnh đó còn có sản phẩm được thiết kế nhằm hỗ trợ cho vay để sản xuất kinh doanh, nhóm sản phẩm này nhằm hướng tới đối tượng khách hàng vay là những cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô hoạt động nhỏ
b Đặc điểm của sản phẩm tín dụng bán lẻ.
Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển, doanh số tín dụng bán lẻ ngày càng cao và chiếm tỷ trọng quan trọng trong danh mục đâu tư cua cac ngân hàng thương mại lớn trên thế giới Các sản phẩm tín dụng bán lẻ ngày càng đa dạng và phong phú Có thể thấy tín dụng bán lẻ có những đặc diêmquan trọng sau:
Trang 26+ Thứ nhất: Thị trường tiềm năng của sản phẩm này lớn và không ngừng
phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội Vì vậy là cơ hội cho các ngân hàng phát triển các sản phẩm tín dụng bán lẻ thực hiện chiên lược
mở rộng hoạt động ngân hàng bán lẻ của mình Với thị trường Việt Nam với dân số trên 80 triệu người tốc độ tăng trưởng kinh tế những năm gần đây đều đạt khoảng từ 8%- 9%/năm; mức thu nhập, tiềm lực tài chính, trình độ dân trí của dân cư ngày càng tăng là thị trường rất lớn cho các ngân hàng mở rộng phát triển các sản phẩm bán lẻ của mình
+ Thứ hai: Thông thường khách hàng thường quan tâm đến số tiền phải
trả nợ hơn là quan tâm đến lãi suất vay, điều này dẫn đến cơ hội cho ngân hàng cho vay với mức lãi suất cao hợp lý
+ Thứ ba: Giá trị các khoản giao dịch thường nhỏ lẻ, do đó đã phát sinh
tăng thêm chi phí hoạt động cho cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, chi phí quản
lý Đây là một hạn chế khi cho vay cá nhân Tuy nhiên, trong nghiệp vụ cho vay cá nhân, kỹ thuật cho vay thường đơn giản do đó không đòi hỏi phải đào tạo cán bộ nhiều, điều này khiến cho ngân hàng giảm bớt được chi phí đào tạo
+ Thứ tư: Cho vay cá nhân phụ thuộc nhiều vào nhân thân khách hàng,
điều kiện làm việc hoặc sức khoẻ của người vay, điều này ảnh hưởng tới việc trả nợ vay ngân hàng, vì việc bù đắp từ các nguồn khác hầu như là không có Bên cạnh đó cũng thường xuất hiện một số nhóm khách hàng có thái độ chây
ì, lừa đảo Do đó đòi hỏi trong cho vay phải có kinh nghiệm và hiểu biết xã hội để hạn chế cho vay thuộc đối tượng khách hàng này, hạn chế gây tổn thất cho ngân hàng
I.2.3.3 Hoạt động thanh toán và dịch vụ thẻ:
a Dịch vụ thanh toán.
Để đáp ứng nhu cầu về thanh toán cho khách hàng, ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán cho các khách hàng có tài khoản giao dịch tại ngân hàng
Trang 27bao gồm tài khoản tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm dưới nhiều hình thức Thông qua đó sẽ cho phép khách hàng được thanh toán, chi trả cho các nhu cầu của mình thông qua các sản phẩm dịch vụ ngân hàng như: séc, uỷ nhiệm chi, lệnh chuyển tiền,
Dựa trên tiến bộ của công nghệ thông tin, các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng đa dạng, có nhiều tiện ích và đảm bảo an toàn hơn Bên cạnh đó trình độ dân cư ngày càng cao, nhu cầu sử dụng các dịch vụ thanh toán có hàm lượng công nghệ cao ngày càng tăng Từ đó việc thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong thanh toán của nền kinh tế Thông qua việc cung ứng các dịch vụ trên, ngân hàng sẽ thu được các khoản phí có mức độ rủi ro thấp với tỷ trọng trong nguồn thu của hoạt động bán lẻ ngày càng tăng
b Dịch vụ thẻ:
Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển, trình độ công nghệ thông tin ngày càng phát triển và ứng dụng vào lĩnh vực ngân hàng ngày càng cao, xu hướng dùng các sản phẩm tiện ích ngày càng tăng lên rõ rệt, trong đó thẻ ngân hàng ngày càng trở nên thông dụng với công chúng nhờ nhiều tiện ích của chúng mang lại
Thẻ được xem là sản phẩm ngân hàng hiện đại dành cho khách hàng cá nhân bên cạnh những sản phẩm dịch vụ truyền thống Thẻ mới được các ngân hàng thương mại Việt Nam cung cấp cho khách hàng vào đầu những năm
1990 nhưng có tốc độ phát triển rất nhanh và đến nay hầu như tất cả các Ngân hàng thương mại đều có cung cấp loại sản phẩm dịch vụ này Không những thế các ngân hàng còn cạnh tranh và đưa ra nhiều loại thẻ với tính năng và tiện
ích khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng Hiện nay ở
Việt Nam, dịch vụ thẻ thanh toán có 2 loại: Loại 1, Credit card (thẻ tín dụng)
là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, chủ thẻ sẽ được Ngân hàng cung cấp một hạn mức tín dụng để chi tiêu trong một chu kỳ tín dụng Đặc
Trang 28tính của thẻ là “ chi tiêu trước trả tiền sau” Loại 2, Debit card (thẻ ghi nợ) có tên là thẻ ATM (automatic teller machine) Đây cũng là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, khách hàng chi trả trực tiếp bằng số tiền trong tài khoản tiền gửi của mình Loại thẻ này được giao dịch tại các máy rút tiền tự động ATM và các điểm chấp nhận thanh toán POS.
Đối với hệ thống ngân hàng, phát triển dịch vụ thẻ không chỉ đơn giản là một nguồn đem lại doanh thu mới mà còn thể hiện một định hướng phát triển hoạt động ngân hàng trong quá trình hiện đại hoá ngân hàng đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của nền kinh tế xã hội Hiện tại thị trường thẻ Việt Nam còn đang ở giai đoạn đầu, tiềm năng thị trường còn lớn, điều này mang lại cơ hội cho các ngân hàng đi đầu có chiến lược kinh doanh hợp lý
Đứng trên góc độ tài chính và quản trị ngân hàng, các ngân hàng triển khai dịch vụ thẻ sẽ có điều kiện để hạn chế phần nào rủi ro do các nhân tố bên ngoài Đối với dịch vụ bán buôn, khi một khách hàng lớn rủi ro như vậy sự ảnh hưởng tới ngân hàng là rất lớn Ngược lại, dịch vụ thẻ cũng như các sản phẩm khác của hoạt động bán lẻ rủi ro sẽ được san đều cho nhiều khách hàng nhỏ, cho phép ngân hàng có thể điều chỉnh các chính sách một cách linh hoạt khi có ảnh hưởng của môi trường kinh doanh, hạn chế tác động xấu đến hoạt động của ngân hàng
Bên cạnh đó dịch vụ thẻ phát triển cũng làm tăng vị thế của ngân hàng trên thị trường, việc triển khai thành công sản phẩm này thể hiện sự áp dụng được công nghệ tiên tiến vào hoạt động ngân hàng Việc đưa vào khai thác các sản phẩm thẻ với nhiều tính năng, chuẩn mực theo thông lệ quốc tế có khả năng cạnh tranh cao không chỉ với các đối thủ trong nước mà cả với các đối thủ cạnh tranh khác, Do đó sản phẩm thẻ đã và đang được các ngân hàng nhìn nhận như một lợi thế cạnh tranh quan trọng trong hoạt động ngân hàng bán lẻ
I.2.3.4 Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ khác:
Trang 29Bên cạnh các sản phẩm truyền thống, trên cơ sở của sự phát triển của công nghệ thông tin, các sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng ngày càng được hiện đại hoá Từ đó cho ra đời các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu cho khách hàng một cách nhanh chóng và tiện lợi, đồng thời góp phần hoàn thiện hơn các sản phẩm truyền thống Các sản phẩm
và dịch vụ ngân hàng hiện đại thuộc nhóm này bao gồm những loại hình chính như:
+ Dịch vụ tư vấn tài chính: các khách hàng cá nhân muốn đầu tư vào một
lĩnh vực nào đó trong khi họ không có đủ thông tin và khối lượng kiến thức cá nhân trong lĩnh vực đầu tư còn không đáp ứng được, ngân hàng có thể cung cấp các dịch vụ tư vấn dựa trên khối lượng thông tin và trình độ cán bộ được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ Ngân hàng có thể tư vấn cho khách hàng nhiều lĩnh vực khác nhau như: tư vấn thuế, tư vấn thành lập doanh nghiệp, tư vấn đầu tư bất động sản, tư vấn hoạt động kinh doanh chứng khoán,
+ Dịch vụ quản lý uỷ thác đầu tư: thường được ngân hàng cung cấp cho
các khách hàng muốn đầu tư vào thị trường chứng khoán Ngân hàng sẽ thay mặt khách hàng đứng tên trên các danh mục đầu tư và giải quyết các vấn đề phát sinh,
+ Dịch vụ ngân hàng tự động qua điện thoại' Với dịch vụ này khách hàng
có thể kiểm tra số dư tài khoản, kiểm tra các giao dịch gần nhất, tra cứu tỷ giá, lãi suất, xem sao kê, thanh toán hoá đơn tiền điện, tiền nước,
+ Dịch vụ ngân hàng qua Internet: với dịch vụ này khách hàng có thể tìm
hiểu thông tin về sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng, truy cập thông tin về tài khoản cá nhân, các giao dịch của tài khoản
+ Dịch vụ ngân hàng tại nhà (home hanking) Với dịch vụ này khách
hàng có thể thực hiện hầu hết các giao dịch ngân hàng ở ngay tại nhà hoặc văn phòng làm việc của mình mà không cần phải trực tiếp đến điểm giao dịch của ngân hàng
Trang 30Tuy nhiên, các sản phẩm dịch vụ này ở nước ta mới được áp dụng chưa phổ biến rộng rãi Và đây cũng là thị trường và là hướng để các ngân hàng thương mại Việt Nam nghiên cứu đưa ra các sản phẩm phù hợp để khai thác mảng thị trường này trong hoạt động ngân hàng bán lẻ.
1.3 Sự cần thiết và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động Ngân hàng bán lẻ:
1.3.1 Sự cần thiết:
Về kinh tế xã hội: dịch vụ ngân hàng bán lẻ đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền, giúp cải thiện đời sống dân cư, góp phần giảm chi phí xã hội qua việc tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng
Nền kinh tế hàng hoá phát triển, thu nhập quốc dân tăng, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao Khoản thu nhập dành cho tiều dùng cũng tăng lên Vì thế đòi hỏi hệ thống thanh toán tinh giảm, gọn nhẹ, thuận tiện và
an toàn đáp ứng nhu cầu mua sắm, chi tiêu đa dạng của khách hàng Khi nhu cầu của xã hội về sản phẩm dịch vụ của khách hàng cá nhân, người dân ngày càng cao, thị trường tiềm năng lớn Đồng thời, chính sách của Nhà nước cũng tác động tích cực đến hoạt động của các NHTM Cụ thể là chính sách về lộ trình cho phép các ngân hàng nước ngoài kinh doanh độc lập ở Việt Nam nhằm giảm thiểu tính cạnh tranh tức thời Ngoài ra, theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, từ 1/1/2008 tiến hành trả lương qua hệ thống tài khoản với một số đối tượng hưởng lương từ NSNN và đến 1/1/2009 sẽ tiến tới trả lương qua tài khoản cho tất cả các đối tượng Đây là tiền đề để các ngân hàng mở rộng mạng lưới thanh toán qua thẻ cũng như tăng quy mô và thị phần trên thị trường
Kinh tế hội nhập sâu rộng, giúp ngân hàng ứng dụng được những công nghệ tiên tiến của thế giới, giúp ngân hàng mở rộng thị phần của mình ra thị trường thế giới thông qua hợp tác liên kết, mở chi nhánh văn phòng đại diện
H Ọ C V I Ệ N N G Â N H À N G
TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN
T H Ư V I Ệ N
Trang 31Sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài trong hệ thống ngân hàng; Các ngân hàng nước ngoài ra nhập vào thị trường Việt Nam vừa tạo thuận lợi cũng vừa là thách thức mà các NHTM trong nước cần lưu ý Hoạt động của các ngân hàng nước ngoài dựa trên trình độ công nghệ tiên tiến, đồng thời mang tính chuyên nghiệp cao với định hướng chiến lược hoạt động toàn cầu, vì vậy tạo môi trường tốt cho nhân sự Việt Nam học hỏi kinh nghiêm trong quá trình làm việc Ngoài ra, các NHTM trong nước cũng nhận thấy vị thế của mình và không ngừng cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường.
Trình độ học vấn của dân cư sẽ được nâng cao hơn vì dịch vụ NHBL ứng dụng công nghệ cao Vì thế, đòi hỏi người sử dụng có ý thức học hỏi những kiến thức mới như trình độ sử dụng mạng internet, tham khảo thông tin từ
đó góp phần ngày càng nâng cao trình độ dân trí
Khoa học công nghệ phát triển : Công nghệ là yếu tố quan trọng, tiền đề
vì công nghệ thông tin giúp phát triển hệ thống giao dịch trực tuyến và từng bước triển khai mô hình giao dịch một cửa, hiện đại hóa tất cả các nghiệp vụ ngân hàng Như vậy công nghệ thông tin giúp dịch vụ ngân hàng được thực hiện nhanh gọn nhẹ, với quy mô lớn, mức độ phủ sóng rộng, do đó, đảm bảo tính tiện ích của dịch vụ NHBL Hiện nay ngoài các dịch vụ truyền thống như tín dụng tiêu dùng, tín dụng cho thuê,., thì người dân đã biết đến các dịch vụ như thẻ ATM, mobil banking, internet banking Đây là sản phẩm của việc áp dụng công nghệ hiện đại vào hệ thống ngân hàng Việt Nam đã tiếp nhận nhiều dự án của các tổ chức thế giới trên thế giới hỗ trợ để hiện đại hoá hệ thống Ngân hàng (như dự án Hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán ngân hàng do WB tài trợ với tổng số vốn đầu tư là 53,9 triệu USD, trong đó vay WB là 49 triệu USD)
Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin như công nghệ tính toán: cuối những năm 1960 chiếc máy tính đầu tiên vào Việt Nam và đến đầu những năm 1980
Trang 32chiế máy vi tính đầu tiên vào Việt Nam, từ đó việc ứng dụng, phát triển khoa học công nghệ cao này ngày càng phát triển và đến năm 1997 Việt Nam đã tham gia mạng toàn cầu Internet.
Trong hoạt động, đặc biệt là hoạt động ngân hàng tính bảo mật được nâng cao hơn khi ứng dụng công nghệ hiện đại trong việc quản lý, lưu trữ, xử
lý thông tin, tránh rủi ro dữ liệu bị đọc trộm, bị sửa, giả mạo, truy cập bất hợp pháp
1.3.1.2 Đối với hệ thống ngân hàng:
Hệ thống ngân hàng phát triển, liên minh liên kết, hợp tác, mua bán sáp nhập dẫn đến hệ thống kênh phân phối phát triển như phát triển về mạng lưới chi nhánh, về dịch vụ ngân hàng tự động (máy rút tiền tự động, máy thanh toán ) vì dịch vụ NHBL hướng tới đối tượng cá nhân là thành phần rải rác nhiều nơi không tập trung nên phải có mạng lưới phân phối rộng rãi đê huy động tien gửi và cung cấp dịch vụ tín dụng Tuy nhiên, các ngân hàng vâp phai bai toan chi phí, do đó phải liên minh, liên kết để tận dụng hệ thống mạng lưới vốn có của đối tác, nó mang lại tiện ích cao cho sản phẩm của minh Hiện nay, mạng lưới các ngân hàng trong nước rất rộng, các chính sách bảo hộ của Nhà nước vẫn đươc áp dung, v ề tương quan thi phần, với 5 NHTM nha nươc, 1 ngan hang chính sách và 37 NHTM cổ phần, các NHTM trong nước hiện đang thống trị không chỉ thị trường tiền gửi mà cả thị trường cho vay với khoảng gần 90% thị phần (trong đó, các NHTM nhà nước chiếm hơn 70%) Lý do là nhóm ngân hàng này không phải chịu những hạn chế về quy mô hoạt động hay số lượng các chi nhánh trong một khu vực, trong khi ngân hàng nước ngoài gặp phải một
số hạn chế khi nhận tiền gửi tại thị trường trong nước Thực tế là cho đến nay, tính riêng số lượng các chi nhánh cấp 1 của các NHTM nhà nước đã lên tới 500 chi nhánh Còn đối với các NHTM cổ phần cũng đã có mặt ở hầu hết các trung tâm lớn trong cả nước, bình quân mỗi ngân hàng có khoảng từ 20-30 chi nhánh Ngoài ra, một lượng lớn các khách hàng truyền thống là các doanh nghiệp nhà
Trang 33nước, vốn đã có quan hệ từ lâu, đã tạo thêm sức mạnh cho nhóm này Trong khi
đó, nhóm các ngân hàng nước ngoài chỉ chiếm một thị phần khiêm tốn (chưa đến 10%) trên cả thị trường huy động vốn và cho vay Tuy nhiên, theo đánh giá của bản thân các ngân hàng nước ngoài, nếu loại trừ các khoản vay ưu đãi từ các NHTM nhà nước cho các dự án Chính phủ, thị phần của họ trong thị trường thuần nhất có thể sẽ tăng lên tới 15%-17%
Về tài chính và quản trị ngân hàng: dịch vụ bán lẻ mang lại cho ngân hàng nguồn thu ổn định, hạn chế rủi ro, mở rộng thị trường, tạo vốn trung dài hạn chủ đạo cho ngân hàng
Về phía khách hàng: dịch vụ ngân hàng bán lẻ đem đến sự thuận tiện khi tiến hành thanh toán Hệ thống pháp lý chặt chẽ và phù hợp thông lệ quốc tế
để đảm bảo lợi ích cho người dân, doanh nghiệp và cả cho ngân hàng Đặc biệt là khi NHBL lại gắn liền với CNTT, với ngân hàng điện tử, sẽ giúp cho người dân tiếp cận với các dịch vụ Ngân hàng thuận lợi hơn, dễ dàng hơn Để đảm bảo tính an toàn cho người dân và ngân hàng thì cần thiết phải có khung pháp lý đồng bộ về giao dịch điện tử như Luật giao dịch điện tử 29/11/2005, Nghị định 27/2007 về giao dịch điện tử
Các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy của chính phủ như đề án Thanh toán không dùng tiền mặt 2006-2010, chỉ thị 20/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc trả lương qua thẻ từng bước tạo thói quen sử dụng tiền điện
tử Do tập quán, thói quen luôn khó thay đổi vì vậy cần phải có những công cụ bắt buộc để hình thành thói quen mới tốt hơn
1.3.2 Những nhân tô ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng bán lẻ I.3.2.I Những nhân tố khách quan.
a Sự phát triển của nền kinh tế.
Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế như: chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ về phát triển kinh tế có tác động tới tất cả các chủ thể trong nền kinh tế, do đó hệ thống ngân hàng thương mại không nằm ngoài bối cảnh này
Trang 34Trong nền kinh tế các ngân hàng thương mại là một chủ thể kinh tế có đặc thù riêng, hiệu quả hoạt động của ngân hàng phản ánh hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, của nền kinh tế Do vậy, thách thức lớn của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, trong việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư, cũng chính là thách thức của các ngân hàng thương mại trong đó bao hàm cả hoạt động bán lẻ.
Khi nền kinh tế trong giai đoạn tăng trưởng, người dân và các doanh nghiệp có nhiều cơ hội gia tăng thu nhập, do đó nhu cầu tiêu dùng cũng cao hơn và có xu hướng sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhiều hơn Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp gia tăng, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không hiệu quả làm nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng cũng thấp đi, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của các ngân hàng
b Môi trường pháp lý:
Vấn đề môi trường pháp lý cho hoạt động kinh tế đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng là rất quan trọng Trong xu thế hội nhập, hoạt động của ngân hàng càng phải đổi mới nhằm đưa ra các sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường Tuy nhiên việc triển khai các sản phẩm dịch vụ mới còn gặp nhiều khăn về cơ sở pháp lý đặc biệt là đối với các sản phẩm trong hoạt động ngân hàng bán lẻ có sử dụng hàm lượng công nghệ cao, có tính cạnh tranh trong quá trình hội nhập Do đó để giảm thiểu những bất lợi cũng như tận dụng được các cơ hội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vấn đề hoàn thiện môi trường pháp lý được coi là vấn đề cần phải thực hiên ngay
c Cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng:
Thị trường tài chính ngân hàng đang phát triển mạnh mẽ với sự tham gia nhiều hơn của các loại hình kinh doanh Bên cạnh Ngân hàng thương mại thì một loạt các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác cũng tham gia như các tổ chức bảo hiểm, công ty tài chính, tiết kiệm bưu điện, Đặc biệt là sự tham gia của các Ngân hàng, tổ chức tài chính nước ngoài vào hoạt động ngân hàng đã
Trang 35làm cho mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng gay gắt Sức
ép cạnh tranh khiến cho các ngân hàng thương mại phải huy động tối đa tiềm lực tài chính, nhân lực, công nghệ, phát triển thêm nhiều dịch vụ sản phẩm với chất lượng tốt hơn và giá cả có xu hướng giảm đi Do đó, đòi hỏi các ngân hàng có chất lượng hoạt động tốt, có uy tín, sản phẩm dịch vụ tiện ích nhất để thu hút được nhiều khách hàng
I.3.2.2 Những nhân tố chủ quan.
a Năng lực tài chính của ngân hàng.
Với hoạt động ngân hàng bán lẻ, năng lực tài chính của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ truyền thống,
mở rộng phát triển các sản phẩm dịch vụ mới nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường Ngân hàng cần có sức mạnh tài chính để đảm bảo khả năng mở rộng quy mô, đầu tư vào các sản phẩm mới có hàm lượng công nghệ cao như mạng lưới ATM, dịch vụ trực tuyến, Tiềm lực tài chính cũng quyết định lòng tin của khách hàng vào ngân hàng, khách hàng có xu hướng tin vào những ngân hàng có uy tín, có tiềm lực tài chính vì theo đó ngân hàng sẽ cung ứng các sản phẩm dịch vụ tốt hơn Đối với những khách hàng gửi tiền, cho ngân hàng vay vốn họ tin rằng ngân hàng hoàn toàn có khả năng thanh toán cho họ Đôi V Ớ I những khách hàng vay vốn, họ tin rằng ngân hàng đó sẽ đáp ứng được đầy đủ nhu cầu vốn cho họ với thời gian nhanh chóng và thuận tiện nhất
Trong hoạt động để tạo thêm được những khách hàng truyền thống, trung thành và thu hút thêm những khách hàng tiềm năng, các ngân hàng ngày càng quan tâm đến việc củng cố thương hiệu và nâng cao năng lực tài chính Tạo được thương hiệu sẽ giúp khách hàng nhận diện được ngân hàng rõ nét và nhanh chóng, khi có nhu cầu khách hàng sẽ có xu hướng tìm đến với những thương hiệu quen thuộc và có khoảng cách giao dịch thuận tiện Vì vậy xây dựng thương hiệu và gia tăng sức mạnh tài chính là vấn đề mà bất cứ ngân hàng nào cũng muốn đạt được
Trang 36b Tổ chức bộ máy và mạng lưới giao dịch của ngân hàng.
Hiện tại trong hoạt động, hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam có
mô hình tổ chức theo kiểu truyền thống Việc xắp xếp các phòng ban đều trên tiêu thức theo loại hình nghiệp vụ do đó khi khách hàng có nhu cầu sử dụng nhiều loại hình sản phẩm dịch vụ thì sẽ phải đến nhiêu phòng ban đê đap ưng được yêu cầu của mình Trên thực tế nhu cầu của khách hàng đa dạng và luôn thay đổi Do đó đòi hỏi các ngân hàng có một cách bố trí phòng ban hợp lý theo đối tượng khách hàng đảm bảo thông qua “một cửa có thê đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về các loại sản phâm khac nhau
Ngoài ra năng lưc quản lý điều hành cua cac Ngân hang thương mại con nhiều hạn chế so với yêu cầu quản lý điều hành một ngân hàng hiện đại Mặc
dù đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới nhưng các công cụ và cách thức quản lý điều hành còn chưa theo kip so với nhu câu Kê hoạch hoạt đọng kinh doanh hiện tập trung vào tăng trưởng về số lượng chứ không phải về chất lượng theo tiêu chuẩn thông dụng quốc tế, điều này ảnh hưởng tới các khách hàng cá nhân khi tiếp xúc với các sản phẩm ngân hàng bán lẻ, họ luôn đòi hỏi phải được phục vụ với chất lượng tốt nhất
c Chất lượng nguồn nhân lực.
Trong hoạt động ngân hàng bán lẻ, cán bộ ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng xuất phát chính từ hoạt động giao tiêp giữa ca thê đại diẹn cho ngân hàng với cá nhân khách hàng - người trực tiếp sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng Đòi hỏi người cán bô ngân hàng phai co trinh đọ, am hieu ve các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, tư vấn cho khách hàng sư dụng nhưng sản phẩm dịch vụ hợp lý nhất với nhu cầu của khách hàng Song song với đó
là đạo đức nghề nghiệp, thái độ phục vụ khách hàng cũng là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc tiếp xúc với khách hàng là cá nhân Vì vậy, đào tạo được iôi ngũ cán bô tinh thông nghiêp vu với thái độ C Ơ I mơ, hch sự ton trọng
Trang 37khách hàng là nhân tố góp phần giúp khách hàng đánh giá, nhìn nhận về ngân hàng, sản phẩm dịch vụ ngân hàng tốt hơn.
d Trình độ khoa học công nghệ.
Công nghệ và ứng dụng công nghệ trong hoạt động ngân hàng đã giúp các ngân hàng triển khai phát triển các sản phẩm bán lẻ mới như các dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ thanh toán điện tử, dịch vụ thẻ Như vậy sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ luôn gắn với hàm lượng công nghệ cao sẽ ngày càng phát triển khi khu vực dân cư có xu hướng sử dụng những sản phẩm dịch vụ này qua các kênh phân phối điện tử mà không cần phải đến ngân hàng, sử dụng các sản phẩm này giúp khách hàng tiết kiệm được thời gian, chi phí đi lại giao dịch cũng như đáp ứng nhu cầu một cách nhanh nhất
Song việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động ngân hàng đòi hỏi không chỉ một hệ thống ngân hàng đơn lẻ mà phải có sự ứng dụng tương ứng của toàn bộ hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế Bên cạnh đó đòi hỏi nền kinh tế phải có hạ tầng công nghệ phù hợp, cũng như của bộ phận dân cư, là khách hàng trong việc sử dụng những sản phẩm dịch vụ này Vì vậy, vấn đề hiện đại hoá công nghệ ngân hàng đòi hỏi phải phát triển nhằm khai thác tới tất cả các
bộ phận khách hàng có nhu cầu
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Qua nghiên cứu các vấn đề mang tính lý thuyết, luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động NHBL, cũng như vai trò của hoạt động này đối với nền kinh tế, đối với ngân hàng và khách hàng Luận văn cũng chỉ rõ các nhân tố tác động đến sự phát triển của hoạt động này Theo đó
là cơ sở để đánh giá thực trạng hoạt động NHBL tại NH ĐT&PT Hà Tây từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị thực hiện
Trang 38Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU t ư v à p h á t t r i ể n h à t â y
2.1 Khái quát về Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Hà Tây.
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ, hiện nay Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt giữ vai trò chủ đao về lĩnh vực đầu tư phát triển, được tổ chức theo mô hình Tổng công ty Nhà nước theo Quyết định 90/TTg ngày 27/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây - tiền thân là Phòng Đầu tư và Phát triển Hà Sơn Bình, là một đơn vị thành viên trực thuộc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập ngày 01/06/1990 Sự phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây cũng gắn liền với
sự phát triển của Hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Tuy nhiên, do sự tác động của điều kiện tự nhiên cũng như một số nhân tố khách quan nên trong quá trình hoạt động và phát triển Chi nhánh Ngân hàng Đâu tư
và Phát triển Hà Tây vẫn có những đặc điểm của riêng mình trong mô hình tổ chức và hoạt động để phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của ngành Ngân hàng tỉnh Hà Tây cũng như của địa phương
Trải qua nhiều năm hoạt động, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát tnên
Hà Tây đã khẳng định được vị thế và vai trò quan trọng của mình đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh Phạm vi hoạt động của Chi nhánh ngày càng được
mở rông để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây luôn thực hiện phương châm lấy an toàn trong kinh doanh, đáp ứng nhu cầu cao nhất của khách hàng về những sản phẩm dịch vụ của
Trang 39Ngân hàng với chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt nhất, chi phí thấp nhất, hoạt động theo đúng chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và theo đúng chỉ đạo của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nhằm đảm bảo cho sự phát triển vững chắc của Chi nhánh.
Với những cố gắng và nỗ lực vươn lên không ngừng trong những năm qua, sự đóng góp của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây đã được Nhà nước ghi nhận và trao tặng Huân chương lao động hạng Nhì cùng nhiều bằng khen của Ngành ngân hàng và của UBND tỉnh Hà Tây, đóng góp không nhỏ vào danh hiệu “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới” của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Nhiệm vụ của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây là:
- Huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ các thành phần kinh tế, các Tổ chức tín dụng, Tổ chức phi chính phủ, dân cư, doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài bằng VNĐ và ngoại tệ để tiến hành cho vay ngắn, trung và dài hạn đối với mọi tổ chức, mọi thành phần kinh tế và dân cư
- Thực hiện các dịch vụ Ngân hàng và phi Ngân hàng
- Làm đại lý, ngân hàng phục vụ cho đầu tư phát triển từ các nguồn của Chính phủ, các tổ chức kinh tế tài chính, tiền tệ, các tổ chức xã hội trong và ngoài nước
2.1.2 Cơ cấu tổ chức - nhân sự
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây có một bộ máy tinh giảm, gọn nhẹ, nhìn chung có đủ các phòng ban cần thiết đảm bảo cho việc thực hiện những nhiệm vụ và chức năng của mình Sau khi triển khai thành công dự án Hiện đại hoá ngân hàng do WB tài trợ vào ngày 12/07/2004 đã dẫn đến thay đổi một số hoạt động không chỉ trong lĩnh vực kinh doanh và trong
cả bộ máy tổ chức Đây là sự thay đổi tích cực đối với Chi nhánh dần hình thành một mô hình Chi nhánh Ngân hàng cấp 1 hiện đại, phù hợp với hoạt động trong tình hình mới