1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển cây chè ở tỉnh lâm đồng,

117 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển cây chè ở tỉnh Lâm Đồng
Tác giả Phạm Hữu Phương
Người hướng dẫn TS. Hồ Diệu
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 22,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, đến nay ngành sản xuất chè của tỉnh vẫn còn những khó khăn tồn tại đó là: - V ùng nguyên liệu chè phát triển chưa ổn định, bền vững, phần lớn diện tích chè bị già cỗi, năng su

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN

TRUNGT à M t h ô n g TirÍH ư VI? N

PHẠM Hữ’Ợ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

PHẠM HỮU PHƯƠNG

NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ

ĐẨU Tư PHÁT TRIỂN CÂY CHÈ

SỐ : Ir.v ỉ 3 3

Người hướng dẫn khoa học: Tỉấn sỹ Hồ Diộci

HÀ NÔI - 2002

Trang 3

T ôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.

Hà Nội, ngày ■-1 tháng 05 năm 2002

Tác giả luận văn

Phạm Hữu Phương

Trang 4

Chương 1 VAI TRÒ CỦA ĐAU t ư t r o n g v iệ c h ì n h 14

THÀNH VÙNG CHUYÊN CANH SẢN XUAT CHÈ TẠI LÂM ĐỒNG

1.1.2.1 T heo chức n ăn g quản trị vôh đầu tư 14 1.1.2.2 T heo tín h ch ất sử dụng vốn đầu tư 15

1.1.3.2 V ề m ặt cá n h â n nhà doanh n gh iệp 17 1.1.3.3 Q uan h ệ giữa h iệu quả đầu tư v ề m ặt k in h tế, xã hội 17

và h iệ u quả về m ặt cá n h â n n h à doanh nghiệp

Đ ồng 1.2.1 V ài n é t v ề k in h t ế tỉn h L âm Đ ồn g 18

1.2.1.3 Các đặc th ù v ề k in h t ế Lâm Đ ồn g 21 1.2.2 V ị trí cây chè trong n ền k in h t ế tỉn h L âm Đ ồng 24 1.2.2.1 L âm Đ ồng là m ột tỉn h có n g à n h chè p h át triển ở 24

p h ía N am qua m ột quá trìn h p h á t triển lâu đời 1.2.2.2 V ị trí cây chè h iện n ay trong k in h t ế tỉn h Lâm Đ ồng 25 1.2.2.3 T riển vọn g v ề phát triển cây ch è 28

Trang 5

1.3.1 Đ ầu tư góp ph ần thúc đẩy sả n x u ấ t và mở rộng th ị 32

trường tiê u th ụ chè 1.3.2 Đ ầ u tư góp phần đổi mới k ỹ th u ậ t và công n gh ệ sả n 34

x u ấ t ch è th eo hướng th ị trường 1.3.3 Đ ầ u tư góp phần n ân g cao n ă n g su ất, ch ất lượng và 34

h iệ u quả 1.3.4 Đ ầ u tư đổi m ói cơ cấu giữ a giông trồng trọt và c h ế 35

b iến th eo hướng công n gh iệp hóa, h iện đại hoá Chương 2 THỰC TRẠNG ĐAU t ư p h á t TRIÊN c â y 36

CHÈ TẠI LÂM ĐỒNG TRONG THỜI GIAN

Q U A 2.1 Tình hình phát triển cây chè Lâm Đ ồng 36

trong thời gian qua

2.1.1.1 M ô h ìn h sản xu ất chè trong các nông trường quốc 38

doanh và các doanh n gh iệp N h à Nước 2.1.1.2 M ô h ìn h sản xu ất trong H TX n ôn g n ghiệp 39

2 1 1 3 M ô h ìn h trong các doanh n gh iệp có vốn đầu tư nưóc 40

n g o à i

2.1.2 D iện tích, n ăn g su ất, sả n lượng chè 41

2 1 6 2 T ìn h h ìn h ch ế b iến và tiê u th ụ sả n p h ẩm 50 2.2 Tình hình đầu tư cho cây chè Lâm Đồng trong 51

thời gian qua 2.2.1 T rong các doanh n ghiệp N h à Nước 51 2.2.2 K hu vực hợp tác xã n ôn g n gh iệp 51

Trang 6

2.2 3 Đ ầu tư của tư n h ân 52 2.2 4 Đ ầ u tư của hệ th ôn g N gân h à n g và các TCTD 53 2.3 Đ ánh giá vể những ưu điểm và tồn tạ i trong 54

quá trình đầu tư phát triển cây chè ở Lâm đồng trong thời gian qua

2.3.2.2 T rong sả n xu ất, c h ế b iến công n gh iệp 57

2.3.2.4 T rong tiê u th ụ sản ph ẩn và th ị trường 58

2 3 2 5 T rong thực h iện các ch ín h sách k h u y ên khích, p h át 60

triển n gàn h chè 2.3.3 N g u y ên n h ân của nh ữ n g tồn tạ i 62 2.3.3.1 C hưa được tru n g ương và địa phương quan tâ m và 62

đ ầu tư th à n h m ột n gàn h k in h t ế lớn 2.3.3.2 C hưa có sự k ết hợp ch ặt chẽ giữ a đầu tư cho sả n 64

x u ấ t và tiêu th ụ

2 3.3.3 C hưa có giải pháp tiếp th ị sả n phẩm có h iệu quả 66

2 3 3 4 C hưa có sự cân đối trong cơ cấu đầu tư giữa trồn g 66

trọt và c h ế biến

Chương 3 MỘT s ố g iả i p h á p n h a m NÂNG CAO HIỆU 68

QUẢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÂY CHÈ ở LÂM ĐỒNG

3.1 Đ ịnh hướng phát triển ngành chè tạ i Lâm 68

Đồng 3.1.1 Đ ư a n gàn h chè th à n h m ột n g à n h sả n x u ấ t h à n h h óa 68

lớn và p h át triển bền vững 3.1.2 D ư a n gàn h chè phát triển hợp lý n h ằm bảo vệ m ôi 69

trư ờng cản h quan du lịch của tỉn h 3.1.3 T ừ ng bưóc th a y th ế giống chè có ch ất lượng th ấp 71

b ằn g n h ữ n g giông chè có n ă n g su ấ t và ch ất lượng

Trang 7

c h ế b iến chè th eo hướng công n ghiệp hóa và h iện đại

hóa

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát 74

triển cây chè Lâm Đồng

3.2.1 P h á t h à n h trái phiếu qua công ty tài ch ín h thuộc tập 76

đoàn k in h t ế chè

3.2.2 N â n g cao nguồn vốn đầu tư của các N gân h à n g 76

thư ơng m ại và N gân h à n g Đ ầ u tư p h át triển

3.2 3 T h àn h lập Q uỹ tín dụng N h â n dân của các hộ sả n 77

xu ất, c h ế biến chè

3.3 Các giải pháp về tô chức sản xuất và xây dựng 79

kết câu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật, công nghệ và

3 3.1.2 X ây dựng p h át triển T rung tâm n gh iên cứu giống và 81

c ả i tiế n quy trìn h can h tác c h ế b iến chè

3 3 1 3 X ây dựng vù n g ch u yên can h trồn g cây hương liệu cho 81

công n ghiệp c h ế b iến chè

3.3.1.4 H ìn h th à n h vù n g n g u y ên liệu chè giông m ới cộng vối 82

ch ăm sóc th âm can h v ù n g chè

3 3 1 5 C huyên m ôn hóa sả n x u ấ t chè x u ấ t k h ẩu và nội tiê u 85

vối công nghệ và th iế t bị h iệ n đại

3 3.1.6 T h àn h lập Công ty tà i ch ín h thuộc Tập đoàn k in h t ế 86

Trang 8

C hính sách n h ằm đẩy m ạn h tiê u th ụ n ôn g sản, h àn g

hóa

Trang 9

A D B Ngân hàng Phát triển Châu á

N H Đ T & PT Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

N H N o & PTNT Ngân hàng N ông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 10

DANH MUC CAC BIEU

Biểu Mục lục Nội' dung biểu Trang

1 1.2.2.2 Diện tích, Năng suất, sản lượng chè thời kỳ

91-97 và 96-2001

26,27

2 1.3.1 Mức tiêu thụ chè bình quân đầu người 32

3 2.1.4 Tổng hợp những khó khăn trong kỹ thuật

chăm sóc, thu hoạch của hộ cá thể trổng chè

8 3.2 Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển ngành

chè Lâm Đ ồng giai đoạn 2001-2010

Trang 11

75-MỞ ĐẦU

1 T ín h cấp th iết của đề tài:

Từ ngàn xưa, người Việt Nam, dù sống ở m iền núi hay m iền đổng bằng, vùng trung du hay ven biển, dù là giới quyền qúy cao sang hay người lao động lam lũ đều luôn duy trì một tục lệ: đó là tục lệ uống chè (hay trà) Chè là một thức uống không thể thiếu trong các buổi lễ hội, tiệc tùng, trong đám cưới, đám tang, hội nghị, hội thảo và trang trọng hon cả là trên bàn thờ tổ tiên trong những ngày giỗ, kỵ, lễ, tết Trong tất cả những trường hợp đó, chè chính là cái khởi đầu và cũng là sự kết thúc (27, 18-19)

Theo m ột số nhà nghiên cứu, chè đã được trồng ở V iệt Nam trước cả Trung Hoa M ột số cây chè cổ nhất V iệt Nam , m ọc ở vùng núi phía Bắc Lạng Sơn có chiều cao đến 18 mét.

Bên cạnh giá trị về hương vị đặc biệt, phong cách thưởng thức tao nhã, kỹ thuật ch ế biến và hưởng thụ từ đơn giản, bình dân đến phức tạp, cầu kỳ, giá trị khác của loại thức uống này là ở các dược tính của chè: H ỗn hợp Tanin trong chè

có khả năng giải khát; Catechin trong chè có tác dụng làm vững chắc các mao mạch.

Chè là loại cây công nghiệp dài ngày được trồng nhiều ở khoảng 30 nước trên thế giới, tập trung ở một số nước như Trung Q uốc, Ấn Đ ộ, Srilanca, Nhật Bản và Indonesia,

ở V iệt Nam , việc phát triển ngành chè đã góp phần quan trọng cho xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội vùng núi và trung du, góp phần khai thác tiềm năng về đất đai, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo vệ m ôi trường và m ôi sinh.

Tại Lâm Đ ồng, với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp, được khảo nghiệm và trồng công nghiệp từ năm 1927, cây chè đã chiếm vị trí quan trọng trong 4 cây công nghiệp dài ngày chính là chè, cà phê, dâu tằm và cây điều Sự

Trang 12

phát triển của cây chè đã hình thành nên m ột vùng nguyên liệu chuyên canh về nông nghiệp gắn với công nghiệp ch ế biến và dịch vụ, góp phần vào sự nghiệp xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho hàng chục ngàn lao động trên địa bàn tỉnh Lâm Đ ồng.

Tuy nhiên, đến nay ngành sản xuất chè của tỉnh vẫn còn những khó khăn tồn tại đó là:

- V ùng nguyên liệu chè phát triển chưa ổn định, bền vững, phần lớn diện tích chè bị già cỗi, năng suất chất lượng cây chè thấp, trình độ kỹ thuật và mức đầu tư thâm canh rất hạn ch ế dẫn đến hiệu quả kinh tế của cây chè chưa cao.

- Công nghiệp chế biến chè còn nhỏ bé, manh mún, thiết bị chế biến hầu hết đã lạc hậu khiến sản phẩm chè của tỉnh chất lượng thấp, giá thành cao, mức

độ cạnh tranh trên thị trường - nhất là thị trường khu vực và thế giới còn hạn chế.

- Sự gắn kết giữa vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến chè thiếu chặt chẽ, tình hình m ua bán giữa người sản xuất, ch ế biến, giữa tư thương và nông dân còn nhiều vướng m ắc, ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm chè.

Những mặt tồn tại trên đang là những nhân tố làm giảm qúa trrnh phát huy thế mạnh cây chè của tỉnh, giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế chung và quan trọng hơn là nguy cơ bị thu hẹp thị trường tiêu thụ (cả trong và ngoài nước) dẫn đến suy yếu toàn bộ ngành sản xuất ch ế biến chè của tỉnh.

Chính các khó khăn và tồn tại nêu trên đã thúc đẩy việc nghiên cứu và ra đời đề tài: "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển cày chè ở tỉnh Lâm Đồng"

2 M ụ c tiêu n ghiên cứu của đề tài:

Đ ể thực hiện được định hướng của trung ương và địa phương đối với cây chè ở tỉnh Lâm Đ ồng đồng thời góp phần khắc phục những mặt tồn tại nêu trên, luận văn này tập trung nghiên cứu hiện trạng tình hình sản xuất nguyên liệu chè của tỉnh, xem xét m ối quan hệ tác động giữa sản xuất nguyên liệu chè với qúa trình tổ chức thu m ua sản phẩm búp tươi, phân tích những mặt tồn tại, khó khăn đang cản trở qúa trình phát triển vùng nguyên liệu chè từ đó đề xuất những chính

Trang 13

sách, cơ chế (chủ yếu là các yếu tố về kinh tế, tài chính, đầu tư) và giải pháp trước mắt cũng như lâu dài nhằm góp phần phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả đầu tư ngành chè tại Lâm Đồng, tạo cơ sở để nâng cao chất lượng, đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường trong nước và thị trường thế giới.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

+ Đối tượng nghiên cứu:

- Vai trò của đầu tư trong việc hình thành vùng chè Lâm Đồng

- Thực trạng về đầu tư cho cây chè Lâm Đồng của các thành phần kinh tế

- Tìm kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển cây chè LâmĐồng

+ Đối tượng khảo sát:

Khảo sát năng suất, diện tích, các trở ngại trong việc trồng, chăm sóc, thu hoạch, tiêu thụ sản phẩm chè của một số hộ nông dân, các doanh nghiệp nhà nước sản xuất, kinh doanh chè tại lâm Đồng

4 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp chuyên gia qua điều tra, chọn mẫu

- Phương pháp phân tích tài liệu

- Phương pháp tiếp cận lịch sử và logic

5 Những đóng góp mới của luận văn:

- Phân tích được các ưu điểm và tồn tại của việc đầu tư phát triển vùng chè Lâm Đồng cùng các nguyên nhân của tồn tại đó trong thời gian 1991- 2001

Trang 14

- Đề ra được một hệ thống giải pháp khắc phục các tồn tại, nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển cây chè Lâm Đồng cũng như một số kiến nghị đối với Trung ương và các Ngành có liên quan

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Vai trò của đầu tư trong việc hình thành vùng chuyên canh sản xuất chè tại Lâm Đồng.

Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển cây chè tại Lâm Đồng trong thời gian qua.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển cay chè ở Lâm Đồng.

\

Trang 15

CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA ĐẦU Tư TRONG VIỆC HÌNH THÀNH VỪNG

CHUYÊN CANH SẢN XUÂT CHÈ TẠI LÂM ĐỚNG

1.1 Đầu tư và hiệu quả đầu tư:

1.1.1 Khái niệm vê đầu tư: (9, 28- 29)

- Theo quan điểm của xã hội (quốc gia), đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế - xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia

- Theo quan điểm của chủ đầu tư (doanh nghiệp), đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh, để từ đó thu được số tiền lớn hơn số vốn đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận

1.1.2. Phân loại đầu tư: (9, 30- 38)

Tùy theo chức năng quản trị, tính chất sử dụng vốn, nguồn vốn và ngành đầu tư, có thể chia ra các loại đầu tư như sau:

1.1.2.1 Theo chức năng quản trị vốn đầu tư:

Có các loại đầu tư như sau:

- Đầu tư trự c tiếp: là phương thức đầu tư mà trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản trị vốn đã bỏ ra Từ đó, chủ thể này hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư của chính mình

- Đầu tư gián tiếp: là phương thức đầu tư mà trong đó chủ đầu tư không

trực tiếp tham gia quản trị vốn đã bỏ ra

Trong mọi tình huống kết quả đầu tư, dù lãi hay lỗ, người bỏ vốn đều không có trách nhiệm pháp nhân Trách nhiệm đó thuộc về người quản trị và sử dụng vốn

Trang 16

1.1.2.2 Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư:

- Đầu tư phát triển: là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn

đầu tư nhằm mục đích gia tăng giá trị tài sản

Đầu tư phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển vì nó là phương thức căn bản để tái sản xuất mở rộng, tăng thu nhập quốc dân, tạo ra công ăn, việc làm và thu nhập cho người lao động

- Đầu tư dịch chuyển: là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn

nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị tài sản

Đầu tư dịch chuyển có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc hình thành

và phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường hối đoái hỗ trợ cho hoạt động đầu tư phát triển

1.1.2.3 Theo ngành đầu tư:

- Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng-, là hoạt động đầu tư phát triển nhằm

xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội

Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng có ý nghĩa lớn lao đối với các nước đang phát triển vì ở các nước này kết cấu hạ tầng rất yếu kém và mất cân đối nghiêm trọng Kết cấu hạ tầng được đầu tư phát triển, đi trước một bước tạo tiền đề để phát triển các lãnh vực kinh tế khác

- Đầu tư phát triển Công nghiệp-, là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây

dựng các công trình công nghiệp Đầu tư phát triển công nghiệp nhằm gia tăng giá trị sản lượng công nghiệp trong GDP của quốc gia, vì thế nó có ỷ nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Đầu tư phát triển Nông nghiệp-, là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây

dựng các công trình nông nghiệp Đầu tư phát triển nông nghiệp rất có ý nghĩa đối với các nước có nền nông nghiệp là chính như Việt Nam

- Đầu tư phát triển dịch vụ : là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng

các cồng trình dịch vụ (thương mại, du lịch, khách sạn, dịch vụ khác )

Trang 17

1.1.2.4 Theo tính chất đầu tư:

- Đầu tư mới: là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nhằm hình thành các

công trình mới Đầu tư mới có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nên nó cũng đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, đòi hỏi trình độ công nghệ và tư duy quản lý mới

- Đầu tư chiều sâu: là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nhằm cải tạo, mở

rộng, nâng cấp, hiện đại hoá, đồng bộ hoá dây chuyền sản xuất, dịch vụ trên cơ

sở các công trình đã có sẵn Đầu tư theo chiều sâu có ý nghĩa lớn, được ưu tiên đối với các nước đang phát triển trong điều kiện còn thiếu vốn, công nghệ và trình độ quản lý do đòi hỏi ít vốn, thời gian thu hổi vốn nhanh

1.1.2.5 Theo nguồn vốn:

- Vốn trong nước: vốn trong nước là vốn hình thành từ nguồn tích lũy nội

bộ của nền kinh tế quốc dân Nguồn vốn trong nước có ý nghĩa quyết định trong công cuộc phát triển quốc gia Để có nguồn vốn này đòi hỏi tỷ trọng tích lũy nội

bộ của nền kinh tế dành cho đầu tư ngày càng cao, đặc biệt đối với các nước đang phát triển Nguồn vốn từ tích luỹ nội bộ của nền kinh tế quốc dân trong nước chủ yếu là vốn ngân sách, vốn của các thành phần kinh tế khác và vốn trong dân

- Vốn ngoài nước: là vốn hình thành không bằng nguồn tích luỹ từ nội bộ

của nền kinh tế quốc dân Nguồn vốn nước ngoài rất quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước của một quốc gia đang phát triển, có nền kinh tế mở Nhưng việc sử dụng nguồn vốn ngoài nước đòi hỏi tính hiệu quả của việc sử dụng vốn phải được đưa lên hàng đầu

1.1.3 Hiệu quả đầu tư:

1.1.3.1 Về mặt kinh tế, xã hội: (9, 44- 45)

- Tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa và dịch vụ với hình thức và kiểu dáng mới, chất lượng cao và giá thành hạ, đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng Qua đó mà cân đối quan hệ cung cầu, quan hệ sản xuất và tiêu dùng trong xã hội

Trang 18

- Hình thành kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật như bến cảng, sân bay, cầu cống, đường giao thông, điện, nước sạch, thủ lợi, nhà máy, dây chuyền công nghệ tạo điều kiện để nền kinh tế xã hội tăng trưởng và phát triển

- Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo thêm nhiều công ăn, việc làm, nâng cao năng suất lao động, phát triển ngành nghề, nâng cao thu nhập cho người lao động, mở rộng môi trường và phương tiện giải trí, văn hoá cho người dân, v,v

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xã hội theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hóa

- Tăng thu Ngân sách, tạo tích lũy nội bộ nền kinh tế

1.1.3.2 Vê mặt cá nhân nhà doanh nghiệp:

Đầu tư nhằm tạo ra giá trị thặng dư hay lợi nhuận cho bản thân nhà doanh nghiệp

1.1.3.3 Quan hệ giữa hiệu quả đầu tư về mặt kinh tế, xã hội và hiệu quả về mặt cá nhân nhà doanh nghiệp:

- Thông qua lợi nhuận thu được ngày càng cao, tích luỹ tăng lên, nhà doanh nghiệp tiếp tục mở rộng đầu tư trong phạm vi luật lệ, chế độ và chính sách của Nhà nước mà gián tiếp tạo ra và nâng cao hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội

- Qua hiệu quả kinh tế, xã hội ngày càng phát triển mà cải thiện việc phân phối thu nhập và phúc lợi xã hội, đem đến lợi nhuận của nhà đầu tư ngày càng được nâng cao

1.2 VỊ trí của cây chè trong nền kinh tế tỉnh Lâm Đồng:

Trong thời gian qua, tình hình đất nước nói chung, địa phương Lâm Đồng nói riêng có nhiều thuận lợi, chủ yếu là:

- Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và phát triển, khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực từng bước bị đẩy lùi, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển kinh tế trong những năm tới

- Tinh hình chính trị ổn định, những yếu tố bên trong của nền kinh tế được cũng cố và phát triển Trong nông nghiệp, diện tích cây công nghiệp dài ngày

Trang 19

tăng nhanh, yêu cầu đầu tư thâm canh ngày càng được các thành phần kinh tế quan tâm nên năng suất, sản lượng ngày càng tăng.

- Kết cấu hạ tầng được trung ương và địa phương quan tâm đầu tư phát triển nhanh chóng trong vài năm gần đây

- Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách mới tiếp tục được bổ sung, hoàn chỉnh, những giải pháp mới tích cực đang được triển khai thực hiện sẽ là những động lực làm tăng niềm tin của nhân dân và tính năng động của xã hội trong tiến trình đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới

- Tỉnh có lợi thế về tiềm năng đất đai, khí hậu, lại nằm trong cụm kinh tế miền Đông Nam bộ, các trục lộ giao thông chính hiện đang được sữa chữa, nâng cấp ngày càng tốt hơn

Nghị quyết đại hội Tỉnh Đảng bộ Lâm Đồng lần thứ vn (Tháng 4/2001)

khẳng định: “Phát triển toàn diện nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng

công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đưa nhanh các tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào sản xuất, đặc biệt là các giống mới, công nghệ sau thu hoạch và công nghiệp chê biến, tập trung thâm canh, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tiêu dùng trong nước

u

1.2.1 Vài nét về kinh tế tỉnh Lâm Đồng:

1.2.1.1 Vài nét vê tỉnh Lâm Đồng:

* Về trí tự nhiên và thổ nhưỡng:

Lâm Đồng là tỉnh miền núi và cao nguyên nằm ở cực nam Trung bộ, được hình thành chủ yếu từ hai cao nguyên Lâm Viên và Di Linh Tổng diện tích tự nhiên là 9.764 km2 Khí hậu mang tính ôn đới quanh năm mát mẻ Nhiệt độ trung bình từ 17 đến 25 độ c Lượng mưa và độ ẩm khá lớn, cao hơn bình quân chung của cả nước Do nguồn gốc từ một vùng núi lửa đã tắt nên điều kiện đất đai và thổ nhưỡng đặc biệt thích hợp với việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày như chè, cà phê, dâu tằm các loại cây rau, hoa của vùng ôn đới và có

Trang 20

nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành du lịch, nhất là du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng Do đó, trong quá trình tổ chức sản xuất ở Lâm Đồng đã hình thành nhiều vùng chuyên canh các loại cây công, nông, lâm nghiệp:

- Vùng Đà Lạt (bao gồm thành phố Đà Lạt và các huyện Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà): trồng và phát triển các loại cây ngắn ngày như rau, hoa, mía, cây dược liệu, chăn nuôi đại gia súc và gia cầm có nguồn gốc ngoại nhập

- Vùng Di Linh, Bảo Lộc, Bảo Lâm: phát triển cây công nghiệp dài ngày như chè, cà phê, dâu tằm, chăn nuôi Đây cũng là vùng có nhiều loại khoáng sản với trữ lượng lớn, thuận tiện cho việc phát triển công nghiệp khai khoáng như nhôm, các ngành thủy điện, du lịch, dịch vụ

- Vùng Dạ Huoai, Dạ Tẻh, Cát Tiên (3 huyện phía Nam): trồng và phát triển cây điều, các loại cây ăn quả nhiệt đới, cây lúa, cây nông sản ngắn ngày, chăn nuôi gia súc và gia cầm vùng nhiệt đới

(.Xem chi tiết phụ lục ỉ)

* Đặc điểm về hành chính, dân số, dân tộc và văn hoá:

Thành phố Đà Lạt là trung tâm kinh tế, hành chính của tỉnh Ngoài ra còn

có thị xã Bảo Lộc và 9 huyện với 138 xã, phường, thị trấn, trong đó có 35 xã thuộc các xã đặc biệt khó khăn theo quyết định 135 của Thủ tướng Chính phủ

Dân số toàn tỉnh đến cuối năm 2001 là gần 1,1 triệu người, trong đó có gần

800 ngàn nhân khẩu nông nghiệp (chiếm 80% tổng dân số) với trên 430 ngàn lao động Tổng số 210 ngàn hộ dân, trong đó có trên 175 ngàn hộ sản xuất nông, lâm nghiệp (chiếm trên 83% tổng số hộ) Trong tổng số hộ toàn tỉnh có trên 40 ngàn

hộ dân tộc thiểu số (chiếm 21% tổng số hộ) và 28 ngàn hộ nghèo (chiếm 14% tổng số hộ) theo tiêu chí mới của Bộ LĐ-TBXH

1.2.1.2 Đặc điểm địa lý, tự nhiên:

- Lâm Đồng có về trí thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp dài

ngày.

Trang 21

Lâm Đồng có độ cao trung bình so với mặt biển từ 800 đến 1000 m Khí hậu Lâm Đồng phân chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Vùng có lượng mưa lớn nhất là Bảo Lộc và Bảo Lâm với lượng mưa trung bình từ 2.500 đến 3.000 mm/năm Đây là điều kiện thuận lợi cho các loại cây công nghiệp, trong đó đặc biệt là cây chè để phát triển.

Về điều kiện đất đai: Với diện tích tự nhiên trên 974 ngàn ha được phân chia thành 9 nhóm và 20 tổ đất khác nhau Nhưng quan trọng nhất là nhóm đất Bazan với diện tích trên 200 ngàn ha phân bố chủ yếu trên cao nguyên Bảo Lộc,

Di Linh và một số vùng ở Đức Trọng, Lâm Hà rất thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp dài ngày, đặc biệt là cây chè và cây cà phê

Về điều kiện nguồn nước: Tại một số vùng chuyên canh cây công nghiệp, nguồn nước ngầm nhìn chung phong phú, mặt khác, với địa hình bị chia cắt rất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thủy lợi vừa và nhỏ để chứa và chủ động nguồn nước phục vụ tưới tiêu tạo điều kiện cho các loại cây công nghiệp dài ngày phát triển

(Chi tiết, xem phụ lục s ố 2)

- Lâm Đồng là một tỉnh có phong cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ thuận lợi cho việc phát triển ngành du lịch nghỉ dưỡng.

Lâm Đồng có diện tích rừng thông trên 200 ngàn ha, tập trung ở Thành phố Đà Lạt và các huyện Đức Trọng, Đơn Dương, Lâm Hà, Lâm Đồng còn có một hệ thống các thác nước lớn nhỏ, khác nhau như Đambri, Thác 9 tầng (Bảo Lộc); Bobla (Di Linh), Gougah, Pongour (Đức Trọng); Đatanla, Cam Ly, Prenn (Đà Lạt), Các đập thủy điện Đa Nhim, Hàm Thuận - Đami, v.v

Nhiệt độ trung bình ở những nơi có độ cao từ 1000 m trở lên là 17 - 19°°, những nơi có độ cao từ 500 - 800 m có nhiệt độ bình quân từ 21 đến 23°°

Với khí hậu đặc biệt lại nằm về trí địa lý gần các trung tâm kinh tế lớn, có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất cả nước, hệ thống giao thông đường bộ, đường không tương đối hoàn thiện và hiện đại Từ lâu, Lâm Đồng đã trở thành một địa

Trang 22

21điểm du lịch, nghỉ dưỡng thu hút lượng khách du lịch nội địa và nước ngoài rất lớn.

(Chi tiết xem phụ lục s ố 3)

1.2.1.3 Các đặc thù về kinh tế Lâm Đồng

* Kinh tế cây công nghiệp dài ngày:

Đặc điểm khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng Lâm Đồng rất thích hợp cho việc trồng trọt và phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày Từ thời Pháp thuộc đến nay, việc tập trung đầu tư phát triển mạnh các sản phẩm có lợi thế xuất khẩu, có giá trị kinh tế cao như cà phê, chè, điều, dâu tằm, rau cao cấp, các loại hoa và dược liệu, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm, trong đó có các loại cây công nghiệp như chè, cà phê, luôn được các cấp chính quyền quan tâm ưu tiên hàng đầu

Sau 15 năm đổi mới, đến hết năm 2001, Lâm Đồng đã phát triển được một vùng nguyên liệu cây công nghiệp dài ngày tập trung với trên 123 ngàn ha cà phê, chiếm 81% tổng diện tích cây lâu năm; trên 23 ngàn ha chè các loại, chiếm 10% tổng diện tích cây lâu năm, cụ thể như sau:

+ Cây cà phê:

Là một mặt hàng nông sản có giá trị cao đã được trồng ở Lâm Đổng trên

50 năm, nhưng trong khoảng 10 năm mà đặc biệt là 5 năm trở lại đây đã được tập trung phát triển do giá cả thuận lợi, diện tích cà phê đã tăng từ 19,5 ngàn ha năm

1990 lên 38,5 ngàn ha năm 1995 và vọt lên 140,8 ngàn ha năm 2000 và trên 123 ngàn ha năm 2001, chiếm khoảng 30% diện tích cà phê cả nước

về chè cành

Trang 23

Đến năm 2001, diện tích chè của tỉnh Lâm Đồng đạt trên 23 ngàn ha, trong đó diện tích chè kinh doanh là trên 20 ngàn ha, sản lượng trên 124 ngàn tấn chè búp tươi và là loại cây có giá trị kinh tế và xuất khẩu đứng hàng thứ hai sau cây cà phê So với các vùng sản xuất chè cả nước, Lâm Đồng là tỉnh có diện tích lớn nhất, chiếm gần 85% diện tích chè khu vực phía Nam và gần 25% diện tích chè cả nước, có năng suất cao hơn so với năng suất trung bình cả nước và các địa bàn sản xuất chè tập trung khác ở phía Nam.

+ Cây dâu:

Lâm Đồng tuy có ít lợi thế so sánh về phát triển cây dâu do đa số diện tích dâu trước đây trổng trên đất dốc, đất dễ bị xói mòn, rửa trôi, dễ bị thoái hoá, nhưng có lợi thế khá lớn về nuôi tằm và chế biến tơ tằm Trong những năm qua, hiệu quả kinh tế và mức độ ổn định của sản xuất dâu kém hơn nhiều so với sản xuất cà phê và chè, nên diện tích dâu đã liên tục bị giảm, từ 13 ngàn ha năm 1992 đến năm 1999 chỉ còn trên 3 ngàn ha, giảm gần 10 ngàn ha và đến cuối năm

2001 đã lên được trên 6 ngàn ha

+ Cây điều:

Tại Lâm Đổng, cây điều phát triển chủ yếu tại khu vực 3 huyện phía Nam

là Đạ Hoai, Đạtẻh và Cát Tiên và vùng 3 xã Đầm Ròn, huyện Lạc Dương với tổng diện tích hiện nay là 7.300 ha Tuy nhiên, năng suất cây điều hiện nay của tỉnh chỉ đạt trên 1 tạ/ha do thiếu khâu chọn lọc giống cây trồng, điều kiện thời tiết không thuận lợi (khi ra hoa bị sương muối), vì vậy sản xuất điều của tỉnh Lâm Đổng đang gặp nhiều khó khăn để phát triển

* Kinh tế rau xanh và hoa:

Là một tỉnh có lợi thế về sản xuất các loại rau, hoa có nguồn gốc vùng ôn đới và đã trở thành nghề sản xuất truyền thống Trong suốt 15 năm qua, mặc dù còn nhiều khó khăn và hạn chế trong khâu tổ chức sản xuất và tiêu thụ, nhưng về

cơ bản, cây rau của Lâm Đồng phát triển nhanh và bền vững (tốc độ tăng bình quân hàng năm về diện tích gần 10%, về sản lượng là 13%)

Trang 24

* Kinh tế khác:

+ Cây lương thực:

Cây lương thực ở Lâm Đồng gồm có lúa, ngô, trong đó sản xuất lúa tuy không phải là thế mạnh của nông nghiệp Lâm Đồng, nhưng cũng đã được chú trọng phát triển theo hướng ổn định địa bàn, tăng cường đầu tư thâm canh, tăng năng suất và tăng vụ

+ Các loại cây trồng khác:

Ngoài các loại cây trổng chính được nêu trên, trong phạm vi tỉnh còn có các loại cây trồng khác tuy chưa đạt được quy mô sản xuất lớn nhưng có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, góp phần nâng cao thu nhập của nông dân ở một số tiểu vùng, bao gồm: cây dược liệu nhất là Artichaut, cây ăn quả đặc sản như bơ, hổng, dâu tây ở khu vực Đà Lạt, Lạc Dương, Đức Trọng, Đơn Dương, Di Linh, Bảo Lộc; cây ăn quả nhiệt đới như chôm chôm, sầu riêng, mít tố nữ ở khu vực Dạ Hoai, Dạ Tẻh, Cát Tiên

+ Ngành chăn nuôi:

Chăn nuôi phát triển không ổn định, trong đó đàn trâu, bò kể cả cày kéo và vắt sữa do diện tích đồng cỏ bị thu hẹp và chưa có biện pháp cải thiện chất lượng đàn trâu, bò Đàn heo và gia cầm tăng khá, trong đó nuôi gà công nghiệp tăng rất nhanh nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học về giống

Trang 25

Điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu Lâm Đồng rất thích hợp và là lợi thế

cho việc phát triển đàn bò sữa và nghề chăn nuôi bò sữa cao sản

+ Ngoại thương:

Giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh từ 12 triệu USD năm 1990 lên 36

triệu USD năm 1995 và 60 triệu USD năm 2001, trong đó xuất khẩu chiếm 50%,

tốc độ tăng hàng năm khoảng 25% Một số mặt hàng thế mạnh chủ yếu là chè,

thiếc, cà phê, gỗ, tơ tằm, các sản phẩm thêu, đan

1.2.2 Về trí của cây chè trong nền kinh tê tỉnh Lâm Đồng:

1.2.2.1 Lâm Đồng là một tỉnh có ngành chè phát triển ở phía Nam qua một quá trình phát triển lâu đời:

Chè là thức uống lý tưởng và có nhiều giá trị về dược liệu Hiện nay chè là

loại thức uống, thực phẩm phổ biến Nhu cầu tiêu thụ chè ngày càng lớn, tỷ lệ

thuận với tốc độ phát triển công nghiệp Chè là cây công nghiệp lâu năm, có chu

kỳ kinh tế dài nhưng nhanh cho sản phẩm thu hoạch Đảng và Nhà nước ta coi

cây chè là cây xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc

nhưng ở miền Nam, đặc biệt là ở Lâm Đồng, cây chè là cây làm giàu, góp phần

lớn vào việc phát triển kinh tế nông thôn

Với điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng như vậy, ở Lâm Đồng từ năm 1927

đến nay cây chè sinh trưởng và phát triển hầu như quanh năm, tập trung chủ yếu

ở Thị xã Bảo Lộc và các huyện Di Linh, Bảo Lâm và một số vùng khác như Cầu

Đất, Xuân Trường, Đà Lạt ở độ cao trên 1.500m

Cây Chè đã được trồng thử nghiệm ở Tây nguyên rất lâu nhưng đến năm

1927 mới phát triển mạnh theo hướng trồng công nghiệp đại trà qua các đồn điền

chè của các nhà tư bản Pháp tại Bảo Lộc, Cầu Đất (Lâm Đồng) và Gia Lai, Kon

Turn Tuy nhiên, Lâm Đồng vẫn là tỉnh có diện tích chè lớn nhất trong số các

tỉnh phía Nam và kể cả so với một số tỉnh khác có trồng chè ở phía Bắc đến cuối

năm 2001 (Lâm Đồng: 23.000 ha; Gia Lai: 1.700 ha; Kon Turn: 50 ha, Đăklăk:

400 ha)

Trang 26

Cùng với qúa trình phát triển, mở rộng diện tích, người sản xuất đã chú ý hơn đến việc đầu tư thâm canh, nhờ đó năng suất chè của Lâm Đổng từng bước được cải thiện tích cực, năm 2001 năng suất chè bình quân đạt 62 tạ/ha/năm cao hơn mức bình quân của cả nước và bằng 1,96 lần so với năm 1976.

Sản lượng chè búp tươi của Lâm Đồng được tăng lên hàng năm nhờ tăng cả

về diện tích và năng suất: Năm 1976 sản lượng chè toàn tỉnh chỉ có 21.645 tấn thì đến năm 1991 tăng lên gần 2 lần (40.322 tấn) và đến năm 2001 sản lượng chè đạt 124,2 ngàn tấn, tăng gấp 5,5 lần so với năm 1976

Giá trị sản lượng chè hàng năm của Lâm Đồng đạt từ 360 đến 500 tỷ đồng, chiếm khoảng 20% trong tổng giá trị sản lượng ngành Nông nghiệp và từ 28- 30% trong tổng giá trị cây công nghiệp dài ngày của tỉnh

(Chi tiết, xem biểu số 1)

- Đóng góp về tạo công ăn, việc làm

Đến nay, toàn tỉnh có hơn 30.000 hộ với trên 55 ngàn lao động đang canh tác cây chè với quy mô diện tích bình quân 0,56 ha/hộ, trong đó có nhiều hộ được xếp vào loại kinh tế trang trại với quy mô diện tích chè từ 5 ha trở lên Diện tích chè trong thành phần kinh tế cá thể chiếm 18.972 ha chiếm 91% so với tổng diện tích chè toàn tỉnh, đây là thành phần kinh tế chủ yếu có ảnh hưởng lớn đến quy mô, chất lượng nguyên liệu

- Đóng góp về xuất khẩu:

Việc phát triển ngành chè Lâm Đồng đã làm tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu của Lâm Đổng Hàng năm tỉnh thực hiện xuất khẩu bình quân từ 8 đến 10 ngàn tấn chè khô, tương đương với gần 15 triệu USD, chiếm khoảng 30% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh

Trang 27

DIỆN TÍCH - NĂNG SUẤT - SẢN LƯỢNG CHÈ THỜI KỲ 1991 - 1997 VÀ 1996 - 2001 (*)

Trang 28

HẠNG MỤC 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 III Năne Suất Tươi íta/ha) 44,30 45,90 50,70 48,90 45,40 43,41 46,33 40,7 53,6 62.3 61.4

Trong đó: Quốc doanh 48,50 49,00 50,00 47,90 46,20 40,40 44,70 45 52 56

56

Đà Lạt 44,00 45,00 50,00 50,00 50,00 25,00 26,23 25,3 24,6 25

23Lạc Dương 40,00 40,00 45,00 50,00 45,00 5,00 59

80Lâm Hà 50,00 50,00 47,00 55,00 54,00 65,00 60,00 50,5 42,3 53

45

Di Linh 41,00 41,10 42,00 40,00 46,00 32,00 33,80 35 35 36 66Bảo Lộc 42,40 45,00 52,00 49,45 50,30 44,56 50,79 43,7 63,6 65,8

66

IV Sản Lươne ítấn/ha) 40.322 43.392 48.307 54.923 35.703 74.172 81.777 70.687 98.470 118.719 124.204

Trong đó: Quốc doanh 12.328 10.652 12.825 11.334 10.626 8.129 9.620 8.608 8.824 9.016 9.920

<*)- N guồn s ố liệu: N iên G iám thống kê Lâm đồng các năm 1995, 2000 và 2001, C ục Thống kê Lâm đồng)

Trang 29

- Đóng góp về làm đẹp cảnh quan môi trường:

Với diện tích trên 23 ngàn ha, tập trung ở Thị xã Bảo Lộc, Huyện Bảo Lâm, Huyện Di Linh, Cầu Đất (Đà Lạt), ở độ cao từ 700 đến 1.500 m, nằm trên các đồi có độ dốc từ 5° đến 15°, có chiều cao trung bình (chè kinh doanh) từ 70 -

75 cm, các đồi, vườn chè đã tạo ra một cảnh quan tuyệt đẹp nhất là khi búp chè phát triển mạnh trên cây đã được tạo tán đúng tiêu chuẩn, búp chè xanh đậm, cây chè tạo hình nấm, hàng chè thẳng tắp và đều đặn trên diện rộng

Cây chè phát triển còn góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, chống xói mòn đất vào mùa mưa, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần tạo ra các tiểu vùng khí hậu tại từng địa bàn trồng chè trên đất Lâm Đồng

I.2.2.3 Triển vọng về phát triển cây chè:

Các căn cứ:

- Quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2000 -2010

- Căn cứ vào tiềm năng tài nguyên, đất đai, khí hậu Lâm Đồng rất thích hợp cho việc phát triển cây chè có chất lượng, năng suất cao

- Căn cứ vào việc hình thành vùng chuyên canh chè của tỉnh Lâm Đồng đã gắn liền với sự hình thành cụm công nghiệp chế biến chè có lịch sử phát triển trên 50 năm

- Căn cứ vào nhu cầu thị trường trong và ngoài nước về việc tiêu thụ các sản phẩm chè ngày càng gia tăng theo sự gia tăng của dân số

- Phát triển vùng nguyên liệu chè nhằm đảm bảo nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, đồng thời khai thác tốt tiềm năng đất nông nghiệp, tăng nguồn thu nhập và giải quyết đời sống cho nhân dân địa phương

Với những căn cứ ấy, quy hoạch ngành chè Lâm Đổng được phát triển trên phạm vi ranh giới của 7 đơn vị hành chính là TP Đà lạt, Thị xã Bảo Lộc và các huyện Di Linh, Lạc Dương, Đức Trọng, Lâm Hà và Bảo Lâm, trong đó tập trung hai vùng chuyên canh, sản xuất chuyên môn hoá lớn nhất là Thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm Quy mô diện tích của toàn vùng dự án chuyên canh chè lên đến gần 620 ngàn ha, chiếm trên 63% diện tích toàn tỉnh, dân số các vùng chè gần

Trang 30

600 ngàn người, chiếm 60% dân số toàn tỉnh với số lao động khoảng từ 280 đến

300 ngàn người, trong đó lao động nghề trồng và chế biến chè khoảng 55 ngàn người

Theo định hướng của ngành chè Việt Nam từ 2000 - 2010 và những công trình nghiên cứu khoa học tin cậy của thế giới về sản phẩm chè chế biến thì trong thế kỷ 21, các sản phẩm chế biến từ chè là thức uống lý tưởng và quan trọng nhất cho sức khỏe con người, không những thế, chè còn có nhiều giá trị về dược liệu

“Hỗn hợp Tanin chứa trong chè có khả năng giải khát, chữa một số bệnh đường ruột như tả, lỵ, thương hàn Theo M.N Zaprometop thì Catechin của chè có tác dụng làm thông các mao mạch Cafein và một số hợp chất Alcaloit khác có trong chè là những chất có khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não làm cho hệ thần kinh thêm minh mẫn, nâng cao tinh thần làm việc, giảm mệt nhọc khi công việc căng thẳng Chè có chứa nhiều Vitamin như Vitamin A,

Bl, B2, B6, pp và nhiều nhất là Vitamin c có tác dụng quan trọng đối với đời sống và sức khỏe con người, đặc biệt gần đây nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ, Nhật công bố uống chè xanh có tác dụng chống phóng xạ và ung thư da” (8, 9)

Nhu cầu tiêu thụ chè ngày càng lớn, tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển công nghiệp Nhu cầu tiêu thụ chè trên thế giới hàng năm từ 2,5 triệu tấn đến 2,7 triệu tấn chè khô đã qua chế biến, trong khi hàng năm Việt Nam sản xuất trên 66 ngàn tấn chè khô (trong đó Lâm Đồng sản xuất 25 ngàn tấn chè khô) và xuất khẩu hàng năm khoảng 42 ngàn tấn chè khô (trong đó Lâm Đồng khoảng 10 ngàn tấn) Vì thế, cây chè ở Việt Nam nói chung và Lâm Đổng nói riêng có triển vọng hết sức sáng sủa để phát triển Điều này không những được nêu trong các chủ trương của địa phương mà mới đây nhất còn được khẳng định tại Quyết định số 168/2001/QĐ/TTg ngày 30/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế -

xã hội vùng Tây Nguyên Theo đó, dự kiến quy mô chè Lâm Đồng đến năm 2010

ổn định với diện tích khoảng từ 25.000 đến 28.000 ha, năng suất đạt từ 9 đến 10

Trang 31

tấn chè búp tươi/năm và sản lượng khoảng 230 ngàn tấn chè tươi (khoảng 52 ngàn tấn chè khô).

Trồng chè còn thu hút một lực lượng lao động đáng kể góp phần giải quyết việc làm, là một trong những cây có giá trị cao ở trung du, miền núi phía Bắc và Tây nguyên, góp phần thúc đẩy những vùng kinh tế này có điều kiện hòa nhập với miền đồng bằng về kinh tế, văn hóa, xã hội

Chè là cây trồng dễ áp dụng rộng rãi vào các thành phần kinh tế, đặc biệt

là kinh tế trang trại

a Triển vọng phát triển sản phẩm xuất khẩu:

Ớ nước ta, chè là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên 60 triệu USD Dự kiến sản phẩm xuất khẩu chè của Việt Nam thời kỳ 2000 - 2010 là 80 ngàn tấn hàng năm, trong

đó Lâm Đồng đóng góp khoảng 24%, tương đương với từ 19 đến 21 ngàn tấn Hiện nay, Lâm Đồng chỉ mới xuất khẩu được từ 8.000 - 10.000 tấn/năm, chiếm 40% tổng sản phẩm chè của toàn tỉnh, do đó khả năng xuất khẩu chè của Lâm Đồng còn lại là rất lớn nếu địa phương giải được bài toán về giống và chiến lược thị trường xuất khẩu

Nhu cầu thị trường tiêu thụ chè ngoài nước không những ở các nước truyền thống như khu vực Trung Cận Đông, Đông Âu và Nga mà còn tiếp cận sang các nước Bắc Âu và khu vực Bắc Mỹ Sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của APEX đã mở ra triển vọng mới cho sự hội nhập nền kinh tế Việt Nam với khu vực Châu Á, Thái Bình Dương và thế giới Việt Nam có thêm vận hội để phát triển kinh tế và hội nhập trên cả 3 lãnh vực buôn bán, đầu tư và viện trợ phát triển Do đó, trong lãnh vực xuất khẩu sẽ có nhiều cơ hội Trong đó sản phẩm chè chế biến của Lâm Đồng sẽ đóng góp một phần đáng kể Dự kiến giai đoạn 2000 -

2010, Lâm Đồng sẽ tăng sản lượng xuất khẩu sản phẩm chè khoảng 50% - 60% sản lượng sản xuất ra, tương đương với khoảng 20.000 đến 22.000 tấn/năm

Trang 32

Với chu kỳ kinh tế tương đương cây cà phê (từ 30 đến 40 năm), hiệu quả kinh tế của việc trồng cây chè khá cao và gần như tương đương nhau đối với chè

hạt và cà phê nhưng lại hơn hẳn cà phê khi so với chè cành (Xem chi tiết phụ lục

số 5 và phụ lục ỉ ỉ) Cả hai loại chè và cà phê đều có thị trường trên thế giới,

nhưng tiềm năng tiêu thụ chè sẽ cao hơn do được nhận định chè sẽ là thức uống chủ yếu của thế kỷ XXI Hơn nữa thị trường chè trên thế giới phát triển rộng hơn

vì nó bao gồm các nước phát triển và các nước đang phát triển, còn cà phê có thị trường chủ yếu ở các nước có mức sống cao

b Triển vọng phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước:

Thị trường chè truyền thống trong nước của các sản phẩm chè Lâm Đồng chủ yếu là các tỉnh miền Đông Nam bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long, khu vực Tây nguyên, khu vực duyên hải miền Trung và đặc biệt là thị trường Thành phố Hồ Chí Minh Với khả năng phát triển dân số khu vực này trong giai đoạn

2000 - 2010 sẽ tương đương từ 22 đến 26 triệu dân với mức tiêu thụ bình quân từ 0,5 đến 1 kg chè/người/năm (bằng 25% mức tiêu thụ chè của thế giới) thì nhu cầu về chè của toàn vùng sẽ là từ 11.000 đến 26.000 tấn chè/năm

c Triển vọng góp phần Ổn định cảnh quan, môi trường sinh thái:

Quỹ đất của vùng chuyên canh nguyên liệu chè tập trung của tỉnh trên 200 ngàn ha (bao gồm các huyện Bảo Lâm, Di Linh, Đức Trọng, Lâm Hà, thị xã Bảo Lộc và thành phố Đà Lạt) Trong đó diện tích đất nông nghiệp đã sử dụng là

178,5 ngàn ha, đất có khả năng nông nghiệp trên 25 ngàn ha (Xem chi tiết phụ

lục số 4), diện tích có khả năng mở rộng diện tích chè chủ yếu được chuyển đổi

từ đất lâm nghiệp, đất rừng vốn đã bị chặt phá, đồi núi trọc Việc trồng và phát triển cây chè không những đạt nhiều mục đích như đã trình bày ở những phần trên đây mà còn có ý nghiã quan trọng trong việc thực hiện chủ trương phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, góp phần cải thiện môi trường sống, khí hậu và cân bằng sinh thái

Trang 33

1.3 Vai trò của đầu tư trong việc hình thành vùng chuyên canh sản xuất chè:

Lý thuyết về phát triển cho rằng khả năng phát triển của một quốc gia

được hình thành bằng các nguồn lực về vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên

thiên nhiên Các yếu tố trên cũng chính là các nhân tố được huy động để thực

hiện đầu tư Mục tiêu của đầu tư chính là để phát triển Trên phạm vi cả nước

cũng như tại địa phương Lâm Đồng, có thể nêu lên một số vai trò của đầu tư

trong việc hình thành vùng chuyên canh sản xuất chè như sau:

1.3.1 Đầu tư góp phần thúc đẩy sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ chè:

Trong thời gian qua, đầu tư bằng nhiều nguồn (kể cả đầu tư mới và đầu tư

theo chiều sâu) đã phát triển diện tích sản xuất chè cả nước (từ trên 66.600 ha cả

nước vào năm 1995 đã tăng lên đến trên 83 ngàn ha vào cuối năm 2001), nâng

cao sản lượng (từ 37.800 tấn chè khô năm 1995 đã lên đến 66 ngàn tấn chè khô

năm 2001), bình quân mỗi năm tăng 4,5% về diện tích và tăng 15% về sản lượng

Riêng về tiêu thụ chè, nếu năm 1995 tiêu thụ 37 ngàn tấn trong đó xuất khẩu

được 17.500 tấn thì đến năm 2001 đã tiêu thụ được trên 60 ngàn tấn trong đó

xuất khẩu 42 ngàn tấn khô, bình quân mỗi năm xuất khẩu tăng 28%

Thị trường nội địa chủ yếu tiêu thụ chè xanh song nhu cầu các loại chè

khác như chè hương, chè đen, chè thảo mộc, cũng đang dần dần tăng lên Năm

2000, ước tính mức tiêu thụ bình quân đầu người là 300 gr/năm (thấp hơn nhiều

so với bình quân các nước như Ấn Độ 620 gr, Nhật Bản 1.040 gr, Irăq 2.230 gr,

Anh 2.620 g r, )

(C h i tiế t x e m b iể u s ố 2 )

Chè xuất khẩu của Việt Nam đã tới khoảng 30 nước trên thế giới (hầu hết

là chè đen theo công nghệ OTD) Bên cạnh các bạn hàng quen thuộc như các

nước SNG, Đông Âu, đã có các bạn hàng mới như Anh, Nhật Bản, Mỹ, Đài Loan,

các nước vùng Trung Cận Đông

Trang 34

Biểu 2

MỨC TIÊU THỤ CHÈ BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI (*)

Nước Sô lượng tiêu thụ

(ngàn tấn/nãm) Mức tiêu thu BQ/người/năm (Kg)

Trang 35

1.3.2 Đầu tư góp phần đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất chè theo hướng thị trường:

Những năm qua và nhất là từ năm 1995 trở lại đây, kể cả bằng vốn đầu tư XDCB tập trung của Nhà Nước và chủ yếu là nguồn vốn tự có, ngành chè cả nước

đã đầu tư nâng cấp các nhà máy, cải tiến dây chuyền công nghệ, trang bị mới thiết bị sản xuất Từ chỗ chỉ có hơn chục cơ sở chế biến chè công nghiệp vào năm 1990 thì đến năm 1999 cả nước đã có 75 nhà máy chế biến chè với tổng công suất 1.200 tấn tươi/ngày (đảm trách chế biến khoảng 60% sản lượng chè tươi), chưa kể khoảng 1.200 cơ sở chế biến chè quy mô nhỏ của các doanh nghiệp tư nhân và hàng chục ngàn lò chế biến thủ công của các hộ gia đình

Chè đen xuất khẩu từ cồng nghệ và thiết bị OTD nhập của Liên Xô từ những năm 1957 - 1977, năm 1998 đã nhập mới 4 dây chuyền thiết bị đồng bộ, hiện đại của Ấn Độ để chế biến chè đen theo công nghệ OTD Năm 1997 và

1998 nhập bốn dây chuyền chế biến chè theo công nghệ CTC của An Độ, công suất 90 ngàn tấn tươi/ngày

Chè xanh nội tiêu từ chỗ được sản xuất và chế biến theo công nghệ Trung Quốc nay đã trang bị các thiết bị và công nghệ chế biến chè xanh của Nhật Bản, Đài Loan với công suất trung bình, công nghệ hiện đại, được người tiêu dùng chấp nhận (cả trong nước và tại Nhật Bản, Đài Loan)

1.3.3 Đầu tư góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả:

Thông qua đầu tư phát triển cơ sở vật chất như mở rộng diện tích chè, mởrộng nhà máy, nâng cao công suất sư dụng máy móc, thiết bị, đổi mới dây chuyền công nghệ, nâng cấp đường giao thông nội vùng, đào tạo tay nghề cho công nhân, nâng cao trình độ quản lý cho đội ngũ cán bộ, mở rộng vốn đầu tư qua nhiều nguồn năng suất, chất lượng và hiệu quả cây chè đã từng bước tăng lên rõ rệt

Trang 36

- Năng suất chè tươi bình quân cả nước từ 36,8 tạ/ha năm 1997 đã tăng lên

42 tạ/ha vào năm 2000 Các công ty chè Mộc Châu đạt 105 tạ/ha; Phú Sơn 95

tạ/ha, Thanh niên 97 tạ/ha

- Chất lượng chè nội tiêu và xuất khẩu được nâng lên Chè xuất khẩu giá

bình quân từ 1,2 USD/kg thời kỳ 1995 đã tăng lên 1,43 USD/kg vào năm 2000

1.3.4 Đầu tư đổi mói cơ cấu giữa trồng trọt và chê biến theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá:

Đầu tư mới có vai trò quan trọng trong việc góp phần chuyển dịch cơ cấu

mà ở vùng chuyên canh sản xuất chè là cơ cấu giữa trồng trọt và chế biến Trong

định hướng phát triển, cơ cấu này được dịch chuyển theo hướng công nghiệp hoá

và hiện đại hoá, từ đó tạo ra ngày càng nhiều và chất lượng ngày càng cao các

sản phẩm chè, tạo công ăn việc làm, phát triển ngành nghề truyền thống, đáp ứng

ngày càng cao và đa dạng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và quốc tế và

kết quả cuối cùng là góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế, xã hội của vùng chè

và của cả nước

Trang 37

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH ĐẦư Tư PHÁT TRIEN c â y chè

TẠI LÂM ĐỔNG TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 Tình hình phát triển cây chè ở Lâm Đồng trong thời gian qua:

Lịch sử phát triển ngành sản xuất, chê biến chè Lâm Đồng'.

“Năm 1924, ông Removille (người Pháp) đem hạt giống từ Phousan (Trấn Ninh, Trung Quốc) đến Lâm Đồng để thí nghiệm và trồng thử Đến năm 1927, cây chè đã được trồng chính thức ở Cầu Đất, Đà Lạt Cây chè là một trong những loại cây công nghiệp dài ngày có lịch sử phát triển sớm nhất so với các loại cây

cà phê, cây dâu và cây điều và từ lâu dã được tổ chức sản xuất với quy mô lớn, quy trình công nghệ chế biến chè đen, chè xanh hình thành sớm và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay

Năm 1954 - 1956 diện tích cây chè ở Lâm Đồng đã có trên 7 ngàn ha, chiếm 58% trong tổng diện tích đất nông nghiệp Sản phẩm chế biến chè đen, chè ướp hương với sản lượng hàng năm là 5 ngàn tấn đã được xuất khẩu sang thị trường Luân Đôn và tiêu thụ ở các tỉnh Thừa Thiên Huế, Nha Trang, Sài Gòn.” (16, 1)

Sự phát triển của ngành sản xuất chè giai đoạn 1975 -1986:

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nhà nước có chủ trương quốc hữu hoá các đồn điền, nhà máy của các chủ tư sản, hình thành Liên hiệp các xí nghiệp chè - cà phê Lâm Đồng, các vườn chè lớn được các nông trường quốc doanh quản lý Trong đó Liên hiệp các xí nghiệp chè - cà phê Lâm Đồng quản lý

3 nhà máy, Bộ Công nghiệp thực phẩm quản lý 3 nhà máy Đến năm 1979, Trung ương thống nhất giao cho tỉnh quản lý các nông trường, nhà máy chế biến và hình thành Xí nghiệp Liên hiệp Công Nông nghiệp chè Lâm Đồng

Toàn bộ diện tích của khu vực quốc doanh và nhà máy do Nhà nước quản

lý nắm vai trò chủ đạo trong sản xuất và chế biến với diện tích quản lý là 2.380

Trang 38

ha Diện tích chè khu vực ngoài quốc doanh quản lý trên 3 ngàn ha Sản phẩm chè chế biến hàng năm từ 3.500 - 4.500 tấn kể cả chế biến công nghiệp và sơ chế Trong suốt thời kỳ này ngành chè Lâm Đồng đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm là 3,3% về diện tích, chiếm 50% trong cơ cấu cây công nghiệp dài ngày của tỉnh

Tốc độ tăng trưởng về diện tích tăng chậm so với cây cà phê do thời kỳ này chủ yếu thực hiện khôi phục lại diện tích vườn chè cũ, diện tích trồng mới rất hạn chế Trong 5 năm 1981- 1985 chỉ trổng mới dược trên 2 ngàn ha, bình quân mỗi năm trồng mới 400 ha, sản lượng chè búp tươi hàng năm là 21.000 đến 23.000 tấn/năm

Sản phẩm chè chế biến và xuất khẩu còn nhỏ bé với sản lượng xuất khẩu giai đoạn này chỉ từ 1.630 đến 2.000 tấn, chủ yếu vào thị trường truyền thống Liên Xô và một số nước Đông Âu

Sự phát triển của ngành sản xuất chè giai đoạn 1987 -1997:

Cùng với thời kỳ đổi mới nền kinh tế đất nước từ Đại hội VI (tháng 12/1986) của Đảng Cộng Sản Việt Nam Sự phát triển của ngành chè Lâm Đổng cũng từng bước chuyển biến tích cực Ngành sản xuất chè Lâm Đồng đã trở thành một ngành sản xuất hàng hoá, từng bước nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu Cùng với chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước, trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến chè đã

có nhiểu thành phần kinh tế tham gia đầu tư bao gồm: các doanh nghiệp Nhà nước, Công ty TNHH trong và ngoài nước, các doanh nghiệp tư nhân, kinh tế trang trại, Thị trường tiêu thụ chè Lâm Đồng cũng có sự thay đổi lớn theo hướng thu hẹp thị trường truyền thống, từng bước tiếp cận với thị trường cácnước Trung Cận Đông, Bắc Âu và kể cả thị trường khó tính như Mỹ, Pháp, Nhật, Đài Loan

Về diện tích, năng suất và sản lượng chè của các năm

{Chi tiết, xem biểu 1)

Trang 39

2.1.1 Về mô hình tổ chức sản xuất:

2.1.1.1 Mô hình sản xuất chè trong các nông trường quốc doanh và các doanh nghiệp Nhà nước:

Diện tích chè trong các nông trường quốc doanh hiện nay có 1.830 ha

chiếm 9% diện tích chè toàn tỉnh, được phân bố tại 6 nông trường quốc doanh ở

Bảo Lộc, Bảo Lâm, Di Linh và Cầu Đất (Đà Lạt) Hầu hết diện tích chè của quốc

doanh đã được khoán ổn định cho các hộ nông trường viên từ nhiều năm qua

Vùng nguyên liệu chè quốc doanh được quản lý theo các mô hình:

Đối với mô hình Nông trường độc lập: người nhận khoán giao nộp sản

phẩm nguyên liệu nghĩa vụ và bán sản phẩm còn lại sau khi hoàn thành nghĩa vụ

cho nông trường (hoặc các tổ thu mua của nông trường) Sau khi thu mua, nông

trường ký hợp đồng cung cấp (bán) nguyên liệu chè cho các nhà máy

- Đối với mô hình nông trường kết hợp với nhà máy thành một đơn vị độc

lập: việc thu nhận sản phẩm nghĩa vụ giao nộp và thu mua sản phẩm của người

nhận khoán sau khi đã làm xong nghĩa vụ đối với nông trường được thực hiện

trực tiếp giữa nhà máy với người nhận khoán Mô hình quản lý và phương thức

thu mua, giao nộp sản phẩm này có nhiều ưu điểm hơn mô hình nông trường độc

lập, do đó thuận lợi cho công tác lập và thực hiện kế hoạch, công tác hạch toán,

tiết kiệm đáng kể các chi phí

Thực hiện chính sách khoán ổn định lâu dài vườn chè cho người lao động,

hiện nay với gần 1.900 ha do công ty chè Lâm Đồng quản lý có 2.800 hộ sản

xuất trực tiếp nhận khoán Bình quân nhận khoán 0,55 ha/hộ; 97% số hộ nhận

khoán dưới 1,5 ha.” (10, 9)

Thực tế thời gian lao động của những hộ nhận khoán trực tiếp đầu tư cho

vườn nhận khoán thường chỉ chiếm 1/3 thời gian lao động trong năm, thu nhập

của gia đình chủ yếu từ kinh tế vườn hộ, do đó phần nào hạn chế sự gắn bó, toàn

tâm, toàn ý đầu tư cho nâng cao năng suất, chất lượng vườn khoán

Tuy nhiên, việc giao khoán, tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp Nhà

Nước cũng gặp một số khó khăn, tồn tại là: (10, 11)

Trang 40

- Một số khâu trong quản lý của công ty, của nông trường và nhà máy còn

có tình trạng buông lỏng dẫn đến một số hộ nông trường viên có tình trạng sang nhượng vườn chè cho nhau và trổng xen cà phê vào vườn chè làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc, bảo vệ thực vật và tính ổn định của vùng chè

2.1.1.2 Mô hình sản xuất trong HTX nông nghiệp: (10, 12)Thực hiện việc củng cố và chuyển đổi HTX theo Nghị quyết số 03 của Tỉnh ủy Lâm Đồng, đến nay toàn tỉnh có trên 1.279 ha chè thuộc sở hữu tập thể

do 11 HTX nông nghiệp quản lý chiếm 6% diện tích chè toàn tỉnh, trong đó thị

xã Bảo Lộc có 8 HTX quản lý 1.222 ha và huyện Di Linh có 3 HTX quản lý hơn

50 ha Hầu hết diện tích vườn cây được các HTX khoán ổn định 50 năm cho hộ

xã viên căn cứ vào chất lượng vườn chè (giống chè, tuổi cây, mật độ và diện tích

để khoán năng suất và sản lượng cho từng hộ xã viên) Tỷ lệ giao khoán cũng được tính bằng giá trị sản phẩm theo từng thời điểm nhất định, với mức giao nộp khoán từ 14-17% tùy theo từng HTX Đồng thời HTX chịu trách nhiệm tín chấp ngân hàng để cho xã viên vay vốn, mua vật tư, phân bón ; HTX quản lý việc thực hiện quy trình sản xuất và HTX là khâu trung gian ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm giữa xã viên và các nhà máy Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức sản xuất HTX cũng gặp không ít khó khăn trong việc quản lý vườn chè và chưa có giải pháp tích cực để củng cố, vẫn còn để xảy ra tình trạng như hiện tượng tự ý sang nhượng khoán vườn cây hay một số hộ tự ý chuyển sang trổng cà phê hoặc sử dụng vào mục đích khác vẫn còn phổ biến xảy ra, ảnh hưởng đến quy mô vùng chè và quy họach của HTX

Ngày đăng: 18/12/2023, 12:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w