Để thủc đẩy xuất khẩu, Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích xuất khẩu trong đó có chính sách tài chính - tín dụng như: Thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu Quỹ HTXK để thưởng cho các đ
Trang 2BÔ G IÁ O DỤC VÀ ĐÀO TẠ O NGÂN HÀNG NHÀ N ư ớ c V IỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG■ ■
VŨ DUY TIÊN
TÍN DỤNG HỖ TRỢ XUẤT KHẨU CỦA QUỶ Hỗ TRỢ
PHÁT TRIỂN - THỰC TRẠNG VÀ GlẢl PHÁP ĐỔI MỚI
Chuyên ngành : Kinh tế tài chính - Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC sĩ KINH TẾ
HỌC VIỆN NGAN HÀNG TRUNG TÂM THỎNG TIN - THƯ VIỆN
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các s ố liệu
đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực
và chưa được ai công b ố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Vũ Duy Tiên
Trang 4Đầu tư phát triểnLiên minh Châu âuTổng sản phẩm Quốc nội
Hỗ trợ phát triển
Hỗ trợ xuất khẩuHội đồng nhân dânHợp đồng tín dụngThư tín dụngNgân sách Nhà nướcNgân hàng thương mạiNgân hàng phát triển Việt NamNgân hàng Nhà nước
Viện trợ phát triển
Tổ chức tín dụngQuyết định của Thủ tướng Chính Phủ
Xã hội chủ nghĩa
ủ y ban nhân dân
ủ y thác đầu tưĐồng đô la Mỹ
Tổ chức thương mại thế giớiWTO
Trang 5Các Sơ đồ,
Bảng, Biểu
Mục
Sơ đồ 2.1 2.1.3 Tổ chức bộ máy của Quỹ Hỗ trợ phát triển 32Biểu 2.1 2.2.1 Tình hình nguồn vốn của Quỹ HTPT 36
Biểu 2.3 2.2.2 Các hình thức Hỗ trợ xuất khẩu 39Biểu 2.4 2 2 2 2 Tình hình cho vay ngắn hạn HTXK 41Biểu 2.5 2 2 2 2 Cơ cấu cho vay theo mặt hàng xuất khẩu. 44Biểu 2.6 2 2 2 2 Cơ cấu cho vay theo loại hình doanh nghiệp 45Biểu 2.7 2 2 2 2 Cơ cấu cho vay theo thị trường xuất khẩu 46
Biểu 2.9 2 2 2 2 Tinh hình Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư 50
Trang 6M Ở Đ Ầ U 1
1.1.1 V ài n ét v ề x u ấ t kh ẩu 4 1.1.2 V ai trò của x u ấ t khẩu đối với p h á t triển kinh t ế của đ ấ t nước 8 1.2. Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu và sự cần thiết đổi mới tín dụng hỗ
1 2 1 B ản ch ấ t củ a tín d ụ n g và tín d ụ n g h ỗ trợ x u ấ t khẩu 10 1.2.2 V ai trò củ a tín d ụ n g H ỗ trợ x u ấ t kh ẩu : 12 1.2.3 Đ ặ c điểm củ a tín d ụ n g h ỗ trợ x u ấ t kh ẩu ở nước ta: 14 1.2.4 H ìn h th ứ c tín d ụ n g h ỗ trợ x u ấ t khẩu 15 1.2.5 S ự cần th iết đ ổ i m ới tín d ụ n g H ỗ trợ x u ấ t kh ẩu ở nước ta 18 1.2.6 N h â n tô ản h h ư ởn g đến tín d ụ n g h ỗ trợ x u ấ t kh ẩu 2 0
1.3 Kinh nghiệm của một số nước về tín dụng hỗ trợ xuất khẩu 22
1.3.1 K in h n g h iệm củ a m ộ t sô nước 22 1.3.2 B à i h ọc kin h n g h iệm đ ô i với V iệt N a m 26
2.1 Quá trình ra đời và phát triển của quỹ hỗ trợ phát triển 29
2.1.1 S ự ra đờ i của Q u ỹ H ố trợ p h á t triển 29 2.1.2 Đ ặ c đ iểm củ a Q u ỹ h ỗ trợ p h á t triển 30 2.1.3 B ộ m á y tổ chứ c củ a Q u ỹ h ỗ trợ p h á t triển : 31 2.2. Thực trạng tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của Quỹ hỗ trợ phát triển 36
2.2 1 N g u ồ n vốn củ a Q u ỹ H ỗ trợ p h á t triển 36 2.2.2 T ình hìn h tín d ụ n g h ỗ trợ x u ấ t kh ẩu : 39
Trang 7CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIÊN NGHỊ NHAM Đ ổ i m ớ i h o ạ t
ĐỘNG HỖ TRỢ XUẤT KHAU c ủ a q u ỹ H ỗ TRỢ PHÁT
3.1.1 M ụ c tiêu ch iến lược củ a V iệt N a m g ia i đoạn 2001 - 2 0 1 0 61 3.1.2 Q u an điểm c h ỉ đ ạo củ a Đ ả n g và N h à nước thự c h iện chiến
lược th ú c đ ẩ y x u ấ t kh ẩu đến năm 2 0 1 0 65
3.4.1 Đ ô i với C h ín h P h ủ 84 3.4.2 K iến n gh ị đ ô i với d o a n h n gh iệp x u ấ t kh ẩu 86
Trang 8MỞ ĐẨU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ có vai trò rất quan trọng, bởi xuất khẩu không những là cơ sở để mở rộng thị trường mà còn là tiền đề để nhập khẩu thiết bị kỹ thuật - công nghệ, nguyên nhiên vật liệu, cải thiện cán cân thanh toán, bình ổn tỷ giá, góp phần tăng trưởng kinh tế Do vậy, thúc đẩy xuất khẩu được coi là con đường để đạt tăng trưởng kinh tế cao nhất và là con đường nhanh nhất để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong những năm qua, đi đôi với chủ trương đẩy mạnh và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hoạt động xuất khẩu ở nước ta ngày càng được coi trọng
Để thủc đẩy xuất khẩu, Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích xuất khẩu trong đó có chính sách tài chính - tín dụng như: Thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu (Quỹ HTXK) để thưởng cho các đơn vị đạt kim ngạch xuất khẩu cao,
hỗ trợ lãi suất vay vốn ngân hàng, bù lỗ xuất khẩu; Có chính sách thuế ưu đãi cho hoạt động xuất khẩu để giảm giá thành nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá; Khuyến khích thông qua chính sách tỷ giá Gần đây, Nhà nước
đã chuyển dần hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp sang hỗ trợ gián tiếp thông qua kênh tín dụng ưu đãi và tập trung vào một đầu mối giao cho Quỹ hỗ trợ phát triển (Quỹ HTPT) quản lý, tổ chức thực hiện Đây là một chủ trương đúng đắn của Nhà nước để chủ động tham gia hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
Trong những năm qua, tín dụng HTXK đã bắt đầu đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng, góp phần đáng kể làm tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của
cả nước Thông qua chính sách tín dụng HTXK, nguồn vốn tín dụng ưu đãi đã
hỗ trợ vốn đắc lực cho doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, góp phần giảm chi phí đầu vào, tăng khả năng cạnh tranh, duy trì thị trường truyền thống và tiếp cận thị trường mới, đặc biệt đối với là các mặt hàng có sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế, như: Gạo, cà phê, thuỷ sản hoặc các mặt
Trang 9hàng có chi phí vận chuyển cao như hàng thủ công mỹ nghệ và các mặt hàng thời vụ phải có thời gian dự trữ dài.
Tuy nhiên, sau gần 5 năm hoạt động của Quỹ HTPT, tín dụng HTXK đã bộc lộ một số tồn tại, bất cập cần được bổ sung, hoàn thiện để phát huy hơn nữa vai trò của nó trong việc thúc đẩy xuất khẩu, đồng thời phù hợp với tiến trình
hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Từ thực tế đó, tác giả chọn đề tài: "Tín
dụng H ỗ trợ xuất khâu của Quỹ H ỗ trợ phát triển -Thực trạng và giải pháp đổi m ớ i" làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
2 M ục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về xuất khẩu và tín dụng HTXK đồng thời làm rõ vai trò của xuất khẩu đối với việc tăng trưởng, phát triển kinh
tế cũng như sự cần thiết khách quan của tín dụng HTXK trong việc thúc đẩy xuất khẩu và sự đổi mới tín dụng HTXK ở nước ta
- Phân tích và đánh giá thực trạng về tín dụng HTXK chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế vướng mắc và tìm nguyên nhân của những kết quả
và hạn chế đó
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm đổi mới tín dụng HTXK phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động này, qua đó đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu trong thời gian tới, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện thành công sự nghiệp (CNH - HĐH)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt dộng tín dụng HTXK của Quỹ HTPT đối với xuất khẩu hàng hoá ở nước ta
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động tín dụng HTXK của Quỹ HTPT ở Việt Nam hiện nay, bao gồm: Cho vay đầu tư trung và dài hạn, cho vay ngắn hạn, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư, bảo lãnh dự thầu và thực hiện hợp đồng trên phạm vi cả nước.Tài liệu khảo sát thực tiễn tại Qũy HTPT trong thời gian từ năm 2001 đến năm 2004
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng các phương pháp: Duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử làm phương pháp luận cơ bản
- Ngoài ra luận văn cũng sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, điều tra điển hình làm cơ sở cho việc phân tích và đánh giá
5 Kết cấu luận văn:
Tên luận văn: "Tín d ụ n g H ỗ trợ x u ấ t kh ẩu củ a Q u ỹ H ỗ trợ p h á t triển
-T hự c trạ n g và g iả i p h á p đ ổ i m ới ”
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục biểu, sơ đồ, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: X u ấ t kh ẩu và T ín d ụ n g h ỗ trợ x u ấ t khẩu.
Chương 2: T hự c trạ n g T ín d ụ n g h ỗ trợ x u ấ t kh ẩu của Q u ỹ H ỗ trợ p h á t
triển ở nước ta n h ữ n g n ăm qua.
Chương 3: G iả i p h á p và kiến n g h ị n h ằm đ ồ i m ớ i h o ạ t đ ộ n g tín d ụ n g h ỗ trợ
x u ấ t k h ẩ u củ a Q u ỹ H ỗ trợ p h á t triển
Trang 11Chương 1
XUẤT KHẨU VÀ TÍN DỤNG Hỗ TRỢ XUẤT KHAU
1.1 XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHAU
1.1.1 Vài nét về xuất khẩu
* Xuất khẩu là gì ?
Từ trước tới nay có nhiều quan niệm về xuất khẩu Các quan niệm này được hiểu không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà được hiểu trên phạm vi toàn thế giới
- Theo từ điển thì xuất khẩu là đưa hàng hoá, tư bản ra nước ngoài
- Theo lý thuyết trong giáo trình của Đại học Ngoại thương Việt Nam: Xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ ra thị trường nước ngoài
- Theo cách hiểu của tác giả thì xuất khẩu là việc bán hàng hoá, dịch vụ
từ quốc gia này sang quốc gia khác theo đường bộ, đường biển hoặc đường hàng không thông qua hợp đồng xuất nhập khẩu được các bên ký kết
Trên thực tế, người ta có thể nhìn nhận xuất khẩu theo hai cách:
M ột là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất
vượt quá nhu cầu nội địa, tức là xuất khẩu những gì ta có Trong nền kinh tế lạc hậu và chậm phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ sự "thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu rất nhỏ bé và tăng trưởng chậm chạp, không có tác dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản xuất phát triển Cách hiểu này không tích cực, mang tính thụ động
H ai là, coi thị trường và đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quan
trọng để tổ chức sản xuất, nhằm xuất khẩu những gì mà thị trường thế giới đang cần Quan điểm này chính là xuất phát từ nhu cầu thị trường thế giới để tổ chức sản xuất Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất sản phẩm Cách hiểu này mang tính chú động và phù hợp với xu thế phát triển kinh tế hướng tới hội nhập ngày nay
Trang 12* Xuất khẩu ra đời, tồn tại, phát triển vì lý do gì ?
Có nhiều nhà nghiên cứu đã giải thích quan điểm của mình về sự cần thiết ra đời, tồn tại và phát triển của xuất khẩu qua các học thuyết khác nhau:
- Lý thuyết cổ điển về lợi th ế so sánh
Thương mại quốc tế xuất hiện từ sự đa dạng hoá tự nhiên của nền sản xuất giữa các nước Khi tham gia thương mại quốc tế, các nước đều có xu hướng chuyên môn hoá một số sản phẩm mà mình có điều kiện sản xuất thuận lợi nhất hoặc thuận lợi hơn để nhờ đó có thể giảm giá bán sản phẩm, tạo lợi thế về chi phí so với các nước khác Nghĩa là trong nước nên nhập khẩu những sản phẩm
mà trong nước không có điều kiện sản xuất hoặc hiệu quả thấp và xuất khẩu những sản phẩm có điều kiện thuận lơị, hiệu quả cao Tuy nhiên, cũng cần quan tâm đến cầu của thị trường quốc tế cả về chất lượng của sản phẩm đó Đây là vấn đề cốt lõi để đảm bảo khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Trên thực tế một nước có nền kinh tế chậm phát triển (như Việt Nam) vẫn
có thể có sản phẩm bán ra thị trường thế giới, trong khi đó một nước có đầy đủ điều kiện để sản xuất ra một mặt hàng (như Mỹ, Nhật Bản ) lại vẫn đi nhập mặt hàng đó từ nước khác (ví dụ như sản phẩm dệt may, giầy dép ) Các nhà kinh tế học quốc tế vẫn chấp nhận học thuyết lợi thế so sánh của Adam Smith và david Ricardo, hai nhà kinh tế học cổ điển của Anh cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19
Học thuyết về lợi thế so sánh cho rằng phúc lợi của thế giới (bao gồm cả hai nước) là lớn nhất khi mỗi nước xuất khẩu những sản phẩm mà chi phí sản xuất trong nước thấp hơn ở nước ngoài và nhập những hàng hoá mà chi phí so sánh ở nước ngoài thấp hơn ở trong nước
Thương mại quốc tế và chuyên môn hoá được quyết định bởi chi phí so sánh chứ không phải do chi phí tuyệt đối Muốn so sánh chi phí tuyệt đối thì phải có đơn vị chuẩn nào đó (ví dụ, một đồng tiền chung như USD) Mặt khác, chúng ta không thể so sánh chi phí tuyệt đối nếu không có một tỷ giá hối đoái
Năm 1817, David Ricardo nhà kinh tế học người Anh đã giải thích hiện tượng kinh tế trên bằng học thuyết lợi thế so sánh, trong đó có nhận định rằng:
"Nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trong việc sản
Trang 13xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia thương mại quốc tê để tạo ra lợi ích” Đối với David Ricardo, thương mại thực sự là động lực của tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn nền kinh tế sẽ điều chỉnh tới điểm cân bằng trong trạng thái ổn định.
Theo Samuelson, nguyên tắc lợi thế so sánh cho phép mỗi nước sẽ có lợi nếu chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu các hàng hoá mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp (tức là các hàng hoá mà họ sản xuất tương đối có hiệu quả hơn so với nước khác); ngược lại, mỗi nước sẽ có lợi nếu nhập khẩu những hàng hoá mà mình sản xuất với chi phí tương đối cao (tức là những hàng hoá mà
họ sản xuất tương đối kém hiệu quả hơn các nước khác)
- L ý th u yết tân c ổ điển vê lợi thê so sánh
Lý thuyêt về lợi thế so sánh của David Ricardo không giải thích được nguyên nhân xuất hiện lợi thế so sánh, là vì sao các nước khác nhau lại có chi phí cơ hội khác nhau Để khắc phục được hạn chế này, hai nhà kinh tế học Thụy Điển là Heckscher và Ohlin đã phát triển lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, bằng việc xác định nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu tô sản xuất mà kinh tê học phát triển vẫn gọi là nguồn lực sản xuất Do
đó, lý thuyết Heckscher - Ohlin còn gọi là lý thuyết so sánh các nguồn lực sản xuất vốn có, đã tính đến những khác biệt về cung ứng yếu tố (chủ yếu là đất đai, lao động và vốn) khi chuyên môn hoá quốc tế
Lý thuyết này chứng minh rằng một nước sẽ thu lợi qua buôn bán nếu xuất khẩu một hàng hoá được sản xuất bằng việc sử dụng ở mức độ cao yếu tố sản xuất mà nước đó có tương đối nhiều, rẻ và nhập những hàng hoá mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng ở mức cao những yếu tố sản xuất mà ở nước mình có rất ít
Thương mại quốc tế dựa vào những khác biệt về yếu tố sản xuất hiện có của mỗi nước, ví dụ Việt Nam có nhiều lao động và Nhật Bản có nhiều vốn Việt Nam có lợi thế so sánh về những hàng hoá đòi hỏi nhiều lao động (dệt) và Nhật có lợi thế so sánh về những hàng hoá đòi hỏi nhiều vốn (thép), và điều đó
có nghĩa là chi phí cơ hội của hàng dệt (đo bằng sản lượng thép để sản xuất ra
Trang 14một đơn vị hàng dệt) ở Nhật cao hơn ở Việt Nam.
Đối với các nước chưa phát triển- là những nước đông dân, thừa lao động nhưng lại nghèo vốn, do đó trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá đất nước cần tập trung xuất khẩu hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều vốn Sự lựa chọn những hàng hoá xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có như vậy sẽ là điều kiện cần thiết để các nước phát triển, đang phát triển có thể nhanh chóng hội nhập vào sự phân công lao động và hợp tác thương mại quốc tế, và trên cơ sở lợi ích thương mại thu được sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở những nước này
- H ọc th u yết vê chu kỳ sốn g của sản ph ẩm quốc tê
Học thuyết chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế được đưa ra để giải thích những hiện tượng mới gắn liền với những thay đổi của thương mại quốc tế Nó cũng phản ánh sự phát triển nhánh chóng của tiến bộ khoa học kỹ thuật và quyền lợi của các tập đoàn đa quốc gia trong thương mại quốc tế
Mô hình chu kỳ sản phẩm cho thấy rằng một sản phẩm đòi hỏi tay nghề lao động rất cao ở giai đoạn đầu, sau đó khi thị trường đã phát triển và kỹ thuật phổ biến hơn thì sản phẩm được chuẩn hoá Do đó, các nước có trình độ kém tinh vi hơn có thể sản xuất hàng loạt với những lao động kém hơn về kỹ năng Các nền kinh tế tiên tiến có lợi thế so sánh với những mặt hàng chưa chuẩn hoá, còn các nước kém phát triển lại có lợi thế so sánh về các hàng hoá đã chuẩn hoá
Chu kỳ sống của sản phẩm có 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn xâm nhập: Sự xuất hiện sản phẩm mới thường ở các nước
phát triển vì một số lý do sau đây: Do thu nhập cao nên cho phép có điều kiện chi tiêu vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển ra sản phẩm mới ; sự cạnh tranh khách hàng ở các quốc gia đó rất gay gắt ; số lượng người tiêu dùng có mức thu nhập cao rất lớn ; những quốc gia này có nhiều nhà khoa học và đầy đủ các phương tiện nên thuận lợi cho việc nghiên cứu
+ Giai đoạn tăng trưởng: Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là nhu cầu
tiêu dùng sản phẩm mới hướng gia tăng ở thị trường nước ngoài đặc biệt là
Trang 15những nước phát triển Các nhà kinh doanh sẽ đầu tư vốn ở thị trường nước ngoài và tiêu thụ sản phẩm đó nhằm tiết kiệm một số chi phí.
+ Giai đoạn chín muồi: Ở giai đoạn này nhu cầu về sản phẩm trên thị
trường bắt đầu dừng lại Các cơ sở sản xuất ở nước ngoài có thể sản xuất chậm lại, công nghệ được thay đổi Giá nhân công ở từng quốc gia có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí sản xuất ra sản phẩm ở quốc gia đó
+ Giai đoạn suy thoái: Đối với một nước công nghiệp phát triển, sản
phẩm không còn hấp dẫn người tiêu dùng nữa, nó bắt đầu đi vào suy thoái và triệt tiêu Bấy giờ họ mong muốn có những sản phẩm hoàn hảo hơn Lúc này công ty kinh doanh di chuyển sản phẩm sang những nước kém phát triển để khắc phục và bắt đầu một vòng đời mới của sản phẩm nhằm sử dụng và phát triển có hiệu quả các nguồn lực vốn có của công ty để đạt được các mục tiêu đề
ra như mục tiêu lợi nhuận hay tăng trưởng
Nhìn chung thời gian tồn tại của mỗi giai đoạn không giống nhau ở mỗi
thị trường bởi vì sản phẩm mới ở thị trường này không phải mới ở thị trường
khác cho nên các quốc gia tiến hành buôn bán với nhau do sự đổi mới các sản phẩm ở mỗi quốc gia khác nhau
1.1.2 Vai trò của xuất khẩu đối với phát triển kinh tê của đất nước
Cùng với chiến lược hội nhập và phát triển, thương mại quốc tế là một bộ phận quan trọng, gắn liền với tiến trình hội nhập và có vai trò quyết định đến lợi thế của một quốc gia trên thị trường khu vực và thế giới Vì vậy, việc đẩy mạnh giao lưu thương mại quốc tế nói chung và thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ nói riêng là mục tiêu phát triển kinh tế hàng đầu của các quốc gia Thực tế cho thấy các nước có dự trữ ngoại tệ như Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore đều
là những nước có tỷ trọng xuất khẩu lớn trên thế giới Có thể nói thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ là một động lực của sự phát triển kinh tế đất nước, thể hiện trên các mặt:
- X u ất khẩu tạo điều kiện cho quốc gia tận dụng tối đa được lợi thê so sánh của m ình.
Sức cạnh tranh của hàng hoá được nâng cao, tăng trưởng kinh tế trở nên
Trang 16ổn định và bền vững hơn nhờ các nguồn lực được phân bổ một cách hiệu quả hơn Quá trình này cũng tạo ra cơ hội lớn cho tất cả các nước, nhất là những nước đang phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hoá trên cơ sở ứng dụng thành quả của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ.
- X u ất khẩu tạo nguồn vốn ngoại tệ chủ yếu cho nhập khẩu công nghệ, m áy m óc và những nguyên vật liệu cần th iết ph ụ c vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Hoạt động xuất khẩu kích thích các ngành kinh tế phát triển, góp phần tăng tích luỹ vốn, mở rộng sản xuất, tăng thu nhập cho nền kinh tế, cải thiện mức sống của các tầng lớp dân cư Ngoại tệ được thu từ hoạt động xuất khẩu là nguồn tăng dự trữ ngoại tệ Dự trữ ngoại tệ dồi dào là điều kiện cần thiết để giúp cho quá trình ổn định nội tệ và chống lạm phát
- X u ấ t khẩu góp ph ân đẩy m ạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tê, thúc đẩy sản x u ấ t sản phẩm
+ Các ngành sản xuất hàng xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác
có cơ hội phát triển thuận lợi Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu tạo cơ hội đầy đủ cho việc phát triển ngành xuất khẩu nguyên liệu như bông hay thuốc nhuộm Sự phát triển của ngành công nghiệp chê biến thực phẩm xuất khẩu có thể kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó
+ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, nhờ vậy mà sản xuất trong nước có thể phát triển và ổn định
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước Điều này nhằm nói đến xuất khẩu là phương tiện quan trọng tạo nguồn vốn và kỹ thuật công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước để tạo ra những năng lực sản xuất mới
+ Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của nước xuất khẩu sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn
Trang 17thích ứng được với những thay đổi của thị trường.
+ Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị sản xuất kinh doanh
- X u ấ t khâu có tác động tích cực đến giải qu yết công án việc làm và tạo thu nhập, cải thiện đời sôn g nhân dân.
Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm nhiều mặt Trước hết sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc với thu nhập cao Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật liệu tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày càng phong phú thêm các nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Đồng thời xuất khẩu cũng tác động tích cực đến trình độ tay nghề
và thay đổi thói quen của những người sản xuất hàng xuất khẩu
- X u ấ t khẩu là cơ sở, nền tảng đ ể m ở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh t ế đối ngoại, tăng cường địa vị kinh tế của quốc gia trên thị trường khu vực và thê giới.
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại lẫn nhau Thông thường hoạt động xuất khẩu thường xuất hiện sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ kinh tế này phát triển Chẳng hạn, hoạt động xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, vận tải quốc tế Mặt khác chính các quan hệ kinh tế đối ngoại này lại tạo điều kiện mở rộng hoạt động xuất khẩu
1.2 TÍN DỤNG HỖ TRỢ XUẤT KHAU v à s ự CẦN THIẾT Đ ổ i MỚI TÍN DỤNG HỖ TRỢ XƯÂT KHAU ở n ư ớ c t a
1.2.1.Bản chất của tín dụng và tín dụng hỗ trợ xuất khẩu.
* Q uan niệm vê tín dụng:
Tín dụng ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hoá Từ tín dụng được sử dụng ngày nay (tiếng Anh: Credit) xuất phát từ gốc La tinh Credium là lòng tin, là sự tín nhiệm Khái niệm về tín dụng được nhiều nhà nghiên cứu trình bày theo những góc độ, phương diện khác nhau
- Theo Mác: “Tín dụng dưới các hình thức biểu hiện đơn giản là sự tín
Trang 18nhiệm ít nhiều có căn cứ đã khiến cho một người này giao cho người khác một
số tư bản nào đó, dưới hình thức tiền hoặc dưới hình thái hàng hoá đáng giá một
số tiền nhất định nào đó Số tiền này được trả lại trong thời gian nhất định”
- Nhà kinh tê người Pháp, ông LouisBaudin, đã định nghĩa: “Tín dụng là
một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hóa tưong lai, tức là hai bên cam kết với nhau như sau: Một bên thì trao đổi ngay một số tài hoá hay tiền bạc ; một bên kia cam kết sẽ hoàn trả lại những đối khoản đó trong một thời gian nhất định và theo một điều kiện nhất định nào đó"
- Theo sách Tiền tệ và Ngân hàng, tác giả Nguyễn Ngọc Hùng- NXB Thống kê Hà Nội, 1999 “Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng với một thời gian nhất định và khi đến hạn người sử dụng phải thanh toán cho người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn.Phần lớn hơn đó gọi
là lợi tức”
Nhìn chung, theo các cách trình bày khác nhau, quan niệm về tín dụng của các nhà nghiên cứu đều có những điểm chung phản ánh bản chất của tín dụng, cụ thể là:
- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác
- Sự chuyển giao này mang tính tạm th ờ i
- Khi hoàn trả lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức
* Q uan niệm vê tín dụng h ỗ trợ xu ất khẩu:
Theo Điều 1, Quy chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu (ban hành kèm theo
Quyết định sô Ị 33/2001/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ)
“Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu là ưu đãi của Nhà nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và cá nhân phát triển sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước”
Trang 19Như vậy, Tín dụng HTXK là một dạng tín dụng Nhà nước, thể hiện quan hệ vay mượn giữa một bên cung cấp vốn là Nhà nước và bên nhận vốn là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu theo chính sách xuất khẩu của Nhà nước Nói cách khác, tín dụng HTXK là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tác nhân hoạt động trong nền kinh tế là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, cá nhân được hưởng ưu đãi, phục vụ cho mục đích thúc đẩy xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế Như vậy, bản chất của tín dụng HTXK là túi dụng ưu đãi nhà nước, là công cụ tài chính quan trọng của Nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội thông qua con đường hỗ trợ thúc đẩy xuất khẩu.Với mục đích nhằm hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu, nên về bản chất tín dụng HTXK có những điểm khác biệt so với loại hình tín dụng thương mại về mục đích, hình thức, đối tượng, lãi suất
1.2.2.Vai trò của tín dụng Hỗ trợ xuất khẩu:
- Tín dụng đầu tư p h á t triển của nhà nước nói chung và tín dụng
H T X K nói riêng góp ph ần tăng cường cơ sở vật ch ất k ỹ thuật, nâng cao năng lực của nền kinh tế theo chiến lược p h á t triển kinh tế - x ã h ội của đất nước.
Nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước được tập trung cho các lĩnh vực thuộc các ngành, các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhằm thúc đẩy sự phát triển của các ngành này Nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước tham gia với tư cách “vốn mồi” để thực hiện các dự án theo quy định của chính phủ (dự án vay vốn trong nước, dự án vay vốn ODA) Cùng với hỗ trợ trực tiếp, hình thức bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ lãi xuất sau đầu tư cũng tạo “vốn mồi” để huy động nguồn vốn từ các nhà đầu tư, tổ chức tín dụng cho đầu tư phát triển Trên cơ sở đó tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước nói chung và tín dụng HTXK nói riêng đã góp phần tạo nên những kết quả như:
+ Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH
+ Hỗ trợ phát triển một số lĩnh vực, chương trình, dự án, sản phẩm trọng điểm của nền kinh tế: Góp phần phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế; Phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp trọng điểm; Phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn; Góp phần thực hiện chính sách xã hội hoá trong các lĩnh vực: y tế,
Trang 20văn hoá, thể dục thể thao
+ Hỗ trợ phát triển kinh tế các vùng, miền
+ Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA
- Tín dụng H T X K góp phần thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu:
Với sự có mặt của vốn HTXK hàng trăm dự án đầu tư cơ sở sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu tập trung vào các lĩnh vực dệt may, giày da, chế biến thuỷ sản, chế biến rau quả, thủ công mỹ nghệ được triển khai thực hiện Đồng thời với nguồn vốn ngắn hạn HTXK giúp cho hàng ngàn các doanh nghiệp thực hiện thành công hợp đồng xuất khẩu các mặt hàng được ưu tiên như: thuỷ sản, gạo,
cà phê, dệt may, da giày, thủ công mỹ nghệ vào các thị trường lớn như: ASEAN, Mỹ, Nhật, EU
- Tín dụ n g H T X K góp ph ần tạo sự chuyên biến về lượng và ch ất trong việc khai thác các nguồn vốn cho đầu tư, thú c đẩy sự p h á t triển của thị trường tài chính:
Thông qua huy động vốn cho đầu tư phát triển, trên thị trường tài chính nước ta lần đầu tiên đã xuất hiện một công cụ tài chính là trái phiếu chính phủ
có thời hạn 2 năm, 5 năm, đặc biệt là trái phiếu do Quỹ HTPT phát hành có thời hạn dài 10 năm, 15 năm đã làm tăng thêm một lượng hàng hoá đáng kể và đa dạng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán, đồng thời góp phần thúc đẩy
sự phát triển các định chế tài chính (các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư ), bước đầu hình thành một kênh huy động vốn trung dài hạn cho đầu tư phát triển
Hình thức hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư đã cung cấp một số "vốn mồi” từ dó thu hút được một lượng vốn lớn của các tổ chức tín dụng cho đầu tư phát triển, góp phần phát triển thị trường tín dụng ngân hàng
- Tín dụ n g H T X K còn góp ph ần giãi qu yết những vấn đ ề x ã hội:
Bên cạnh những vai trò ở trên, tín dụng HTXK với vai trò thúc đẩy xuất khẩu còn góp phần quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, đào tạo nguồn nhân lực, bảo vệ mồi trường sinh thái, bảo vệ sức khoẻ
và nâng cao mức sống cho người dân
Trang 211.2.3 Đặc điểm của tín dụng hỗ trợ xuất khẩu ở nước ta:
- H oạt độn g Tín dụ n g H T X K của N h à nước không vì m ục tiêu lợi nhuận mà là nhằm hỗ trợ về tài chính cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá
nhân tham gia sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu để có điều kiện đầu tư sản xuất, đổi mới công nghệ, giảm chi phí hạ giá thành, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm tạo sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Khác với tín dụng HTXK của Nhà nước, tín dụng tài trợ xuất khẩu của ngân hàng thương mại là quan hệ tín dụng trên cơ sở hai bên cùng có lợi, lợi nhuận thu được sau hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp cũng được phân phối lại cho Ngân hàng thông qua lãi suất cho vay Tuỳ theo mức độ tín nhiệm, và khả năng rủi ro của doanh nghiệp do Ngân hàng đánh giá mà Ngân hàng có thể chủ động cho doanh nghiệp vay với lãi suất, mức vốn và thời gian vay khác nhau
- N guồn vốn cho vay H T X K thuộc nguồn vốn tín dụng N h à nước được
C hính ph ủ bô trí giao theo kê hoạch. Ngoài các nguồn vốn dành cho HTXK
theo qui định của chính phủ, hàng năm căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế
- xã hội, Nhà nước huy động một mức vốn nhất định để dành cho hoạt động tín dụng hỗ trợ xuất khẩu
- L ãi su ất cho vay là lãi su ất ưu đãi do N h à nước qu i định, thường thấp
hơn lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại khoảng 50%, với mục đích
hỗ trợ cho doanh nghiệp có điều kiện giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng được thị trường xuất khẩu Vì cho vay với lãi suất ưu đãi nên hàng năm được Ngân sách Nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất giữa lãi suất cho vay đầu ra và đầu vào
- Đ ôi tượng được vay bị hạn chê so với đôi tượng cho vay của các ngân
h àn g thương m ại. Đối với dự án đầu tư thì phải thuộc đối tượng được Nhà nước
ưu tiên hỗ trợ như hàng năm phải đạt kim ngạch xuất khẩu ít nhất bằng 30 % doanh thu Đối với cho vay ngắn hạn hỗ trợ xuất khẩu phải có hợp đồng xuất khẩu, phương án sản xuất kinh doanh có lãi và thuộc các mặt hàng được Nhà nước quy định khuyến khích xuất khẩu hàng năm
- H ình thức h ỗ trợ không chỉ dừng ở hoạt động cho vay mà còn thực hiện
ở một số hoạt động tín dụng gián tiếp khác như bảo lãnh đầu tư, bảo lãnh dự
Trang 22thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư đối với các dự án đầu tư thuộc đối tượng được Nhà nước quy định hỗ trợ.
để thu mua chế biến hàng xuất khẩu
+ Tín dụn g trung và d à i hạn: Thời hạn của tín dụng trung và dài hạn tuỳ
thuộc vào mỗi nước Ở Việt Nam, tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1 đến 5 năm, tín dụng dài hạn từ 5 năm trở lên Hình thức tín dụng này được cung cấp
để đầu tư, mua sắm tài sản cố định, xây dựng mới, cải tạo mở rộng khôi phục, cải tiến kỹ thuật, hiện đại hoá công nghệ
- C ăn cứ vào phư ơng thức thanh toán có thê ph ân chia thành các hình thức sau:
+ C ho vay thực hiện h àn g x u ấ t khẩu theo L /C đ ã mở: Thư tín dụng
không những là một công cụ đảm bảo thanh toán mà còn là một công cụ tín dụng Khi nhận L/C do ngân hàng mở L/C phát hành, thì nhà xuất khẩu được bảo đảm thanh toán sau khi giao hàng nếu xuất trình bộ chứng từ phù hợp với điều kiện ghi trong L/C Nhà xuất khẩu có thể dựa vào đó để vay một khoản tín dụng để thực hiện xuất hàng theo L/C quy định Trên cơ sở L/C đã được chấp nhận, nhà xuất khẩu có thể được vay một khoản tín dụng để tiếp tục sản xuất, nghĩa là sẵn sàng chấp nhận chiết khấu các hối phiếu của L/C này
+ Cho vay ch iết khấu hoặc ứng trước chứng từ hàng xu ất khẩu: Để đáp
ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có thể được chiết khấu
bộ chứng từ hoặc ứng trước tiền khi bộ chứng từ được thanh toán
Chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu: Là hình thức mua lại hoặc cho vay
Trang 23trên cơ sở giá trị bộ chứng từ xuất khẩu hoàn hảo được người xuất khẩu trình
Có 2 loại chiết khấu:
Chiết khấu miễn truy đòi (chiết khấu đóng): Là hình thức mua lại toàn bộ chứng với giá thấp hơn giá trị bộ chứng từ trên cơ sở trừ đi phí chiết khấu
Chiết khấu được phép truy đòi là hình thức cho vay trên cơ sở nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo Thời gian cho vay được tính bằng thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền người nhập khẩu nước ngoài
Tín dụng ứng trước tiền trước khỉ bộ chứng từ được thanh toán: Đó là
việc tạm ứng cho quyền hưởng thanh toán trong khuôn khổ thanh toán tín dụng chứng từ Thời gian chờ thanh toán là một quá trình dài, nên nhà xuất khẩu cũng cần một khoản tài trợ đó là tín dụng ứng trước Đối với tín dụng ứng trước, những giấy tờ có giá theo lệnh hoặc những giấy tờ chính như vận đơn, hoá đơn thương mại, hợp đồng bảo hiểm đều là những vật thế chấp cho cơ quan cấp tín dụng
- Căn cứ vào hình thức hỗ trợ xuất khẩu
Các hình thức tín dụng hỗ trợ xuất khẩu ở nước ta (Theo Điều 2 Quỵ chế
tín dụng hỗ trợ xuất khẩu ban hành kèm theo Quyết định sốl33/200ỉ/Q Đ -TTg ngày 10 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ) gồm có:
+ Cho vay đầu tư trung và dài hạn: Thực hiện đối với những đối tượng:
Những đơn vị có dự án sản xuất, chế biến, gia công hàng xuất khẩu mà phương
án tiêu thụ sản phẩm của dự án đạt kim ngạch xuất khẩu ít nhất bằng 30 %
doanh thu hàng năm Những đơn vị có nhu cầu vay vốn để góp vốn đầu tư vào các dự án liên doanh sản xuất, chế biến, gia công hàng xuất khẩu của doanh nghiệp Việt nam mà phương án tiêu thụ sản phẩm của dự án liên doanh đạt kim nghạch xuất khẩu ít nhất bằng 80 % doanh thu hàng năm
+ H ỗ trợ lãi xuất sau đẩu tư: Là việc Nhà nước thông qua Quỹ Hỗ trợ
phát triển hỗ trợ phần lãi suất cho chủ đầu tư vay vốn của các tổ chức tín dụng
để đâù tư dự án sau khi dự án đã hoàn thành và đưa vào sử dụng (Nghị định số
43 của Chính phủ ban hành năm 1999)
Đây là hình thức hỗ trợ đầu tư mới của Nhà nước.Theo quy định khi dự
Trang 24án hoàn thành đưa vào sử dụng, phát huy được hiệu quả kinh tế - xã hội, hoàn trả được nợ vay, chủ đầu tư được Nhà nước hỗ trợ một phần lãi suất bằng chênh lệch giữa lãi suất thưorng mại và lãi suất tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nuớc
+ Bảo lãnh tín dụng đầu tư: Là cam kết của Quỹ Hỗ trợ phát triển với tổ
chức tín dụng cho vay vốn về việc trả nợ đâỳ đủ, đúng hạn của bên đi vay Trong trường hợp bên đi vay không trả được nợ hoặc không trả đủ nợ khi đến
hạn, Quỹ Hỗ trợ phát triển sẽ chịu trách nhiệm trả nợ cho bên đi vay (Nghị định
số 43119991 NĐ-CP của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước) Hình thức bảo lãnh tín dụng đầu tư được thực hiện đối với các dự án
thuộc đối tượng được vay vốn tín dụng đầu tư trung và dài hạn hỗ trợ xuất khẩu
+ Cho vay ngắn hạn thực hiện đối với các đơn vị xuất khẩu hàng hoá gồm:
Các đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh các mặt hàng thuộc chương trình
ưu tiên khuyến khích xuất khẩu do Thủ tuớng Chính phủ quy định hàng năm hoặc trong từng thời kỳ
Các hợp đồng xuất khẩu và thị trường mới hoặc để duy trì thị trường truyền thống theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
Những đơn vị có dự án sản xuất, chế biến, gia công hàng xuất khẩu mà phương án tiêu thụ sản phẩm của dự án đạt kim ngạch xuất khẩu ít nhất bằng 30% doanh thu hàng năm được Quỹ Hỗ trợ phát triển cho vay vốn tín dụng đầu tư, được vay vốn ngắn hạn trong năm đầu tiên ký được hợp đồng xuất khẩu kể từ khi dự án hoàn thành đưa vào sản xuất
(Nghị định số 43/1999/ NĐ-CP của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước)
+ Bảo lãnh dự thầu và Bảo lãnh thực hiện hợp đồng:
Các đơn vị thuộc đối tuợng được vay ngắn hạn ở trên sẽ được bảo lãnh dự thầu hoặc bảo lãnh thực hiện hợp đồng nếu có nhu cầu Mức bảo lãnh tối đa không quá 3% giá trị dự thầu (đối với bảo lãnh dự thầu), 10% giá trị hợp đổng (đối với bảo lãnh thực hiện hợp đồng) Thời hạn bảo lãnh theo thời hạn thực hiện nghĩa vụ của đơn vị
(Nghị định số 43/1999/ NĐ-CP của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước)
Trang 251.2.5 Sự cần thiết đổi mới tín dụng Hỗ trợ xuất khẩu ở nước ta
Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, Việt Nam phấn đấu về cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm
2020, và đến năm 2010 tổng thu nhập quốc nội (GDP) của Việt Nam tăng ít nhất gấp hai lần so với năm 2000 Với mục tiêu tăng trưởng như trên, tốc độ tăng trưởng kinh tế từ nay đến năm 2010 bình quân mỗi năm phải đạt trên 7% Theo đó, tỷ lệ đầu tư so với GDP chiếm khoảng 31-32% Mặt khác, đối với lĩnh vực xuất khẩu hằng năm đóng góp đến 50% GDP cho đất nước, trong giai đoạn đầu khi mới hội nhập, các doanh nghiệp Việt Nam do xuất phát điểm thấp, khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ còn yếu kém so với các nước phát triển nên rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước bằng các biện pháp phù hợp với nguyên tắc chung của quá trình hội nhập
Như vậy, trong giai đoạn từ nay đến 2010, nhu cầu hỗ trợ về mặt tài chính của nền kinh tế cho lĩnh vực đầu tư phát triển và xuất khẩu là rất lớn Tận dụng
cơ hội và thời gian trước, trong và sau khi hội nhập, cùng với các nguồn vốn đầu
tư từ ngân sách nhà nước, từ doanh nghiệp, từ hệ thống các tổ chức tài chính tín dụng v.v nguồn vốn tín dụng đầu tư Nhà nước đóng một vị trí quan trọng, nhằm tập trung vào các vùng, lĩnh vực then chốt, dự án quan trọng trực tiếp phục vụ mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tăng sức cạnh tranh của nước ta trên phạm vi thế giới Trước thực tế đó, việc đổi mới tín dụng được đặt ra vì những yêu cầu có tính khách quan sau:
- Đ ôi m ới tín dụ n g H T X K đê đáp ứng yêu cầu thúc đẩy và nâng cao sức cạnh tranh của x u ấ t khẩu.
Tín dụng HTXK là kênh rất quan trọng để nhà nước tập trung hỗ trợ vào các chương trình, dự án, sản phẩm trọng điểm nhằm chuyển đổi mạnh cơ cấu kinh tê theo hướng phát huy được lợi thê từng ngành, từng vùng, từng sản phẩm; Tăng cường trang thiêt bị có công nghệ tiên tiến, hiện đại hoá các ngành sản xuất công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, cơ sở hạ tầng của một số ngành kinh
tế xã hội, các vùng miền có khó khăn mà ngân sách nhà nước không có nguồn
để hỗ trợ ; Các tổ chức tín dụng không muốn cho vay và các nhà đầu tư ngần ngại vì vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài, độ rủi ro cao
Trang 26- Đ ổi m ới tín dụn g H T X K đ ể đáp ứng yêu cầu thực hiện các nguyên tắc
và cam kết quốc tế tron g quá trình hội nhập.
Khi gia nhập WTO, chúng ta phải tuân thủ các nguyên tắc chính sau:+ Mở cửa thị trường, không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ và người cung cấp
+ Thực hiện tự do hoá thông qua các cam kết ràng buộc và cắt giảm hàng rào bảo hộ
+ Đảm bảo sự minh bạch trong chính sách thuơng mại quốc gia
+ Nguyên tắc có đi có lại trên cơ sở các bên cùng có lợi
+ Nguyên tắc có ưu đãi đối với các nước đang phát triển để các quốc gia này có thời gian và điều kiện hoà nhập
Để thực hiện các nguyên tắc trên chúng ta cần phải xúc tiến:
* Điều chỉnh hình thức, đối tượng, thời hạn hỗ trợ cho phù hợp với hiệp
định vê' trợ cấp và các biện pháp đối kháng, bởi lẽ: Việc trợ cấp xuất khẩu và trợ
cấp sản xuất hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu là hình thức trợ cấp bị cấm, phải xoá bỏ trong thời hạn nhất định Tuy nhiên, các nước đang phát triển như Việt Nam có thể được phép áp dụng một số ưu đãi riêng đối với một số mặt hàng tùy thuộc vào khả năng đàm phán của Việt Nam Vì vậy, để tận dụng thời gian trước khi bị cấm, cần tiếp tục hỗ trợ đầu tư và xuất khẩu đối với những ngành, sản phẩm thuộc loại này
Đối với các ngành (đặc biệt là các ngành, sản phẩm công nghiệp trọng điểm theo mục tiêu ưu tiên của Chính phủ) vẫn được duy trì các hình thức cho vay đầu tư, bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ sau đầu tư, thời hạn hỗ trợ có thể được duy trì lâu dài đến giai đoạn sau 2010 Tuy nhiên, cần kiểm soát chặt chẽ mức độ hỗ trợ để tránh bị áp dụng các biện pháp đối kháng
* Đảm bảo tính minh bạch của việc hoàn thiện chính sách tài chính
trong đó có chính sách hỗ trợ đầu tư xuất khẩu Từ đó đặt ra yêu cầu đổi mới
chính sách và mô hình tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước (trong đó có tín dụng HTXK) theo hướng tiếp cận với thị trường, minh bạch về tài chính, chủ động, độc lập và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động nghiệp vụ
Trang 27- Đ ô i m ới tín dụng H T X K đê khắc phụ c những tồn tại vướng m ắc về tín dụ n g H T X K trong thời gian qu a, cụ th ể là:
+ Cơ chế tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước chậm được điều chỉnh, chưa phù hợp với diễn biến của thực tế
+ Nguồn vốn chưa thật sự ổn định và phát triển bền vững
+ Việc quản lý và đảm bảo an toàn vốn tín dụng còn nhiều khó khăn
+ Các hoạt động nghiệp vụ chưa đa dạng hoá theo yêu cầu của nền kinh tế hướng tới thị trường
+ Năng lực dự báo, năng lực tổ chức điều hành, năng lực thẩm định của Quỹ HTPT chưa theo kịp sự phát triển của nền kinh tế
Những tồn tại, vướng mắc này đang hạn chế sự phát triển của Quỹ, ảnh hưởng tới sự an toàn trong hoạt động tài chính nên cần được khắc phục kịp thời
1.2.6 Nhân tô ảnh hưởng đến tín dụng hỗ trợ xuất khẩu
- C hính sách h ổ trợ x u ấ t khẩu của chính ph ủ :
Chính sánh hỗ trợ xuất khẩu là cơ sở để xây dựng chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu Chính sách hỗ trợ xuất khẩu hợp lý là căn cứ để phát huy vai trò của chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu
Quan điểm của Chính phủ trong những năm từ nay đến 2020 là lấy đẩy mạnh xuất khẩu làm đầu tầu kết hợp với thay thế nhập khẩu và tăng cầu nội địa Xuất khẩu đóng vai trò rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển thương mại và tăng trưởng kinh tế, do đó phải coi xuất khẩu là mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động thương mại Chính sách hỗ trợ xuất khẩu góp phần mở rộng và phát triển thị trường xuất khẩu theo hướng đa phương hoá thị trường, tận dụng mọi khả năng để tăng mức xuất khẩu trên tất cả các thị trường
đã có, đẩy mạnh việc xuất khẩu vào các thị trường có sức mua lớn nhưng tỷ trọng hiện còn thấp (EU, Bắc Mỹ), mở các thị trường mới (Mỹ la tinh, Châu Phi) Chính sách hỗ trợ xuất khẩu nhằm phát triển thị trường, mở rộng giao lưu hàng hoá trên tất cả các vùng, đẩy mạnh xuất khẩu nhằm đáp ứng các nhu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH Thông qua đó, là đòn bẩy thúc đẩy xuất khẩu, góp phần chuyên dịch cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động xã hội, ổn định giá cả,
Trang 28kiềm chế lạm phát, thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân một cách hợp lý, tăng tích luỹ cho ngân sách Nhà nước, cải thiện đời sống nhân dân.
- C hính sách tín dụn g Đ T P T nói chung và tín dụng H T X K n ói riêng:
Chính sách tín dụng ĐTPT nói chung và chính sách tín dụng HTXK nói riêng qua từng thời kỳ cũng có ảnh hưởng nhiều tới hoạt động tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, góp phần tác động không nhỏ tới thúc đẩy xuất khẩu Chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu cần đồng bộ, đa dạng, cập nhật với tình hình trong nước
và quốc tế, phù hợp với thông lệ kinh doanh xuất nhập khẩu trên thị trường thế giới và đáp ứng yêu cầu thực hiện các nguyên tắc và cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu hợp lý sẽ cho phép phát huy vai trò của tín dụng hỗ trợ xuất khẩu nói riêng và tín dụng đầu tư phát triển nói chung
- T ổ chức tài chính chính sách:
Trong từng giai đoạn phát triển, mỗi quốc gia đều thành lập các tổ chức tài chính chính sách, được coi là công cụ đặc biệt quan trọng của chính phủ để thực hiện các mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế phù hợp Tổ chức này tên gọi có thể khác nhau nhưng phần lớn đều được gọi là Ngân hàng nhằm cung cấp tín dụng cho các lĩnh vực khuyến khích đầu tư, lĩnh vực xuất nhập khẩu, lĩnh vực phát triển nông thôn Tại các nước đang phát triển Vai trò của Ngân hàng rất rõ vì mục tiêu chủ yếu của nó là tập trung hỗ trợ đầu tư, hỗ trợ xuất khẩu để thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển
- N ăn g lực của các tổ chức kinh doanh xu ất khẩu:
Vốn tín dụng HTXK đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh doanh xuất khẩu tuy nhiên, muốn phát huy cao độ vai trò của vốn tín dụng HTXK đòi hỏi các tổ chức kinh doanh phải năng cao năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh, năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc
Trang 29thời nó còn tượng trưng cho thực lực kinh tế của đất nước và sức cạnh tranh quốc tế Bên cạnh các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đóng vai trò quan trọng không thể thiếu được và tỏ ra rất thích hợp đối với lĩnh vực thương mại - dịch vụ Vì thế năng lực thực sự của các tổ chức này là vô cùng quan trọng và nó có những tác động rất lớn đến toàn bộ quá trình hoạt động Cần từng bước nâng cao trình dộ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức về quản lý kinh tế, quản lý thị trường và pháp luật Thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn cùng với việc cử cán bộ đi học các lớp đại học tại chức, đại học dài hạn tập trung để đảm bảo có lực lượng cán bộ đủ năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức để làm việc lâu dài Ngoài ra cần đầu tư sâu hơn cho các doanh nghiệp về công nghệ cao, công nghệ mới để tăng năng suất, nâng cao thu nhập cho người lao động, đảm bảo hạ giá thành, khấu hao nhanh
để thực lực của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng gần với các nước trong khu vực và thế giới
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT s ố NƯỚC VỂ TÍN DỤNG H ỗ TRỢ XUẤT KHẨU.
Kinh nghiệm và thực tế các nước định hướng xuất khẩu hay tăng trưởng dựa vào xuất khẩu cho thấy các giải pháp về đầu tư và thuế được coi là công cụ chủ yếu để thúc đẩy xuất khẩu Bên cạnh đó, chính sách tín dụng ưu đãi xuất khẩu cũng được các nước coi trọng, đặc biệt là các nước định hướng xuất khẩu như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc w Nhiều nước đã thành lập những Ngân hàng chuyên doanh phục vụ xuất nhập khẩu, thông qua đó áp dụng những biện pháp đặc biệt để hỗ trợ xuất khẩu, nhất là hỗ trợ những ngành xuất khẩu mũi nhọn
1 3 1 K in h n g h iệ m c ủ a m ộ t s ô n ư ớ c
- K in h n g h iệ m c ủ a H à n q u ố c :
Hàn Quốc có một hệ thống tài trợ xuất khẩu thực sự phát triển Hiện nay
ở Hàn Quốc đang có 5 loại hình tổ chức tài trợ, cung cấp tín dụng và bảo lãnh xuất khẩu đó là: Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng thương mại, Ngân hàng
Trang 30xuất nhập khẩu Hàn Quốc, Quỹ Bảo lãnh tín dụng và Công ty bảo hiểm xuất khẩu Tín dụng xuất khẩu bao gồm cả tín dụng trước và sau khi giao hàng, cung cấp cả tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn.
+ Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc: là tổ chức tài chính nhà nước
hỗ trợ xuất khẩu theo nguyên tắc cho vay trực tiếp đối với cả người bán và người mua, cho vay lại đối với các tổ chức tài chính nước ngoài và phát hành bảo lãnh Ngân hàng đóng vai trò hỗ trợ các ngân hàng thương mại và không cạnh tranh với các ngân hàng thương mại trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính Sau khi
đã xem xét khả năng tài chính, trình độ quản lý, kỹ thuật của người vay và dự án
có liên quan, ngân hàng yêu cầu người vay có sự bảo đảm việc hoàn trả vốn như
đã nêu trong luật Ngân hàng xuất - nhập khẩu Hàn Quốc Tài trợ vốn là hoạt động quan trọng nhất của Ngân hàng xuất nhập khẩu và được đưa ra nhằm trợ giúp và khuyến khích việc xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ, đầu tư ra nước ngoài, và phát triển các nguồn tài nguyên, đó là đối tượng cần nhiều vốn và thời gian hoàn vốn lâu Ngân hàng cũng tài trợ nhập khẩu một số mặt hàng có lợi và những thiết bị công nghệ cao Ngân hàng không được Ngân hàng Trung ương tái chiết khấu như được xem xét khi vay nợ nước ngoài và hoạt động dưới sự giám sát của Bộ Tài chính Tín dụng của ngân hàng nhằm khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, là những hàng hoá đòi hỏi một lượng vốn lớn và thời hạn thanh toán dài hơn các khoản vay khác mà ngân hàng thương mại cung cấp Để thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá, vốn ngân hàng cấp tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở xuất khẩu trả chậm thông qua 3 kênh chính là: Cấp tín dụng trực tiếp cho nhà xuất khẩu trong nước ; cấp tín dụng trực tiếp cho nhà nhập khẩu nước ngoài ; cho vay lại Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc cung cấp bảo lãnh cho các ngân hàng thương mại, các chi nhánh của ngân hàng nước ngoài tham gia vào các giao dịch được tài trợ bởi ngân hàng Ngân hàng cũng bảo lãnh trực tiếp cho các nhà nhập khẩu nước ngoài là đối tác của các doanh nghiệp Hàn Quốc Ngân hàng cung cấp một số bảo lãnh sau:
Bảo lãnh tài chính: Ngân hàng cung cấp bảo lãnh 100% giá trị gốc và
Trang 31lãi cho các ngân hàng đồng tài trợ đối với các giao dịch thường có thời hạn lên tới 5 năm.
Bảo lãnh thanh toán ứng trước: Ngân hàng cung cấp cho các nhà nhập
khẩu nước ngoài khoản bảo lãnh 100% giá trị thanh toán ứng trước để bảo đảm việc hoàn trả các khoản ứng trước bằng tiền mặt cho các giao dịch trung và dài hạn khi các nhà xuất khẩu trong nước không thực hiện như các hợp đồng đã thoả thuận
• Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: Ngân hàng cung cấp bảo lãnh cho nhà
nhập khẩu nước ngoài 100% giá trị yêu cầu bảo lãnh cho việc nhà xuất khẩu sẽ thực hiện hợp đồng
+ Quỹ bảo lãnh tín dụng Hàn quốc: Quỹ bảo lãnh tín dụng là Quỹ của
Chính phủ, thực hiện vai trò bảo lãnh cho các ngân hàng thương mại đối với các khoản mà các ngân hàng thương mại ứng trước để đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu Quỹ thành lập nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để đảm bảo tăng khả năng quản lý, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm và chất lượng công nghệ Các ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu có thể xin Quỹ bảo lãnh tín dụng này bảo lãnh cho mình và đồng thời Quỹ cũng làm dịch vụ cung cấp thông tin cho các nhà xuất khẩu
+ Công ty bảo hiểm xuất khẩu: Công ty này được thành lập từ năm 1992
và tiếp quản nhiệm vụ bảo lãnh và bảo hiểm xuất khẩu của Ngân hàng xuất nhập khẩu Ngân hàng cung cấp bảo lãnh thanh toán cho những ngân hàng đã cung cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu đối với những loại được quy định trong chương trình bảo hiểm chứng từ xuất khẩu Bảo hiểm chứng từ xuất khẩu có thời hạn lên tới 360 ngày dưới hình thức chiết khấu hối phiếu hoặc chuyển nhượng thư tín dụng sau khi giao hàng bằng cách trả tiền trong vòng một tháng
- K inh nghiệm của Trung Quốc:
Trung Quốc thành lập Ngân hàng xuất nhập khẩu riêng với vai trò là cơ
Trang 32quan chính sách trực thuộc Quốc vụ viện thực hiện các chính sách của Nhà nước, trợ giúp về tiền tệ, thúc đẩy xuất khẩu Nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc là quán triệt chấp hành chính sách của Nhà nước, thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm điện cơ, thiết bị đồng bộ, các sản phẩm kỹ thuật cao Các nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc là:
+ Tín dụng xuất khẩu dành cho bên bán Ngân hàng cho doanh nghiệp
vay các khoản như cho vay theo hạng mục, vay hạn mức trung và dài hạn, cho vay bao thầu công trình ở nước ngoài, vay để đầu tư ra nước ngoài
+ Tín dụng xuất khẩu dành cho bên mua (phía nước ngoài) Nghiệp vụ
này nhằm mục đích kính thích xuất khẩu hàng hoá và vốn của Trung Quốc ra nước ngoài Người vay là bên mua, ngân hàng bên mua hoặc Bộ Tài chính phía nước ngoài mua các sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật cao của Trung Quốc
+ Bảo đảm và bảo hiểm xuất khẩu Ngân hàng đứng ra bảo đảm cho các
loại rủi ro như rủi ro về tín dụng thương nghiệp, rủi ro chính trị
+ Cho vay ưu đãi phía nước ngoài Đây là khoản vay mang tính chất viện
trợ của chính phủ Trung Quốc dành cho phía nước ngoài, chủ yếu là các nước nhận viện trợ, sử dụng các sản phẩm của Trung Quốc Ngân hàng xuất nhập khẩu là ngân hàng duy nhất được chính phủ chỉ định thực hiện nghiệp vụ này
- K inh nghiệm của N h ậ t B ản:
Ớ Nhật Bản Chính phủ thành lập Ngân hàng xuất nhập khẩu Nhật bản Ngân hàng này cùng với ngân hàng thương mại cung cấp tín dụng cho các nhà xuất khẩu, phần tín dụng do ngân hàng xuất khẩu Nhật bản cung cấp thường chiếm tỉ trọng 60 -70% tổng tín dụng Bộ Công nghiêp và Thương mại quốc tê thành lập phòng Bảo hiểm xuất khẩu cung cấp các dịch vụ bảo hiểm khác nhau
đế khuyên khích xuất khẩu, bao gồm: Bảo hiểm dành cho nhà xuất khẩu; bảo hiểm xuất khẩu thông báo; bảo hiểm nguồn thu xuất khẩu và bảo hiểm cho các Ngân hàng Ngoài ra Nhật Bản còn có các chương trình bảo hiểm khác nhằm
Trang 33tăng luồng vốn vào các nước phát triển, qua đầu tư hỗ trợ nước ngoài để thu ngoại tệ nhiều hơn.
+ Ngân hàng xuất nhập khẩu Nhật Bản: Ngân hàng xuất nhập khẩu Nhật
Bản là một định chế tài chính của của Chính phủ, thành lập từ năm 1950 và đi vào hoạt động từ năm 1951 Ngân hàng với chức năng chủ yếu cung cấp tín dụng xuất khẩu cùng với các ngân hàng thương mại, đặc biệt là có cung cấp tín dụng cho các nhà xuất khẩu bán những hàng hoá tư liệu sản xuất và các thiết bị hoàn chỉnh Phần tín dụng do Ngân hàng cung cấp thường chiếm tới 70 % tổng tín dụng cho nhà cung cấp và 60% tổng tín dụng cấp cho nhà xuất khẩu của hệ thống ngân hàng
+ Phồng bảo hiểm xuất khẩu: Phòng bảo hiểm xuất khẩu trực thuộc Bộ
Công nghiệp và Thương mại Quốc tế (MITI) bắt đầu hoạt động từ năm 1930 và hiện nay hoạt động theo Luật Bảo hiểm Xuất khẩu, hoạt động với nguồn vốn là
+ Tín dụng hỗ trợ đầu tư xuất khẩu: Cho vay đầu tư để sản xuất kinh doanh
các mặt hàng xuất khẩu nhằm thay đổi cơ cấu mặt hàng; Cho vay đầu tư để mở rộng sản xuất nhằm tăng thêm số lượng hàng xuất khẩu; Cho vay đầu tư để đổi mới thiết bị, công nghệ nhằm tăng số lượng và chất lượng hàng xuất khẩu
+ Tín dụng hỗ trợ cho quá trình sản xuất kinh doanh xuất khẩu (tín dụng
ngắn hạn): Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu thực hiện cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, gồm các hình thức tín dụng trước khi giao hàng và sau khi giao hàng cho cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu
+ Bảo lãnh cho hoạt động xuất khẩu bao gồm: Bảo lãnh dự thầu; bảo
lãnh thực hiện hợp đổng; bảo lãnh vay vốn tín dụng ngân hàng và bảo lãnh thanh toán ứng trước
Trang 34+ Bao hi em xuat khâu, hao hiêm tín dung xuất khẩu là phương thức hỗ
trợ xuất khẩu được phần lớn các ngân hàng và tổ chức tài chính thực hiện Khi mua bảo hiểm tín dụng xuất khẩu các ngân hàng và tổ chức tín dụng phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng xuất khẩu, hơn nữa chi phí mua bảo hiểm lại dễ dàng đưa vào trong cơ cấu chi của nhà xuất khẩu Ngoài ra, bảo hiểm xuất khẩu còn bảo vệ, tránh cho nhà xuất khẩu một loạt các rủi ro tiềm ẩn trong, trước và sau khi giao hàng như rủi ro thương mại, rủi ro trong thanh toán, rủi ro trong chuyển ngoại tệ, rủi ro chính trị
- Vê tổ chức hệ thông h ỗ trợ xu ất khẩu.
Nhìn chung các tổ chức tín dụng của Nhà nước ở một số nước chỉ quan tâm đến hai khía cạnh của tín dụng xuất khẩu như tài trợ, bảo lãnh và bảo hiểm Một số nước thì thiết lập một hệ thống hỗ trợ tài chính đồng bộ (bao gồm cả tín dụng hỗn hợp), kết hợp với một loạt các biện pháp như bảo hiểm do chi phí tăng quá cao và bảo hiểm rủi ro về ngoại tệ, bảo lãnh và các biện pháp khác Một số nước khác chỉ áp dụng các biện pháp như bảo hiểm, bảo lãnh và cấp tín dụng
mà thị trường không thể cung cấp được, chẳng hạn như rủi ro về chính trị đối với những nước có rủi ro Cơ cấu của hệ thống hỗ trợ xuất khẩu ở mỗi nước khác nhau, nhm chung co thê phân loai thành môt sô loai hình sau'
+ H ỗ trợ thuần tuý bằng các biện pháp tài chính: Là loại hỗ trợ đang áp
dụng tại nước Anh Theo hình thức này thì các quan điểm tín dụng xuất khẩu cua Nha nươc chi bao hiêm và bảo lãnh mà không cung cấp tín dung trưc tiếp
+ Thành lập ngân hàng xuất nhập khẩu của Chính Phủ Đây là một tổ
chức tín dụng xuất khẩu quốc gia trực tiếp thực hiện nghiệp vụ bảo hiểm bảo lãnh và cho vay Với loại hình này những khoản tín dụng cấp cho nhà xuất khẩu thường với lãi xuất cố định ưu đãi hơn và với kỳ hạn dài hơn Mô hình này đang được thực hiên ở Mỹ và Trung Quốc
+ Ho trợ xuat khâu do các tô chức chuyên ngành đảm nhân Theo mô
hình này các nghiệp vụ bảo lãnh, bảo hiểm và cung cấp tín dụng được thực hiện qua nhiều tổ chức của Nhà nước Hiện rất nhiều nước áp dụng hình thức này như: Hàn Quốc, Ân Độ, Singapo, Nhật Bản
Trang 35Tóm lại, mỗi nước trên thế giới đều có một mô hình hỗ trợ xuất khẩu riêng, phù hợp với mục tiêu trong chiến lược kinh tế của từng nước Việt Nam
có thể tham khảo, học tập kinh nghiệm của các nước nhưng phải phù hợp với mục tiêu, điều kiện của nền kinh tế để ưu đãi, hỗ trợ về tài chính cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu nhằm thúc đẩy xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế
Bằng vịêc giới thiệu tổng quan về lý luận xuất khẩu và tín dụng hỗ trợ xuất khẩu; làm rõ vai trò của xuất khẩu đối với phát triển kinh tế của đất nước; Bản chất và sự cần thiết của tín dụng hỗ trợ xuất khẩu; Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, chương 1 đã làm sáng tỏ sự cần thiết phải đổi mới tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của Quỹ Hỗ trợ phát triển góp phần đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam trong những năm tới
Từ kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và thực tế hoạt động tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của nước ta cho thấy đổi mới tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của quỹ Hỗ trợ phát triển là sự cần thiết khách quan nhằm góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng Nhà nước, tạo khả năng và cơ hội phát triển các ngành sản xuất trong nước, tăng cường khả năng cạnh tranh và khả năng hội nhập với khu vực và quốc tế
Trang 36Trong lĩnh vực đầu tư phát triển có những bước thay đổi quan trọng nhằm huy động tối đa các nguồn vốn thuộc các thành phần kinh tế trong và ngoài nước dành cho đầu tư phát triển Nhiều dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, các
dự án mang tầm chiến lược quốc gia, thuộc ngành kinh tế mũi nhọn, các dự án thuộc vùng khó khăn, kém phát triển thường đòi hỏi lượng vốn lớn nhưng thời gian thu hồi vốn chậm Bởi vậy, các nhà đầu tư thường không muốn hoặc không
có khả năng đầu tư Các dự án này thường được chính phủ tài trợ, cùng với chủ trương đó, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư đã được chú trọng Chính phủ đã thay đổi cơ chế quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản, chuyển từ hình thức cấp phát sang hình thức tín dụng đầu tư đối với những dự án cần khuyến khích đầu tư và có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Ban đầu thực hiện tín dụng chỉ thu hồi nợ gốc (không thu lãi) sau chuyển sang cơ chế cho vay thu hồi cả nợ gốc và lãi (lãi suất thấp) Kênh tín dụng mới này thực chất là tín dụng ưu đãi (hiện nay gọi là tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước)
Bên cạnh đó, để thực hiện việc cấp phát có hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, để tập trung các nguồn vốn, các chương trình cho vay ưu đãi của
Trang 37Nhà nước vào một đầu mối, nâng cao hơn nữa vai trò và chất lượng của công tác tín dụng đầu tư phát triển cua Nhà nước Quỹ HTPT được hình thành.
Từ 01/01/2000, Quỹ HTPT chính thức hoạt động và thực hiện nhiệm vụ tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước.Theo Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg ngày 10/9/2001 của Thủ tướng Chính Phủ về việc ban hành Quy chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, Quỹ HTPT là tổ chức được Thủ tướng Chính Phủ giao thực hiện nhiệm vụ tín dụng Hỗ trợ xuất khẩu Quỹ HTPT có trách nhiệm huy động vốn, cho vay, quản lý nợ vay đối với các dự án, các đơn vị có hợp đồng xuất khẩu vay vốn tín Hỗ trợ xuất khẩu của Nhà nước Ngay từ khi được giao nhiệm vụ, Quỹ HTPT đã triển khai một cách đổng bộ hoạt động cho vay hỗ trợ xuất khẩu trên toàn quốc
2.1.2 Đặc điểm của Quỹ hỗ trợ phát triển
Quỹ hỗ trợ phát triển (HTPT) là một tổ chức tài chính Nhà nước, thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển của Nhà nước thông qua việc cho vay các dự án đầu tư; bảo lãnh vay vốn tín dụng cho các chủ đầu tư; tái bảo lãnh và nhận tái bảo lãnh đối với các quỹ đầu tư; hỗ trợ lãi suất sau đầu tư đối với các dự án thuộc các thành phần kinh tế của một số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn Nhà nước cần khuyến khích đầu tư
Quỹ được tiếp nhận vốn ngân sách Nhà nước, vốn vay và viện trợ nước ngoài của Chính phủ; huy động vốn trung và dài hạn từ tổ chức và cá nhân trong
và ngoài nước; tổ chức thanh toán với khách hàng có quan hệ trực tiếp với các hoạt động của Quỹ HTPT
Hoạt động của Quỹ không vì mục đích lợi nhuận, nhưng phải bảo đảm hoàn vốn và bù đắp chi phí Quỹ được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước để giảm lãi suất cho vay và giảm phí bảo lãnh Quỹ HTPT được Nhà nuớc cấp bù chênh lệch lãi suất (giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay),
bố trí vốn hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, được bù đắp rủi ro do nguyên nhân khách quan khi thực hiện cho vay đầu tư và bảo lãnh tín dụng đầu tư Đây là đặc điểm khác biệt của Quỹ HTPT so với các tổ chức tài chính khác
Trang 38Với tính chất cho vay ưu đãi, hoạt động cho vay đầu tư của Quỹ HTPT luôn có lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay thương mại trên thị trường Trong trường hợp lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động, Quỹ được Nhà nuớc cấp
bù chênh lệch lãi suất Đây cũng là điểm hết sức khác biệt so với các tổ chức tài chính khác
Quỹ HTPT có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối kế toán,
có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho Bạc Nhà nước, các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước Quỹ hoạt động theo điều lệ do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Hoạt động của Quỹ HTPT không chịu sự điều chỉnh của Luật Ngân hàng và Luật các tổ chức túi dụng
Quỹ HTPT là đơn vị hạch toán kinh tế tập trung, có cơ chế tài chính do
Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định Quỹ có các Chi nhánh hoặc văn phòng giao dịch đặt tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Quỹ được mở văn phòng giao dịch ở nước ngoài theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Nguồn vốn của Quỹ HTPT: Theo quy định của Chính phủ, nguồn vốn của Quỹ bao gồm: Vốn chủ sở hữu (được Nhà nước cấp); vốn Nhà nước dành cho tín dụng đầu tư phát triển; vốn thu hồi nợ hàng năm; vốn huy động bằng việc phát hành trái phiếu Chính phủ; vốn vay nợ, viện trợ nước ngoài của Chính phủ dùng để cho vay lại; vốn do Quỹ huy động từ: Quỹ Tích luỹ trả nợ nước ngoài, Quỹ Tiết kiệm bưu điện, Bảo hiểm xã hội; huy động từ các nguồn khác theo quy định của pháp luật
Bộ trưởng Bộ Tài chính được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền giám sát hoạt động của Hội đồng quản lý Quỹ HTPT Trong quá trình hoạt động, Quỹ HTPT được quyền phối hợp, kiên nghị với các Bộ, Ngành, Địa phương về các vấn đề liên quan đến hoạt động của Quỹ
2.1.3 Bộ máy tổ chức của Quỹ hỗ trợ phát triển:
Theo quyêt định số 231/1999/QĐ-TTg của Thú tướng Chính phủ về mô hình tổ chức của Quỹ HTPT được hình thành theo sơ đồ sau:
Trang 39S ơ đ ồ 2 1 : Bộ máy tổ chức của Q uỹ H ỗ trợ phát triển
Quỹ HTPT được tổ chức theo hệ thống và thực hiện nhiệm vụ thống nhất
từ Trung ương đến địa phương Hiện nay hệ thống Quỹ HTPT có khoảng gần 2.500 cán bộ, nhân viên thừa hành, quản lý Bộ máy quản lý và điều hành của Quỹ HTPT gồm có: Hội đồng quản lý Ban Kiểm soát và Cơ quan điều hành
* H ội đồng quản lý: Hội đồng quản lý có 5 thành viên, trong đó có 2
thành viên chuyên trách là Chủ tịch và Phó chủ tịch kiêm Tổng giám đốc- 3 thành viên; 3 thành viên bán chuyên trách là đại diện cấp có thẩm quyền của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Các thành viên Hội đồng quản lý đều do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ
Trang 40Hội đồng quản lý hoạt động trên cơ sở Điều lệ hoạt động do Hội đồng quản lý ban hành.
Hội đồng quản lý có trách nhiệm và quyền hạn sau đây:
- Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, bổ sung, sửa đổi Điều lệ Quỹ HTPT và những vấn đề về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước vượt quá thẩm quyền
- Ban hành các quy chế về hoạt động nghiệp vụ của Quỹ HTPT
Thông qua phương hướng hoạt động, kê hoạch huy động vốn, cho vay đầu tư, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư, kế hoạch tài chính và báo cáo quyết toán hàng năm của Quỹ do Tổng giám đốc trình
Giam sat, kiem tra cac hoạt động của Quỹ theo Điều lê Quỹ và các quyết định của Hội đồng quản lý
* Ban kiém soát: Ban kiểm soát chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản lý
kiêm soát toàn bộ hoạt động của Quỹ Trưởng Ban Kiểm soát do thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm
Ban kiểm soát có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Kiểm tra, giám sát việc chấp hành chủ trương, chính sách, chế độ thể lệ nghiệp vụ trong hoạt động của Quỹ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ, bảo đảm an toàn tài sản nhà nước, tài sản của Quỹ, báo cáo với Hội đồng quan ly ket qua kiêm tra, giám sát và kiên nghi các biên pháp xử lý
- Tiến hành công việc một cách độc lập theo chương trình đã được Hội đồng quản lý thông qua
- Có trách nhiệm trình bày báo cáo, kiến nghị về kết quả kiểm tra báo cáo thâm định về quyết toán tài chính tại các cuộc họp của Hội đổng quản lý nhưng không được biểu quyết
- Xem xét trình cấp có thẩm quyền giải quyết các khiếu nại của các tổ chức cho vay vốn, các chủ đầu tư, các tổ chức tín dụng nhận uỷ thác cho vay và cac tô chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động của Quỹ