1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp mở rộng và hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại nhnoptnt láng hạ

121 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Mở Rộng Và Hoàn Thiện Hoạt Động Thanh Toán Quốc Tế Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Láng Hạ
Tác giả Tống Thị Thu Thủy
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Trọng Tài
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kinh tế tài chính - Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 42,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUl.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Kinh tế Việt Nam đang tiếp tục thực hiện chiến lược hội nhập sâu rộng với các nền kinh tế khu vực và quốc tế, cùng với các hoạt động khác

Trang 2

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Trọng Tài

H À N Ộ I 2 0 0 7

Trang 3

STT NỘI DUNG TRANG

Lời cam đoan

Danh muc từ viết tắt

Danh mục các bảng biểu, sơ đồ, phụ lục

1.1.1 Những vấn đề chung về hội nhập kinh tế quốc tế 4

1 1 2 Hội nhập kinh tế trong lĩnh vực tài chính - NH 6

1 2

HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN Q ư ốc TẾ

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

9

1 2 2 Vai trò và sự cần thiết khách quan phải mở rộng và

hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM 1 1

1 2 3 Các phương tiện sử dụng trong thanh toán quốc tế. 1 4

1 2 4 C á c p h ư ơ n g t h ứ c t h a n h t o á n q u ố c t ế c h ủ y ế u 1 7 1.3

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐEN HOẠT ĐỘNG THANH

TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2 7

1 4 MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHU YÊU ĐÁNH GIÁ MỨC HOÀN

Trang 4

1.4.3 34

1.5

MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ MỞ RỘNG VÀ HOÀN THIỆN

CHƯONG 2: THựC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN

QUỐC TẾ TẠI CHI NHÁNH NHNO&PTNT LÁNG HẠ 40

Trang 5

ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN

QUỐC TẾ TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT THÔN LÁNG HẠ 62

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ HOÀN

THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN Qưốc TÊ

TẠI CHI NHÁNH NHNO&PTNT LÁNG HẠ

76

3.1

NHŨNG ĐỊNH HƯỚNG TRONG HOẠT ĐỘNG

TTQT CỦA CHI NHÁNH NHNo&PTNT LÁNG HẠ 76

3.1.1 Những định hướng phát triển kinh tế đối ngoai của

GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG

TTQT TẠI CHI NHÁNH NHNO&PTNT LÁNG HẠ 81

Trang 6

mà Chi nhánh cung ứng

3.3.3 Cần đề ra một chiến lược đa dạng hoá dịch vụ 86

3.3.4

Hoàn thiện mô hình quản lý điều hành, qui trình

3.3.5

Tổ chức tốt hoạt động kinh doanh ngoại tệ, chủ

động tạo nguồn ngoại tệ đáp ứng cho nhu cầu

Thường xuyên chú ý xây dựng phong cách văn hoá

3.4.1 Đối với Chính phủ và các Bộ, Ban, ngành liên quan 100

Trang 7

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 104

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 8

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả được đề cập trong Luận văn này là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.

Tác giả

Tống Thu Thuỷ

Trang 9

TMQT: Thương mại quốc tế

TTQT: Thanh toán quốc tế

Trang 10

Sơ đồ 1.1 Qui trình nghiệp vụ chuyển tiền 18

Sơ đồ 1.3 Qui trình thanh toán theo phương thức TD từ 23 Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn tại Chi nhánh Láng

Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu chủ yếu về hoạt động KD

ngoaị tệ và TTQT cuar Chi nhánh Láng Hạ

Bảng 2.6 Doanh số thanh toán theo phương thức chuyển

tiền tại Chi nhánh Láng Hạ

53

Bảng 2.7 Doanh số thanh toán theo phương thức nhờ thu

tại Chi nhánh Láng Hạ

55

Trang 11

Bảng 2.9 Doanh số thanh toán theo phương thức L/C tại

Chi nhánh Láng Hạ

57

Bảng 2.10 Doanh số thanh toán biên giới tiểu ngạch Việt

Trung tại Chi nhánh Láng Hạ

NK tại Chi nhánh

67

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu định hướng về hoạt động

TTQT tại Chi nhánh Láng Hạ giai đoạn đến năm 2010

79

Phụ lục 1 Mô hình tổ chức của Chi nhánh NHNo&PTNT

Láng Hạ

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

l.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Kinh tế Việt Nam đang tiếp tục thực hiện chiến lược hội nhập sâu rộng với các nền kinh tế khu vực và quốc tế, cùng với các hoạt động khác, hoạt động kinh tế đối nơoại ngày càng khẳng định vị thế vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước Ngân hàng thương mại (NHTM) với hoạt động thanh toán quôc tê (TTQT) của mình là một mắt xích không thể thiếu được trong toàn bộ dây chuyền phát triển kinh tế đất nước theo hướng mở cửa hội nhập và để phát huy tốt vai trò

và vị trí của mình trong việc thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại ngày càng rộng

mở thì hệ thống NHTM V iệt nam những năm qua đã liên tục thực hiện mở rộng và hoàn thiện hoạt động TTQT Chính những nỗ lực của hệ thống NHTM Việt Nam trong những năm qua đã giúp cho hoạt động TTQT không ngừng được mở rộng và

t ì r n ơ bước hoàn thiện, đáp ứng về cơ bản yêu cầu của quá trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế đất nước.

Tuy nhiên, hoạt động TTQT phải đối mặt với các hệ thống pháp lý và thông lệ quốc tế rất phức tạp, nếu không có sự am hiểu sâu sắc thì rủi ro sẽ phát sinh va những thiệt hại về kinh tế, chính trị, xã hội là rất khó lường Quá khứ đã chỉ ra rất nhiều bài học (kể cả quốc tế lẫn trong nước) mà các NHTM Việt Nam hiện nay không thể không chú ý.

Đối với hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNo&PTNT) nói chung, cũng như nói riêng với Chi nhánh Láng Hạ, thì hoạt động TTQT được triển khai khoảng 10 năm trở lại đây, cho nên rất khó tránh khỏi những tồn tại, bất cập, khó khăn trong mở rộng thị phần hoạt động Trong bối cảnh

mở cửa hội nhập kinh tế, cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải không ngừng mở rộng và hoàn thiện hoạt động kinh doanh,

Trang 13

trong đó hoạt động TTQT đã và đang tiếp tục được các NHTM chú ý mở rộng và hoàn thiện để vừa đáp ứng tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong nền kinh tế, vừa tăng thu nhập cho ngân hàng, cạnh tranh có hiệu quả với các ngân hàng nước nooài điều đó đã và đang tiếp tục đặt ra những thách thức to lớn đối với hệ thống NHNo&PTNT phải không ngừng nỗ lực vươn lên.

Xuất phát từ thực tiễn trên, trải qua quá trình học tập nghiên cứu tại Học viện Ngân hàng, đồng thời cũng là người đang trực tiếp làm công tác TTQT tại

NHNo&PTNT Chi nhánh Láng Hạ, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp

mở rộng và hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc t ế tại Chi nhánh Ngân hàng

tế của mình

2 M ụ c đ íc h n g h i ê n c ứ u

-Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động TTQT, trong

đó sẽ đi sâu nghiên cứu những vấn đề liên quan đến mở rộng và hoàn thiện hoạt động TTQT của NHTM

-Phân tích thực trạng hoạt động TTQT tại Chi nhánh NHNo&PTNT Lang Hạ

-Đề xuất các giải pháp góp phần mở rộng và hoàn thiện hoạt động TTQT tại Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ

3 Đ ố i t ư ợ n g , p h ạ m v i n g h iê n c ứ u

Đ ối tượng nghiên cứu của Luận văn: Những vấn đề lý luận và thực tiên

liên quan đến việc mở rộng và hoàn thiện hoạt động TTQT của NHTM

Trang 14

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn: chủ yếu tập trung nghiên cứu việc

mở rộng và hoàn thiện hoạt động TTQT tại Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ

4 P h ư ơ n g p h á p n g h i ê n c ứ u

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận Mác - Lê nin (Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử) cùng các phương pháp so sánh, tổng hợp, phân tích, logic

Trang 15

Ngày nay, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một thực tế, nó

cuốn hút tất cả các nước, từ giàu đến nghèo, từ lớn đến nhỏ hội nhập vào nên kinh

tế thế giới Hội nhập được xem là một yếu tố để phát triển, điều đó có nghĩa là

những nước hội nhập tốt, sâu rộng thì có nhiều cơ hội thuận lợi cho phát triển kinh

tế - xã hội; ngược lại, bất cứ nước nào mà không tiến hành hội nhập thì hầu như

không có cơ hội để phát triển kinh tế đất nước Vậy thực chất của Hội nhập kinh tê

quốc tế là gì?

Có thể hiểu, Hội nhập kinh tế quốc tế là trình độ cao của hợp tác kinh tế quốc

tế, là quá trình một nước tham gia vào một tổ chức chung, một trào lưu chung của

quốc tế, biến mỗi quốc gia trở thành một bộ phận trong một tổng thể Hội nhập là

một xu thế có tính toàn cầu, nó tác động đến tất cả các nước, ngay cả những nước

chưa tham gia vào hội nhập cũng bị tác động, chính điều này khiên cho mọi nước

đều phải thực hiện hội nhập, mở cửa kinh tế và thực tiễn cho thấy tác động của Hội

nhập kinh tế là rất lớn, nó không chỉ tác động về mặt kinh tê mà tất cả các mặt khác

như chính trị, văn hoá, xã h ộ i đều bị tác động Bất cứ nước nào khi thực hiện hội

Trang 16

nhập thì đều phải điều chỉnh chính sách, luật lệ cho phù hợp và làm cho quá trinh hội nhập thành công và hiệu quả

Thực tiễn đã chỉ ra rằng, những nước nào thực hiện quá trình mở cửa hội nhập càng sâu rộng thì thành quả thu được về kinh tế càng cao và ngược lại; tuy nhiên, môt nước không phải cứ mở cửa và hôi nhâp la thu hai ngay được nhưng thanh qua, việc thu được kết quả như thế nào phụ thuộc rất lớn vào nghệ thuật và lộ trình hội nhập của mỗi nước trên cơ sở chuẩn bị những tiền đề và điều kiện nội tại trong nền kinh tế một cách chín muồi Các lý thuyết thương mại quốc tế cổ điển cho đến hiện đại đều khẳng định rằng việc các nước tham gia vào thương mại quốc tế đều rất có lợi nhưng nếu một nước tham gia vào sân chơi toàn cầu chỉ để mua sắm hàng hoá dịch vụ bên ngoài rẻ hơn, mà không tìm biện pháp bán hàng hoá dịch vụ cho ben ngoài thì lợi ích thu được sẽ không tương xứng với cái giá phải trả, cán cân thanh toán quốc tê sẽ luôn thâm hut, bất ôn sẽ luôn nảy sinh Điêu nay cho thay, họi nhạp

là một yếu tô của phát triển, nhưng nó chỉ là yếu tô tiêm năng, đê biên no trơ thanh hiện thực trong chiến lược phát triển kinh tê thì các quốc gia luôn phai co nghẹ thuật trong sự kết hợp sức mạnh nội lực với ngoại lực đê tạo cu huych thuc đay tăng tốc kinh tế

Với các nước đang phát triển thì hội nhập kinh tế quốc tế là một cơ hội tốt để các nước này kiếm tìm các cơ hội bứt phá nền kinh tê vốn dĩ rất trì trệ cua họ; tuy nhiên bởi là những nước nghèo, nên nền kinh tế bên trong của các nước này luôn chứa đựng những bất cập, làm hạn chê khả năng thu hút và sư dụng co hiẹu qua nguồn lực từ bên ngoài cho mục tiêu phát triển, việc thực hiện chiên lược hội nhập nhiều khi phải trả giá đắt; do vậy, để hội nhập có hiệu quả thì trước hêt các nước này phải tìm biện pháp xử lý những bất cập bên trong, quá trinh này thường không thể rút ngắn, thậm chí phải kéo dài nếu không có lộ trinh và bước đi phù hợp Tuy nhiên, nếu việc xử lý những bất cập bên trong nhanh chóng và hiệu quả thì quá

Trang 17

trình hội nhập sẽ đem đến cho các nước này rất nhiều cơ hội để tăng tốc kinh tế, thực hiện chiến lược nghiệp công nghiệp hoá rút ngắn, từng bước thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển.

1.1.2.H Ộ Ì n h ậ p k in h t ế tr o n g lĩn h v ự c tà i c h ín h - n g â n h à n g

Hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó lĩnh vực tài chính - ngân hàng vừa là tiền đề, vừa là kết quả của các lĩnh vực khác Bản chất của hội nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng là quá trình các quốc gia từng bước mở cửa cho nhau để tham gia vào các hoạt động tài chính ngân hàng ở mỗi nước Do khu vực tài chính ngân hàng là yết hầu trong cơ thể kinh tế của mỗi nước, cho nên ngày nay, việc mở cửa trong khu vực này luôn là một vấn đề hệ trọng và hết sức nhạy cảm Các hoạt động dịch vụ tài chính ngân hàng có liên quan hữu cơ đến các lĩnh vực kinh tế khác, đồng thời chúng cũng là những lĩnh vực thu nhiều lợi nhuận nên các nước luôn phải rất thận trọng trong lộ trình mở cửa lĩnh vực kinh tếnày

Khác với nhiều lĩnh vực kinh tế khác, hội nhập về tài chính - ngân hàng có các đặc trưng

T h ứ n h ấ t Đây là quá trình dịch chuyển luồng vốn giữa các thị trường tài chính Sự dịch chuyển luồng vốn giữa các thị trường tài chính ngày càng mạnh mẽ, vượt xa nhiều lần so với qui mô giao lưu thương mại giữa các quốc gia Hiện nay, chu chuyển vốn quốc tế trên các thị trường tài chính mỗi ngày khoảng 1.800 tỷ USD trong khi đó trao đổi thương mại và dịch vụ hàng năm chỉ khoảng xấp xỉ6.000 tỷ USD

T h ứ h a i, Hội nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng vừa là hệ quả, vừa là động lực của sự tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới Tiến bộ khoa học công nơhệ là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự hội nhập nhanh chóng và hiệu quả trong

Trang 18

lĩnh vực tài chính - ngân hàng Ngày nay, các giao dịch được thực hiện rất nhanh chóng và an toàn: Hàng tỷ USD được giao dịch giữa các thị trường cách xa nhau đến nửa vòng trái đất chỉ trong thời gian khoảng 30 giây, với mức độ an toàn cao Những giao dịch mua bán cách nhau hàng ngàn dặm mà người ta vẫn có cảm giác

đang ở rất gần nhau, trong một mái nhà chung R õ ràng khoa học công nghệ đã

rút ngắn khoảng cách giữa con người với nhau, biên giới quốc gia trơ nên hêt sưc mong manh trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ Chính điều đó

đã và đang làm cho các thị trường tài chính xích lại rất gân nhau trên mọi phương diện

Trái lại, sự hội nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng lại tạo động lực thúc đẩy khoa học công nghệ ngày càng phát triển Các cơ hội kinh doanh trên thị trường hối đoái diễn ra rất nhanh, vì vậy nắm bắt kịp thời các cơ hội luôn là vấn đề sống còn trong kinh doanh hối đoái; nhu cầu khách hàng trong kinh doanh quôc tê luôn đòi hỏi nhanh chóng, chính xác và an toàn, những điều này chỉ có thể đáp ứng được trong điều kiện kỹ thuật công nghệ phát triên Kỹ thuật công nghệ phat triển chính là tiền đề để các ngân hàng phát triển các dịch vụ truyền thống và mở ra các dịch vụ mới, tăng tính tiện ích cho khách hàng trong nền kinh tê mở cửa

T h ứ b a , Hội nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng làm thay đổi tập quán kinh doanh tiền tệ Do hoạt động tài chính ngân hàng có liên quan đến tất cả các

hoạt động kinh tế khác, cho nên hội nhập trong lĩnh vực này sẽ tạo nền tảng cho

các lĩnh vưc khác trong nền kinh tế hôi nhập hiệu quả Điều đó đòi hoi cân co sự điều chỉnh về thể chế, luật pháp, chuẩn mực tài chính tiền tệ ở mỗi quốc gia cho gần hơn với thông lộ và tập quán quốc tế, thích ứng với một môi trường cạnh tranh đổng nhất Các tập quán kinh doanh trên các thị trường khác nhau cũng phải được

thay đổi, trên cơ sở đó tạo thuận lợi cho luồng vốn được lưu hoạt hoá trên phạm VI

Trang 19

toàn cầu Sự ra đời và hoạt động của TNCs sẽ thúc đẩy quá trình hội nhập trong lĩnh vực tài chính tiền tệ diễn ra nhanh chóng hơn.

T h ứ tư , Hội nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng làm cho các nước ngày càng trở nên phụ thuộc nhau nhiều hơn Cùng với xu thế mở cửa thị trường tài

chính - tiền tệ thì bất cứ một sự chấn động nào về kinh tế ở một nước cũng sẽ tác

động đến các nước khác Sự phụ thuộc nhau ngày càng chặt chẽ giữa các nước có mặt lợi ích là sự phát triển kinh tế của một nhóm nước, một khu vực sẽ kéo theo tất

cả các nước trong cùng khu vực phát triển, đây chính là kết quả của sự hội nhập tài chính tiền tệ kéo theo các thoả hiệp tự do hoá đầu tư, thương mại Tuy nhiên, sự phụ thuộc này cũng đem đến những hệ quả không mong muốn: Tình trạng ‘ nhập khẩu lạm phát”, “nhập khẩu khủng hoảng kinh tế” là hiện tượng thường gặp trong những năm gần đây, đây chính là hệ quả tất yêu của thời đại toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đang làm cho cạnh tranh trong lĩnh vực này ngày càng trở nên quyết liệt Khác với cạnh tranh trong các lĩnh vực khác, cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng có các đặc trưng: (1) Các đối thủ vừa cạnh tranh, vừa hợp tác với nhau trong lĩnh vực kinh doanh đầy nhạy cảm;(2) Các đối thủ phải luôn hướng tới một môi trường lành mạnh để tránh xảy ra rủi

ro hệ thống mà hệ quả tất yếu sẽ là một sự đổ vỡ hàng loạt ngân hàng; (3) Cạnh tranh thông qua một thị trường luôn có sự can thiệp gián tiếp của ngân hàng trung ương mỗi quốc gia hoặc khu vực; (4) Cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào các yếu

tố bên trong, mà còn phụ thuộc rất lớn vào các yêu tố bên ngoài (môi trường kinh doanh, tập quán quốc gia, hạ tầng cơ sở tài chính )

Đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam, tham gia hội nhập quốc tế sẽ mở ra những cơ hội để hợp tác, trao đổi, qua đó đề ra những biện pháp cũng như vận dụng những công cụ hiệu quả trong kinh doanh cũng như phòng ngừa rủi ro, nâng cao uy

Trang 20

tín cũng như vị thế của các NHTM Việt Nam trong các giao dịch tài chính quốc tế,

có điều kiện để tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý Đồng thời, trong quá trình hội nhập thì môi trường pháp lý, chính sách tiền tệ của Việt Nam sẽ được cải thiện nhanh chóng, các NHTM cũng sẽ bắt buộc phải chuyên môn hoá sâu hơn các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, triển khai các nghiệp vụ ngân hàng mới, có như thế mới mở rộng được thị phần trong nước và dần dần hướng ra bên ngoài

1.2.HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN Q ư ố c TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1 2 1 K h á i n iệ m

*Thanh toán : Có nhiều cách hiểu khác nhau về thanh toán, nhưng một cách

chung nhất, thì thanh toán là việc chi trả của một người cho một người khác đã cho

việc được sử dụng, sở hữu một hàng hoá, dịch vụ hay một quyền cụ thể nào đó

Thanh toán là việc trả tiền, nối tiếp sau mỗi hành động mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ Thanh toán là khâu kết thúc của mỗi quan hệ hàng tiền được xác lập trên

cơ sở thoả mãn nhu cầu mỗi bên tham gia

*Thanh toán quốc tế: Xung quanh thuật ngữ thanh toán quốc tế có các cách

hiểu khác nhau:

-Thanh toán quốc tế là phương pháp thực hiện việc chi trả cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu, dịch vụ thông qua ngân hàng chuyển tiền thanhtoán với doanh nghiệp nước ngoài

- TTQT là việc chi trả bằng tiền liên quan đến các dịch vụ mua bán hàng hoá hay cung ứng lao vụ giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với tổ chức hay cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan

Trang 21

Một cách chung nhất, thì: TTQT là việc chi trả các nghĩa vụ và yêu cầu về

tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tô chức kinh t ế quốc tế, giữa các doanh nghiệp, cá nhân của các nước khác nhau đê kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tê đối ngoại bằng các hình thức khác nhau.

Thực chất TTQT là một hoạt động mà trong đó NH là một trung gian thanh toán bằng kinh nghiệm, khả năng và nghiệp vụ của mình làm cho việc thanh toán được diễn ra an toàn và hiệu quả, bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong giao dịch thanh toán, tìm kiếm thu nhập cho NH

Về cơ bản TTQT phát sinh trên cơ sở hoạt động thương mại quốc tế, nó là khấu cuối cùng của quá trình mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các tổ chức

và cá nhân thuộc các nước khác nhau Nếu công tác TTQT được tổ chức tốt, thực hiện nhanh chóng, an toàn, hiệu quả và chính xác thì sẽ tác động tích cực đến hoạt động ngoại thương của một nước

Khác với thanh toán nội địa (trong phạm vi một nước), TTQT thường gắn với việc trao đổi giữa đồng tiền nước này với đồng tiền nước khác Nội tệ với chức

năng là phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán theo luật định trong phạm VI

một nước sẽ không vượt qua giới hạn của nó nếu như hai bên liên quan trong hợp đổnơ không thoả thuận cụ thể về vấn đề đó Do vậy, khi kí kết hợp đông thương mại tín dụng quốc tế, các bên thường đàm phán thống nhất về một đồng tiền vào

đó được sử dụng trong giao dịch Các đổng tiền thường được sử dụng trong TTQT chủ yếu là các đồng tiền có khả năng chuyển đổi tự do như: USD, GBP, JPY, EUR Tuy nhiên USD và GBP vẫn giữ vai trò chủ đạo trong thanh toán bởi sự tiện lợi và nhanh chóng trong việc thực hiện các giao dịch Hiện nay, phần lớn việc chi trả trong TTQT được thực hiện thông qua điện tín, bưu điện, mạng SWIFT, hoặc qua

Trang 22

uỷ nhiệm thu, chi hộ lẫn nhau giữa các ngân hàng, tỷ lệ trả bằng tiền mặt trong thanh toán, chiếm tỉ lệ không đáng kể.

1 2 2 V a i tr ò v à s ự c ầ n t h iế t k h á c h q u a n p h ả i m ở r ộ n g v à h o à n th iệ n h o ạ t

đ ộ n g th a n h to á n q u ố c t ế c ủ a N H T M

Trong điều kiện hội nhập quốc tế diễn ra sâu sắc như hiện nay, mỗi quốc gia muốn phát triển đều phải thường xuyên thực hiện những mối quan hệ quốc tế đa dạng và phức tạp trên mọi lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá Trong đó, hội nhập trong lĩnh vực kinh tế luôn giữ vai trò và vị trí chi phối các quan hệ khác Quá trình hội nhập kinh tế tất yếu nảy sinh nhu cầu thanh toán, hội nhập kinh tế càng sâu rộng thì nhu cầu TTQT càng tăng cao Hoạt động TTQT có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự lưu thông của các quan hệ kinh tế quốc tế, thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp XNK và sự phát triển của chính các NHTM

1.2.2.1 Đối với nền kinh tê

TTQT là khâu cuối cùng nhưng lại là khâu rất quan trọng trong trao đổi quôc

tế về hàng hoá, dịch vụ, nếu không có hoạt động TTQT thì hoạt động thương mại quốc tế nói riêng, cũng như hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung sẽ rất khó tổn tại

và phát triển Do vây, việc mở rộng và hoàn thiện hoạt động TTQT là một đòi hỏi khách quan, qua đó, tạo tiền đề cho kinh tế đối ngoại phát triển Một khi các hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển sẽ giúp một quốc gia khai thác có hiệu quả các lợi thế so sánh của mình, từ đó thúc đẩy kinh tế tăng trưởng cao và bền vững, các nguồn lực sẽ ngày càng được khai thác và sử dụng một cách hiệu quả

1.2.2.2 Đối với các doanh nghiệp

TTQT là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh TTQT được mở rộng và hoàn thiện sẽ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động TMQT Bởi vì: (1) Khâu thanh toán thực hiện nhanh, sẽ góp phần rút ngăn

Trang 23

thời gian quay vòng của vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn, làm tăng doanh thu và lợi nhuận của các bên tham gia; (2) Thông qua hoạt động TTQT, người ta có thể đánh giá được khả năng tài chính, uy tín cũng như tiềm lực của mỗi bên tham gia; (3) TTQT được thực hiện nhanh chóng, an toàn và hiệu quả sẽ thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, khuyến khích xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài.

Như vậy, TTQT là một mắt xích quan trọng không thể thiếu trong hoạt động kinh tế đối ngoại xét cả không gian và thời gian Hoạt động TTQT càng thuận lợi bao nhiêu càng củng cô và mở rộng mối quan hệ bạn hàng bấy nhiêu Măt xích thanh toán chuyển động nhanh không những tăng tốc độ chu chuyên của vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh mà còn kéo các mắt xích khác trong dây chuyên theo quỹ đạo của nó, tăng cường động lực cho cỗ máy kinh tế phát triển

1.2.2.3.Đối với phương diện quản lý Nhà nước

Thứ nhất, qua việc nắm và quản lý hoạt động TTQT, Nhà nước có thể quản lý

được luồng ngoai tệ ra - vào đất nước, làm cơ sở cho việc đề ra các chính sách tài khoá của đất nước và thực hiện chúng Qua việc kiểm soát hoạt động TTQT tại NHTM, Nhà nước có thể quản lý được hoạt động XNK, từ đó làm cơ sở cho việc quản lý cán cân vãng lai Hơn nữa, qua đó Nhà nước đề ra những chính sách ngoại thương thích hợp nhằm tối đa hoá lợi ích từ TMQT Nên nhớ rằng thương mại quôc

tế không những mang tính thương mại mà còn là công cụ thực hiện các mưu đổ chính trị - xã hội của các nước, các khối nước, các thế lực trên thế giới Do đó, TTQT càng quan trọng trong quản lý vĩ mô của Nhà nước Nhà nước có thể nắm được việc vay nợ nước ngoài, sử dụng các khoản vay nợ đó của doanh nghiệp, đê thấy được mục đích tham gia của các bên

Trang 24

Thứ hai, cũng qua thực tế hoạt động TTQT mà Nhà nước điều chỉnh lại các

điểm bất cập trong hệ thống luật lệ, chính sách liên quan đến TTQT cho phù hợp với tình hình mới, đảm bảo dỡ bỏ các rào cản, thúc đẩy ngoại thương phát triển

1.2.2.4.Đối với ngân hàng thương mại

- Trong điều kiện hội nhập kinh tế, hoạt động TMQT ngày càng phổ biến, đi

kèm với nó là các nhu cầu về TTQT, TD bằng ngoại tệ, mua hoặc bán ngoại tệ ngày càng gia tăng, điều đó đã và đang tiếp tuc mở ra một lĩnh vực hoạt động rọng lớn cho các NHTM Nếu NHTM thực hiện có hiệu quả công tác TTQT thì sẽ là cách thức quan trọng để mở rộng khách hàng, khẳng định thương hiệu cua mình trong kinh doanh Do vậy, trong bối cảnh hội nhập thì vấn đề mở rộng và hoàn thiện hoạt động TTQT trở thành một yêu cầu khách quan đối với các NHTM nhằm thực hiện chiến lược khách hàng

-Tạo thu nhập và mở rộng hoạt động cho NH TTQT là một hoạt động tạo thu nhập và tương đối ít rủi ro so với các sản phẩm NH truyền thống Thông qua việc

mở rông mảng hoat đông TTQT, NH tao thu nhâp qua các loại phí thanh toan; hơn nữa, như trên đã đề cập thì với việc mở rộng và hoàn thiện hoạt động TTQT se la cách thức hiệu quả để tăng uy tín thương hiệu của NH trên thị trường, qua đó thu hút thêm các khách hàng tiềm năng, mở ra các loại hình dịch vụ khác nhăm tang thu nhập cho NH và đó cũng là cách thức để đa dạng hoá hoạt động, giảm thiểu rủi

ro trong kinh doanh

Khác với các hoạt động khác, trong TTQT, NH không chỉ có mối quan hệ với khách hàng mà còn quan hệ với mạng lưới NH đại lý trên thế giới; qua đó NH có

cơ hội tiếp cận với khách hàng ở nước ngoài, tạo lập một hình ảnh và vị trí trên thê giới, đó là cơ sở vững chắc cho kế hoạch mở rộng thị trường về lâu dài của mình

Trang 25

Từ sự phân tích trên cho thấy, việc mở rộng và hoàn thiện hoạt động TTQT là một yêu cầu khách quan đối với các NHTM trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc

tế nó cho phép các NH thực hiện tốt chiến lược khách hàng của mình, từng bước khẳng định thương hiệu trong cộng đổng NH thế giới

1.2.3.CÉC phương tiện sử dụng trong thanh toán quốc tế

1.23.1 Hối phiếu (Bill o f exchange).

Theo Luật ULB (Luật điều chỉnh hối phiếu) định nghĩa: “Hối phiếu là một tờ

lệnh trả tiền vô điêu kiện do một người kí phát cho một người khác, yêu câu người này khi nhìn thấy hối phiếu hoặc đến ngày cụ th ể nhất định, hoặc đến một ngày cố

th ể xác định trong tương lai, phải trả một s ố tiền nhất định cho một người nào đó, hoặc theo lệnh của người này trả cho một người khác hoặc trả cho một người cầm hối phiếu ”.

Từ định nghĩa trên đây cho thấy, hối phiếu có ba đặc điểm:

-Tính trừu tượng-. Trên hối phiếu không cần phải ghi nội dung quan hệ tín dụng, tức nguyên nhân nảy sinh việc lập hối phiếu, mà chỉ cần ghi rõ sô tiên phai trả và nội dung liên quan đến việc trả tiền Hiêu lực của hối phiếu không bị ràng buộc bởi nguyên nhân sinh ra hối phiếu

-Tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu: Người trả tiền hối phiếu phải trả tiền

theo đúng nội dung ghi trên tờ phiếu và không thể viện lý do riêng của mình đôi với người phát hành, người ký hậu mà từ chối trả tiền, trừ khi hối phiếu được lập trái với đạo luật chi phối nó

hay nhiều lần trong thời hạn của nó Sở dĩ có được đặc điểm này bởi vì hối phiếu là

Trang 26

lệnh đòi tiền của người này với người khác, với một giá trị tiền nhất định và có một thời hạn nhất định.

Để hối phiếu có giá trị pháp lý, người lập hối phiếu phải tuân thủ những qui định chặt chẽ về hình thức và nội dung của hối phiếu

V ề hình thức: Hối phiếu bắt buộc phải bằng văn bản Hối phiếu thường được

lập thành 2 bản có giá trị pháp lý như nhau

V ề nội dung: Hối phiếu bắt buộc phải có tiêu đề của hối phiếu, có địa điểm và

ngày phát hành hối phiếu, mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện, ghi rõ số tiền bằng số và bằng chữ, thời hạn trả tiền của hối phiếu, người trả tiền và người hưởng lợi hốiphiếu

Nhờ tính bắt buộc phải trả tiền và tính chất trừu tượng, hối phiếu được sử dụng như một phương tiện lưu thông thuận tiện trên thị trường hối đoái

Trong TTQT hối phiếu trơn dùng để thu tiền phạt, tiền bồi thường, cước phí bảo hiểm, phí vận tải, thủ tục phí, lệ phí

1.2.3.2.Lệnh phiếu (Promissory Note)

Lệnh phiếu (còn gọi là kỳ phiếu) là một tờ giấy cam kết trả tiền vô điều kiện

do người lập kì phiếu phát ra trả một s ố tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc theo lệnh của người này, trả cho người khác quy định trên tờ kì phiếu đó.

Nhìn chung, người ta thường sử dụng những nguyên tắc pháp lý về hối phiếu

để giải thích các yếu tố qui định lệnh phiếu, như: Ký hậu, thời hạn hiệu lực, sô tiên, cách lập hối phiếu Tuy nhiên, so với hối phiếu thì lệnh phiêu có một sô diêm khác biệt chính như sau:

-Một lệnh phiếu có thể do môt hay nhiều người ký phát đê cam kêt thanh toan cho một hay nhiều người hưởng lợi

Trang 27

-Lệnh phiếu cần có sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc tổ chức tài chính, sự bảo lãnh này đảm bảo cho khả năng thanh toán của lệnh phiếu.

-Lệnh phiếu chỉ có một bản duy nhất

Trong TTQT, lệnh phiếu nhìn chung ít được sử dụng

12.3.3 Séc (Check)

Nếu như hối phiếu được hình thành trên cơ sở lưu thông hàng hoá thì séc được

hình thành trên cơ sở lưu thông tín dụng NH.Séc là tờ mệnh lệnh trả tiên và điêu

kiện của chủ tài khoản ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình một sô tiền nhất định đ ể trả cho người cầm séc, người có tên trên tờ séc hoặc trả theo lệnh của người đó.

Séc là một phương tiện thanh toán đã xuất hiện từ lâu, nó không chỉ là phương tiện chi trả được sử dụng phổ biến trong thanh toán nội bộ của các nước mà còn được sử dụng trong TTQT về hang hoá dịch vụ, du lịch và các chi trả phi mậu dịch

Vì séc là mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện, nên khi nhận được lệnh này, NH sẽ chấp nhận một cách vô điều kiện, trừ trường hợp tài khoản của người phát hành không còn tiền, hoặc tờ séc được kí phát trái pháp luật

Nhìn chung, các nước sử dụng séc làm phương tiện TTQT đều áp dụng những qui định có liên quan đến việc thành lập và lưu thông séc: Công ước Geneve và Luật thống nhất về Séc 1931 (URL)

Theo Công ước, để đảm bảo về mặt pháp lý, thì: v ề hình thức tờ séc phải có tiêu đề; về mặt pháp lý tờ séc phải ghi số tiền rõ ràng bằng số và bằng chữ, ghi rõ địa điểm và ngày tháng lập séc, tên và địa chỉ của người yêu cầu trích tài khoản, số tài khoản được trích trả, ngân hàng trả tiền, tên địa chỉ của người hưởng lợi séc, chữ

ký của người phát hành séc Để phát hành séc, người phát hành phải có tài khoản và

Trang 28

phải có tiền, số tiền trên tờ séc không được vượt quá số tiền ghi trên tài khoản Thời hạn hiệu lực của séc phải được ghi rõ trên tờ séc.

Do đặc điểm của séc là có tính thời hạn và khả năng thanh toán phụ thuộc vào

số dư tài khoản của người phát hành, nên séc được sử dụng nhiều trong thanh toán phi mậu dịch hơn là trong thanh toán mậu dịch

1.23.4 Thẻ điện tử

Thẻ điện tử được sử dụng trong TTQT, chủ yếu trong lĩnh vực phi thương mại Phương tiện này sẽ ngày càng được sử dụng trong thời đại khoa học-công nghệ phát triển, khi phương tiện truyền tin ngày càng hoàn hảo

Công cụ này đòi hỏi phải có máy móc điện tử hiện đại chuyên dùng, nó chịu

sự khống chế của thời hạn hiệu lực và số dư trên tài khoản gốc tại nơi phát hành thẻ, thanh toán các khoản nhỏ phát sinh trong du lịch

1 2 4 C á c p h ư ơ n g th ứ c t h a n h t o á n q u ố c tê c h ủ y ế u

Trong các điều kiện của hợp đồng thương mại thì phương thức thanh toán là điều kiện quan trọng nhất Phương thức thanh toán là để chỉ người bán hàng dùng cách nào để thu tiền về và người mua hàng dùng cách nào để trả tiền Trong quan

hệ thương mại, người ta có thể lựa chọn nhiều phương thức thanh toán khác nhau

để thu tiền về hoặc để trả tiền Các phương thức TTQT thường được sử dụng là:

1.2.4.1 Phương thức chuyển tiền (Remittance)

* Khái niệm Phương thức chuyển tiền là một phương thức thanh toán, trong

đó, một khách hàng (người mua, người trả tiền, người nhập khẩu) yêu cầu NH phục

vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người bán, người cung ứng dịch vụ, người xuất khẩu) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển

Ị HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

tr u n g tâ m t h ô n g tin - THƯ VIỆN

T H Ư V IÊ N

số ;■ L y ■ ■Ẵ ĩ: P li.'Jrr:.

Trang 29

tiền do khách hàng yêu cầu NH chuyển tiền phải thông qua đại lý của mình ở nước ngoài nước người hưởng lợi thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền.

*Các bên tham gia trong phương thức chuyển tiền:

-Người yêu cầu chuyển tiền (Remitter): Là người yêu cầu NH chuyển tiền cho người thụ hưởng

-Người thụ hưởng (Beneficiary): Là người nhận tiền được chuyển tới thông qua NH

-NH chuyển tiền (Remitting Bank): Là NH phục vụ người chuyển tiền

-NH trả tiền (Paying Bank): là NH trực tiếp trả tiền cho người thụ hưởng

Hình thức chuyển tiền mô tả theo sơ đồ dưới đây (Sơ đồ 1.1)

Sơ đồ 1.1 Qui trình nghiệp vụ chuyển tiền

(1) Nhà xuất khẩu chuyển giao hàng hoá và bộ chứng từ hàng hoá cho nhà nhập khẩu

(2) Nhà nhập khẩu sau khi kiểm tra hàng hoá (hoặc chứng từ hàng hoá) nếu thấy phù hợp yêu cầu theo thoả thuận đôi bên, lập thủ tục chuyển tiền gửi tới NH phục vụ mình

Trang 30

(3) NH phục vụ người chuyển tiền tiến hành thủ tục chuyển tiền qua NH đại lý

và báo nợ cho người chuyển tiền

(4) NH đại lý trả tiền cho người hưởng lợi

*Các hình thức chuyển tiên bao gồm:

- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer-T/T): NH chuyên tiên thực

hiên chuyển tiền bằng cách ra lệnh bằng điện cho NHĐL ở nước ngoài tức tiên cho người được hưởng Hình thức thanh toán này có lợi cho người bán vì nhận được tiên nhanh chóng, song thủ tục phí cao Ngày nay, khi tham gia mạng SWIFT thì hâu hết giao dịch chuyển tiền thực hiện qua mạng này

- Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer - M/T): NH chuyển tiền thực hiện việc

chuyển tiền bằng cách gửi thư ra lệnh cho NH đại lý ở nước ngoài tra tiên cho người được hưởng

* Điều kiện áp dụng

- Nếu dùng phương thức chuyển tiền ứng trước, người mua sẽ chịu rủi ro vì

hàng hoá chưa nhận được, do đó không những vốn bị chiếm dụng mà còn gặp rủi ro

vì có thể người bán không giao hàng hoặc giao hàng không đúng theo các điêu khoản của hợp đồng; trái lại, người bán chưa giao hàng đã nhận được tiên cua người mua, như vậy, họ sẽ an tâm về tiền hàng phải thu và lợi dụng được vốn của người mua

- Nếu trả tiền sau khi nhận hàng thì người mua chắc chắn nắm được hàng hoá của người bán, người bán thì không những bị ứ đọng vốn mà có thê gặp nguy hiêm

vì thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của người mua, trong khi quyên lợi bên bán khó đảm bảo

Trang 31

Do vậy phương thức chuyển tiền thường chỉ áp dụng để trả nợ trả tiền ứng trước, trả tiền thừa, trả tiền bồi thường hoặc những chi phí mậu dịch liên quan đên xuất nhập khẩu mà không thanh toán giá trị XNK

1.2.42 Phương thức nhờ thu (Collection)

* Khái niệm Thanh toán nhờ thu là phương thức mà người bán sau khi hoàn

thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng sẽ kí phát hối phiếu đòi tiền người mua và nhờ NH thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu

Văn bản pháp lý thông dụng của nhờ thu là “Qui tắc thống nhất về nhờ thu chứng từ thương mại” của Phòng thương mại Quốc tế (ICC)

* Các hên liên quan đến nghiệp vụ nhờ thu:

-Người xuất khẩu (Drawer): Là người ký phát hối phiếu, người uỷ quyền xử

lý nghiệp vụ nhờ thu cho NH

-NH chuyển chứng từ (Remitting Bank): Là NH mà người xuất khẩu uỷ quyền

-Nhà nhập khẩu: Là người trả tiền

*Qui trình thanh toán nhờ thu Có thể khái quát qua sơ đồ sau (Sơ đồ 1.2):

Sơ đồ 1.2 Qui trình nghiệp vụ nhờ thu

Trang 32

(1) Người bán giao hàng, lập bộ chứng từ gửi thẳng cho người mua.

(2) Người bán kí hối phiếu đòi tiền người mua và nhờ NH thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu đó

(3) NH bên bán chuyển hối phiếu cho NH bên mua và nhờ NH này thu hộ tiền

ở người mua

(4) NH bên mua chuyển hối phiếu cho người mua yêu cầu trả tiền

(5) Người mua trả tiền hoặc từ chối trả tiền, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của họ

(6) NH bên mua chuyển tiền hoặc hoãn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho người bán

(7) NH bên bán chuyển tiền hoặc hoàn lại toàn bộ hối phiếu bị từ chối trả tiền cho người bán

* Các loại nhờ thu chủ yếu

-Nhờ thu phiếu tron (clean collection)' Là phương thức trong đó người bán uỷ

thác cho NH thu hộ tiền ở người mua, căn cứ vào hối phiếu mình lập ra, không kèm điều kiện gì cả, còn chứng từ hàng hoá gửi thẳng cho người mua không qua NH

Trang 33

Phương thức này áp dụng khi người bán và người mua tin cậy nhau hoặc có quan hệ liên doanh với nhau dưới dạng công ty mẹ và công ty nhánh, giữa các chi nhánh thanh toán về các dịch vụ có liên quan tới xuất nhập khâu hàng hoá Nhìn chung phương thức này ít đươc sử dụng do việc nhận hàng và thanh toán hoàn toàn tách rời nhau.

-Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Colletion): Đây là phương thức thanh

toán mà người bán uỷ thác cho NH thu hộ tiền ở người mua, không những căn cứ vào hối phiếu, mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá gửi kèm theo với điều kiện nếu người mua trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ cho ngưỡi mua để nhận hàng Tuỳ theo cách thức trả tiền của người mua mà nhờ thu kèm

chứng từ chia làm 2 loại: nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (Documents against

acceptance - DIA) và nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ (Documents against payment).

So với phương thức nhờ thu phiếu trơn, phương thức nhờ thu kèm chứng từ đảm bảo hơn, vì NH đã thay mặt người bán khống chế chứng từ Tuy nhiên phương thức này có những bất lợi cho người bán, như: Người mua có thể từ chối không nhận chứng từ vì lý do như giá hàng hoá đã hạ xuống, tuy quyền sở hữu vẫn thuộc

về người bán song hàng hoá đã gửi đi rồi giải quyết tiêu thụ như thê nào? Thời gian thu tiền còn quá chậm nên vốn của người bán bị ứ đọng

12.4.3 Phương thức thanh toán TD chứng từ (L Ic - Letter o f Credit)

* Khái niệm Phương thức TD chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một NH

theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở L/C) cam kết sẽ trả một số tiến nhất định cho người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của L/C) hoặc chấp nhận hối phiếu

do người thứ ba kí phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba này xuất trình

Trang 34

cho NH một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong L/C và L/C này phải lập theo các thể lệ về thủ tục và thực hành thống nhất vê TD chứng từ.

*Các bên liên quan trong phương thức thanh toán L/C:

-Người yêu cầu mở L/C (Applicant): là người mua, người phải trích tài khoản

để thanh toán (Buyer, Accountee)

-Người thụ hưởng (Beneficiary): Là người xuất khẩu hoặc người được chỉ đinh thụ hưởng L/C

-NH phát hành (Issuing Bank): Là NH phát hành L/C theo yêu cầu của người xin mở L/C

-NH thông báo (Advising Bank): Là NH đại lý hoặc NH phát hành tại nước thu hưởng Đôi khi NH thông báo đươc yêu câu xác nhận L/C va trơ thanh NH xac nhận (Confirming Bank)

Ngoài các thành phần trên, tuỳ điều kiện cụ thể còn có các NH khác tham gia trong quá trình thanh toán, như:

-NH xác nhận (Confirming Bank): Là NH yêu cầu của NH mở L/C đứng ra xác nhận trả tiền cho NH mở L/C Sở dĩ có sự xác nhận này là do người bán chưa hoàn toàn tin tưởng vào khả năng trả tiền của NH mở L/C

-NH được chỉ định (Nominated Bank): Là NH được chỉ định trong L/C cho phép NH đó được thực hiện việc thanh toán, chiết khấu hoặc chấp nhận bộ chứng từ của người thụ hưởng phù hợp với qui định của L/C

-NH hoàn trả (Reimbursing Bank): Là NH được NH phát hành uỷ nhiệm thực hiện thanh toán L/C cho NH được chỉ định thanh toán hoặc chiết khấu

*Qui trình thanh toán TD chứng từ (Sơ đồ 1.3):

Trang 35

Sơ đồ 1.3 Qui trình thanh toán theo phương thức TD chứng từ

(1) Người xuất khẩu dựa vào hợp đồng mua bán ngoại thương với người xuất khẩu làm đơn xin mở L/C gửi NH nước mình, yêu cầu NH này mở L/C cho người

xuất khẩu hưởng

(2) Theo đơn xin mở L/C, NH phục vụ người nhập khẩu mở L/C cho một người xuất khẩu thông qua NH nước người xuất khẩu (NH thông báo)

(3) NH xuất khẩu nhận được L/C, xác thực L/C và gửi bản chính L/C cho

người xuất khẩu

(4) Căn cứ vào nội dung của L/C, người xuất khẩu thực hiện việc giao hàng

cho người nhập khẩu

(5) Sau khi hoàn tất việc giao hàng, người xuất khẩu phải hoàn chỉnh bộ chứng

từ và lập hối phiếu đòi tiền gửi về NH phục vụ mình, yêu cầu NH này trả tiền hoặc

xin chiết khấu bộ chứng từ đó

(6) NH thông báo nhận được bộ chứng từ, kiểm tra kĩ các nội dung của chứng

từ đó, nếu thấy phù hợp thì thanh toán hoặc chiết khấu theo L/C

(7) NH thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán cho ngân hàng phục vụ

người nhập khẩu

Trang 36

(8) NH phục vụ người nhập khẩu (NH phát hành) sau khi nhận được bộ chứng từ do NH người xuất khẩu chuyển đến, tiến hành kiểm tra kĩ lưỡng, nếu thấy chúng đáp ứng được những yêu cầu của L/C thì chuyển trả cho NH phục vụ người xuất khẩu.

(9) NH phát hành L/C thông báo cho người nhập khẩu đã trả tiền theo L/C cho người xuất khẩu, đồng thời yêu cầu cho người nhập khẩu hoàn trả số tiền này

để nhận bộ chứng từ đi nhận hàng

Ngày nay, người ta chấp nhận phương thức thanh toán L/C như cách thức hỗ trợ việc quản lý tiền (qua hợp đồng kí quỹ, quản lý mua bán; dự trữ ngoại tệ của doanh nghiệp để thanh toán), nó đáp ứng được nhu cầu thu chi và bản chất đa phương của mậu dịch Với sự tham gia của các NH, phương thức L/C đã trở thành phương tiện tài trợ cho các giao dịch trung hạn, đảm bảo cho việc thanh toán các kì khi giao hàng và việc giao các hối phiếu đại diện cho phần được thanh toán

*Mộí s ố loại LIC chủ yếu

- L/C không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C): Sau khi L/C được mở thì người

yêu cầu mở L/C sẽ không được tự ý sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ những nội dung của nó nếu không được sự đồng ý của các bên Tính đảm bảo của loại L/C này rất cao nên nó được dùng khá phổ biến trong thanh toán thương mại quốc t ế

- L/C có thể huỷ ngang (Revocable L/C): Sau khi L/C được mở, một bên có

thể đơn phương huỷ bỏ L/C đang còn hiệu lực mà phía người được hưởng hoặc NH thông báo và xác nhận không biết hoặc không đổng ý với việc huỷ bỏ đó

-L/C không huỷ ngang có giá trị trực tiếp L/C có giá trị thanh toán tại NH phát hành, loại này ít gặp vì tính bất tiện của nó là không chiết khấu tại NH khác được, không được thanh toán tại NH đại lý

Trang 37

- L/C không huỷ ngang có giá trị chiết khấu Có hai loại: (1) Chiết khấu tại

NH được chỉ định và (2) Chiết khấu tại bất cứ NH nào Nếu là loại L/C có giá trị chiết khấu tại NH chỉ định, thì trên L/C phải nói rõ tên của NH chiết khấu Nếu là loại L/C chiết khấu không hạn chế, thì trên L/C phải ghi “free negotiating”, hoặc một câu có ý nghĩa tương tự

- L/C không huỷ ngang có xác nhận: L/C được một NH có uy tín mở nhằm bảo đảm tối đa khả năng thanh toán của L/C, người hưởng yêu cầu có xác nhận nếu

họ không chắc chắn về khả năng thanh toán, khả năng tài chính và uy tín về NH phát hành L/C và chi phí cho L/C không huỷ ngang có xác nhận lớn hơn L/C không huỷ ngang không xác nhận

- L/C tuần hoàn (Revolving Documentary o f Credit)- L/C mà sau khi sử dụng

xong và hết thời hạn hiệu lực nó lại có giá trị như cũ cho đên khi tổng giá trị hợp đổng được thực hiện Như vậy, trong L/C phải ghi rõ ngày hết hiệu lực L/C chung

và sô lần tuần hoàn, tới hạn hiệu lực mỗi lần tuần hoàn, và cho biết là loại tích luỹ hay không tích luỹ Có 3 cách tuần hoàn: tự động, bán tự động và tuần hoàn hạn chế L/C tuần hoàn tỏ ra linh hoạt, tiết kiệm chi phí, tránh đọng vốn và được ưa chuộng trong quan hệ mua bán hàng hoá thường xuyên, định kỳ với khối lượng lớn, nhưng phải là quan hệ mua bán hàng hoá tin cậy

-L/C điều khoản đỏ {Red clause DC): Là loại mà người yêu cầu mở L/C phải

cam kết thanh toán cho người xuất khẩu ngay sau khi L/C được mở, trước khi người bán giao hàng

-L/C dự phòng (Stanby Letter o f Credit): L/C này đảm bảo việc thực hiện hợp

đổng của người mua hàng, còn việc thanh toán và nhận hợp đổng vẫn theo tín dụng

đã mở Thường các L/C này có tính chất dự phòng, dùng thanh toán một khoản tiền

Trang 38

cho phía người bán khi người mua vi phạm hợp đồng, tức là không nhận hàng theo

quy định

-L/C chuyển nhượng ợ ransferable DC): Là loại L/C mà theo đó, người hưởng

thứ nhất có quyền yêu cầu được uỷ quyền thanh toán, cam kết trả sau, chấp nhận

chiết khấu hoặc trong trường hợp tự do chiết khấu, NH uỷ quyền ghi rõ trong L/C

là NH chuyển nhượng, chuyển nhượng cho một hay nhiều người hưởng khác sử

dụng toàn bộ hay một phần giá trị của L/C Thường L/C này phải có điều khoản

chấp nhận chứng từ do bên thứ ba lập ra

-L/C giáp lưng (Back to back L/C): L/C được mở khi tiến hành mua bán qua

trung gian Sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình, người XK

dùng L/C này để mở một L/C với nội dung gần giống L/C ban đầu, chỉ khác số tiền

L/C sau gọi là L/C giáp lưng

-L/C đối ứng cReciprocal L/C): L/C này thường được dùng trong phương thức

mua bán quốc tế, hàng đổi hàng hoặc trong gia công L/C đối ứng chỉ bắt đầu hiệu

lực khi một L/C đối ứng với nó đã được mở

1.3.CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN

QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1 3 1 N h ó m n h â n tô k h á c h q u a n

13.1.1 Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế Toàn cầu hoá ngày nay đã trở thành

một hiện thực khách quan, nó lôi kéo hầu hết các nước tham gia và các nước đều

nhận thức được rằng muốn phát triển thì không thể đứng ngoài cuộc, mà phải thực

hiện hội nhập theo những lộ trình hợp lý Thông qua quá trình đó, tất yếu các hoạt

động đầu tư quốc tế, thương mại quốc tế sẽ tăng nhanh, dẫn tới sự phát triển và mở

rộng hoạt động TTQT Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế vừa mở ra cơ hội cho

Trang 39

NHTM các nước, nhưng cũng là thách thức lớn, đặc biệt là với NHTM ở các nước đang phát triển, nếu chỉ tập trung vào các hoạt động truyền thống thì sẽ bị tụt hậu.

1.3.1.2.Sự phát triển của công nghệ thông tin Ngày nay, cuộc cách mạng

khoa học công nghệ diễn ra vô cùng nhanh chóng, công nghệ thông tin có những bước tiến vượt bậc, đấy là một trong những nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng có tính quyết định tới sự hoạt động chung của các NHTM, trong đó đặc biệt là hoạt động TTQT đã có những thay đổi căn bản so với thanh toán truyền thống, đã hình thành các trung tâm thanh toán bù trừ tại Châu Âu, Mỹ, hình thành các mạng thanh toán toàn cầu điện tử liên NH (SWIFT) làm cho quá trình TTQT diễn ra rất nhanh chóng và bảo đảm an toàn cao

1.3.1.3.Các thông lệ, chuẩn mực về TTQT Hoạt động TTQT trước tiên chịu

sự chi phối, điều chỉnh bởi luật pháp quốc gia, sau đó là các hệ thống thông lệ, qui tắc quốc tế rất phức tạp và thường xuyên được chỉnh sửa cho phù hợp với sự phát triển của TMQT Một số qui tắc cơ bản liên quan trực tiếp đến hoạt động TTQT của NHTM là:

- Qui tắc thực hành thống nhất về TD chứng từ (ƯCP) Mặc dù đây chỉ là những qui định được ICC soạn thảo, nhưng nó được coi là luật quốc tế về NH trong giao dịch TTQT có liên quan đến TD chứng từ

- Các qui tắc thống nhất về thanh toán hoàn tiền theo TD chứng từ của ICC Các qui tắc được xem như một phương tiện giúp cho các bên trong lĩnh vực TMQT

an toàn hơn về thanh toán trong các giao dịch của mình trong hệ thống NH

- Các qui tắc thống nhất về nhờ thu Qui định những vấn đề có tính nguyên tắc

từ khái niệm, hình thức và cơ cấu nhờ thu, về quyền lợi và trách nhiệm của NH và các bên liên quan tới các chi phí

Trang 40

- Các điều kiện TMQT (INCOTERMS) Trong khuôn khổ một hợp đồng

XNK, các điều kiện thương mại áp dụng được coi là một trong những điều kiện

quan trọng, nó phân định rõ quyền hạn cũng như trách nhiệm của các bên trong

việc phân chia chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo hiểm hàng hoá từ người bán sang

người mua cũng như việc thông quan XNK

Điều đó cho thấy các bên tham gia trong TTQT cần phải nắm chắc để vận

dụng trong quá trình hoạt động, nếu không thì sẽ phải đối mặt với rất nhiều rủi ro

1.3.1.4 Mức độ phát triển, mở cửa của nền kinh tế Trình độ phát triển của nền

kinh tế sẽ tác động mạnh đến hoạt động TTQT của nước đó Khi nền kinh tê phát

triển sẽ thúc đẩy các hoạt động sản xuất, đầu tư trong nước, thu hút đầu tư nước

ngoài làm cho hoạt động XNK của các doanh nghiệp trong nền kinh tê cũng trở

nên sôi động hơn Tất cả những điều đó sẽ thúc đẩy hoạt động TTQT phát triên đê

đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế

1.3.1.5 Các chính sách vĩ mô của Chính phủ Hoạt động TTQT chịu sự điều

tiết của các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ, như:

-Chính sách ngoại thương Có 2 xu hướng chính của chính sách TMQT là

chính sách bảo hộ mậu dịch và chính sách tự do mậu dịch Nếu như sự lựa chọn

chính sách thiên về bảo hộ mậu dịch sẽ gây khó khăn cho ngoại thương, điều đó sẽ

làm cho hoạt động TTQT bị thu hẹp; và ngược lại

-Chính sách quản lý hối đoái Có liên quan đến sự lựa chọn nới lỏng hay thắt

chặt hối đoái Nếu chính sách là nới lỏng quản lý hối đoái thì sẽ tạo thuận lợi cho

hoạt động TTQT mở rộng và phát triển; và ngược lại

-Chính sách tỷ giá hối đoái Có liên quan đến xác định giá trị đồng nội tệ Nếu

đồng nội tệ định giá thấp sẽ thúc đẩy xuất khẩu, nhưng lại kìm hãm nhập khẩu; và

ngược lại Bên cạnh đó, tỷ giá còn tác động đến các dòng kiều hối, du lịch, hơn

Ngày đăng: 18/12/2023, 15:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.9 Doanh  số thanh  toán  theo  phương  thức  L/C tại - Giải pháp mở rộng và hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại nhnoptnt láng hạ
Bảng 2.9 Doanh số thanh toán theo phương thức L/C tại (Trang 11)
Bảng  2.10 Doanh  số thanh  toán  biên  giới  tiểu  ngạch  Việt - Giải pháp mở rộng và hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại nhnoptnt láng hạ
ng 2.10 Doanh số thanh toán biên giới tiểu ngạch Việt (Trang 11)
Hình thức chuyển tiền mô tả theo sơ đồ dưới đây (Sơ đồ  1.1) - Giải pháp mở rộng và hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại nhnoptnt láng hạ
Hình th ức chuyển tiền mô tả theo sơ đồ dưới đây (Sơ đồ 1.1) (Trang 29)
Sơ đồ 1.3.  Qui trình thanh toán theo phương thức  TD chứng từ - Giải pháp mở rộng và hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại nhnoptnt láng hạ
Sơ đồ 1.3. Qui trình thanh toán theo phương thức TD chứng từ (Trang 35)
Bảng  2.2  cho  thấy:  Dư nợ  tín  dụng  có  sự tăng  trưởng  tương  đối  cao  qua  các  năm,  nhưng  lại không ổn  định - Giải pháp mở rộng và hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại nhnoptnt láng hạ
ng 2.2 cho thấy: Dư nợ tín dụng có sự tăng trưởng tương đối cao qua các năm, nhưng lại không ổn định (Trang 55)
Bảng  2.6  cho  thấy:  Doanh  số  TTQT  theo  phương  thức  chuyển  tiền  tại  Chi  nhánh  không  ổn  định  qua  các  năm:  Doanh  số  đạt  mức  cao  nhất  là  năm  2003,  đạt  mức 204.149.029  USD,  nhưng đến năm 2005  thì doanh  số lại  giảm  xuống  thấ - Giải pháp mở rộng và hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại nhnoptnt láng hạ
ng 2.6 cho thấy: Doanh số TTQT theo phương thức chuyển tiền tại Chi nhánh không ổn định qua các năm: Doanh số đạt mức cao nhất là năm 2003, đạt mức 204.149.029 USD, nhưng đến năm 2005 thì doanh số lại giảm xuống thấ (Trang 64)
Bảng  2.8  cho  thấy:  So  với  các  NHTM  khác,  thì  NHNo&PTNT đã  và  đang  có - Giải pháp mở rộng và hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại nhnoptnt láng hạ
ng 2.8 cho thấy: So với các NHTM khác, thì NHNo&PTNT đã và đang có (Trang 67)
Bảng 2.11.Một sô chỉ tiêu về cho vay XNK tại Chi nhánh - Giải pháp mở rộng và hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại nhnoptnt láng hạ
Bảng 2.11. Một sô chỉ tiêu về cho vay XNK tại Chi nhánh (Trang 75)
Bảng  2.13  cho  thấy:  Doanh  số thanh toán  xuất khẩu  thấp hơn rất  nhiều  so với  thanh toán nhập khẩu - Giải pháp mở rộng và hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại nhnoptnt láng hạ
ng 2.13 cho thấy: Doanh số thanh toán xuất khẩu thấp hơn rất nhiều so với thanh toán nhập khẩu (Trang 78)
Bảng 3.1.Một số chỉ tiêu định hướng về hoạt động TTQT tại Chi nhánh giai - Giải pháp mở rộng và hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại nhnoptnt láng hạ
Bảng 3.1. Một số chỉ tiêu định hướng về hoạt động TTQT tại Chi nhánh giai (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w