1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam,

132 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Hạn Chế Rủi Ro Trong Hoạt Động Thanh Toán Quốc Tế Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Quốc Tế Việt Nam
Tác giả Phạm Thị Thu Hà
Người hướng dẫn TS. Hoàng Anh Tuấn
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kinh tế tài chính — Ngân hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 29,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét về phương diện cụ thể, hoạt động thanh toán quốc tế là bộ phận không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thương mại, nó không những tạo doanh thu dịch vụ cho ngân

Trang 1

GIẢ! PHÁP HẠN CHÉ * RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG* *

THANH TOÁN QUỐC TÉ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CỎ PHÀN QUỐC TẾ VIỆT NAM

LUẬN VÃN THẠC s ỉ KINH TẾ

Hà Nội - 2010

Trang 2

CỎ PHẦN QUÓC TẾ VIỆT NAM

Chuyền ngành: Kinh tế tài chính — Ngân hàng

Trang 3

Danh mục sơ đồ, biểu đồ, bảng số liệu

Phần mở đầu 1

Chương 1: Những vấn đề CO' bản về hoạt động TTQT và những rủi ro trong hoạt động TTQT của ngân hàng thưong mại 4

1.1 Khái quát về hoạt động TTQT của Ngân hàng thương mại 4

1.1.1 Khái quát về hoạt động TTQT 4

1.1.1.1 Cơ s ở hình thành hoạt động TTQT 4

1.1.1.2 Khái niệm và đặc trưng của hoạt động thanh toán quốc tế 5

1.1.1.3 Vai trò của hoạt động TTQT đối với nền kinh tế 7

1.1.2 Hoạt động TTQT của ngân hàng thương mại 8

1.1.2.1 Khái niệm 8

1.1.2.2 Vai trò của hoạt động TTQT đối với các ngân hàng thương mại 9

1.1.2.3 Điều kiện thực hiện hoạt động TTQT của ngân hàng thương mại 9

1.1.3 Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động TTQT 10

1.1.4 Các phương thức TTQT chủ yếu của ngân hàng thương mại 13

1.1.4.1 Phương thức chuyển tiền 13

1.1.4.2 Phương thức ghi sổ 15

1.1.4.3 Phương thức nhờ thu 16

1.1.4.4 Phương thức tín dụng chứng từ 19

1.2 Rủi ro trong hoạt động TTQT của ngân hàng thương mại 24

1.2.1 Khái niệm về rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế 24

1.2.2 Phân loại rủi ro ứong hoạt động thanh toán quốc tế 25

1.2.2.1 Phân loại theo phương thức thanh toán 25

1.2.2.2 Phân loại theo bản chất của rủi ro 32

1.2.3 Ảnh hưởng của rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế đối với ngân hàng thương mại 35

Trang 4

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 37

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý 37

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh 41

2.2 Thực trạng rủi ro trong hoạt động TTQT của NH TMCP Quốc Tế Việt Nam 46

2.2.1 Khái quát về hoạt động TTQT của NH TMCP Quốc Tế Việt Nam 46

2.2.2 Đánh giá thực trạng hoạt động TTQT của NH TMCP Quốc Tế Việt Nam 48

2.2.3 Rủi ro trong hoạt động TTQT tại NH TMCP Quốc Tế Việt Nam 55

2.2.3.1 Rủi ro tác nghiệp 55

2.2.3.2 Rủi ro đạo đức 62

2.2.3.3 Rủi ro pháp lý 67

2.2.3.4 Rủi ro thị trường 69

2.2.3.5 Rủi ro tín dụng 71

2.3 Đánh giá rủi ro trong hoạt động TTQT tại NH TMCP Quốc Tế Việt Nam 72

2.3.1 Kết quả đã đạt được 72

2.3.2 Hạn chế trong phòng ngừa rủi ro trong hoạt động TTQT tại NH TMCP Quốc Tế Việt Nam 75

2.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động TTQT của NH TMCP Việt Nam 7 7 2.4.1 Nguyên nhân chủ quan từ phía Ngân hàng 77

2.4.2 Nguyên nhân khách quan từ phía khách hàng trong nước 79

2.4.3 Nguyên nhân khách quan từ phía khách hàng nước ngoài 81

2.4.4 Các nguyên nhân khách quan khác 81

Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động TTQT tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam 85

Trang 5

3.1.2.1 Định hướng phát triển chung của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam 87

3.1.2.2 Định hướng phát triển hoạt động TTQT tại NH TMCP Quốc tế Việt Nam88 3.2 Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động TTQT tại Ngân hàng TMCP Q uốc Tế V iệt N am 89

3.2.1 Nhóm giải pháp nghiệp vụ 89

3.2.1.1 Thực hiện tốt các biện pháp nghiệp vụ để phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong TTQT 90

3.2.1.2 Nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong hoạt động TTQT 99

3.2.1.3 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ phục vụ cho hoạt động TTQT 99

3.2.2 Nhóm giải pháp tín dụng 102

3.2.2.1 Xây dựng chính sách khách hàng và hệ thống tiếp thị nhằm phát triển có chọn lọc đối tượng khách hàng 102

3.2.2.2 Xây dựng và phát triển quan hệ tín dụng với các định chế tài chính 104

3.2.2.3 Đầu tư nghiên cứu thị trường và ngành hàng 105

3.2.3 Các giải pháp khác 106

3.2.3.1 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm toán hoạt động TTQT 106

3.2.3.2 Nâng cao trình độ cán bộ làm công tác TTQT đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về ngân hàng 108

3.2.3.3 Phát triển dịch vụ tư vấn cho khách hàng 109

3.2.3.4 Phát triển và nâng cao chất lượng quan hệ với ngân hàng đại lý 111

3.3 M ột số kiến n gh ị 111

3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ và các Bộ ngành liên quan 112

3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 115

3.3.3 Kiến nghị giải pháp phối họp từ khách hàng 117

K É T L U Ậ N

TÀI L IỆ U T H A M K H Ả O

Trang 6

kiến thức bổ ích và cần thiết trong suốt chương trình đào tạo Cao học, chuyên ngành Tài chính ngân hàng.

Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Hoàn Anh Tuấn, người đã tận tình hướng dẫn khoa học và có những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành bản luận văn này

Xin cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Trang 7

nêu trong luận văn có nguôn gôc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực và chưa được ai công bô trong bất kỳ công trình nào khác.

P h ạ m T h ị T h u H à

Trang 8

D/P Nhờ thu trả ngay

GDTTQT Giao dịch thanh toán quốc tế

ISBP Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ

SWIFT Hệ thống viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu

UCP Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ

ƯRC Quy tắc thống nhất về nhờ thu

URR Quy tắc hoàn trả liên ngân hàng

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 9

Sơ đô 1.2: Quy trình thực hiện phương thức ghi sổ 15

Sơ đô 1.3: Quy trình thực hiện phương thức nhờ thu 17

Sơ đô 1.4: Quy trình thực hiện phương thức thanh toán TDCT 22

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức quản lý tại NH TMCP Quốc Tế Việt 38

Bảng số liệu 2.5: Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu theo thị trường 52 Bảng số liệu 2.6: Nợ quá hạn cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại VIB 71

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Ngày nay thương mại quốc tế đã trở thành hoạt động quan trọng không thể thiếu trong chính sách kinh tế đối ngoại của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Thương mại quốc tế đem lại lợi ích không nhỏ cho các quốc gia và là động lực mạnh tác động tích cực đối với nền kinh tế các nước Nhờ có thương mại quốc tế mà xu hướng chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất giữa các nước được đẩy mạnh, các nước tận dụng được lợi thế tương đối của mình cũng như tìm kiếm được những lợi ích từ nước khác

Thanh toán quốc tế là một lĩnh vực gắn liền hoạt động thương mại quốc tế Thanh toán quốc tế thúc đẩy thương mại quốc tế, từ đó thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng quốc tế Do đó, xét về phương diện tổng thể, hoạt động thanh toán quốc tế có vai trò vô cùng to lớn đối với việc phát triển kinh tế đối ngoại, tăng trưởng kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao đời sống dân cư Xét về phương diện cụ thể, hoạt động thanh toán quốc

tế là bộ phận không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thương mại, nó không những tạo doanh thu dịch vụ cho ngân hàng mà còn chắp nối, hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh khác phát triển như mua bán ngoại tệ, bảo lãnh, tài trợ xuất nhập khẩu, tín dụng, đồng thời giúp mở rộng quan hệ khách hàng, củng cố vị thế của ngân hàng đối với bạn hàng và ngân hàng nước ngoài

Sự ra đời và phát triển của hệ thống các ngân hàng thương mại cổ phần là kết quả của chính sách đổi mới hệ thống ngân hàng Việt Nam Tuy nhiên, so với các ngân hàng thương mại quốc doanh, hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam nói chung và Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam nói riêng còn nhỏ bé về quy mô, hạn chế về chất lượng do chưa có nhiều kinh nghiệm Do đó, trong bối cảnh thương mại quốc tế ngày càng phát triển, sự cạnh tranh cũng ngày càng khốc liệt và phức tạp khiến các ngân hàng rất dễ bị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế, gây thiệt hại về vật chất và tổn hại về uy tín cho các ngân hàng Chính vì vậy việc phát hiện và tìm ra các biện pháp hạn chế rủi ro trong thanh

Trang 11

toán quốc tế là việc làm cần thiết mà Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế phải quan tâm thực hiện Đề tài: “Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán

nghiên cứu nhằm đáp ứng mục tiêu trên

2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu cơ sở lý luận về rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại

Nghiên cứu đánh giá hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại

cô phần Quốc Tế Việt Nam và các rủi ro thường gặp trong các phương thức thanh toán quôc tê, các nguyên nhân gây ra rủi ro Từ đó đề xuất các giải pháp phòng ngừa và hạn chê rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc

Te và các kiến nghị trong thời gian tới

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế ở Ngân hàng thương mại, thực tiễn hoạt động thanh toán quốc tế và các rủi ro thường gặp trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam giai đoạn 2007 - 2009

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu gồm: phương pháp logic biện chứng, phân tích, thống kê, tổng hợp và so sánh, các bảng số liệu minh họa

và kêt hợp tham khảo tài liệu trong nước và quốc tế về các phương thức thanh toán quôc tê, vận dụng vào thực tiên hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết câu nội dụng của luận văn bao gồm 3 chương:

Trang 12

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động thanh toán quốc tế và những rủi

ro trong hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng rủi ro trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VÁN ĐÈ c ơ BẢN VÈ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TÉ VÀ NHƯNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TÉ CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái quát về hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái quát về hoạt động thanh toán quốc tế

1.1.1.1 Cơ sở hình thành hoạt động thanh toán quốc tế

Mỗi quốc gia trên thế giới có điều kiện tự nhiên, địa lý, trình độ phát triển khác nhau từ đó tạo nên lợi thế cạnh tranh, xác định phạm vi và năng lực sản xuất của nước đó Tuy nhiên sự phân hóa khả năng sản xuất cũng tạo nên sự phụ thuộc của mỗi quốc gia với các nước khác về một số loại sản phẩm nào đó Kết quả là, mỗi quốc gia

sẽ xuât khâu những hàng hóa mà nước mình có ưu thế về điều kiện sản xuất, nguyên vật liệu, nguôn lao động để tận dụng lợi thế so sánh và nhập khẩu những loại hàng hóa mà nước mình không sản xuất được hoặc có thể sản xuất nhưng chi phí lớn hơn so với các nước khác Sự di chuyển hàng hóa giữa các nước tạo nên hoạt động xuất nhập khâu của một quốc gia hay còn gọi là hoạt động ngoại thương

Để thực hiện một giao dịch xuất nhập khẩu, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu phải thông nhât điều khoản thanh toán trong hợp đồng ngoại thương Hai bên mua bán

có thê thỏa thuận các phương thức thanh toán như chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ Thông thường, người mua và người bán không thanh toán trực tiếp cho nhau mà thông qua sự trợ giúp của ngân hàng (NH), hoạt động thanh toán quốc tế (TTQT) của ngân hàng ra đời từ đó Mục đích chính của hoạt động TTQT là để hỗ trợ và phục vụ cho hoạt động xuât nhập khâu (XNK) giữa các nước diễn ra một cách trôi chảy và hiệu quả Hơn nữa, hoạt động ngoại thương và hoạt động TTQT liên quan và gắn liền với nhiêu lĩnh vực hoạt động khác, mồi lĩnh vực hoạt động là một mắt xích không thể thiếu

Trang 14

trong một dây chuyền hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia nói riêng và trên quy mô toàn thế giới nói chung.

Nói tóm lại, cơ sở hình thành hoạt động TTQT là hoạt động ngoại thương Trong đó, hoạt động ngoại thương là hoạt động cơ sở và hoạt động TTQT là hoạt động phái sinh Ngày nay, hoạt động TTQT được thực hiện chủ yếu qua ngân hàng vì vậy khi nói đến hoạt động TTQT là nói đến hoạt động thanh toán của ngân hàng thương mại (NHTM), và không NHTM nào lại không phát triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc

tế, trong đó lấy hoạt động TTQT làm trọng tâm phát triển

1.1.1.2 Khái niệm và đặc trưng của hoạt động thanh toán quốc tế

a Khái niệm

TTQT đã có một quá trình hình thành và phát triển rất lâu đời, bởi vậy cũng đã

có rát nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau về khái niệm TTQT, tuy nhiên sau đây

là khái niệm phổ biến đã được nhiều tài liệu viết về thanh toán quốc tế trích dẫn:

Thanh toán quôc tê là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi

về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, các nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan (Giáo trình Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương - PGS TS Nguyễn Văn Tiến)

Từ khái niệm trên có thê thây TTQT phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế Tuy nhiên, trong thực tế, hai lĩnh vực hoạt động này thường có

sự giao thoa với nhau mà không có danh giới rõ rệt Hơn nữa, do hoạt động TTQT được hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thương và phục vụ chủ yếu cho hoạt động ngoại thương, chính vì vậy, trên thực tế, người ta thường phân hoạt động TTQT thành hai lĩnh vực là: Thanh toán trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch) và thanh toán phi ngoại thương (thanh toán phi mậu dịch)

Thanh toán quốc tế trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch) là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hóa XNK và các dịch vụ thương mại cung ứng cho nước

Trang 15

ngoài theo giá cả thị trường quôc tế Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương.

Thanh toán phi ngoại thương (thanh toán phi mậu dịch) là việc thực hiện thanh toan không liên quan đên việc cung ứng hàng hóa hoặc dịch vụ giữa các quốc gia nghía là thanh toán cho các hoạt động không mang tính thương mại Đó là việc chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại ăn ở của các đoàn khách nhà nước, tổ chức và cá nhân; các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân người nước ngoài cho các nhân trong nước,

b Đặc trưng

Hoạt động TTQT có một số đặc trưng sau:

cho đối tác nước ngoài luôn được thực hiện bằng ngoại tệ Khách hàng nhập khẩu trong nước hầu hết đều không có hoặc có với số lượng không đáng kể nguồn ngoại tệ phục vụ cho việc thanh toán các hợp đồng ngoại thương do đó họ phải chuyển nội tệ vào NH và đề nghị NH bán ngoại tệ để thanh toán NH khi đó thực hiện việc dùng nội

tệ mua ngoại tệ và bán ngoại tệ mua được cho khách hàng Tương tự, với khách hàng xuất khẩu khi được đối tác nước ngoài thanh toán bằng ngoại tệ, nếu không có nhu cầu

sử dụng nguồn ngoại tệ đó, người xuất khẩu sẽ bán cho ngân hàng để lấy nội tệ Ngân hàng càng có hoạt động TTQT phát triển thì càng ít bị phụ thuộc vào các nguồn cung ngoại tệ bên ngoài do lượng ngoại tệ phong phú giao dịch từ đông đảo khách hàng

mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp kinh doanh XNK và của NH vì những biến động về tỷ giá có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giao hàng, khả năng thanh toán, lợi nhuận, của các bên tham gia vào giao dịch, bởi vậy, tỷ giá hối đoái là nhân

tô ảnh hưởng hêt sức quan trọng đến TTQT và tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng

hưởng có quyên được đòi tiền và là căn cứ để chấp nhận nợ hoặc từ chối thực hiện

Trang 16

nghĩa vụ chi trả của mình Các chứng từ được tạo lập theo các luật lệ, tập quán của mỗi một quôc gia và phù hợp với thông lệ quốc tế cho mỗi loại chứng từ được đưa vào sử dụng Số lượng và loại chứng từ cũng như hình thức, cách tạo lập phụ thuộc vào phương thức TTQT mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng Các chứng từ này có thể trở thành đối tượng mua bán, chuyển nhượng giữa các ngân hàng.

Thứ tư, TTQT đòi hỏi tính chuyên môn cao: Các bên tham gia vào thanh toán quôc tê gôm cả người xuất khẩu, người nhập khẩu và NH đều phải có sự am hiểu về hợp đồng ngoại thương, vận tải, bảo hiểm trong ngoại thương đồng thời cũng phải có những hiêu biết nhất định những quy định thống nhất trong thương mại quốc tế như ƯCP600, URC522, Incoterms 2000 do Phòng Thương mại quốc tế phát hành

Thứ năm, TTQT tạo môi trường ứng dụng công nghệ NH: Hệ thống NH của môi nước dù đã hay đang phát triển đều hết sức quan tâm đến yêu cầu của hoạt động TTQT là nhanh chóng, kịp thời và chính xác Do đó, các công nghệ tiên tiến của ngành

NH đêu được ứng dụng nhăm thực hiện tôt hơn các tiêu chí nêu trên

Thứ sáu, TTQT mang tính an toàn cao trong trường hợp vấn đề con người và công nghệ được đảm bảo: Ngày nay, các biện pháp an toàn trong TTQT càng được chú trọng hơn như mã hóa thông tin truyền đi, thiết lập mã điện, lọc những thông tin gâynhiễu, đối chiếu số liệu tài khoản qua mạng vi tính đã làm cho TTQT trở nên có tính

tiện lợi và bảo mật hơn trước

1.1.1.3 Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế đối vói nền kinh tế

Trong bôi cảnh nền kinh tế thế giới đang ngày càng được quốc tế hóa, các quôc gia đang ra sức phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập vào nền kinh tê toàn cầu, thì TTQT càng thể hiện được vai trò quan trọng nhất của mình đó là chiêc câu nôi giữa các doanh nghiệp, giữa kinh tế trong nước với phần kinh tế bên ngoài, có tác dụng bôi trơn và thúc đây hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đâu tư nước ngoài, thu hút kiêu hôi và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác

Trang 17

TTQT có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế toàn cầu: TTQT là yêu tô thúc đây thương mại quốc tế, từ đó thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng quốc

tê Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động quốc tế, các nhu cầu về tiền vốn, công nghệ, nhân lực, tài nguyên, hàng hóa và thị trường tiêu thụ v.v cũng tăng không ngừng Với vai trò giải quyết và làm hài hòa các nhu cầu đó, TTQT là tất yếu khách quan trong phát triển kinh tế quốc tế

TTQT là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh, vì TTQT ảnh hưởng trực tiêp tới vòng quay vốn sản xuất và kinh doanh, từ đó ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận của các bên tham gia Thông qua hoạt động thanh toán mà người ta có thể đánh giá khả năng tài chính, uy tín cũng như tiềm lực của mỗi đơn vị kinh tế

TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các

tổ chức, các cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau Nếu không có hoạt động TTQT thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và phát triển được Nếu hoạt động TTQT được nhanh chóng, an toàn, chính xác sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hóa - tiền tệ giữa người mua và người bán một cách trôi chảy và hiệu quả

Trên góc độ kinh doanh, người mua thanh toán, người bán giao hàng thể hiện chât lượng của một chu kỳ kinh doanh, phản ánh hiệu quả kinh tế và tài chính trong hoạt động của các doanh nghiệp

1.1.2 Hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm

Ngày nay, trong hoạt động của các NH hiện đại, ngoài các nghiệp vụ truyền thống thì các NH còn rất chú trọng phát triển các nghiệp vụ ngoại bảng như kinh doanh ngoại tệ, TTQT, bảo lãnh Trong đó, nghiệp vụ TTQT luôn là nghiệp vụ quan trọng

có tốc độ tăng trưởng cao của NHTM:

Hoạt động thanh toán quốc tế là một nghiệp vụ ngoại bảng mà các NHTM cung ưng cho khách hàng là các doanh nghiệp XNK nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán tiền hàng phát sinh từ hoạt động thương mại quốc tế của khách hàng.

Trang 18

1.1.2.2 Vai trò của hoạt động TTQT đối với các ngân hàng thương mại

Hoạt động TTQT có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của một NHTM, nó không những tạo doanh thu dịch vụ cho ngân hàng mà còn hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh khác phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

Vì vậy, hoạt động TTQT của ngân hàng càng có chất lượng, càng hiệu quả thì càng phát triên mạnh các dịch vụ khác, thu hút khách hàng về giao dịch, trên cơ sở đó sẽ tạo hiệu quả cao trong kinh doanh cũng như tăng quy mô hoạt động của ngân hàng

Hoạt động TTQT tại NHTM gồm nhiều lĩnh vực nghiệp vụ khác nhau như: thanh toán XNK hàng hóa, thanh toán kiều hối, thanh toán chuyển tiền ra nước ngoài, thanh toán các khoản vay nợ nước ngoài Với sự phát triển của hoạt động TTQT, NH

có thê mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ, hoạt động tín dụng Từ đó tạo khả năng nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như tăng cường khả năng cạnh tranh của NH

Hoạt động TTQT đem lại nguồn doanh thu quan trọng cho các NHTM, nguồn thu từ phí dịch vụ TTQT là nguồn thu nhập ổn định, không gắn liền với rủi ro như hoạt động động tín dụng, đâu tư, tùy theo phương thức thanh toán, độ tín nhiệm của khách hàng, chính sách khách hàng của NH và áp lực cạnh tranh trên thị trường mà biểu phí

và mức phí dịch vụ áp dụng có thể khác nhau cho các khách hàng khác nhau Ngày nay, trong khi hoạt động tín dụng mặc dù đem lại lợi nhuận cao nhưng luôn tiềm ẩn những rủi ro lớn thì hoạt động TTQT là nghiệp vụ hàng đầu mà các NHTM đều mong muốn phát triên đê gia tăng lợi nhuận của mình đặc biệt là từ nguồn thu phí dịch vụ

Hoạt động TTQT giúp các NHTM gia tăng uy tín, vị thế của mình trên thị trường trong nước và mở rộng quan hệ giao dịch với các NH khác trên thế giới Trên

cơ sở đó có thể khai thác được các nguồn vốn tài trợ của các NH nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính thế giới

1.1.2.3 Điêu kiện thực hiện hoạt động TTQT của ngân hàng thương mại

Theo Nghị định số 64/2001/NP-CP ban hàng ngày 20 tháng 9 năm 2001 về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán:

Trang 19

- Quy định về việc mở tài khoản thanh toán của các tổ chức tín dụng tại khoản

2 điều 5 Chuơng II: Các tổ chức tín dụng là ngân hàng mở tài khoản thanh toán cho các

tô chức tín dụng khác, tổ chức khác và cá nhân NHTM Nhà nước mở tài khoản thanh toán cho Kho bạc Nhà nước ở huyện, thị xã không phải tỉnh lỵ Tổ chức tín dụng (TCTD) mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các ngân hàng TCTD là ngân hàng được mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng nước ngoài khi được NHNN cho phép thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế

- Quy định việc thực hiện dịch vụ thanh toán của các tổ chức tín dụng tại khoản 2b điều 11 Chương III: Ngân hàng được thực hiện dịch vụ TTQT cho các tổ chức tín dụng khác, tổ chức và cá nhân nếu được NHNN cho phép

1.1.3 Hệ thông văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế

Kinh doanh quốc tế ngày càng phát triển, càng ngày càng có nhiều quốc gia tiên hành giao dịch, buôn bán với nhau trên thị trường quốc tế Tuy nhiên, ở mồi quốc gia khác nhau đêu có sự khác biệt về văn hoá, luật pháp, chính trị Do vậy, nếu trong quá trình giao dịch xảy ra sự tranh chấp thì hai bên sẽ gặp khó khăn và trở ngại trong việc giải quyêt các tranh chấp đó Để giải quyết mâu thuẫn luật pháp giữa các nước trong quan hệ quốc tế, yêu cầu cần thiết là phải có những quy định, luật lệ mang tính thông nhât chung cho tât cả các quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế nhằm ngăn ngừa, giải quyết những khó khăn và trở ngại trong thương mại quốc tế

TTQT là một hoạt động đặc thù trên phạm vi quốc tế, do đó, nó cũng có hệ thông văn bản pháp lý đặc thù để điều chỉnh, bao gồm các văn bản luật (gồm các nguồn luật và công ước quốc tế, hiệp định song biên, đa biên, các nguồn luật quốc gia ) và các văn bản pháp lý tùy ý (bao gồm các thông lệ và tập quán quốc tế )

Hiện nay, các thông lệ và tập quán quốc tế tuy chỉ là các văn bản pháp lý tùy ý, không băt buộc các bên tham gia phải sử dụng nhưng lại có những văn bản đã trở nên rât phô biên và được áp dụng trong hầu hết các giao dịch TTQT tùy vào phương thức thanh toán mà các bên tham gia sử dụng

Trang 20

Một số văn bản pháp lý tùy ý đang được sử dụng rộng rãi hiện nay:

Customs and Practice for Documentary Credit)

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của phòng thương mại quốc tế (The International Chamber of Commerce - ICC) là làm cho việc buôn bán của các công ty ở các nước khác nhau được dễ dàng hơn, thông qua đó sẽ mở rộng quan hệ buôn bán quôc tê Vì thê năm 1993 ICC đã xuất bản: “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” Sau đó, bộ quy tắc này đã được sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tê và khăc phục những bất cập trong các quy định cũ Qua nhiều lần sửa đổi, ấn bản sô 600 được chính thức lưu hành năm 2007 là bản điều lệ mới nhất và hoàn chỉnh nhất cho tới thời điểm hiện tại

K Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ theo thư tín dụng (The International Standard Banking Practice - ISBP681)

ISBP là sự bổ sung mang tính chất thực tiễn cho UCP ISBP không sửa đổi ƯCP mà nó chỉ giải thích chi tiết và rõ ràng hơn cách áp dụng các quy tắc của UCP trong giao dịch hàng ngày liên quan đến việc thực hiện TTQT bằng phương thức tín dụng chứng từ (TDCT) Cùng với sự ra đời của UCP600, ICC cũng đã ban hành ấn bản

số 681 của ISBP năm 2007

> Quy tắc thống nhất về nhờ thu (Uniform Rules on Collections 522)

Các quy tắc thống nhất về nhờ thu, sửa đổi năm 1995, số xuất bản 522, do ICCban hành được áp dụng cho tất cả nhờ thu khi chỉ thị nhờ thu quy định rõ việc tuân thủ theo URC522 và ràng buộc tất cả các bên liên quan trừ khi có sự thoả thuận khác rõ ràng hoặc trừ khi trái với các quy định trong luật của địa phương, một bang hay một quôc gia và/ hoặc các quy chế mà không thể bỏ qua được

> Quy tắc thống nhất về hoàn trả giữa các ngăn hàng (Uniform Rules for Bank -to - bank Reimbursements 525

Trang 21

Quy tăc thống nhất về hoàn trả giữa các ngân hàng (Uniform Rules for Bank- to-Bank Reimbursements Ấn bản ICC số 525 - URR 525) được ICC xuất bản vào tháng 11/1995 và có hiệu lực áp dụng vào ngày 1/7/1996 Vào lúc đó, các uỷ quyền hoàn trả đã băt đâu được phát hành băng các đồng tiền khác với đồng tiền đã được sử dụng phô biên là đô la Mỹ, do vậy, sự ra đời của một bộ các quy tắc quốc tế được xem

là cần thiết Sau đó, cùng với sự ra đời của UCP 600, ấn bản số 725 của Quy tắc thống nhất về hoàn trả giữa các ngân hàng cũng đã được thông qua và chính thức có hiệu lực

từ ngày 1/10/2008 URR 725 không phải là bản sửa đổi của URR 525 mà đó chỉ là một tiến trình cập nhật, tức là chỉ thay đổi văn phong để phù hợp với UCP 600

Ở Việt Nam hiện nay chưa có quy định riêng về TTQT trong một bộ luật, tuy nhiên cũng có rất nhiều văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động này:

- Bộ luật dân sự năm 1995 Trong bộ luật dân sự có một phần gồm 13 điều từ điêu 826 đên 838 có quy định vê các giao dịch dân sự có yếu tố nước ngoài

- Luật thương mại Việt Nam năm 1997 tại điều 4 luật thương mại quy định việc áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế trong hoạt động thương mại với nước ngoài

- Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 có quy định tại điều 3: Áp dụng điều ước quôc tê và tập quán quốc tế trong hoạt động ngân hàng với nước ngoài và luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng ngày 05/06/2004

- Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005: Luật này điều chỉnh các quan hệ công cụ chuyên nhượng trong việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng câm cô, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện Công cụ chuyển nhượng được quy đinh gôm hôi phiêu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác, trừ công cụ nợ dài hạn được tô chức phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường

- Nghị định số 64/200 l/NĐ CP ngày 20/09/2001 của chính phủ về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định tại điều 4

Trang 22

- Quyết định số 226/2002/QĐ - NHNN ngày 26/03/2002 ban hành quy chế hoạt động thanh toán qua các TCTD cung ứng dịch vụ thanh toán

- Quyết định số 1092/2002/QĐ - NHNN ngày 08/10/2002 quy định thủ tục thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

- Quyết định số 711/2001/QĐ - NHNN ban hành quy chế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm

1.1.4 Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu của ngân hàng thương mại

Phương thức TTQT là một trong những điều kiện không thể thiếu và quan trọng nhất trong các điều kiện thỏa thuận của hợp đồng ngoại thương Phương thức TTQT được hiếu là cách thức mà người bán sử dụng để thu tiền từ người mua và người mua dùng để trả tiền cho người bán

Trong buôn bán quốc tế, người mua và người bán có thể lựa chọn nhiều phương thức thanh toán khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố như nhu cầu, lịch sử quan hệ, vị thế kinh doanh giữa bên bán và bên mua Các phương thức TTQT được

sử dụng phổ biến nhất là:

> Phương thức chuyển tiền (Remittance)

> Phương thức mở tài khoản (Open account)

> Phương thức nhờ thu (Collection)

> Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credit)

1.1.4.1 Phương thức chuyển tiền

❖ Khái niệm

Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định tại nước khác và trong một thời gian nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu Tùy vào thỏa thuận giữa hai bên, việc chuyển tiền có thể được thực hiện trước lúc giao hàng (người mua ứng trước cho người bán), ngay lúc giao hàng, hoặc sau khi giao hàng

Trang 23

❖ Các bên tham gia:

+ Người chuyển tiền (Remitter): là người yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển tiền cho người thụ hưởng ở nước khác

+ Người thụ hưởng (Beneficiary): có thể là người bán, nhà xuất khẩu, chủ nợ, người nhận vón đầu tư, người nhận kiều hối do người chuyển tiền chỉ định và được nhận số tiền do ngân hàng chuyển đến

+ Ngân hàng chuyển tiền (Remitting Bank): là ngân hàng ở nước người chuyển tiền và thực hiện lệnh chuyển tiền do người này gửi đến

+ Ngân hàng trả tiền (Paying Bank): là ngân hàng trả tiền cho người thụ hưởng

và thường là đại lý hay chi nhánh của ngân hàng chuyển tiền ở nước người thụ hưởng

Qui trình nghiệp vụ phương thức chuyển tiền

Sơ đồ 1.1: Quy trình thực hiện phương thức chuyển tiền

+ Bước 1: Nhà xuất khẩu thực hiện việc giao hàng, đồng thời chuyển giao bộ chứng từ như: hóa đơn, vận đơn, bảo hiểm đơn cho nhà nhập khẩu

+ Bước 2: Sau khi kiểm tra bộ chứng từ (hoặc hàng hóa), nếu quyết định trả tiên thì nhà nhập khâu viết lệnh chuyển tiền cùng với ủy nhiệm chi (nếu có tài khoản) gửi ngân hàng phục vụ mình

+ Bước 3: Sau khi kiểm tra chứng từ và các điều kiện chuyển tiền, nếu thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng thực hiện trích tài khoản để chuyển tiền

và gửi gửi giấy báo Nợ cho nhà nhập khẩu

Trang 24

+ Bước 4: Ngân hàng chuyển tiền chỉ thị cho ngân hàng đại lý để chuyển tiền cho ngân hàng trả tiên (nêu ngân hàng chuyên tiền không có tài khoản tại ngân hàng trả tiên) hoặc chỉ thị cho ngân hàng trả tiền ghi nợ tài khoản của mình để chuyển trả cho người hưởng lợi (nếu ngân hàng chuyển tiền có tài khoản tại ngân hàng trả tiền)

+ Bước 5: Ngân hàng trả tiền ghi Có vào tài khoản của người thụ hưởng, đồng thời gửi giấy báo Có cho người thụ hưởng

Trong trường hợp chuyển tiền trả sau thì bước 1 được chuyển xuống sau cùng

do người bán sau khi nhận được tiền mới thực hiện giao hàng cho người mua

Phương thức thanh toán chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn giản, thủ tục nhanh gọn và thường được sử dụng trong những trường hợp thanh toán các lô hàng giá tri nhỏ, người mua và người bán tin cậy nhau hoặc thanh toán trong lĩnh vực phi mậu dịch và các chi phí dịch vụ như: phí dịch vụ ngoại thương, phí vận tải, tiền hoa hồng, đặt cọc, bồi thường, chuyển tiền kiều hối,

1.1.4.2 Phưong thức ghi sổ

Khái niệm:

Là phương thức thanh toán trong đó nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành việc giao hàng thì ghi nợ tài khoản cho bên nhập khẩu vào một cuốn sổ theo dõi; việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện thông thường theo định kỳ như đã thỏa thuận

*** Các bên tham gia:

+ Người bán (nhà xuất khẩu): thực hiện việc ghi sổ sau khi giao hàng

+ Người mua (nhà nhập khẩu): có nghĩa vụ thanh toán theo như thỏa thuận

’** Quy trình nghiệp vụ phương thức ghi sổ

Sơ đồ 1.2: Quy trình thực hiện phương thức ghi sổ

Trang 25

+ Bước 1: Người bán giao hàng hóa và dịch vụ cùng với các chứng từ đồng thời báo nợ trực tiếp cho người mua

+ Bước 2: Người mua dùng hình thức chuyển tiền để trả tiền khi đến hạn

Trong phưong thức thanh toán ghi sổ không có sự tham gia của các ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản và thực thi thanh toán Phương thức này thường được áp dụng thanh toán trong quan hệ bạn hàng tin cậy, tín nhiệm lẫn nhau; dùng trong mua bán hàng đôi hàng, thường xuyên, trao làm nhiều lần trong năm; thanh toán tiên phi mậu dịch như: cước phí vận tải, tiền phí bảo hiểm, tiền hoa hồng trong nghiệp

vụ môi giới, ủy thác, tiền lãi cho các khoản vay và đầu tư

1.1.4.3 Phưong thức nhờ thu

*> Khái niệm

Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng, ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ sô tiên của mình trên cơ sở hối phiếu do người bán lập ra

*** Các bên tham gia trong phương thức nhờ thu:

+ Người ủy thác thu (Người ký phát hối phiếu - Drawer): là người yêu cầu ngân hàng phục vụ mình (ngân hàng nhờ thu) thu hộ tiền, đây chính là mắt xích đầu tiên trong dây truyền nhờ thu đồng thời cũng là người có quyền thụ hưởng số tiền nhờ thu và cũng là người chịu chi phí cuối cùng về nhờ thu

+ Người mua (người bị ký phát đòi tiền theo hối phiếu - Drawee): là người mà nhờ thu được xuât trình để thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán

+ Ngân hàng nhờ thu (Remitting bank): là ngân hàng, theo yêu cầu của người

ủy thác, thực hiện chuyển chứng từ nhờ thu đến ngân hàng của người trả tiền và nhận tiền cho người ủy thác khi được ngân hàng thu hộ chuyển trả tiền thanh toán

+ Ngân hàng thu hộ (Collecting bank): là NH nhận nhờ thu từ NH nhờ thu và thực hiện thu tiên từ người trả tiền, chuyển trả cho NH nhờ thu để trả cho người bán

♦> Quy trình nghiệp vụ phương thức nhờ thu

Trang 26

Sơ đồ 1.3: Quy trình thực hiện phương thức nhờ thu

+ Bước 1: Ký kết hợp đồng mua bán, trong đó điều khoản thanh toán quy định

áp dụng phương thức nhờ thu

+ Bước 2: Người ủy thác (nhà xuất khẩu) gửi hàng hóa cho người nhập khẩu+ Bước 3: Nhà xuất khẩu gửi yêu cầu nhờ thu và chứng từ cho NH nhờ thu+ Bước 4: Ngân hàng nhờ thu lập và gửi lệnh nhờ thu cùng bộ chứng từ tới Ngân hàng thu hộ để thu tiền từ nhà nhập khẩu

+ Bước 5: Ngân hàng thu hộ thông báo lệnh nhờ thu để nhà nhập khẩu trả tiền hoặc làm thủ tục chấp nhận thanh toán

+ Bước 6: Nhà nhập khâu trả tiền ngay, hoặc chấp nhận trả tiền

+ Bước 7: Ngân hàng thu hộ chuyên tiên nhờ thu hoặc hối phiếu kỳ hạn đã chấp nhận cho Ngân hàng nhờ thu

+ Bước 8: Ngân hàng nhờ thu chuyển tiền nhờ thu hoặc hối phiếu kỳ hạn đã chấp nhận cho nhà xuất khẩu

*** Các phương thức nhò’ thu cơ bản

Nhờ thu phiêu trơn là phương thức thanh toán, trong đó chứng từ nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính, còn các chứng từ thương mại được gửi trực tiếp cho người nhập khẩu không thông qua ngân hàng

Trang 27

Do việc trả tiền trong phương thức nhờ thu phiếu trơn không căn cứ vào chứng

từ thương mại, mà chỉ dựa vào chứng từ tài chính do đó rủi ro đối với nhà xuất khẩu là rất lớn, việc thanh toán tiền hàng chủ yếu phụ thuộc vào ý chí của nhà nhập khẩu, nếu nhà nhập khẩu có ý lừa đảo hoặc gặp khó khăn về tài chính và không thực hiện thanh toán khi bộ chứng từ tài chính được xuất trình thì nhà xuất khẩu có thể mất toàn bộ giá trị hàng hóa đã giao

Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là phương thức thanh toán trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền của người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để nhận hàng Trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ có hai điều kiện thanh toán phổ biến thường được áp dụng đó là:

thức này được sử dụng trong buôn bán hàng hóa trả tiền ngay Người bán sau khi giao hàng lập bộ chứng từ theo như thỏa thuận trong hợp đồng mang đến nhờ ngân hàng thu

hộ Ngân hàng này chọn một ngân hàng đại lý (ngân hàng thu hộ) ở nước người mua nhờ thu hộ số tiền đó Ngân hàng thu hộ chỉ trao chứng từ khi nhà nhập khẩu thanh toán nhờ thu Thông thường, người trả tiền sẽ thanh toán tiền và lấy chứng từ trong vòng 03 ngày làm việc sau khi bộ chứng từ được xuất trình Đối với trường hợp D/P, trong lệnh nhờ thu phải có chỉ thị “Release documents against payment”

Phương thức chấp nhận nhờ thu đỗi chứng từ (Documents against

bán hàng đông ý cấp tín dụng cho người mua Trình tự tiến hành và nội dung cũng giống như với điều kiện D/P, tuy nhiên sự khác biệt ở chỗ người mua chưa phải trả tiền ngay tại thời điểm nhận bộ chứng từ mà chỉ thực hiện việc chấp nhận trả tiền bằng cách

ký châp nhận thanh toán lên hôi phiêu sau một số ngày nhất định như quy định trong

Trang 28

lệnh nhờ thu Đối với điều kiện D/A, trong lệnh nhờ thu phải có chỉ thị: “Release documents against acceptance”.

1.1.4.4 Phương thức tín dụng chứng từ

*t* Khái niệm

Trong bản “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” số 600, bản sửa đổi năm 2007 - UCP600 của phòng thương mại quốc tế Paris đã định nghĩa:

Tin dụng chứng từ là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thê nào, thê hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp.

Phương thức thanh toán TDCT có ưu điểm vượt trội hơn so với các phương thức thanh toán khác ở chỗ: nhà xuất khẩu có thể chắc chắn rằng nếu xuất trình được

bộ chứng từ phù hợp thì họ sẽ được thanh toán còn nhà nhập khẩu thì được đảm bảo rằng họ không phải thanh toán chừng nào nhà xuất khẩu chưa xuất trình được bộ chứng

từ phù hợp với các điều kiện, điều khoản của L/C

*** Đặc điểm của giao dịch L/C:

Thứ nhât, L/C là hợp đồng kinh tế giữa hai bên đó là ngân hàng phát hành (NHPH) và người hưởng lợi (thông thường là nhà xuất khẩu) Mặc dù L/C được phát hành trên cơ sở đề nghị của người yêu cầu mở thư tín dụng (thông thường là nhà nhập khâu) tuy nhiên khi L/C được phát hành thì đó là cam kết của NHPH đối với nhà xuất khẩu, NHPH sẽ chịu trách nhiệm đối với mọi điều kiện, điều khoản trong L/C Tất cả các thỏa thuận giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu về sửa đổi nội dung của L/C, nếu không được NHPH châp thuận và đồng ý sửa đổi thì đều không có giá trị thực hiện

Thứ hai, L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa: tại điều 4a UCP600 quy đinh: vê bản chât, tín dụng là một giao dịch dộc lập với hợp đồng mua bán hoặc hợp đông khác mà hợp đông này là cơ sở hình thành thư tin dụng Trong mọi trường hợp, ngân hàng không liên quan đên hoặc bị ràng buộc vào hợp đồng như thế, ngay cả khỉ thư tin dụng có bất cứ dẫn chiếu nào đến các hợp dồng này ”

Trang 29

Như vậy, L/C được hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này Một khi L/C đã được

mở và đã được các bên chấp nhận, thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến L/C Do vậy, trên thực tế, nhà nhập khẩu có thể sử dụng L/C như một công cụ dự phòng để chỉnh sửa, bổ sung những điều khoản của hợp đồng ngoại thương

đã ký với nhà xuất khẩu theo hướng có lợi cho mình

Thứ ba, L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ: tại điêu 5 UCP600 quy định: “cức ngân hàng giao dịch bằng chứng từ chứ không giao dịch bằng hàng hóa, dịch vụ hoặc thực hiện khác mà các chứng từ có liên quan

Các NH thực hiện kiểm tra bộ chứng từ được xuất trình theo L/C và chỉ quyết định thanh toán dựa trên sự phù hợp của bộ chứng từ với các điều kiện, điều khoản của L/C chứ không chịu trách nhiệm về sự thật của hàng hóa mà bất kỳ chứng từ nào đại diện (hàng hóa có thể không được giao hoặc hàng hóa được giao nhưng số lượng, chất lượng lại không giống như thể hiện trên các chứng từ)

Thứ tư, L/C yêu cầu sự tuân thủ chặt chẽ của bộ chứng từ: vì trong phương thức này, NH chỉ giao dịch và thanh toán căn cứ vào chứng từ nên yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của chứng từ là nguyên tắc cơ bản của giao dịch L/C Để được thanh toán, người xuất khẩu phải lập được bộ chứng từ phù hợp, tuân thủ chặt chẽ các điều khoản, điều kiện của L/C

Thứ năm, L/C là công cụ thanh toán hạn chế rủi ro cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu: xét về góc độ hạn chế rủi ro trong thương mại quốc tế, L/C được xem là công cụ dung hòa được tôt nhất lợi ích cho cho các bên tham gia vì người bán có thể chắc chắn về việc được thanh toán nếu xuất trình được chứng từ phù hợp với L/C và người mua chăn chắn về việc chỉ phải thanh toán khi người bán đáp ứng được toàn bộ các yêu câu đôi với bộ chứng từ được xuất trình L/C còn là cơ hội tốt để người mua có

Trang 30

thể chỉnh sửa lại một số thỏa thuận trong hợp đồng đã ký, miễn là những điều kiện trong L/C được người hưởng chấp thuận.

♦> Các bên tham gia vào giao dịch L/C

+ Người yêu cầu mở L/C (Applicant): còn được gọi là người mở L/C, là bên

mà L/C được phát hành theo yêu cầu của họ, thông thường họ là người nhập khẩu

+ Người thụ hưởng (Beneficiary): là bên được hưởng số tiền thanh toán hay sở hữu hôi phiếu được chấp nhận thanh toán theo L/C, người thụ hưởng thông thường là người xuất khẩu

+ Ngân hàng phát hành (Issuing Bank): là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theo đơn đê nghị mở thư tín dụng của người yêu cầu Thông thường hai bên mua bán

đã thỏa thuận vê việc lựa chọn NHPH ngay tại thời điểm ký kết hợp đồng nhưng nó cũng có thể là một NH do người mở lựa chọn tại thời điểm mở L/C

+ Ngân hàng thông báo (Advising Bank): là NH thực hiện thông báo L/C cho người thụ hưởng theo yêu cầu của NHPH Ngân hàng thông báo cũng thường được hai bên mua bán thỏa thuận và quy định trong hợp đồng Trong trường hợp NH thông báo không có quan hệ đại lý với NHPH, NHPH có thể lựa chọn thông báo L/C qua một NH khác trước khi L/C được gửi đến NH thông báo theo yêu cầu của người mở L/C

+ Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): là ngân hàng bổ sung sự xác nhận của mình vào L/C theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của NHPH

+ Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): là NH mà tại đó L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu Đối với L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu tại bất cứ

NH nào thì bất cứ NH nào đều có thể trở thành NH được chỉ định

*♦* Quy trình thanh toán theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

Trang 31

Sơ đồ 1.4: Quy trình thực hiện phương thức tín dụng chứng từ

+ Bước 1: Sau khi ký hợp đồng, người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đên NH của mình, yêu câu NH mở một L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu

+ Bước 2: Căn cứ vào yêu cầu và nội dung của đơn xin mở L/C, ngân hàng mở thư tín dụng sẽ lập thư tín dụng, thông qua ngân hàng phục vụ người xuất khẩu để thông báo thư tín dụng cho người xuất khẩu

+ Bước 3: Nhận được L/C, ngân hàng thông báo L/C xác minh tính chân thực

bề ngoài của L/C và thông báo ngay cho người hưởng lợi biết đồng thời chuyển bản gốc của L/C cho người hưởng lợi

+ Bước 4: Người xuất khẩu khi nhận được L/C thì tiến hành kiểm tra nội dung của L/C Nêu châp nhận L/C thì tiên hành giao hàng, còn nếu không chấp nhận thì yêu cầu sửa đổi, bổ sung

+ Bước 5: Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập một bộ chứng từ theo yêu câu của L/C và thông qua ngân hàng của mình (có thể là ngân hàng thông báo hoặc một ngân hàng khác) xuất trình qua ngân hàng mở L/C để yêu cầu thanh toán

+ Bước 6: Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu chứng từ phù hợp với điêu kiện của L/C thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu

Trang 32

+ Bước 7, 8: Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng

từ cho người nhập khẩu để họ đi nhận hàng Nếu bộ chứng từ có sai biệt, người nhập

có quyền từ chối thanh toán và trả lại chứng từ

*** Các loại thư tín dụng:

Theo Ưỷ ban kỹ thuật và nghiệp vụ Ngân hàng thuộc ICC, thu tín dụng được phân biệt theo các cách sau:

> Theo loại hình

(1) Thư tín dụng không thể hủy ngang (Iưevocable L/C): là loại L/C sau khi

đã được ngân hàng mở thì không thể sửa đổi, bổ sung và hủy ngang trong thời hạn hiệu lực của nó, trừ khi việc sửa đổi hoặc hủy ngang có sự chấp nhận của cả người mua và người bán L/C không thê hủy ngang bảo đảm quyền lợi cho các bên nên nó được sử dụng rộng rãi nhất trong TTQT Theo quy định của UCP 600, khi một L/C không ghichữ ‘‘Irrevocable” thì mặc nhiên coi nó là L/C không hủy ngang

• h" ' ,(2) Thư tín dụng có thê hủy ngang (Revocable L/C): là L/C mà người mở có quyên đê nghị NHPH sử đôi, bô sung hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không cần có sự châp thuận và thông báo trước của người thụ hưởng

(3) Các loại thư tín dụng đặc biệt

- Thư tín dụng có thể chuyển nhượng (transferable L/C): là L/C không hủy ngang, theo đó người hưởng lợi thứ nhất chuyển nhượng một phần hay toàn bộ nghĩa

vụ thực hiện L/C và quyên đòi tiên mà mình có được cho một hoặc nhiều người hưởng lợi thứ hai Môi L/C có thê chuyển nhượng chỉ có thể được chuyển nhượng một lần

- Thư tín dụng giáp lưng (back to back L/C): là L/C không hủy ngang theo đó sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở, người hưởng lợi căn cứ vào nội dung L/C này và dùng chính L/C này đê thê chấp mở một L/C khác cho người khác hưởng với nội dung gần giống như L/C ban đầu

- Thư tín dụng tuân hoàn (revolving L/C): là L/C không thể hủy ngang mà sau khi đã sử dụng hết giá trị của nó hoặc đã hết thòi hạn hiệu lực thì nó lại có giá trị như

Trang 33

cũ và tiếp tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời gian nhất định cho đến khi tổng trị giá hợp đồng được thực hiện.

- Thư tín dụng đối ứng (reciprocal L/C): là L/C không hủy ngang trong đó có điều khoản quy định: L/C này chỉ có hiệu lực khi người hưởng lợi đã mở lại một L/C đối ứng cho người mở L/C này hưởng và trong L/C đối ứng phải ghi câu: L/C này đối ứng với L/C số mở ngày tại ngân hàng

- Thư tín dụng điều khoản đỏ (red clause L/C): là L/C không hủy ngang trong

đó có điều khoản cho phép NH thông báo ứng trước cho người thụ hưởng một khoản tiền để tài trợ cho hoạt động sản xuất của người thụ hưởng

- Thư tín dụng dự phòng (standby L/C): là loại L/C được mở để bảo lãnh cho người yêu cầu mở L/C, cam kết với người hưởng lợi về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho người mở nếu như người mở vi phạm các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng

> Theo điều kiện thanh toán

(1) Thư tín dụng trả ngay (Sight L/C): là L/C mà theo đó, người yêu cầu mở L/C có nghĩa vụ phải thanh toán ngay (trong vòng 5 ngày làm việc của ngân hàng) khi nhìn thấy bộ chứng từ nếu như bộ chứng từ nhận được là hợp lệ

(2) Thư tín dụng trả chậm (Deferred/acceptance L/C): là loại L/C mà người yêu cầu mở L/C chỉ phải thanh toán bộ chứng từ hợp lệ vào ngày đáo hạn được thỏa thuận trong hợp đồng và quy định cụ thể trong L/C

(3) Thư tín dụng hồn hợp trả ngay và trả chậm (mixed payment L/C): là loại L/C mà điều khoản thanh toán quy định một phần giá trị hàng hóa được trả ngay khi nhìn thấy bộ chứng từ và phần còn lại được thanh toán sau một thời gian nhất định như

' i k , i.

thỏa thuận giữa bên bán và bên mua

1.2 Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm về rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế

Trong cuộc sống hàng ngày hay trong hoạt động kinh tế của con người đều có thể xảy ra những sự cố bất ngờ, tai nạn, tai họa ngẫu nhiên gây thiệt hại về người và tài

Trang 34

sản Rủi ro theo nghĩa chung được hiểu là sự kiện không mong đợi, không thuận lợi có thể xảy đến gây ra mất mát, hư hỏng và thiệt hại.

Khi nói đến nghiệp vụ TTQT, người ta thường nghĩ đây là loại hình dịch vụ an toàn, ít rủi ro của các NHTM, tuy nhiên trên thực tế, những nghiệp vụ này cũng tiềm ẩn không ít rủi ro và cũng có thể khiến ngân hàng đối mặt với những tổn thất lớn

Rủi ro trong TTQT là những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động TTQT liên quan đến các giao dịch quốc tế, nó do các nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia (nhà xuất khẩu, nhập khẩu, ngân hàng, các tổ chức, cá nhân và các tác nhân trung gian ) hoặc do những nhân tố khách quan như thiên tai, chiến tranh gây nên

Rủi ro trong TTQT trong phạm vi nghiên cứu của đề tài là các rủi ro phát sinh trong quá tình thực hiện thanh toán trong các phương thức thanh toán phổ biến của ngân hàng (bao gồm phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu và phương thức TDCT) Đây là những bất ngờ, gây hậu quả tổn thất cho các bên tham gia thanh toán, đặc biệt đối với các ngân hàng khi thực hiện cung ứng dịch vụ thanh toán cho các bên tham gia kinh doanh, giao dịch quốc tế

1.2.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế

I.2.2.I Phân loại theo phương thức thanh toán

♦> Rủi ro trong phương thức chuyển tiền

Trong phương thức chuyển tiền, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thực hiện việc thanh toán theo ủy nhiệm của người mua, do đó ngân hàng chỉ phải có trách nhiệm chuyển đúng số tiền cần chuyển một cách khẩn trương, an toàn đến địa chỉ theo yêu cầu một khi đã nhận được ủy nhiệm, ngoài ra không bị ràng buộc gì Vì vậy, ngân hàng không thể can thiệp vào thiện chí của bên chi trả và bên thụ hưởng Rủi ro của các bên tham gia trong phương thức này được thể hiện:

- Rủi ro đối với người mua: trong trường hợp hai bên áp dụng phương thức thanh toán trả tiền trước, người mua chuyển tiền trước cho người bán nhưng người bán

Trang 35

không thực hiện giao hàng hoặc giao hàng không đúng với thỏa thuận của hai bên thì người mua phải chịu rủi ro mất toàn bộ số tiền đã thanh toán trước.

- Rủi ro đối với người bán: trong trường hợp hai bên áp dụng phương thức thanh toán trả tiền sau khi giao hàng, người bán có thể phải đối mặt với rủi ro là hàng hóa đã giao nhưng người mua không muốn nhận hàng hoặc đã nhận hàng nhưng không chịu thanh toán do nhiêu lý do khác nhau như giá cả biến động bất lợi cho người mua, người mua gặp khó khăn về tài chính, người mua cố tình muốn chiếm đoạt hàng hóa

- Rủi ro đối với ngân hàng phục vụ người mua: khi NH cho vay thanh toán để nhập hàng nhưng khi hàng về không đúng phẩm chất, quy cách, hoặc người bán lừa đảo không giao hàng NH có thể không thu hồi lại được khoản tín dụng đã cấp cho người mua Thực hiện dịch vụ chuyển tiền thanh toán, nếu như không nắm chắc các quy định vê quản lý ngoại hối, NH còn có thể phải đối mặt với rủi ro vi phạm quy định

vê quản lý ngoại hôi nêu như người yêu cầu chuyển tiền không xuất trình đủ các giấy

tờ cần thiết hoặc họ cố tình lừa đảo ngân hàng để thực hiện hành vi rửa tiền

- Rủi ro đối với NH phục vụ người bán: ngân hàng cũng có thể gặp phải rủi ro tín dụng nêu NH cho người bán vay để thu mua, sản xuất hàng xuất khẩu nhưng người bán không thu hôi được tiền hàng làm ảnh hưởng đến việc thu nợ của NH

<♦ Rủi ro trong phưong thức nhờ thu

Phương thức nhờ thu được xem là phương thức an toàn hơn cho nhà nhập khâu bởi việc thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của nhà nhập khẩu, ngân hàng chỉ đóng vai trò là trung gian thanh toán tiền hàng giữa người mua và người bán

và hưởng phí dịch vụ Tuy nhiên phương thức này cũng có thể đem lại những rủi ro nhât định đối với tất cả các bên tham gia

- Rủi ro đối với người bán: quyết định nhận hàng và thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người mua, người bán không thể yêu cầu NH nhờ thu thu được tiền hàng nêu như người mua không muốn thực hiện nghĩa vụ của mình, người mua có thể

từ chôi nhận chứng từ để đi nhận hàng hoặc vẫn nhận hàng nhưng không thanh toán

Trang 36

vào thời điêm đáo hạn (đối với nhờ thu trả chậm) Đặc biệt đối với phương thức nhờ thu phiếu trơn thì rủi ro của người bán càng lớn vì trong phương thức này việc trả tiền chỉ căn cứ vào chứng từ tài chính không căn cứ vào chứng từ thương mại do đó người nhập khâu hoàn toàn có khả năng nhận hàng mà không thanh toán cho người bán.

- Rủi ro đối với người mua: để nhận được chứng từ và đi nhận hàng, người mua cân phải thực hiện thanh toán (đối với nhờ thu trả ngay) hoặc chấp nhận thanh toán (đôi với nhờ thu trả chậm), như vậy người mua có thể gặp rủi ro nếu hàng hóa được giao không đúng như hợp đồng đã ký

- Rủi ro đối với NH nhờ thu: trong trường hợp NH chiết khấu bộ chứng từ nhờ thu thì rủi ro đối với NH là rất lớn bởi việc quyết định thanh toán hay trì hoãn thanh toán hoặc không thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào người nhập khẩu Tiến độ thu hồi khoản tiên đã tài trợ cho người xuất khẩu có thể bị ảnh hưởng nếu người nhập khẩu trì hoãn thanh toán hoặc từ chối nhận hàng và không thanh toán Vì vậy các NH luôn thận trọng đổi với nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ nhờ thu

- Rủi ro đối với NH phục vụ người mua: NH cho vay thanh toán bộ chứng từ nhờ thu nhưng hàng giao không đúng quy cách gây thua lồ cho người nhập khẩu và tranh châp giữa các bên Người mua không có khả năng trả nợ hoặc trả nợ không đúng hạn, điều này ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả hoạt động tín dụng của NH

*** Rủi ro trong phưotig thức tín dụng chứng từ

- Rủi ro đối vói người nhập khẩu:

Rủi ro phổ biến nhất đối với người mua trong phương thức TDCT là người bán không giao hàng theo quy định của L/C Bởi L/C chỉ có hiệu lực khi nó có được sự chấp thuận của người hưởng lợi, người hưởng lợi có thể vẫn nhận L/C nhưng không tiên hành giao hàng theo quy định của L/C Rủi ro này thường xảy ra khi giá cả hàng hóa trên thị trường đang có biến động bất lợi cho người bán hoặc người bán gặp khó khăn trong khâu sản xuất nên không thể thực hiện được thỏa thuận trong hợp đồng điêu này có thê dân đên tình trạng đình trệ sản xuất, làm giảm lợi nhuận của người mua

Trang 37

Người nhập khẩu có thể gặp phải rủi ro khi hàng hóa nhận được không đúng

số lượng, chất lượng, nguồn gốc xuất xứ như quy định trong L/C Điều này xảy ra khi người bán thiếu trung thực, lập chứng từ không đúng với thực trạng hàng hóa miễn

là phù hợp với quy định của L/C

Thêm vào đó rủi ro có thể xảy ra khi người nhập khẩu nhận phải bộ chứng từ giả, tức là người xuất khẩu không gửi hàng nhưng đã lập nên bộ chứng từ giả để đòi tiền người nhập khẩu Loại rủi ro này tuy không chiếm tỷ trọng lớn song vẫn tồn tại do ngân hàng không thể và không có trách nhiệm kiểm tra tính chân thực của các loại chứng từ hàng hóa và do vậy khó có thể phát hiện ra đó là chứng từ giả Khi chứng từ

là hợp lệ thì người nhập khẩu có nghĩa vụ phải thanh toán

Ngoài ra, người nhập khẩu có thể gặp phải rủi ro khi chứng từ đã về đến ngân hàng nhưng hàng hóa vẫn còn đang trên đường vận chuyển, như vậy người nhập khẩu

đã bị chiếm dụng vốn do phải thanh toán trước khi được nhận hàng Rủi ro này sẽ xảy

ra nếu như người nhập khẩu không biết tính toán để quy định thời gian xuất trình chứng từ hợp lý để chứng từ không về quá sớm trước khi hàng hóa cập cảng

- Rủi ro đối với người xuất khẩu:

Nhà xuất khẩu có thể gặp rủi ro khi không thể lập được bộ chứng từ phù hợp với quy định trong L/C Bộ chứng từ có sai sót làm cho người bán bị chậm thanh toán,

bị trừ phí sai biệt, thậm chí có thể bị từ chối thanh toán và trả lại chứng từ Bên cạnh đó

họ cũng có thể gặp phải rủi ro khi NHPH hay ngân hàng trả tiền mất khả năng thanh toán, cho dù họ có xuất trình một bộ chứng từ hoàn hảo thì cũng không nhận được tiền

Người xuất khẩu cũng có thể gặp rủi ro khi người nhập khẩu cố tình lừa đảo, cấu kết với những cá nhân hay tổ chức phi ngân hàng lập nên những L/C giả để hòng chiếm đoạt hàng mà không phải trả tiền Mặc dù rủi ro này không dễ dàng thực hiện được nhưng không phải là không có, nếu như NH thông báo và người xuất khẩu không tỉnh táo để nhận biết được dấu hiệu của sự giả mạo thì hậu quả sẽ rất khôn lường

Trang 38

- Rủi ro đối với ngân hàng thương mại:

> Đối với ngân hàng mở thư tín dụng (Issuing bank): NHPH là ngân hàng cam kêt trả tiên cho người xuất khẩu khi họ xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với yêu cầu đề ra trong L/C Một số rủi ro mà NHPH gặp phải khi sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bao gồm:

Rủi ro xuât phát từ phía người nhập khẩu khi họ mất khả năng thanh toán hoặc

cô tình trì hoãn việc thanh toán Nguyên nhân có thể là do ngân hàng khi tiến hành mở L/C đã không thâm định kỹ về khả năng tài chính của doanh nghiệp, nhất là đối với khách hàng giao dịch lần đầu hoặc do trong quá trình sản xuất kinh doanh, người nhập khâu bị thua lô liên tục mà ngân hàng phát hành không biết chẳng hạn như hàng nhập

vê bán không thu được tiền, không bán được, nợ đọng thuế nhập khẩu kéo dài bị hải quan cưỡng chế không cho nhận hàng

Rủi ro cũng có thể xảy ra khi nhà xuất khẩu có hành vi lừa đảo, lập bộ chứng

từ giả nhưng hoàn toàn không có sai biệt trên bề mặt chứng từ: để lập được bộ chứng

từ hợp lệ người xuât khâu có thê đông lõa với hãng tàu, tổ chức bảo hiểm, giám định nhằm mục đích lập bộ rút tiền từ ngân hàng

Nêu trong quá trình vận chuyển hàng hóa gặp sự cố hoặc gian lận hàng hải

mà trách nhiệm không thuộc vê hãng tàu và lô hàng không được mua bảo hiểm, người nhập khâu không săn lòng thanh toán thì NHPH cũng có thể gặp rủi ro do vẫn có trách nhiệm phải thanh toán nếu chứng từ xuất trình là hoàn hảo

Một rủi ro nữa cũng có thể xảy ra đó là do sự biến động của tỷ giá hối đoái Trong thời gian từ khi ký hợp đồng cho tới khi thanh toán tiền hàng là thời gian dài, tỷ giá hối đoái trên thị trường có thể thay đổi, nếu người nhập khẩu không tính toán đến khả năng mât giá của đông nội tệ so với đồng ngoại tệ thì có thể khiến cho họ không muôn nhận hàng nêu như sự thua lô này có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ và sự săn lòng trả nợ của nhà nhập khâu theo cam kết trong L/C khi chứng từ xuất trình hợp

Trang 39

lệ Người nhập khẩu không thanh toán thì NH phải đứng ra thanh toán cho người hưởng lợi và rủi ro sẽ chuyển từ người nhập khẩu sang ngân hàng.

Cuối cùng rủi ro xảy ra khi ngân hàng mở L/C không tuân thủ các điều khoản quy định trong UCP600 Theo UCP600 NH sẽ được miễn thanh toán trong trường hợp

bộ chứng từ có lỗi Tuy nhiên, khi NH không hành động theo đúng quy định của ƯCP thì NH có thể gặp phải những rủi ro nhu: Thông báo từ chối thanh toán đối với những

bộ chứng từ không phù hợp mà không nêu rõ tất cả các lỗi của chứng từ, hoặc những bất hợp lệ này bị NH chiết khấu phủ nhận và trở nên không có giá trị; thông báo bất hợp lệ và từ chối thanh toán bộ chứng từ vượt quá 5 ngày làm việc của ngân hàng kể từ ngày nhận được chứng từ; NH làm mất bộ chứng từ hoặc giao chứng từ cho người mở L/C trong khi từ chối thanh toán cho người hưởng nên không còn chứng từ để trả lại cho người xuất trình hoặc chuyển cho người thứ ba do người xuất trình chỉ định

> Đối với ngân hàng thông báo (Advising bank): ngân hàng thông báo chịu trách nhiệm phải có sự “cẩn trọng hợp lý” để đảm bảo ràng thư tín dụng là chân thật, bao gồm cả việc xác minh chữ ký, mã khóa, mẫu điện trước khi gửi thông báo L/C cho nhà xuất khẩu Như vậy, nếu ngân hàng thông báo thiếu cẩn thận khi kiểm tra tính chân thật bề ngoài của L/C hoặc không xác nhận được tính chân thật bề ngoài của L/C nhưng không từ chối thông báo kịp thời với NHPH theo quy định tại điều 9e UCP600 thì phải gánh chịu rủi ro như không nhận được phí dịch vụ thậm chí nghiêm trọng hơn

là bị khởi kiện và bồi thường thiệt hại

> Đối với ngân hàng xác nhận (Confirming bank): NH xác nhận là NH đứng ra xác nhận cho NHPH về cam kết thanh toán theo L/C theo yêu cầu của NHPH

NH xác nhận thường xuất hiện trong L/C khi người xuất khẩu không hoàn toàn tin tưởng vào uy tín của NHPH và yêu câu phải có NH có uy tín hơn xác nhận cam kêt việc trả tiền cho mình Khi NHPH không có khả năng trả tiền cho người bán thì trách nhiệm này sẽ thuộc về NH xác nhận Vì vậy, NH xác nhận có thể gặp rủi ro nếu không nắm rõ được năng lực tài chính cũng như uy tín của NHPH mà đã đồng ý xác nhận

p 1 >

Trang 40

theo yêu cầu của họ và hậu quả là NH xác nhận phải lãnh trách nhiệm thanh toán thay cho NHPH khi họ không có khả năng thanh toán hoặc không có thiện chí thanh toán.

> Đối với ngân hàng chiết khấu/trả tiền (Negotiating bank/Paying bank): nghiệp vụ chiết khấu là nghiệp vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro cho NH thực hiện Rủi ro đó có thể gây ra bởi NHPH, từ người mở thư tín dụng hoặc từ chính những sai sót của NH trong khi tác nghiệp

Rủi ro xuất phát từ NHPH nếu NHPH bị phá sản và không có khả năng thanh toán tiền cho NH chiết khấu Do đó, một trong những công việc mà NH chiết khấu phải tiên hành trước khi ra quyết định chiết khấu cho khách hàng đó là thẩm định uy tín, khả năng thanh toán của NHPH Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, mặc dù NH chiết khấu

đã thực hiện bước này nhưng đến thời điểm thanh toán, NHPH lại gặp khó khăn về tài chính và không có khả năng thanh toán thì NH chiết khấu vẫn có thể gặp phải rủi ro

Rủi ro cũng có thể xuất phát từ người nhập khẩu khi họ cố tình trì hoãn thanh toán, từ chối thanh toán, hoặc người nhập khẩu bị phá sản Để trì hoãn thanh toán, người nhập khẩu có thể yêu cầu NHPH thông báo lỗi chứng từ trong vòng 5 ngày làm việc của ngân hàng đê dành quyền từ chối thanh toán Do đã ứng trước tiền cho xuất khâu nên với thời gian trì hoãn càng dài thì ngân hàng chiết khấu sẽ bị đọng vốn hoặc

bị lỗ nếu đã mua đứt bộ chứng từ

Ngân hàng chiết khấu thiếu sự thận trọng trong kiểm tra chứng từ, không tìm thây sai sót của người bán khi lập chứng từ, gây nên bất hợp lệ chứng từ, tạo cơ hội cho ngân hàng mở và người mở L/C từ chối chứng từ Đây là loại rủi ro gây thiệt hại nặng

nê nhât cho người bán, nếu người bán không có khả năng hoàn trả chiết khấu thì ngân hàng chiết khấu phải gánh chịu hoàn toàn rủi ro

Trường hợp xảy ra các nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, chiến tranh, nôi loạn, đảo chính, đình công, đóng cửa các hoạt động ngân hàng do bị khủng hoảng kinh tế nếu ngày xuất trình chứng từ hoặc ngày hết hiệu lực L/C rơi vào ngày mà sự kiện trên xảy ra thì theo điều 36 ƯCP600 cho phép ngân hàng phát hành được miễn

Ngày đăng: 18/12/2023, 12:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1:  Cơ cấu tổ chức quản lý tại NH TMCP Quốc Tế Việt  38 - Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam,
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý tại NH TMCP Quốc Tế Việt 38 (Trang 9)
Sơ đồ 1.2: Quy trình thực hiện phương thức ghi sổ - Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam,
Sơ đồ 1.2 Quy trình thực hiện phương thức ghi sổ (Trang 24)
Sơ đồ 1.3: Quy trình thực hiện phương thức nhờ thu - Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam,
Sơ đồ 1.3 Quy trình thực hiện phương thức nhờ thu (Trang 26)
Sơ đồ 1.4: Quy trình thực hiện phương thức tín dụng chứng từ - Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam,
Sơ đồ 1.4 Quy trình thực hiện phương thức tín dụng chứng từ (Trang 31)
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức quản lý tại NH TMCP Quốc Te Việt Nam - Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam,
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý tại NH TMCP Quốc Te Việt Nam (Trang 47)
Bảng số liệu 2.2:  Các chỉ tiêu hoạt động tại VIB - Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam,
Bảng s ố liệu 2.2: Các chỉ tiêu hoạt động tại VIB (Trang 52)
Bảng số liệu 2.3: Tỷ trọng doanh số các phương thức thanh toán quốc tế tại VIB - Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam,
Bảng s ố liệu 2.3: Tỷ trọng doanh số các phương thức thanh toán quốc tế tại VIB (Trang 58)
Bảng số liệu 2.4: Tình hình phát hành L/C tại VIB - Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam,
Bảng s ố liệu 2.4: Tình hình phát hành L/C tại VIB (Trang 59)
ĐỒ thị 2.5 thể hiện doanh số phát hành L/C trả chậm của VIB qua một số năm gần - Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam,
th ị 2.5 thể hiện doanh số phát hành L/C trả chậm của VIB qua một số năm gần (Trang 60)
Bảng số liệu 2.6: Nợ quá hạn cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại VIB - Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam,
Bảng s ố liệu 2.6: Nợ quá hạn cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại VIB (Trang 80)
Sơ đồ 3.1: Hệ thống kế hoạch dự phòng sự cố - Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam,
Sơ đồ 3.1 Hệ thống kế hoạch dự phòng sự cố (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm