Nội thương và ngoại thương: Nhìn chung, hoạt động ngoại thương có một số điểm khác cơ bản so với hoạt động nội thương, trong đó ngoại thương liên quan đến: -Người mua và người bán ở hai
Trang 1NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH
GIẢI PHÁP MARKETING NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH Tế
NĂM 2010
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, ngày 30 tháng 08 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Trang 3DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN SỬ DỤNG MARKETING NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNG TTQT CỦA NHTM 3
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TTQT 3
1.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế 3
1.1.2 Các phương thức thanh toán quốc tế 6
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM 12
1.1.4 Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM 15
1.2 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC NHTM 18
1.2.1 Nhóm các chỉ tiêu định lượng 19
1.2.2 Các chỉ tiêu định tính 21
1.3.MARKETING CÔNG CỤ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC NHTM 22
1.3.1.Marketing thanh toán quốc tế 22
1.3.2 Vai trò của Marketing trong hoạt động thanh toán quốc tế 23
1.3.3 Nội dung sử dụng Marketing nâng cao hiệu quả trong hoạt động thanh toán quốc tế của các NHTM 24
1.4 KINH NGHIỆM SỬ DỤNG MARKETING CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỚI NHNo&PTNT HÀ NỘI 33
1.4.1.Kinh nghiệm sử dụng Marketing của một số ngân hàng 33
1.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với NHNo&PTNT Hà Nội 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
Trang 42.1 KHÁI QUÁT VỀ NHNo&PTNT HÀ NỘI 37
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHNo&PTNT Hà Nội 37
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Hà Nội 39
2.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MARKETING TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NHNo&PTNT HÀ NỘI 42
2.2.1.Hệ thống các văn bản pháp lý đối với hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo&PTNT Hà Nội 42
2.2.2.Thực trạng sử dụng Marketing trong hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo&PTNT Hà Nội 44
2.2.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động TTQT tại NHNo&PTNT Hà Nội 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP MARKETING NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NHNo&PTNT HÀ NỘI 71
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ NHNo&PTNT HÀ NỘI 71
3.2 GIẢI PHÁP MARKETING NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NHNo&PTNT HÀ NỘI 72
3.2.1 Nâng cao nhận thức về Marketing trong toàn thể cán bộ nhân viên ngân hàng 72
3.2.2 Hoàn thiện mô hình tổ chức của hoạt động Marketing 72
3.2.3 Xây dựng chiến lược Marketing riêng biệt cho đoạn thị trường thanh toán quốc tế 74
3.2.4 Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các sản phẩm TTQT 76
3.2.5 Xây dựng biểu phí TTQT linh hoạt phù hợp với thị trường 79
3.2.6.Hiện đại hóa và mở rộng hệ thống phân phối 81
3.2.7 Cần hoàn thiện quy trình thanh toán quốc tế 83
Trang 53.2.9 Đẩy mạnh việc xúc tiến cho hoạt động TTQT 86
3.2.10 Đào tạo nâng cao chất lượng cán bộ TTQT 88
3.2.11.Tăng cường công tác kiểm tra hoạt động Marketing 90
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 91
3.3.1 Đối với Chính phủ 91
3.3.2 Đối với Ngân hàng nhà nước 92
3.3.3 Đối với khách hàng 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 6CÁC CHỮ VIẾT TẮT TÊN ĐẦY ĐỦ
NHNo&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 7Sơ đồ 1.2 Quy trình nhờ thu phiếu trơn 8
Sơ đồ 1.3 Quy trình nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ 9
Sơ đồ 1.4 Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ 10
Sơ đồ 2.1 Hệ thống tổ chức của NHNo&PTNT Hà nội 39
Sơ đồ 2.2 Quy trình cung cấp dịch vụ TTQT tại NHNo&PTNT Hà Nội 57
Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn vốn huy động của NHNo&PTNT Hà Nội từ 2007 – 2009 40
Bảng 2.2 Tình hình dư nợ của NHNo&PTNT Hà Nội từ 2007 – 2009 41
Bảng 2.3 Danh mục sản phẩm TTQT của một số NHTM 47
Bảng 2.4 Doanh số TTQT tại NHNo&PTNT Hà Nội từ 2006-2009 49
Bảng 2.4 Biểu phí TTQT của một số NHTM 51
Bảng 2.5 Các ngoại tệ chủ yếu của NHNo&PTNT Hà Nội từ 2007 – 2009 52
Bảng 2.6 Số Ngân hàng đại lý của NHNo&PTNT Hà Nội 55
Bảng 2.7 Doanh số TTQT tại NHNo&PTNT Hà Nội 2007-2009 59
Bảng 2.8 Phí và doanh số TTQT của NHNo&PTNT Hà Nội từ 2007-2009 62
Bảng 2.9 Doanh số XNK tại NHNo&PTNT Hà Nội và Hà Nội 65
Biểu đồ 2.1 Tỷ trọng nợ xấu trong tổng dư nợ của NHNo&PTNT Hà Nội 41
Biểu đồ 2.2 Lãi kinh doanh ngoại tệ của NHNo&PTNT Hà Nội từ 2007 - 2009 53
Biểu đồ 2.3 Doanh số TTQT của một số ngân hàng nông nghiệp từ 2006-2009 60
Biểu đồ 2.4 Số lượng giao dịch thanh toán từ năm 2007-2009 61
Biểu đồ 2.5 Kim ngạch XNK của NHNo&PTNT Hà Nội và TP HN (2007-2009) 65
Biểu đồ 2.7 Tỷ trọng thu TTQT trong tổng thu dịch vụ của NHNo&PTNT Hà Nội năm 2009 67
Trang 8MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức WTO từ ngày 11/01/2007 đã mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh thúc đẩy hoạt động thương mại giữa các nước phát triển Chính vì vậy, nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp là rất lớn Điều này đòi hỏi các ngân hàng thương mại ngày càng phải hoàn thiện và phát triển hệ thống thanh toán quốc tế để đáp ứng nhu cầu thanh toán đa dạng của các doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập
NHNo&PTNT Hà Nội bắt đầu thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế từ năm 1995 Trong suốt thời gian qua với sự nỗ lực cố gắng hoạt động thanh toán quốc tế của NHNo&PTNT Hà Nội đã đạt được một số thành tựu nhất định, luôn đứng đầu các chi nhánh trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam Tuy nhiên trong quá trình hoạt động thanh toán quốc tế NHNo&PTNT Hà Nội chưa phát huy hiệu quả, chưa khai thác hết tiềm năng và còn nhiều bất cập Để giải quyết những vấn đề này đòi hỏi NHNo&PTNT Hà Nội phải có nhiều biện pháp trong đó Marketing nâng cao hiệu quả thanh toán quốc tế là công cụ hữu hiệu nhất Xuất phát từ thực tiễn đó, luận văn thạc sỹ tiếp cận đề
tài: “Giải pháp Marketing nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội.”
2 Mục đích nghiên cứu
Để xác lập những luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc áp dụng các giải pháp Marketing nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo&PTNT Hà Nội, đề tài nhằm thực hiện các mục tiêu chủ yếu sau:
- Hệ thống, phân tích luận giải và làm rõ hơn việc sử dụng Marketing trong hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM
Trang 9- Phân tích thực trạng sử dụng Marketing trong hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo&PTNT Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp Marketing nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo&PTNT Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Marketing là lĩnh vực rộng lớn, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu việc
sử dụng Marketing trong hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM; lấy thực tế hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo&PTNT Hà Nội từ năm 2007-2009 làm cơ sở minh chứng
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp duy vật lịch sử và phương pháp duy vật biện chứng để trình bày các nội dùng nghiên cứu lý luận và thực tiễn
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp, diễn dịch quy nạp
để xử lý các số liệu
- Ngoài ra luận văn còn sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, đồ thị để làm tăng thêm tính trực quan và sức thuyết phục của luận văn
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản sử dụng Marketing trong hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM
Chương 2: Thực trạng sử dụng Marketing trong hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo&PTNT Hà Nội
Chương 3: Giải pháp Marketing nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo&PTNT Hà Nội
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN SỬ DỤNG MARKETING NÂNG CAO
HIỆU QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNG TTQT CỦA NHTM
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TTQT
1.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế
Quan hệ quốc tế giữa các nước bao gồm nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hoá, khoa học kỹ thuật trong đó quan hệ kinh tế (mà chủ yếu là ngoại thương) chiếm vị trí chủ đạo, là cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác tồn tại và phát triển Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫn đến nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ
đó hình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế, trong đó, ngân hàng
là cầu nối trung gian giữa các bên
Từ phân tích trên ta có thể hiểu: Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các
nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan
hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan
Từ khái niệm trên cho thấy, thanh toán quốc tế phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế Tuy nhiên, trong thực tế giữa hai lĩnh vực hoạt động này thường giao thoa với nhau, không có một ranh giới rõ rệt Hơn nữa, do hoạt động thanh toán quốc tế được hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thương và phục vụ chủ yếu cho hoạt động ngoại thương Chính vì vậy, trong các quy chế về thanh toán và thực tế tại các NHTM, người ta thường phân hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vực rõ ràng là: Thanh toán trong ngoại thương (hay gọi theo cách cũ là thanh toán mậu dịch) và thanh toán phi ngoại thương (tức là thanh toán phi mậu dịch)
Trang 11Thanh toán quốc tế trong ngoại thương: (Thanh toán mậu dịch) là việc
thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hoá xuất nhập khẩu và các dịch vụ thương mại cung ứng cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương
Thanh toán phi ngoại thương (thanh toán phi mậu dịch) là việc thực hiện
thanh toán không có liên quan đến hàng hoá xuất nhập khẩu cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, là các chi phí đi lại ăn ở của các đoàn khách Nhà nước, tổ chức và cá nhân; các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân người nước ngoài cho cá nhân người trong nước, các nguồn trợ cấp của một tổ chức
từ thiện nước ngoài cho tổ chức, đoàn thể trong nước
Nội thương và ngoại thương: Nhìn chung, hoạt động ngoại thương có một số điểm khác cơ bản so với hoạt động nội thương, trong đó ngoại thương liên quan đến:
-Người mua và người bán ở hai nước hoặc hai quốc tịch khác nhau; -Đồng tiền sử dụng trong thanh toán có thể là nội tệ hay ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên;
-Hàng hóa mua bán thường dịch chuyển qua biên giới giữa các nước, đi
từ nước người bán đến nước người mua;
-Luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán và thanh toán chứa đựng yếu tố quốc tế
-Kiểm soát ngoại hối, tỷ giá và các chính sách hạn chế ngoại thương của chính phủ…
Ngày nay, do quá trình hợp tác kinh tế phát triển mạnh mẽ, các hình thức hoạt động kinh tế đối ngoại ngày càng đa dạng và phong phú đã trở thành các nhân tố làm thay đổi những đặc trưng của hoạt động ngoại thương
cổ điển trước đây Ví dụ:
Trang 12-Người mua và người bán ở cùng một nước và có cùng một quốc tịch như nhau, chẳng hạn mua bán giữa nhà kinh doanh nội địa và nhà kinh doanh trong khu chế xuất trong cùng một nước
-Hàng hóa xuất nhập khẩu không nhất thiết phải dịch chuyển qua biên giới từ nước người mua đến nước người bán, ví dụ hợp đồng mua bán giữa nội địa và khu chế xuất Do có đặc điểm này, nên các nước thường thiết lập một quy chế thanh toán đặc thù riêng cho khu chế xuất
-Đồng tiền sử dụng trong thanh toán là đồng tiền chung, tức không phải
là nội tệ của riêng một nước và cũng không phải là đồng tiền của một nước thứ ba
-Nhiều nước áp dụng chính sách “Đô la hóa toàn phần”, nghĩa là sử dụng đồng ngoại tệ làm đồng tiền pháp định quốc gia, do đó đã làm triệt tiêu yếu tố tỷ giá trong thanh toán quốc tế
-Xu thế tự do hóa thương mại toàn cầu, dỡ bỏ hàng rào thương mại (thuế quan và phi thuế quan) đã làm cho ngoại thương và nội thương ngày càng trở nên đồng nhất với nhau hơn
Về cơ bản, thanh toán quốc tế phát sinh trên cơ sở hoạt động thương mại quốc tế, là khâu cuối cùng của quá trình mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch
vụ giữa các tổ chức và cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau
Trong thương mại quốc tế, không phải lúc nào các nhà xuất nhập khẩu cũng có thể thanh toán tiền hàng trực tiếp cho nhau, mà phải thông qua NHTM với mạng lưới chi nhánh và hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp toàn cầu Thay mặt khách hàng thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế, các ngân hàng trở thành cầu nối trung gian thanh toán giữa bên mua và bên bán Ngày nay, hoạt động thương mại quốc tế luôn cần đến sự tham gia, hỗ trợ về kỹ thuật nghiệp vụ và tài chính của ngân hàng Ngân hàng cung cấp các phương
Trang 13án lựa chọn phương thức thanh toán quốc tế, tài trợ XNK, đảm bảo an toàn và quyền lợi của cả hai bên mua bán, thông qua đó thúc đẩy ngoại thương phát triển và mở rộng các quan hệ với các quốc gia trên thế giới
1.1.2 Các phương thức thanh toán quốc tế
Trong quan hệ ngoại thương có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau như chuyển tiền, ghi sổ, nhờ thu, tín dụng chứng từ… Mỗi phương thức thanh toán đều có ưu điểm và nhược điểm, phù hợp với những quan hệ XNK khác nhau Vì vậy, việc lựa chọn phương thức thanh toán thích hợp phải được hai bên bàn bạc thống nhất, ghi trong hợp đồng mua bán ngoại thương Hiện các NHTM thường sử dụng các phương thức thanh toán cơ bản sau:
1.1.2.1.Phương thức chuyển tiền (Remittance)
Chuyển tiền là phương thức thanh toán quốc tế, trong đó một khách hàng (người có yêu cầu chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển qua một ngân hàng khác một số tiền nhất định cho người khác (người thụ hưởng)
ở một địa điểm nhất định, trong một thời gian nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu
Sơ đồ 1.1 Quy trình thanh toán bằng chuyển tiền
Ngân hàng trả tiền (Paying Bank)
Ngân hàng chuyển tiền (Remitting Bank)
Người hưởng lợi (Beneficiary)
Người chuyển tiền (Remitter)
(4)
(5)
(3) (1)
(2)
Trang 14Chú thích
(1) Người xuất khẩu thực hiện giao hàng theo hợp đồng, lập bộ chứng từ hàng hoá gửi cho người nhập khẩu để đi nhận hàng
(2) Người nhập khẩu sau khi nhận hàng, kiểm tra hàng hoá và bộ chứng
từ hàng hoá, nếu thấy phù hợp với các điều khoản trong hợp đồng đã ký kết, lập giấy đề nghị chuyển tiền gửi đến ngân hàng phục vụ mình
(3) Sau khi kiểm tra chứng từ và các điều kiện chuyển tiền theo quy định, nếu thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng thực hiện trích tài khoản để chuyển tiền và gửi giấy báo nợ cho nhà nhập khẩu
(4) Ngân hàng chuyển tiền lập lệnh chuyển tiền gửi qua ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của mình đến ngân hàng trả tiền
(5) Ngân hàng trả tiền thực hiện ghi có vào tài khoản của người hưởng lợi, đồng thời gửi thông báo có cho người hưởng lợi
1.1.2.2.Phương thức nhờ thu (Collection)
Nhờ thu là một phương thức thanh toán, trong đó, người bán (nhà xuất khẩu) sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng, uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình xuất trình bộ chứng từ thông qua ngân hàng thu hộ cho bên mua(nhà nhập khẩu) để được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác
Căn cứ vào nội dùng chứng từ được gửi đến ngân hàng nhờ thu mà người ta chia phương thức thanh toán này ra thành hai loại:
- Nhờ thu phiếu trơn (Clean collection): Là phương thức thanh toán, trong đó chứng từ nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính (hối phiếu, kỳ phiếu, séc, giấy nhận nợ hay công cụ thanh toán khác), còn các chứng từ thương mại (chứng từ vận tải, hoá đơn, bảo hiểm…) được gửi trực tiếp cho người nhập khẩu, không thông qua ngân hàng
Trang 15- Nhờ thu kèm chứng từ: Là phương thức thanh toán, trong đó chứng từ gửi đi nhờ thu bao gồm:
hoặc (i): chứng từ thương mại cùng với chứng từ tài chính,
hoặc (ii): chỉ chứng từ thương mại mà không có chứng từ tài chính gửi cùng Ngân hàng thu hộ chỉ trao bộ chứng từ cho người nhập khẩu sau khi người này đáp ứng được yếu cầu của lệnh nhờ thu
Sơ đồ 1.2 Quy trình nhờ thu phiếu trơn
Chú thích
1) Ký kết hợp đồng mua bán, trong đó điều khoản thanh toán quy định
áp dụng phương thức”Nhờ thu phiếu trơn”
2) Người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu theo quy định của hợp đồng
3) Người xuất khẩu lập đơn yêu cầu nhờ thu gửi cùng chứng từ tài chính tới ngân hàng phục vụ mình
4) Ngân hàng gửi nhờ thu lập Lệnh nhờ thu cùng chứng từ tài chính đến ngân hàng thu hộ
Ngân hàng nhờ thu
(Remitting bank)
Ngân hàng thu hộ (Collecting bank)
Người uỷ thác
(Pricipal)
Người trả tiền (Drawee)
(7) (8)
(1)
(3)
(2) (4)
Trang 165) Ngân hàng thu hộ thông báo Lệnh nhờ thu tới người nhập khẩu
6) Người nhập khẩu lập lệnh thanh toán gửi đến ngân hàng thu hộ hoặc gửi hối phiếu chấp nhận thanh toán đến ngân hàng thu hộ
7) Ngân hàng thu hộ chuyển giá trị nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận, hoặc kỳ phiếu hay giấy nhận nợ cho ngân hàng nhân nhờ thu
8) Ngân hàng gửi nhờ thu chuyển trả giá trị nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận, hoặc kỳ phiếu hay giấy nhận nợ cho người xuất khẩu
Sơ đồ 1.3 Quy trình nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ
Chú thích
1) Ký kết hợp đồng mua bán, trong đó điều khoản thanh toán quy định
áp dụng phương thức “Nhờ thu kèm chứng từ’
2) Nhà xuất khẩu gửi hàng hóa cho nhà nhập khẩu
3) Nhà XK lập Đơn yêu cầu nhờ thu gửi cùng bộ chứng từ (bao gồm chứng từ thương mại cùng chứng từ tài chính (nếu có) tới Ngân hàng nhờ thu 4) Ngân hàng nhờ thu lập Lệnh nhờ thu và gửi cùng bộ chứng từ tới Ngân hàng thu hộ
5) Ngân hàng thu hộ thông báo Lệnh nhờ thu và xuất trình bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu
Ngân hàng nhờ thu (Remitting Bank)
Ngân hàng thu hộ (Colletcting Bank)
Nhà xuất khẩu (Exporter)
Nhà nhập khẩu (Importer)
Trang 176) Nhà nhập khẩu chấp hành Lệnh nhờ thu bằng cách:
- Thanh toán ngay (hối phiếu trả ngay, séc hoặc kỳ phiếu); hoặc
- Chấp nhận hối phiếu (hối phiếu kỳ hạn); hoặc
- Ký phát hành kỳ phiếu hoặc giấy nhận nợ
7) Ngân hàng thu hộ trao bộ chứng từ thương mại cho nhà nhập khẩu 8) Ngân hàng thu hộ chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận, hoặc kỳ phiếu hay giấy nhận nợ cho Ngân hàng nhờ thu
9) Ngân hàng nhờ thu chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận, hoặc kỳ phiếu hay giấy nhận nợ cho nhà xuất khẩu
1.2.2.3.Phương thức tín dụng chứng từ (Letter of Credit – L/C)
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự cam kết, trong đó, theo yêu
cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) một ngân hàng (ngân hàng phát hành thư tín dụng) sẽ phát hành một bức thư, gọi là L/C (Letter of Credit), theo đó, ngân hàng phát hành cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba (người thụ hưởng L/C) khi người này xuất trình cho ngân hàng phát hành một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định của L/C
Sơ đồ 1.4 Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
Ngân hàng phát
hành (Issuing bank)
Ngân hàng thông báo (Advising bank)
Người mở-Nhà
NK (Importer)
Người hưởng-Nhà
XK (Exporter)
(7)
(8)
(1) (5) (3)
Trang 18(4) Ngân hàng thông báo thực hiện chỉ thị của ngân hàng phát hành, thông báo L/C bằng văn bản cho người xuất khẩu
(5) Căn cứ vào các nội dùng, điều kiện và điều khoản của L/C, người xuất khẩu tiến hành giao hàng
(6) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ hàng hoá, chứng
từ thanh toán gửi về ngân hàng phục vụ mình (ngân hàng thông báo) để yêu cầu thanh toán
(7) Ngân hàng thông báo xác nhận kiểm tra kỹ chứng từ nhận được phù hợp theo đúng điều kiện và điều khoản ghi trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng phát hành L/C yêu cầu thanh toán
(8) Ngân hàng phát hành kiểm tra kỹ các chứng từ nhận được nếu thấy phù hợp với các điều kiện và điều khoản ghi trong L/C thì tiến hành thanh toán cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng phục vụ người xuất khẩu (9) Ngân hàng phát hành đòi tiền người nhập khẩu và giao bộ chứng từ cho người nhập khẩu nếu được chấp nhận
(10) Nhà nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền
Trang 191.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM nhưng có thể phân thành hai nhóm nhân tố cơ bản là: nhóm các nhân
tố bên ngoài ngân hàng và nhóm các nhân tố bên trong ngân hàng
1.1.3.1 Nhân tố bên ngoài ngân hàng
-Các chính sách vĩ mô của nhà nước: đây là một nhân tố quan trọng,
có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp- các khách hàng của ngân hàng và ảnh hưởng đến chính hoạt động kinh doanh của NHTM
- Chính sách quản lý ngoại hối: Nhà nước thực hiện quản lý ngoại hối
thông qua việc đề ra các chính sách nhằmvkiểm soát luồng vận động của ngoại hối vào ra và các quy định về trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng Căn cứ vào tình hình cụ thể và những biến động trên thị trường mà nhà nước áp dụng các chính sách về quản lý ngoại hối tự do hay thắt chặt nhằm hướng sự vận động của hoạt động ngoại hối đi vào ổn định theo chủ trương của nhà nước Hoạt động thanh toán quốc tế liên quan đến sự vận động luồng tiền tệ ra vào quốc gia, do đó chịu sự quản lý ngoại hối của quốc gia
- Chính sách thuế: Các chính sách thuế của nhà nước có ảnh hưởng rất
lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu Thông qua việc áp dụng mức thuế cao hay thấp đối với mặt hàng xuất nhập khẩu nào đó sẽ hạn chế hay khuyến khích sản xuất hay nhập khẩu mặt hàng đó
- Chính sách kinh tế đối ngoại: Việc đưa ra các định hướng mang tính
chiến lược là bảo hộ mậu dịch hay tự do hóa mậu dịch có ảnh hưởng lớn đến hành vi của các doanh nghiệp, từ đó dẫn đến sự sôi động hay trầm lắng của
Trang 20hoạt động thanh toán quốc tế Sự lựa chọn chính sách đối ngoại của quốc gia nếu thiên về xu hướng bảo hộ mậu dịch sẽ gây khó khăn cản trở hoạt động ngoại thương, ngược lại nếu thiên về xu hướng tự do hóa mậu dịch sẽ tạo điều kiện cho ngoại thương phát triển, qua đó thúc đẩy hoạt động thanh toán quốc
tế phát triển
- Sự thay đổi chế độ kinh tế, chính trị của nước bạn hàng: hoạt động
thanh toán quốc tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tác động của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia Mỗi sự biến động về chế độ chớnh trị của nước bạn hàng sẽ ảnh hưởng đến khả năng và sự sẵn sàng đáp ứng các cam kết đã thoả thuận giữa các bên Sự suy thoái kinh tế, biến động chính trị
sẽ ảnh hưởng bất lợi đến tự do hóa thương mại, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến quá trình thanh toán Những thay đổi về cơ chế, chính sách của một quốc gia như thay đổi những quy định
về dự trữ ngoại hối, quy định về thuế, phí xuất nhập khẩu hoặc đơn giản là môi trường pháp lý, nền kinh tế của một quốc gia chưa ổn định và thường xuyên thay đổi khiến cho các bên đối tác không dự đoán trước được tình hình làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán, vì vậy gây thiệt hại cho các bên tham gia, trong đó có các NHTM
- Các yếu tố về phía khách hàng: trong nền kinh tế thị trường, khách
hàng là yếu tố quyết định đến sự sống còn của ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng Nếu ngân hàng có thể thu hút một lượng khách hàng lớn, thường xuyên có hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thì sẽ tạo điều kiện rất tốt để hoạt động thanh toán quốc tế phát triển
Ngoài ra, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính, trình độ nghiệp vụ ngoại thương, hành vi đạo đức của khách hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM
Trang 211.1.3.2 Nhân tố bên trong ngân hàng
- Mô hình tổ chức quản lý điều hành hoạt động thanh toán quốc tế của
NHTM: Một hệ thống quản lý điều hành thống nhất từ trung ương đến chi nhánh
theo một quy trình cụ thể, gọn nhẹ, giao quyền chủ động cho chi nhánh sẽ tiết kiệm được chi phí, thời gian thanh toán nhanh chóng và an toàn sẽ thu hút khách hàng đến với ngân hàng nhiều hơn và quyền lợi của họ được đảm bảo
- Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng: Luật pháp mỗi nước khác
nhau nên trong thương mại đã có những quy định thống nhất, những thông lệ quốc tế mà các bên tham gia, kể cả ngân hàng đều phải tuân thủ Cán bộ ngân hàng làm công tác thanh toán quốc tế phải nắm rõ các quy trình nghiệp vụ thanh toán quốc tế, sử dụng ngoại ngữ, nắm rõ các thông lệ quốc tế vì như thế thì hoạt động thanh toán quốc tế mới được thực hiện trôi chảy, hạn chế rủi ro cho cả khách hàng và ngân hàng
- Công nghệ ngân hàng: Hệ thống ngân hàng mỗi nước dù đã hay đang
phát triển đều rất quan tâm đến hoạt động thanh toán quốc tế Tiêu chí hoạt động thanh toán quốc tế là phải nhanh chóng, kịp thời và chính xác Do đó, các công nghệ tiên tiến của ngành ngân hàng đều được ứng dụng nhằm thực hiện tốt hơn tiêu chí trên
- Uy tín của NHTM trong nước và quốc tế: Một ngân hàng có uy tớn lớn
là ngân hàng có các hoạt động đa dạng và phong phú cả về quy mô lẫn chất lượng, điều này sẽ thu hút một số lượng lớn khách hàng đến với ngân hàng Không những thế, một ngân hàng có uy tín sẽ dễ dàng mở rộng được thị trường trong nước và quốc tế Đặc biệt khi ngân hàng có uy tín trên thị trường quốc tế sẽ rất thuận lợi khi thực hiện các nghiệp vụ mang tính bảo lãnh thanh toán cho khách hàng trong nước và nghiệp vụ TTQT, đồng thời các ngân hàng và đối tác nước ngoài sẽ tin tưởng lựa chọn ngân hàng để giao dịch
Trang 22- Các hoạt động khác liên quan đến hoạt động thanh toán quốc tế:
Đây là các hoạt động có tác dụng bổ trợ cho hoạt động thanh toán quốc tế của các NHTM như: hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu, hoạt động kinh doanh ngoại tệ …
- Mạng lưới ngân hàng đại lý: Ngân hàng hàng đại lý của NHTM nhằm
giải quyết công việc ngay tại quốc gia của mình khi NHTM đó chưa có chi nhánh tại nước ngoài Mạng lưới ngân hàng đại lý rộng khắp trên thế giới giúp cho các giao dịch và thanh toán ra nước ngoài được thực hiện nhanh chóng, chính xác, giảm bớt chi phí và giảm thiểu rủi ro Mặt khác thông qua ngân hàng đại lý, các NHTM sẽ điều kiện thực hiện các dịch vụ uỷ thác của ngân hàng đại lý để mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế
1.1.4 Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM
Ngày nay, hoạt động thanh toán quốc tế là một dịch vụ quan trọng đối
với các NHTM Nó đem lại nguồn thu đáng kể không những về số lượng tuyệt đối mà về cả tỷ trọng Thanh toán quốc tế còn là một mắt xích quan trọng chắp nối, thúc đẩy phát triển và mở rộng các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng như: kinh doanh ngoại tệ, tài trợ XNK, bảo lãnh, tăng cường nguồn vốn huy động đặc biệt là nguồn vốn ngoại tệ…
Tuy nhiên với mỗi phương thức thanh toán quốc tế khác nhau thì vai trò trung gian thanh toán của các NHTM là khác nhau Chính vì vậy, mức độ rủi ro của các phương thức thanh toán đối với NHTM cũng khác nhau Kết hợp giữa lý thuyết về rủi ro với thực tế trong hoạt động thanh toán quốc tế, ta
có thể hiểu một cách khái quát rủi ro trong thanh toán quốc tế như sau: “Rủi
ro trong thanh toán quốc tế là những biến cố không mong đợi có thể xảy ra trong quá trình tiến hành hoạt động thanh toán, gây thiệt hại cho các bên tham gia”
Trang 23Từ khái niệm trên, ta có thể thấy rủi ro trong thanh toán quốc tế có một
số đặc điểm như sau:
- Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia vào quá trình thanh toán
- Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế mang tính chất bất định Có nghĩa là rủi ro có thể lường trước được nhưng không thể xác định một cách chính xác khi nào rủi ro xảy ra và với mức độ như thế nào
- Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế mang tính lịch sử, với mỗi giai đoạn lịch sử nó lại có những đăc điểm riêng biệt Nó luôn biến đổi cùng với sự phát triển của hoạt động thanh toán quốc tế
Thông thường các NHTM gặp phải các rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế như sau:
- Rủi ro chính trị: Các phương thức thanh toán quốc tế thường chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ của môi trường chính trị, xã hội của các quốc gia Một sự biến động dù là nhỏ về chính trị, xã hội của mỗi một quốc gia như : Thay đổi thể chế chính trị, nổi loạn, bạo động, đảo chính, lệnh cấm vận…đều ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các bên tham gia Những biến động này thường khiến các Ngân hàng, các nhà XNK không thể thực hiện cam kết của mình do quá trình giao nhận hàng hóa bị cảm trở, làm cho quá trình thanh toán
bị ngưng trệ, thậm chí là hủy bỏ gây thiệt hại cho các bên
- Rủi ro pháp lý: Những thay đổi trong môi trường pháp lý của mỗi một
quốc gia là nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro cho các bên tham gia, mà nguồn gốc của những thay đổi này thường xuất phát từ những bất ổn chính trị Những thay đổi về thuế XNK, hạn ngạch, dự trữ ngoại hối… đã làm cho các điều kiện trên thị trường tài chính (giá cả, lãi suất, tỷ giá…) thay đổi đột biến không dự tính trước làm các nhà XNK và ngân hàng gặp phải khó khăn trong quá trình thanh toán, không hoàn thành nghĩa vụ như đã cam kết
Trang 24Ngoài ra, rủi ro pháp lý còn xảy ra khi có sự vận dụng không đồng nhất giữa các nguồn luật điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế Chính vì vậy khi thực hiện thanh toán các NHTM nên quy định thống nhất và rõ ràng để tránh xảy ra rủi ro nay
- Rủi ro hối đoái: Trong các hợp đồng ngoại thương, các nhà XNK luôn
chọn ra một đồng tiền nhất định làm đồng tiền thanh toán và là ngoại tệ với ít nhất một bên, từ đó làm xuất hiện tỷ giá hối đoái giữa đồng ngoại tệ và đồng nội tệ đối với các bên tham gia, nó có ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động thanh toán quốc tế Khi tỷ giá biến động lên hoặc xuống sẽ tạo ra sự có lợi hay bất lợi cho các bên Tỷ giá phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của nền kinh tế như: Lạm phát, dự trữ ngoại hối, dòng tiền đầu tư từ nước ngoài…Vì vậy các bên tham gia vào các hoạt động ngoại thương cũng như TTQT như các Doanh nghiệp XNK hay các Ngân hàng đều cần phải chú trọng đến công tác phòng ngừa loại rủi ro này
- Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng trong thanh toán thanh toán quốc tế
là những rủi ro phát sinh khi việc cấp tín dụng của các ngân hàng cho các bên tham gia không được thanh toán do một trong các bên đó không có khả năng hoàn trả Rủi ro tín dụng liên quan trực tiếp đến tình hình tài chính cũng như khả năng thanh toán của các bên
- Rủi ro đạo đức: Rủi ro đạo đức là những rủi ro xảy ra khi một bên
tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan Về mặt địa lý, các bên đối tác tham gia trong mỗi thương vụ ngoại thương thường
ở cách xa nhau và với thời đại công nghệ thông tin như hiện nay, hầu hết các bên đều giao dịch với nhau qua internet và gần như không gặp mặt nhau, vậy nên để nắm bắt tường tận những thông tin về uy tín, đạo đức, năng lực tài chính…là rất khó khăn, điều này đã làm cho rủi ro đạo đức rất dễ nảy sinh,
Trang 25không chỉ đối với các nhà XNK mà còn cả với ngân hàng, một hành vi không
có đạo đức của bất kỳ một bên đối tác nào đều có thể gây ra ảnh hưởng không tốt cho ngân hàng khi thực hiện thanh toán
- Rủi ro tác nghiệp: Rủi ro tác nghiệp là những rủi ro mang tính kỹ thuật
phát sinh trong quá trình thực hiện thanh toán thanh toán quốc tế
- Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản là những thiệt hại do ngân
hàng phải gánh chịu khi không có đủ tiền để đáp ứng yêu cầu của khách hàng Tuy nhiên rủi ro này rất ít khi xảy ra, đối với những quốc gia mà đồng tiền của họ không có thế mạnh trong thanh toán quốc tế thì họ phải dự trữ một lượng lớn ngoại tệ mạnh Đôi khi ngân hàng không dự trữ đủ lượng ngoại tệ lớn để đáp úng nhu cầu nhà nhập khẩu trong thanh toán Vì vậy thanh toán chậm cho nhà xuất khẩu làm giảm uy tín của ngân hàng
1.2 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC NHTM
Hiệu quả thanh toán quốc tế là một phạm trù phản ánh chất lượng kinh doanh trong lĩnh vực thanh toán quốc tế tại NHTM Trong thời gian gần đây, hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại được quan tâm đầu tư phát triển như việc đầu tư đào tạo cán bộ chuyên gia thanh toán quốc
tế, đầu tư lớn cho công nghệ thanh toán hiện đại, tổ chức lại mạng lưới thanh toán quốc tế trong hệ thống đáo ứng yêu cầu hội nhập quốc tế… Chính vì vậy dịch vụ thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam đạt được những kết quả rõ rệt Tuy nhiên hầu hết các ngân hàng thương mại mới chỉ tập chung chủ yếu vào khâu làm thế nào để mở rộng và hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế mà chưa chú trọng đến khâu phân tích , đánh giá hiệu quả của hoạt động thanh toán quốc tế Hiện nay có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế như :Tăng cường và hỗ trợ nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ; Tăng cường và hỗ trợ nghiệp vụ tài trợ xuất
Trang 26nhập khẩu; Tăng cường các hỗ trợ dịch vụ ngân hàng khác… Tuy nhiên hệ
thống các chỉ tiêu đo lường hiệu quả thanh toán quốc tế thường được xem xét
theo một số chỉ tiêu sau:
1.2.1 Nhóm các chỉ tiêu định lượng
- Doanh số và sự gia tăng doanh số thanh toán quốc tế: Chỉ tiêu này
phản ánh một phần hiệu quả của hoạt động nghiệp vụ thanh toán quốc tế
- Phí thanh toán quốc tế: Khi thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế
ngân hàng sẽ thu được một khoản phí nhất định theo biểu phí dịch vụ như phí
mở L/C, thanh toán L/C, phí chuyển tiền hoặc thu được từ hoạt động kinh
doanh ngoại tệ của NHTM Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động
thanh toán quốc tế, phí và lãi kinh doanh ngoại tệ thu được càng cao thì hiệu
quả hoạt động thanh toán quốc tế càng lớn, càng góp phần tăng hiệu quả kinh
Chỉ tiêu này sẽ cho ta biết trong tổng thu dịch vụ của ngân hàng thì phí
thanh toán quốc tế chiếm bao nhiêu phần trăm Chỉ số này càng lớn thì càng
chứng tỏ hoạt động thanh toán quốc tế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu dịch
Trang 27Chỉ tiêu này cho ta biết ngân hàng thu được bao nhiêu doanh thu trong tổng doanh số hoạt động thanh toán quốc tế Chỉ tiêu này càng cao cho ta biết hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế càng lớn
- Số lượng khách hàng và sự gia tăng về số lượng khách hàng: Hoạt
động thanh toán quốc tế có hiệu quả hay không một phần được đánh giá giá qua số lượng khách hàng và sự gia tăng về số lượng khách hàng sử dụng thanh toán quốc tế của ngân hàng Chỉ tiêu này cho thấy sự hài lòng của khách hàng và thể hiện uy tín của ngân hàng
- Mức độ đa dạng của sản phẩm dịch vụ thanh toán quốc tế: Số lượng
các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, số lượng sản phẩm dịch vụ trong từng nghiệp vụ cụ thể, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, tăng thêm thu nhập của ngân hàng qua thu các phí dịch vụ, phí thanh toán
- Tỷ lệ điện thanh toán chuẩn (STP- Straight Through Processing):
đây là tiêu chí để đánh giá chất lượng việc thực hiện thanh toán của các ngân hàng Tiêu chí này dựa trên số lượng điện được định dạng chính xác tuyệt đối,
hệ thống máy tính cài đặt có thể tự động xử lý, không cần sự can thiệp của con người trên tổng số lượng các điện thanh toán Hiện nay các ngân hàng nước ngoài dựa theo tiêu chí này để đánh giá chất lượng thanh toán quốc tế của các NHTM ở Việt Nam
Trang 281.2.2 Các chỉ tiêu định tính
Bên cạnh các chỉ tiêu định lượng ở trên chúng ta có thể đánh giá hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế qua một số chỉ tiêu định tính sau:
-Tốc độ gia tăng về công nghệ: Đánh giá về trình độ công nghệ được sử
dụng trong hoạt động thanh toán quốc tế, đây là chỉ tiêu tương đối quan trọng,
là cơ sở để phát triển dịch vụ mới, tiện ích, tiên tiến, chất lượng sản phẩm dịch vụ, đẩy nhanh tốc độ xử lý nghiệp vụ thanh toán quốc tế Công nghệ hiện đại sẽ giúp cho quá trình thanh toán được nhanh chóng, chính xác an toàn, giảm chi phí trung gian, tăng năng suất, tăng hiệu quả quản lý, đáp ứng yêu cầu của khách hàng, tăng thu nhập
- Sự phát triển của mạng lưới ngân hàng đại lý: Để đảm bảo anh toàn,
nhanh chóng trong hoạt động thanh toán quốc tế luôn đòi hỏi các ngân hàng phải phát triển mối quan hệ ngân hàng đại lý với các ngân hàng nước ngoài Mối quan hệ này phải dựa trên cơ sở hợp tác và tương trợ lẫn nhau Hoạt động nghiệp vụ càng lâu dài, mối quan hệ này càng mở rộng và đây chính là hiệu quả do hoạt động thanh toán quốc tế
- Sự phát triển của các hoạt động dịch vụ liên quan: Trong hoạt động
thanh toán quốc tế, NHTM không chỉ không chỉ thực hiện chức năng trung gian thanh toán giữa các bên mà còn cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ khác như: tín dụng, bảo lãnh, mua bán ngoại tệ Từ đó ngân hàng có thể mở rộng hoạt động kinh doanh của mình
- Uy tín, hình ảnh của ngân hàng trong hoạt động thanh toán quốc tế: Uy tín của ngân hàng trong nước và trên thị trường quốc tế là tiêu chí
tổng hợp từ rất nhiều yếu tố: chất lượng dịch vụ, kỹ thuật xử lý nghiệp vụ, khả năng thanh toán… Một ngân hàng có uy tín sẽ là điều kiện đầu tiên để khách hàng (hoặc bên đối tác của họ) lựa chọn giao dịch Nhờ đó, uy tín của bản thân khách hàng cũng được nâng lên, độ rủi ro giảm đi và khách
Trang 29hàng giảm được chi phí mua hàng vì không phải trả thêm các chi phí phát sinh từ việc ngân hàng giao dịch có uy tín không cao Đây là điều kiện quan trọng để ngân hàng thu hút thêm khách hàng, tăng doanh thu và mở rộng thị phần thanh toán quốc tế
1.3.MARKETING CÔNG CỤ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC NHTM
1.3.1.Marketing thanh toán quốc tế
Marketing trở thành lý thuyết kinh doanh hiện đại, là công cụ gắn hoạt động của không chỉ của các doanh nghiệp mà các ngân hàng đã tập trung nhiều hơn vào việc nghiên cứu và ứng dụng Marketing vào hoạt động kinh doanh Marketing trở thành nhân tố dẫn đến sự thành công của nhiều ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Có nhiều quan niệm về Marketing thanh toán quốc tế trong hoạt động kinh doanh ngân hàng vì trong từng thời điểm, từng trường hợp khác nhau người ta nhìn nhận Marketing thanh toán quốc tế dưới con mắt khác nhau, song đều có sự thống nhất về những vấn đề cơ bản của Marketing thanh toán quốc tế Đó là:
Thứ nhất, việc sử dụng Marketing vào lĩnh vực thanh toán quốc tế phải dựa
trên những nguyên tắc, nội dung và phương châm của Marketing hiện đại
Thứ hai, quá trình Marketing thanh toán quốc tế thể hiện sự thống nhất
cao độ giữa nhận thức và hành động của ngân hàng về thị trường, nhu cầu khách hàng và năng lực của ngân hàng Do vậy ngân hàng cần phải định hướng hoạt động thanh toán quốc tế và toàn thể đội ngũ nhân viên ngân hàng vào việc tạo dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ với khách hàng
Thứ ba, nhiệm vụ then chốt của Marketing thanh toán quốc tế là xác định
được nhu cầu, mong muốn của khách hàng và cách thức đáp ứng nó một cách hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh
Trang 30Như vậy có thể hiểu “Marketing thanh toán quốc tế trong ngân hàng là
phương pháp quản trị tổng hợp dựa trên cơ sở nhận thức về hoạt động kinh doanh XNK, môi trường kinh doanh; những hành động của ngân hàng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu thanh toán quốc tế của khách hàng, phù hợp với những biến động của môi trường Trên cơ sở đó mà thực hiện các mục tiêu của kinh doanh ngân hàng.”
1.3.2 Vai trò của Marketing trong hoạt động thanh toán quốc tế
* Marketing tham gia vào việc giải quyết những vấn đề cơ bản của hoạt động TTQT của các NHTM
Hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng được khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng Nếu không có hoạt động thanh toán quốc tế thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và phát triển được Nếu hoạt động thanh toán quốc tế được nhanh chóng, an toàn, chính xác sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hoá- tiền tệ giữa người mua và người bán một cách trôi chảy và hiệu quả Với vai trò trung gian thanh toán, các ngân hàng tiến hành thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong giao dịch thanh toán,
tư vấn, hướng dẫn khách hàng những biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán quốc tế nhằm hạn chế rủi ro, tạo sự tin tưởng cho khách hàng trong giao dịch mua bán với nước ngoài Vì vậy, các ngân hàng cũng phải lựa chọn và giải quyết các vấn đề cơ bản của hoạt động thanh toán quốc tế với sự hỗ trợ đắc lực của Marketing
*Marketing trở thành cầu nối gắn kết hoạt động thanh toán quốc tế với hoạt động kinh tế đối ngoại
Hoạt động kinh tế đối ngoại vừa là đối tượng phục vụ, vừa là môi trường hoạt động của ngân hàng Thanh toán quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại quan hệ tác động hữu cơ và ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau Do vậy hiểu
Trang 31được nhu cầu thanh toán của thị trường để gắn chặt chẽ với hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng sẽ làm cho hoạt động của ngân hàng có hiệu quả cao Điều này sẽ thực hiện tốt thông qua cầu nối Marketing bởi Marketing giúp các ngân hàng nhận biết được các yếu tố của thị trường, nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm dịch vụ thanh toán quốc tế Mặt khác trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế khách hàng không đủ năng lực về vốn thì Marketing là công cụ dẫn dắt hướng chảy của tiền vốn, thực hiện tài trợ xuất nhập khẩu cho khách hàng một cách chủ động và hợp lý Nhờ có Marketing
mà các ngân hàng thương mại có thể phối kết hợp định hướng hoạt động kinh doanh chung và hoạt động thanh toán quốc tế nhằm thoả mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng ở mức có lợi cao nhất cho cả ngân hàng
* Marketing góp phần tạo vị thế cạnh tranh của ngân hàng trong hoạt động thanh toán quốc tế của các NHTM
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Marketing ngân hàng là tạo
vị thế cạnh tranh trên thị trường Trong quá trình hoạt động thanh toán quốc tế nếu ngân hàng nào đưa ra những sản phẩm dịch vụ thanh toán quốc tế khác biệt và chỉ rõ lợi thế cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ ở thị trường mục tiêu, đồng thời làm cho khách hàng thấy được lợi ích thực tế sản phẩm dịch vụ đó thì sẽ tạo được vị thế cạnh tranh Tuy nhiên điều này phụ thuộc rất lớn vào khả năng, trình độ Marketing của mỗi ngân hàng
1.3.3 Nội dung sử dụng Marketing nâng cao hiệu quả trong hoạt động thanh toán quốc tế của các NHTM
1.3.3.1 Nghiên cứu môi trường Marketing thanh toán quốc tế
Nghiên cứu môi trường là công việc rất cần thiết và có tính chất quyết định của Marketing thanh toán quốc tế nhằm xác định nhu cầu thanh toán XNK của thị trường và sự biến động của nó, bởi vì càng hiểu rõ, đầy đủ,
Trang 32chính xác, chi tiết, cụ thể về môi trường hoạt động thanh toán quốc tế bao nhiêu thì bộ phận Marketing thanh toán quốc tế càng chủ động trong việc đưa
ra các biện pháp hoạt động phù hợp và hiệu quả cao bấy nhiêu Để có đầy đủ thông tin cần thiết về môi trường trong hoạt động thanh toán quốc tế,NHTM cần tập trung vào nghiên cứu nội dung chủ yếu sau:
* Hệ thống các văn bản pháp lý
Hoạt động thanh toán quốc tế là một hoạt động tương đối phức tạp, các chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế là các tổ chức, cá nhân ở các nước khác nhau, để thực hiện hoạt động này nhanh chóng, thuận tiện và
an toàn nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải áp dụng những văn bản pháp lý làm cơ sở Ngoài các việc tuân thủ luật pháp, quy chế trong nước, các văn bản của NHNN và các văn bản của từng NHTM thì hoạt động thanh toán quốc tế còn chịu sự điều chỉnh của hệ thống luật lệ quốc tế như: -Công ước Viên của Liên hiệp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (Vienna Convention on Contracts of International Sales of Goods-CISG) được công bố năm 1980, có hiệu lực từ 01-01-1998
- Công ước Brusell điều chỉnh vận đơn đường biển, năm 1924
- Luật thống nhất về Hối phiếu đòi nợ và Hối phiếu nhận nợ 1930 (Uniform Law for Bills of Exchànge and Promissory Note of 1930-ULB)
- Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (Uniform Customs and Practice for Documentary Credits-UCP)
Bản Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ lần đầu tiên được áp dụng vào năm 1933 do Phòng Thương mại và Công nghiệp quốc tế ban hành nhằm thống nhất những nội dung và sự hiểu biết chung trong giao dịch thương mại quốc tế giữa các khu vực, các châu lục Trải qua quá trình phát triển của thương mại quốc tế và thực tiễn giao dịch hàng ngày, UCP đã
Trang 33được sửa đổi, bổ sung nhiều lần cho phù hợp thực tế, đó là các bản sửa đổi vào các năm 1951, 1962, 1974, 1983(UCP400), 1993(UCP500) Bản sửa đổi gần đây nhất đang được áp dụng là UCP600 bao gồm 39 điều khoản và chính thức được áp dụng từ 01/07/2007 Hiện tại các ngân hàng vẫn áp dụng song song cả UCP500 và UCP600 tuỳ vào việc dẫn chiếu UCP nào trong LC
- Quy tắc thống nhất về nhờ thu (Uniform Rules for Collections-URC):
Là bản nguyên tắc thực hành thống nhất về nghiệp vụ nhờ thu, ấn phẩm mới nhất đang được sử dụng hiện nay là bản sửa đổi năm 1995 số 522 (URC, REV
1995, Pub 522, ICC)
- Quy tắc thống nhất về hoàn trả liên ngân hàng theo tín dụng chứng từ,
ấn bản số 525 (Uniform Rules for Bank to Bank Reimbursement under Documentary Credit-URR525), hiệu lực từ 01/07/1996 và sắp tới là bản sửa đổi mới được đưa vào sử dụng URR 725
- Thực hành tín dụng dự phòng quốc tế, ấn bản số 590 (International Standby Practices-ISP98), hiệu lực từ 01/01/1999
- Điều kiện Thương mại quốc tế do Phòng thương mại và Công nghiệp quốc tế ban hành (Incoterms 2000)
* Nghiên cứu nhu cầu của khách hàng
Khách hàng là thành phần có vị trí hết sức quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của ngân hàng vì họ vừa tham gia trực tiếp vào quá trình cung cấp các dịch vụ thanh toán quốc tế vừa là người có nhu cầu sử dụng dịch vụ này Trong hoạt động thanh toán quốc tế nghiên cứu nhu cầu khách hàng tìm hiểu nhu cầu, mong muốn và cách thức sử dụng các phương thức thanh toán quốc
tế của ngân hàng và họ sẵn lòng và có khả năng trao đổi với ngân hàng để thỏa mãn nhu cầu đó Khách hàng trong hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thường gồm hai loại chính:
Trang 34- Khách hàng công ty: tập hợp các công ty hay doanh nghiệp có hoạt động XNK nên họ có nhu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng Đây cũng là nhóm khách hàng chiếm tỷ trọng lớn, mang lại thu nhập chủ yếu trong hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM
- Khách hàng cá nhân: tập hợp các cá nhân Nhóm khách hàng này chủ yếu sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế thực hiện các hoạt động phi thương mại, nhận và chuyển tiền kiều hối, Western Union…Nhóm khách hàng này tuy chiếm tỷ trọng thấp trong hoạt động thanh toán quốc tế nhưng cũng đóng vai trò đáng kể trong hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM
Như vậy tùy từng nhóm khách hàng khác nhau thì nhu cầu, mong muốn
và đòi hỏi khác nhau về sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế của NHTM Do
đó trong hoạt động thanh toán quốc tế không chỉ nghiên cứu nhu cầu của khách hàng mà phải nghiên cứu cả các nhân tố tác động đến nhu cầu đó Để
từ đó bộ phận Marketing thanh toán quốc tế có thể chủ động đưa ra các chính sách, biện pháp đáp ứng nhu cầu của khách hàng hơn các đối thủ cạnh tranh
* Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh
Trong hoạt động thanh toán quốc tế chỉ thấu hiểu khách hàng không thôi chưa đủ mà các ngân hàng phải nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh cũng như khách hàng của họ Từ đó ngân hàng sẽ chủ động trong xây dựng và tổ chiến lược cạnh tranh một cách hiệu quả
1.3.3.2 Xây dựng chiến lược Marketing hỗn hợp trên đoạn thị trường thanh toán quốc tế (Marketing-mix)
Chiến lược Marketing hỗn hợp của ngân hàng là sự tập hợp những hành động của ngân hàng dựa trên các thành phần của Marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh kinh doanh thực tế của mỗi ngân hàng Nếu sự phối hợp của các thành phần Marketing được nhịp nhàng và đồng bộ thích ứng với sự diễn
Trang 35biến của thị trường thì hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng sẽ hiệu quả cao Nội dung của chiến lược Marketing hỗn hợp trong hoạt động thanh toán quốc tế của các NHTM bao gồm các nội dung sau:
1.3.3.2.1 Các sản phẩm thanh toán quốc tế (Product)
Sản phẩm là yếu tố quan trọng của Marketing-mix trong hoạt động thanh toán quốc tế vì sản phẩm là yếu tố đầu tiên của một ngân hàng khi thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế Hệ thống các sản phẩm thanh toán quốc tế cung ứng ra thị trường sẽ đáp ứng nhu cầu thanh toán của các khách hàng xuất nhập khẩu, từ đó sẽ duy trì khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới Chính
vì vậy mỗi ngân hàng thường dựa vào tiềm năng của mình, nhu cầu của khách hàng để xây dựng riêng cho mình một chính sách sản phẩm thanh toán quốc
Thông thường các ngân hàng tập trung vào việc khai thác các sản phẩm thanh toán quốc tế với quan điểm tối ưu hóa lợi nhuận của cả danh mục sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp Điều đó có nghĩa là ngân hàng thường bán chéo sản phẩm khi cung cấp sản phẩm thanh toán quốc tế như: tín dụng, bảo lãnh, chuyển tiền trong nước, …
Tuy nhiên do đặc điểm các sản phẩm thanh toán quốc tế mang tính phổ biến cao, có tính khác biệt rất thấp và rất dễ bắt chước nên sự khác biệt về sản phẩm đối với lĩnh vực thanh toán quốc tế chỉ mang tính tương đối
Trang 361.3.3.2.2 Phí thanh toán quốc tế (Price)
Phí thanh toán quốc tế là số tiền mà khách hàng phải trả khi sử dụng các dịch vụ thanh toán quốc tế do các NHTM cung ứng
Hiện nay phí dịch vụ trong hoạt động thanh toán quốc tế bao gồm các loại sau:
- Mức phí cố định: là mức phí hay hoa hồng hoặc lãi suất chiết khấu
hàng xuất khẩu mà khách hàng phải trả khi sử dụng các dịch vụ thanh toán quốc tế theo một tỷ lệ cụ thể
- Mức phí chênh lệch: là mức chênh lệch trong tỷ giá mua bán ngoại tệ
của các ngân hàng
Ngày nay dịch vụ thanh toán quốc tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vì vậy, tăng doanh số thanh toán quốc tế và thu từ thanh toán quốc tế luôn là mục tiêu quan trọng của các ngân hàng thương mại Nếu một ngân hàng đưa ra mức phí cố định cao hoặc mức phí chênh lệch nhiều thì thu từ một giao dịch thanh toán quốc tế có thể là nhiều nhưng tổng doanh số thanh toán quốc tế và thu từ hoạt động thanh toán quốc tế lại thấp vì khách hàng sẽ có sự so sánh các mức phí của các ngân hàng thương mại khác nhau và điều này sẽ tác động mạnh mẽ đến việc khách hàng sẽ lựa chon sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế ở ngân hàng nào Do vậy một biểu phí phù hợp giúp ngân hàng tăng khả năng cạnh tranh, tăng cường mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng sử dụng thanh toán quốc tế, duy trì khách hàng truyền thống, thu hút phát triển khách hàng mới cho ngân hàng
1.3.3.2.3 Kênh phân phối (Place)
Kênh phân phối là một tập hợp các yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình đưa sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến khách hàng Nhờ có kênh phân phối mà sản phẩm dịch vụ của ngân hàng nói chung và sản phẩm sịch vụ
Trang 37thanh toán quốc tế nói riêng được thực hiện một cách nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế của khách hàng Kênh phân phối đóng vai trò tích cực trong việc nắm bắt nhu cầu của khách hàng để ngân hàng chủ động trong việc cải tiến, hoàn thiện các phương thức thanh toán quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp các sản phẩm thanh toán quốc tế của ngân hàng cho khách hàng Đồng thời kênh phân phối hiện đại đang trở thành công cụ không chỉ tạo được sự khác biệt mà còn khuếch trương hình ảnh của ngân hàng trên thị trường
Căn cứ vào thời gian hình thành và trình độ kỹ thuật công nghệ hệ thống kênh phân phối trong hoạt động thanh toán quốc tế có thể chia thành 2 loại:
- Kênh phân phối truyền thống: Khi các ngân hàng thương mại bắt đầu
thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế thì các sản phẩm dịch vụ về thanh toán quốc tế mới được cung cấp cho các khách hàng thông qua đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng của các chi nhánh, phòng giao dịch và các ngân hàng đại
lý Do đó để hoạt động thanh toán quốc tế phát triển các ngân hàng thường
mở các chi nhánh, phòng giao dịch rộng khắp và luôn luôn sẵn sang cung ứng các sản phẩm dịch vụ thanh toán quốc tế
- Kênh phân phối hiện đại: Kênh phân phối hiện đại ra đời trên cơ sở
tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng Đối với hoạt động thanh toán quốc tế kênh phân phối này chủ yếu là các chi nhánh tự động hoàn toàn và ngân hàng điện tử (E- Banking)
Trang 38Các hoạt động truyền thông như hoạt động quảng cáo, giao dịch cá nhân, Marketing trực tiếp… giúp cho các khách hàng hiểu hơn về các phương thức thanh toán quốc tế của ngân hàng Từ đó giúp khách hàng có căn cứ quyết định lựa chọn phương thức thanh toán cũng như ngân hàng thanh toán để đảm bảo an toàn, nhanh chóng và hiệu quả nhất Các hoạt động quan hệ giúp ngân hàng có thể nắm được các thông tin phản hồi từ khách hàng cả về mức độ thoả mãn và sự không hài lòng về chất lượng thanh toán quốc tế Đây sẽ là căn cứ quan trọng để ngân hàng điều chỉnh, hoàn thiện các phương thức thanh toán quốc tế, biểu phí thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái, lãi suất chiết khấu,
hệ thống phân phối và cả các hoạt động xúc tiến hỗn hợp cho phù hợp với nhu cầu mong muốn của khách hàng Do vậy hoạt động xúc tiến hỗn hợp đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại
1.3.3.2.5 Cơ sở vật chất và công nghệ (Physical evidence)
Đây là yếu tố quan trọng để tạo niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng Một trụ sở khang trang, sạch đẹp với trang thiết bị hiện đại, được sắp xếp bố trí khoa học sẽ gây thiện cảm, tạo được sự tin tưởng cao Mặt khác một hệ thống thanh toán quốc tế hiện đại, có thể thực hiện nhanh chóng chính xác các lệnh thanh toán quốc tế cũng như có thể hỗ trợ các giao dịch tra soát khi cần thiết sẽ làm cho khách hàng quyết định nhanh hơn trong việc lựa chọn các sản phẩm thanh toán quốc tế và ngân hàng
1.3.3.2.6 Quy trình cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế (Process)
Đây chính là những quy định về trình tự, thủ tục thực hiện các phương thức thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại Thực tế quy trình thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại có những đặc điểm riêng
Trang 39Thứ nhất, sự chuẩn hoá và tính thống nhất cao Mỗi ngân hàng khi cung
cấp dịch vụ thanh toán quốc tế cho khách hàng đều phải tuân thủ theo một quy trình nhất định và mang tính chất nguyên tắc trong toàn hệ thống Tuy nhiên mỗi ngân hàng khác nhau thì quy trình là khác nhau
Thứ hai, quy trình cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng đa
dạng và đòi hỏi được hoàn thiện vì mỗi loại phương thức thanh toán, cách thức thanh toán của khách hàng thì sẽ có một quy trình riêng và nó luôn luôn đòi hỏi được hoàn thiện theo định hướng của khách hàng
Thứ ba, quy trình cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế có sự tham gia cả
3 yếu tố: nhân viên, cơ sở vật chất kỹ thuật và đặc biệt có sự tham gia trực tiếp của khách hàng, do đó chiến lược quy trình của các ngân hàng thường gắn liền với Marketing tương tác, có nghĩa là sự hoàn thiện quy trình thanh toán quốc tế của các ngân hàng cần có nhiều biện pháp để tăng cường mối quan hệ giữa khách hàng và nhân viên ngân hàng và quan trọng hơn là giảm thiểu sự tham gia của khách hàng, đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận của khách hàng trong sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế Đây được coi là vấn đề quan trọng nhất trong hoàn thiện quy trình cung cấp dịch vụ thanh toán quốc
tế của Marketing ngân hàng thương mại
1.2.3.2.7.Nhân viên thanh toán quốc tế (People- Participant)
Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu trong chiến lược Marketing nói chung
và nâng cao hiệu quả thanh toán quốc tế nói riêng Các nhân viên ngân hàng
là hình ảnh, là người đại diện của ngân hàng trước khách hàng, là đầu mối thiết yếu nhất trong quan hệ khách hàng Chính các nhân viên của ngân hàng với trình độ hiểu biết, năng lực chuyên môn và các kỹ năng giao tiếp của mình sẽ là người quảng bá tốt nhất cho hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng Nhân viên thanh toán quốc tế có thể tư vấn cho khách hàng các điều
Trang 40khoản trong hợp đồng ngoại thương như giá cả, điều kiện giao hàng, điều khoản thanh toán… Từ đó có thể phân tích cho khách hàng biết được ưu nhược điểm của các phương thức thanh toán quốc tế, tư vấn cho các khách hàng các công cụ tài trợ thương mại của ngân hàng, hoặc có chính sách phí linh hoạt … để họ có sự lựa chọn tốt nhất cho nhu cầu của mình
Bên cạnh trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ của nhân viên thanh toán quốc tế là yêu cầu bắt buộc trong hoạt động thanh toán quốc tế vì có như vậy nhân viên thanh toán quốc tế mới có thể nắm bắt được thông lệ quốc tế, các kinh nghiệm của ngân hàng nước ngoài để tránh những rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế cho ngân hàng và cho khách hàng
1.4 KINH NGHIỆM SỬ DỤNG MARKETING CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỚI NHNo&PTNT HÀ NỘI
1.4.1.Kinh nghiệm sử dụng Marketing của một số ngân hàng
* Ngân hàng Bank of NewYork Mellon
Bank of NewYork Mellon là ngân hàng đầu tư toàn cầu với nhiều lĩnh vực kinh doanh nổi tiếng, mang đến các lợi ích và cung cấp môt loạt dịch
vụ tài chính cho các công ty, tổ chức, các khách hàng giàu có và cá nhân trên thế giới
Bank of NewYork Mellon là ngân hàng dẫn đầu về khối lượng giao dịch với 2.000 đại lý trên khắp toàn cầu, là ngân hàng đứng thứ 3 thế giới về lượng
xử lý giao dịch bằng đồng USD với trị giá 1,5 tỉ USD/ngày Bank of NewYork Mellon có mặt ở 34 nước với 42.300 nhân viên Bank of NewYork Mellon là một trong những ngân hàng có quy mô toàn cầu và cung cấp các dịch vụ rất đa dạng Bank of NewYork Mellon cung cấp các sản phẩm thanh toán quốc tế cho các khách hàng là cá nhân và các doanh nghiệp theo dịch vụ trọn gói từ các dịch vụ thanh toán quốc tế thông thường cho đến dịch vụ tư