Trong đó “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan ”, và "TCTD là doanh nghiệp được thành lập t
Trang 1: VIỆN ngai
ã,M THỐNG
Trang 2HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
/
V
ƯA-VŨ THỊ MAI ANH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP TẠI NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TÊ TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC Trang
MỤC LỤC 1
Trang 1
DANH MỤC CHỮ VIÉT T Ắ T 6
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 9
LÝ LUẬN C ơ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THƯ NHẬP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG M Ạ I 9
1.1 HOẠT ĐỘNG C ơ BẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 9
1.1.1 Khái niệm chung về NHTM 9
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 10
1.1.2.1 Chức năng trung gian tài chính 10
1.1.2.2 Chức năng tạo phương tiện thanh toán 10
ỉ 1.2.3 Chức năng trung gian thanh toán 11
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn 12
1.1.3.2 Hoạt động tín dụng 12
1.1.3.3 Hoạt động đầu tư 12
1.1.3.4 Các hoạt động khác 13
1.2 QUAN NIỆM VỀ THU NHẬP CỦA NHTM 14
1.2.1 Thu của NHTM 14
1.2.1.1 Thu từ hoạt động cho vay 14
1.2.1.2 Thu từ hoạt động đầu tư 15
1.2.1.3 Thu từ hoạt động trung gian 15
1.2.1.4 Thu từ các dịch vụ khác 16
1.2.2 Chi của NHTM 16
Trang 51.2.2.1 Chi cho hoạt động kinh doanh 17
1.2.2.2 Chi cho hoạt động quản lý 18
1.2.3 Lợi nhuận của NHTM 19
1.2.3.1 Lợi nhuận tuyệt đỗi 20
1.2.3.2 Lợi nhuận tương đổi 20
1.2.3.3 Vai trò lợi nhuận của NHTM 21
1.2.4 Cơ chế tính Thu nhập của một chi nhánh NHTM 23
1.2.4.1 Khái niệm về thu nhập của một chi nhánh NHTM 23
1.2.4.2 Sự hình thành Thu nhập của NHTMhạch toán phụ thuộc 24
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI THU NHẬP TẠI CHI NHÁNH NHTM 24
1.3.1 Lãi suất là nhân tố quyết định quy mô lợi nhuận của NHTM 25
1.3.2 Chất lượng tín dụng là nhân tố quyết định thu nhập của NHTM 26
1.3.3 Sản phẩm dịch vụ là nhân tố cạnh tranh có tính chiến lược của NHTM hiện đại 27
1.3.4 Ảnh hưởng của chi phí quản lý đến thu nhập của NHTM 29
1.3.5 Ảnh hưởng của công nghệ và nguồn nhân lực của NHTM 29
1.3.6 Ảnh hưởng của môi trường khách quan 30
CHƯƠNG 2 33
THỰC TRẠNG THƯ NHẬP TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN NAM HÀ N Ộ I 33
2.1 KHÁI QUÁT VÈ NHNo NAM HÀ NỘI 33
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của NHNo Nam Hà Nội 33
2.1.2 Các hoạt động cơ bản củaNHNo Nam Hà Nội 35
2.1.2.1 Hoạt động huy động von 35
2.1.2.2 Hoạt động cho vay 38
2.1.2.3 Các hoạt động khác 40
2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THU NHẬP TẠI NIINo NAM HÀ NỘI.41 2.1.1 Cơ chế thu chi tài chính của hệ thống NHNo V N 41
Trang 62.2.2 Đánh giá kết quả Thu nhập tài chính của NHNo Nam Hà Nội giai đoạn 2005 - 2007 44
2.2.2.1 Tốc độ tăng trưởng Thu nhập tài chính của NHNo Nam Hà Nội nhanh mạnh và vững chắc 44 2.2.2.2 Phân tích cơ cấu và tỷ trọng trong tổng nguồn thu tại NHNo Nam
Hà Nội 46 2.2.2.3 Phân tích cơ cẩu và tỷ trọng trong tổng nguồn chi tại NHNo Nam
Hà Nội 49
Hà Nội 52
2.2.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng từ bên trong Chi nhánh 53
TÀI CHÍNH CỦA CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI 572.3.1 Những hạn chế cơ bản trong cơ cấu thu chi của NHNo Nam HàNội hiện nay 57
2.3.1.1 Nguồn thu còn mang tính rủi ro, thiếu nhiều nhân tố bền vững trong tương lai 57 2.3.1.2 Chi trả lãi huy động vốn bình quân tại NHNo Nam Hà Nội chiếm tỷ trọng cao và tăng vượt mức tăng lãi suất cho vay và phí điều vốn 58
2.3.1.3 Chi phí quản lý cỏn bất hợp lý và kém hiệu quả 59
Nam Hà Nội 59CHƯƠNG 3 62GIẢI PHÁP NÂNG CAO THƯ NHẬP TẠI NGÂN HÀNG NÔNGNGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN NAM HÀ N Ộ I 62
NHỮNG NĂM TIẾP THEO 62
Trang 73.2 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP TẠI CHI NHÁNH NAM HÀ N Ộ I 643.2.1 Nhóm giải pháp tăng thu nhập từ hoạt động điều vốn 64
3.2.1.1 Mở rộng màng lưới hoạt động kinh doanh nơi địa bàn có tiềm năng tiền gửi dân cư và dịch vụ chuyến tiền thanh toán 64 3.2.1.2 Đa dạng hoá các hình thức tiền gửi tiết kiệm, thỏa mãn yêu cầu của tìmg loại khách hàng 65 3.2.1.3 Thực hiện chính sách khách hàng thông qua công cụ lãi suất và phỉ dịch vụ 65
3.2.2 Nhóm giải pháp tăng thu nhập từ hoạt động tín dụng 66
3.2.2.1 Tăng tỷ trọng cho vay ngắn hạn, tập trung cho vay Xuất Nhập
3.2.2.2 Giảm tỷ trọng cho vay trung, dài hạn tương ứng với nguồn huy động trung và dài hạn 68 3.2.2.3 Đa dạng hoá các hình thức đầu tư 70 3.2.2.4 Nâng cao chất lượng tín dụng nhằm phát triển bền vững và hạn chế rủi ro 71
3.2.2.5 Mở rộng và chọn lọc các đổi tượng vay vốn 74 3.2.2.6 Đa dạng hóa các nghiệp vụ cho vay 77
3.2.2.7 Thực hiện chỉnh sách khách hàng thông qua công cụ lãi suất và phí dịch vụ 78
3.2.3 Nhóm giải pháp tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ và ngân quỹ 79
3.2.3.1 Phát huy lợi thế giao dịch một cửa, đẩy mạnh thu dịch vụ ngân quvl9 3.2.3.2 Phối họp với hoạt động tín dụng và thanh toán quốc tế nhằm mở rộng các dịch vụ 81
3.2.3.3 Hiện đại hóa công nghệ thanh toán, đẩy mạnh hoạt động thanh toán trong và ngoài nước 82 3.2.3.4 Phát trỉến nghiệp vụ thẻ đế tập trung nguồn von, phát trỉến tín dụng tiêu dùng và thah toán không dùng tiền m ặt 84
Trang 83.2.3.5 Cung cấp dịch vụ ngân hàng tiện ích 85
3.2.4 Tăng cường các giải pháp quản lý chi phí theo hướng họp lý và hiệu quả 86
3.2.4.1 Đay mạnh huy động ngoại tệ và khai thác tôi đa nguồn tiền gửi thanh toán đế giảm chi phỉ huy động vốn 86
3.2.4.2 Quản trị các chi phí quản lý một cách hợp lý, tránh lãng phí nhưng phải đảm bảo yêu cầu hoạt động kinh doanh 87
3.2.5 Đây mạnh hoạt động Marketing ngân hàng và đôi mới chính sách khách hàng 88
3.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ 90
3.2.7 Kiện toàn bộ máy tổ chức, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 90
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 94
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM K H ẢO 99
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong cơ chế thị trường lợi nhuận là mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất của doanh nghiệp trong đó có các Ngân hàng thương mại (NHTM) Hệ thống NHTM hoạt động có hiệu quả đáp ứng đủ cung và cầu vốn cho nền kinh tế đảm bảo yêu cầu lưu thông tiền tệ là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với các mục tiêu kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững Hệ thống NHTM Việt nam đang ngày phải tự hoàn thiện, từng bước hoà nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực Do vậy, yêu cầu cấp bách của thực tiễn đang đặt ra cho các NHTM phải có đủ các điều kiện và nguồn lực cạnh tranh trong đó năng lực
về tài chính là nhân tố quyết định Thu nhập của các chi nhánh hạch toán phụ thuộc một NHTM là cơ sở hạch toán tổng lợi nhuận của NHTM đó và là mục tiêu, là thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh của đơn vị phụ thuộc Trong bối cảnh đó việc nghiên cứu, tìm tòi các giải pháp nâng cao thu nhập
và lợi nhuận của các NHTM đang là trung tâm chú ý của các nhà khoa học
và quản lý kinh tế
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam Hà Nội (NHNo Nam Hà Nội) là Chi nhánh phụ thuộc Loại I của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (NHNoVN) có trụ sở tại Phường Phương Liệt Quận Thanh Xuân Hà Nội, được thành lập từ tháng 5/2001 Sau gần 6 năm
đi vào hoạt động NHNo Nam Hà Nội đã nhanh chóng vươn lên Top 10 chi nhánh mạnh nhất NHNoVN về nguồn vốn, dư nợ Tuy nhiên, hệ thống các chỉ tiêu kinh doanh, đặc biệt là các chỉ tiêu về tài chính tăng trưởng còn thiếu tính ổn định và bền vững, nguồn thu chính là từ hoạt động tín dụng và phí điều vốn với Trụ Sở Chính nên thường xuyên chịu áp lực rủi ro về hoạt động kinh doanh và lãi suất tiền tệ Trong bối cảnh cạnh tranh của cơ chế thị trường, để có thể tồn tại và phát triển NHNo Nam Hà Nội ngày càng phải quan tâm hơn nữa tới các giải pháp nhằm góp phần tăng nhanh Thu nhập và
đây cũng chính là cơ sở xuất phát để lựa chọn đề tài "Giải pháp năng cao
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT CHỮ VIẾT TẮT NÔI DUNG •
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT BẢNG BIẺU NỘI DUNG
thương mại
hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 11thu nhập tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về Thu nhập của Chi nhánh NHTM hạch toán phụ thuộc và các nhân tố ảnh huởng tới thu nhập của NHTM trong cơ chế thị truờng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn là thu nhập của NHNo Nam Hà Nội trong giai đoạn tù năm 2005 đến năm 2007
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phuơng pháp nhu: Phép biện chứng, phuơng pháp trừu tuợng hoá, phuơng pháp tổng họp và phân tích, phuơng pháp so sánh kết họp với phuơng pháp tiếp cận và phân tích hệ thống, phuơng pháp thống kê, phuơng pháp thay thể liên hoàn
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn đuợc trình bày trong 100 Trang với 7 Bảng biểu, 3 phụ lục và đuợc kết cấu bởi 3 chuông
Chuông 1 Lý luận cơ bản về NHTM và Thu nhập của NHTM
Chuông 2 Thực trạng Thu nhập tại NHNo Nam Hà Nội
Chuông 3 Giải pháp nâng cao thu nhập tại Chi nhánh Ngăn hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam Hà Nội
Trang 12CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN C ơ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THU NHẬP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 HOẠT ĐỘNG C ơ BẢN CỦA NGÂN HÀNG THUƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm chung về NHTM
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính quan trọng đối với nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, các tổ chức tài chính như: Cồng ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương
hỗ, công ty bảo hiểm, đều đang cố gắng thực hiện việc cung cấp các dịch
vụ ngân hàng và ngược lại Ngân hàng cũng đang thực hiện đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ thông qua việc cung ứng các dịch vụ mới như: Môi giới bất động sản, mồi giới chứng khoán, hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào các quỹ tương hỗ Theo điều 20 của Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) định nghĩa:
“Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên lĩnh tài chính - tiên tệ, với các nội dung chính là huy động vốn, cho vay vốn và cung ứng các dịch vụ thanh toán và dịch vụ khác” Theo đó Ngân
hàng thương mại (NHTM) là một loại hình ngân hàng, tổ chức tín dụng
Trong đó “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan ”, và
"TCTD là doanh nghiệp được thành lập theo qui định của Luật này và các qui định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán" Đồng thời Luật các tổ chức tín dụng cũng
phân biệt các ngân hàng với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng Trong đó "
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán ”
Trang 13Theo nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2000 của chính phủ về tổ chức hoạt động của NHTM thì NHTM được thực hiện toàn
bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì một mục tiêu quan trọng là lợi nhuận
Với nghị định đó thì hoạt động của các NHTM được mở rộng Nhằm nâng cao hiệu qủa hoạt động, các NHTM bỏ dần các cấp trung gian, tách biệt dần các hoạt động chính sách và hoạt động thưcmg mại, tăng tính độc lập tương đối cho các Chi nhánh, mạnh dạn đổi mới công nghệ phù họp với yêu cầu quản lý kinh doanh, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, bước đầu tạo lập các công ty con, triển khai các nghiệp vụ mới
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
Trong khi nhiều người tin rằng ngân hàng chỉ đóng một vai trò nhỏ trong nền kinh tế như nhận tiền gửi và cho vay thì trên thực tế ngân hàng hiện đã thực hiện nhiều vai trò và chức năng mới để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của xã hội Các ngân hàng ngày nay có những chức năng cơ bản sau
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ trở thành những người cần bổ sung vốn, và các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá và dịch vụ do vậy họ có tiền để tiết kiệm Do đó ngân hàng là một tổ chức trung gian chuyển lượng tiền từ nhóm thặng dư sang cho nhóm thâm hụt
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu Theo quan điểm
Trang 14hiện đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận là tiền giấy trong lưu thông và
số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn của khách hàng tại các ngân hàng
Khi ngân hàng cho vay số dư trên tài khoản thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng hoá, dịch vụ Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ
sở cho vay Toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra một khối lượng tiền gửi (tạo phuơng tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các Quốc gia Thay mặt khách hàng ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ Để việc thanh toán qua ngân hàng nhanh chóng thuận tiện và tiết kiệm chi phí ngân hàng đưa ra nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, thẻ, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, cung cấp mạng lưới thanh toán tiện tử Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng Trung ương hoặc các Trung tâm thanh toán Công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng được mở rộng, nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới
1.1.3 Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Thương Mại
Nền kinh tế càng phát triển, nhu cầu sử dụng các hoạt động và tiện ích của ngân hàng càng đa dạng Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nước, nội dung các nghiệp vụ kinh doanh có thể có sự khác nhau về phạm vi và công nghệ, nhưng vẫn có một điểm chung là: Các ngân hàng đều thực hiện
Trang 15hoạt động về nhận tiền gửi, hoạt động tài trợ từ số tiền gửi đã nhận được và thực hiện các uỷ thác cho khách hàng.
Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản và quan trọng của bất kể một loại hình ngân hàng nào, nó đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM, vốn của NHTM được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện của nền kinh tế xã hội, pháp luật của Nhà Nước và khả năng của mỗi ngân hàng Tuy nhiên nghiệp vụ huy động vốn của NHTM được thực hiện chủ yếu dưới 2 hình thức đó là huy động vốn chủ sở hữu và huy động tiền gửi
Hoạt động tài trợ của các NHTM bao gồm hai nhóm chính: Cấp tín dụng và đầu tư các loại Đây là những hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng Thực hiện hoạt động này, ngân hàng thương mại góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế Tuy nhiên, mục tiêu chính của hoạt động tài trợ là nhằm tìm kiếm thu nhập cho ngân hàng Các ngân hàng thực hiện hoạt động tài trợ theo nhiều phương thức khác nhau và cung cấp tiền vốn cho nhiều đối tượng khác nhau
Hoạt động tài trợ của ngân hàng có thể mang lại thu nhập rất cao, nhưng cũng hàm chứa những nguy cơ rủi ro rất lớn, gây tổn thất cho ngân hàng Do đó, các ngân hàng luôn có sự cân nhắc kỹ lưỡng giữa thu nhập và tổn thất truớc khi đưa ra quyết định trong hoạt động tài trợ của mình
Ngày nay, bên cạnh hoạt động truyền thống của ngân hàng thì các NHTM còn mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực đầu tư khác đó là góp vốn liên doanh với các công ty khác hoạt động trong lĩnh vực tài chính hoặc các lĩnh vực khác; thành lập hoặc góp vốn vào các quỹ đầu tư; các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán; Việc đa dạng hóa các lĩnh vực đầu tư nhằm
Trang 16đa dạng hóa lợi nhuận và phân tán rủi ro, tránh phụ thuộc vào các hoạt động chính như huy động vốn và cho vay.
Ngoài những hoạt động chính như nhận tiền gửi, cho vay, đầu tư, để tạo tiền đề cho sự phát triển của chính những hoạt động đó, ngân hàng còn cung cấp hàng loạt các dịch vụ khác Những hoạt động dịch vụ quan trọng trong đó là thực hiện dịch vụ thanh toán, uỷ thác đầu tư, tư vấn đầu tư, bảo quản chứng từ và vật có giá; hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh khác như: kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc Việc thực hiện các hoạt động này, một mặt hỗ trợ phát triển các hoạt động chính của ngân hàng Mặt khác, qua các hoạt động đó ngân hàng khuyếch trương, thu hút thêm khách hàng vay và gửi tiền Ngày nay, đa dạng hoá hoạt động để phân tán rủi ro và để tạo thêm thu nhập đẫ trở thành một xu hướng phổ biến trong ngành công nghiệp ngân hàng
Có thể hình dung toàn bộ danh mục hoạt động thông thường của các ngân hàng thương mại theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: hoạt động kinh doanh của NHTM
Trang 171.2 QUAN NIỆM VÈ THU NHẬP CỦA NHTM
Đối với bất kỳ một đon vị kinh doanh nào thì lợi nhuận là mục tiêu quan trọng nhất NHTM cũng là một đơn vị kinh doanh như các doanh nghiệp khác nhung có đặc trung cơ bản là kinh doanh tiền tệ và mục tiêu cuối cùng cũng chính là lợi nhuận của kỳ kinh doanh là bao nhiêu Như vậy, Thu nhập phải được hiểu là chênh lệch thu chi của NHTM Thu nhập âm tức
là thu không đủ chi ngân hàng bị lỗ và ngược lại
1.2.1 Thu của NHTM
Thu nhập của NHTM bao gồm các khoản thu từ các lĩnh vực kinh doanh ngân hàng và các nghiệp vụ kinh doanh khác của NHTM, bao gồm từ các hoạt động như: Cho vay; đầu tư; hoạt động trung gian và thu nhập từ các hoạt động khác
Là số tiền lãi phải thu đối với các khoản cho vay trong hạn phát sinh trong kỳ không phân biệt đã thu được hay chưa bao gồm đối với những khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
Thông thường đối với hầu hết các NHTM thì hoạt động cho vay là nguồn tạo ra thu nhập lớn nhất chiếm khoảng trên 80% tổng thu nhập đối với NHTM Việt Nam hiện nay và trên 90% tổng thu nhập đối với NHNo Việt Nam, đây là hoạt động quan trọng nhất đối với các NHTM, gắn liền với việc tạo ra thu nhập lớn nhất cho ngân hàng thì hoạt động này cũng đem lại nhiều rủi ro nhất cho ngân hàng Do đó các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến thu nhập từ hoạt động cho vay cũng gây ra những biến động lớn đối với thu nhập của NHTM Do vậy, tất cả các NHTM Việt Nam hiện nay đều xây dựng một chiến lược kinh doanh theo hướng giảm tỷ trọng thu từ hoạt động tín dụng trong cơ cấu thu nhập
Trang 181.2.1.2 Thu từ hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư của NHTM bao gồm những hoạt động như kinh doanh chứng khoán, đầu tư vào trái phiếu chính phủ, cho thuê tài chính và kinh doanh bảo hiểm tất cả các hoạt động đầu tư trên của NHTM cũng đều với mục đích là tạo ra thu nhập Nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì
xu hướng thu nhập từ hoạt động đầu tư ngày càng cao do ngày càng có nhiều lĩnh vực mà ngân hàng có thể đầu tư do sự đòi hỏi của nguồn vốn lớn mà các
cá nhân không đủ khả năng tài chính để thực hiện hoặc những hoạt động đầu
tư đó có gắn liền với các hoạt động chính của ngân hàng, hơn thế nữa đa dạng hoá các hoạt động đầu tư là việc mà các NHTM nên làm vì nó sẽ làm giảm rủi ro trong hoạt động đầu tư Thu nhập từ hoạt động đầu tư đó chính là các khoản thu thu được từ các hoạt động đó
Hoạt động trung gian của NHTM cũng là một nguồn tạo ra thu nhập cho NHTM thông qua các dịch vụ như chuyển tiền, thu hộ, chi hộ, bảo quản Thu nhập của hoạt động này chính là phí mà khách hàng phải trả cho mỗi món chuyển tiền hay mỗi một dịch vụ mà ngân hàng cung cấp Đối với các NHTM thì thu nhập tạo ra từ các hoạt động trung gian trên thường chiếm một tỷ trọng khiêm tôn trong tông thu nhập của NHTM Hiện nay với tốc độ phát triên của nên kinh tế nước ta thì hoạt động thanh toán thường tạo ra thu nhập nhiều nhất trong tổng thu nhập từ hoạt động cho vay Thu nhập từ hoạt động trung gian của NHTM cũng là một trong những chỉ tiêu phản ánh tốc
độ phát triển của nền kinh tế Một nền kinh tế hiện đại và phát triển thì tất cả các hoạt động kinh doanh, mua bán hâu hết đều được thực hiện thông qua chuyên khoản bởi các NHTM Việc thực hiện thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng có những ưu điểm thuận lợi như nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm chi phí nhân công trong việc kiểm đếm và vận chuyển Sử dụng tiền mặt trong thanh toán lúc đó không còn phù họp nữa Đối với nước ta hiện nay thì thanh toán bằng tiền mặt vẫn chiếm một tỷ trọng lớn (80%) trong tổng giá trị
Trang 19thanh toán so với các nước phát triển trên thế giới thì hoạt động thanh toán bằng tiền mặt rất hạn chế mà chủ yếu được thanh toán bằng chuyển khoản thông qua hệ thống séc, thẻ, Do đó hoạt động thanh toán còn là một nghịêp vụ tạo ra thu nhập lớn cho ngân hàng trong tương lai khi nền kinh tế nước nhà phát triển, người dân có nhận thức rõ hơn về vai trò của việc thanh toán không dùng tiền mặt và những hạn chế của việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán.
tế và đuợc hưởng một khoản tiền chênh lệch đó là thu nhập từ hoạt động chiết khấu chứng từ
Đối với nước ta hiện nay thì thu nhập từ các dịch vụ khác của các NHTM chưa thực sự chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nhập nguyên nhân do nghiệp vụ bảo lãnh tuy có phát triển trong những năm ngần đây nhưng vẫn rất hạn chế, nghiệp vụ chiết khấu chứng từ có giá cũng như dịch vụ uỷ thác chưa thực sự phổ biến, nghiệp vụ thanh toán thẻ tuy cũng phát triển với tốc độ nhanh nhưng vẫn chưa thực sự tạo ra được nguồn thu cho ngân hàng, các hoạt động thanh toán vẫn chủ yếu bằng hình thức tiền mặt
1.2.2 Chi của NHTM
Chi của NHTM là toàn bộ các chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm có chi phí cho hoạt động kinh doanh và chi phí quản lý
Trang 201.2.2.1 Chi cho hoạt động kinh doanh
Chi phí cho hoạt động kinh doanh là toàn bộ các chi phí phát sinh tới hoạt động kinh doanh của NHTM như: chi cho hoạt động huy động vốn và chi phí khác liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh
Là khoản phí mà ngân hàng phải trả trên những nguồn vốn mà ngân hàng huy động được như trả lãi tiền gửi, trả lãi tiền vay
Trả lãi tiên gửi là sô tiên mà ngân hàng phải trả cho người gửi tiền, số tiền lãi mà ngân hàng phải trả được xác định bởi lãi suất đã ấn định cho kỳ gửi tiên đó và sô tiền mà Ngân hàng đã nhận được của người gửi
Trả lãi tiên vay là số tiền mà ngân hàng phải trả trên món tiền mà ngân hàng đã đi vay cho kỳ hạn vay với lãi suất đã thoả thuận Thông thường đối với các NHTM thì khoản đi vay này chủ yếu là vay của các TCTD trong và ngoài nước, các khoản vay này thường có các thời hạn dài và ổn định nhưng
có lãi suất tương đối cao, đối với một số các NHTM mới thành lập thì nguồn vốn đi vay này có vai trò vô cùng quan trọng là nguồn vốn hoạt động của ngân hàng trong trường họp vón tự có nhỏ
Đối với nguồn vốn huy động thì nguồn huy động với thời hạn dài có lãi suất phải trả cao hơn so với nguồn huy động có thời hạn ngắn và thường thì lãi suất tiền gửi thấp hơn lãi suất tiền vay Do đó các NHTM thường đi vay khi thực sự cần thiết, còn nghiệp vụ huy động vốn thông qua tiền gửi dân cư và tiền gửi của các tổ chức kinh tế được các NHTM quan tâm, tìm kiếm và cạnh tranh nhau thông qua việc ấn định lãi suất tiền gửi với các kỳ hạn khác nhau và đa dạng hoá các hình thức gửi tiền để mỗi người dân có thể chọn cho mình một hình thức gửi tiền phù họp nhất và tối đa hoá về khoản lãi được hưởng từ ngân hàng cho khoản tiền gửi đó
Trang 21Đây là các khoản chi mang tính chất bắt buộc của các NHTM Hàng năm căn cứ trên mức dư nợ phải thu khó đòi các NHTM tiền hành trích lập chi dự phòng nợ phải thu khó đòi Bên cạnh đó các NHTM căn cứ trên mức tiền gửi của dân cư tiến hành mua bảo hiểm tiền gửi Đây là khoản mục phí nhằm giảm bớt những tổn thất có thể xẩy ra cho các NHTM trong trường họp rủi ro xay ra như mất khả năng thanh toán hay không có khả năng thu hồi nợ.
Gồm các khoản chi phí trực tiếp liên quan đến hoạt động kinh doanh như: Chi phí hoa hồng cho các tổ chức cá nhân, chi phí cho các họp đồng đòi
nợ, chi phí kinh doanh ngoại tệ, chi phí cho các hoạt động đầu tư khác
Trong cơ cấu chi phí của một NHTM thì chi phí cho hoạt động huy động vốn chiếm một tỷ trọng cao trong tổng chi phí Do đó để giảm thiểu chi phí thì các NHTM thường chú trọng nhiều hơn đến chi phí này, tuy nhiên trong môi trường cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM thì việc giảm thiểu những chi phí liên quan đến hoạt động huy động vốn là rất khó có thể thực hiện bởi chi phí này liên quan trực tiếp đến lợi ích của người gửi cũng như người cho vay
Có thế nói, cách làm tăng thu nhập nhanh nhất cho NHTM không phải
là tăng lãi suất tiền vay hoặc giảm lãi suất huy động ngắn hạn mà chính là giảm chi phí quản lý Tuy nhiên nếu chi phí này không đủ hoặc không họp lý thì không thể đảm bảo tính cạnh tranh trong cơ chế thị trường
Ngoài các khoản chi phí cho hoạt động huy động vốn và hoạt động kinh doanh, chi phí dự phòng và bảo hiểm tiền gửi ra thì tất cả các chi phí còn lại là chi phí cho hoạt động quản lý Đây là khoản mục chi phí gián tiếp liên quan đến hoạt động kinh doanh của các NHTM bao gồm các khoản mục phí chính như sau
Trang 22a Chi cho nhân viên
Bao gồm tiền lương, bảo hiểm xã hội và các phúc lợi xã hội khác cho nhân viên Đây là khoản mục phí thường chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng chi cho hoạt động quản lý Chi phí này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của người lao động, nó khuyến khích người lao động hăng say làm việc hơn và làm việc có hiệu quả hơn Chi phí cho nhân viên ở các NHTM thường tăng qua các năm do ảnh hưởng bởi các nhân tố cấu thành nên tiền lương (giá cả, trình độ lao động .), chính sách về tiền lương của Nhà Nước và số lượng nhân viên ngày càng tăng
Đây là khoản mục phí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí cho hoạt động quản lý Khối lượng tài sản của các NHTM rất lớn và không ngừng được bổ sung qua các năm do yêu cầu đổi mới về tài sản cũng như công cụ lao động cho phù họp với sự phát triển chung của nền kinh tế cũng như sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại Ngày nay các NHTM thường trích khấu hao với tỷ lệ lớn nhằm giảm bớt lợi nhuận hàng năm và tạo lập các quỹ khấu hao để bù đắp, mua sắm các tài sản khác Việc các Chi nhánh NHTM mở rộng màng lưới hoạt động cũng là nguyên nhân làm cho các khoản mục chi phí khấu hao tài sản và nhà cửa tăng lên
Bao gồm chi về hoạt động dịch vụ và thanh toán, chi hoạt động kinh doanh ngoại tệ, chi thuế phí, lệ phí; các khoản chi về giấy tờ in vật liệu văn phòng, xăng dầu
1.2.3 Lợi nhuận của NHTM
Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng họp phản ánh kết quả kinh doanh của một NHTM, là mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp, phản ánh tình hình tài
Trang 23chính cũng như hiệu quả kinh doanh, đặc biệt trong cơ chế thị trường có sự cạnh tranh giữa các NHTM với nhau thì lợi nhuận là một trong những tiêu chí quan trọng bậc nhất quyết định sự tồn tại cũng như vị trí của các NHTM.Theo Cacmac thì lợi nhuận ngân hàng là chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửi trừ đi khoản chi phí cần thiết về nghiệp vụ ngân hàng cộng với các khoản thu nhập khác về kinh doanh tiền tệ.
Có thể phân chia lợi nhuận của một NHTM thành 2 loại đó là lợi nhuận tuyệt đối và lợi nhuận tương đối
Lợi nhuận tuyệt đối của NHTM được xác định là khoản chênh lệch giưa thu nhạp va chi phí của NHTM trong một thời kỳ nhât định (thường là
1 năm)
Lợi nhuận = Thu nhập - Chi phí
Chi phí trên bao gôm cả thuê đánh trên phần thu nhập được hưởng hay lợi nhuận của NHTM được hiểu là lợi nhuận ròng
Lợi nhuận tương đôi của các NHTM được xác định bằng phương pháp tương đối Lợi nhuận tuyệt đối thể hiện khối lượng hay giá trị lợi nhuận tạo ra trong một kỳ kinh doanh (thường một năm tài chính) thì lợi nhuận tương đối lại the hiẹn kha năng tạo ra lọn nhuận của NHTM băng các so sánh lợi nhuận tạo ra VƠI các nhân tô tham gia vào hoạt động kinh doanh như: tài sản, vốn chủ sở hữu thu nhập
• Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu - ROE
ROE là chỉ số phản ánh chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng một đồng vốn tự có ROE cho biết số lợi nhuận ròng do các cổ đông có thể nhận từ việc đâu tư vốn của mình ROE càng cao chứng tỏ khả năng sinh lời trên 1 đồng vốn tự có càng lớn và hứa hẹn một tỷ lệ cổ tức cao trên mỗi cổ phần
Trang 24• Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản - ROA.
Chỉ tiêu ROA cho biết khả năng của Ngân hàng trong việc tạo ra lợi nhuận từ tài sản của ngân hàng
ROA cao chứng tỏ ngân hàng đã có cơ cấu tài sản hợp lý theo huớng làm giảm tỷ trọng tài sản không sinh lời đồng thời nó phản ánh hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
• Chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng thu nhập
Là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động quản lý thu nhập của ngân hàng, chỉ tiêu này cho biết trong một đồng thu nhập có bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ số này càng cao chứng tỏ Ngân hàng đã có những biện pháp tích cực trong việc giảm chi phí và tăng lợi nhuận
• Chỉ tiêu thu nhập trên tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng chứng
tỏ ngân hàng đã phân bổ và sử dụng tài sản một cách có hiệu quả
Các chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận tương đối của Ngân hàng được sử dụng để phân tích cơ cấu thu nhập chi phí và lợi nhuận để từ đó đưa ra được những chính sách cũng như các chiến lược kinh doanh của ngân hàng nhằm mục tiêu cuối cùng là tăng lợi nhuận tuyệt đối đồng thời tăng các chỉ tiêu lợi nhuận tương đối
Trong nền kinh tế sản xuất hàng ho á, lợi nhuận bao giờ cũng là thước
đo, là mục tiêu và là động lực trực tiếp của mọi hoạt động Dưới các chế độ khác nhau thì chỉ khác nhau về cách tạo ra lợi nhuận, mục đích sử dụng lợi nhuận và phương thức phân phối lợi nhuận
Dưới chủ nghĩa tư bản việc theo đuổi lợi nhuận tối đa là mục đích cuối cùng, là động cơ chủ yếu quy định bản chất và chi phối sự vận động của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Trong thời kỳ tự do cạnh tranh các nhà kinh
Trang 25doanh đã tự thoả mãn với lợi nhuận bình quân Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền các tổ chức độc quyền định ra giá cả độc quyền nhằm thu được lợi nhuận độc quyền.
Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì lợi nhuận nói chung và lợi nhuận của các NHTM nói riêng có một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội bởi vì:
Hoạt động ngân hàng là một hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Lợi nhuận của ngân hàng là mục tiêu giúp ban lãnh đạo định hướng kinh doanh, xác định cơ cấu đầu tư, cho vay và huy động vốn, lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu quả Lợi nhuận của ngân hàng còn là thước đo phản ánh tổng họp kết quả kinh doanh cả về số lượng và chất lượng Do đó, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh bao giờ người ta cũng sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận để so sánh mức độ lợi nhuận đạt được với các nhân
tố tham gia của quá trình kinh doanh như: vốn chủ sở hữu, tài sản, lao động, để có thể biết được hiệu quả sử dụng các nhân tố đó Trong phân tích hoạt động ngân hàng muốn đánh giá đúng đắn thực chất kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng người ta không thể căn cứ vào các kết quả trung gian mà phải căn cứ vào mục tiêu và kết quả cuối cùng của quá trình kinh doanh đó chính là chỉ tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận của ngân hàng còn là động lực kích thích các NHTM đẩy mạnh kinh doanh, sử dụng họp lý các nguồn vốn, lao động vì lợi nhuận còn chứa đựng các lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội Lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp có tác dụng quyết định kích thích người lao động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nghiệp vụ, tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí từ đó tăng lợi nhuận Lợi ích tập thể được thực hiện thông qua việc trích lập các quỹ như quỹ phúc lợi, quỹ đầu tư phát triển, lợi ích tập thể gắn liền với kết quả của tập thể lao động, trong đó có sự đóng góp của mỗi cá nhân người lao động, lợi ích tập thể được sử dụng để thoả mãn nhu cầu chung của mọi cá nhân trong tập thể do đó nó là động lực để thúc đẩy
Trang 26tập thể lao động quan tâm tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chung, phân đâu hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, nâng cao lợi nhuận Lợi ích tập thể là sợi dây gắn bó giữa những cá nhân người lao động trong một tập thê Lợi nhuận mà doanh nghiệp có được là kết quả lao động của các cá nhãn trong tập thể thông qua việc sử dụng các nguồn lực xã hội Do đó lợi ích xã hội là một bộ phận gắn liền với lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể Lợi ích xã hội được dùng đê thoả mãn các nhu cầu chung của xã hội và được thực hiện thông qua các đóng góp của doanh nghiệp như thuế Ba loại lợi ích trên có quan hệ mật thiêt với nhau, việc phân chia các loại lợi ích trên chỉ là tương đôi bởi vì ngay trong mối quan hệ ba loại lợi ích trên vừa chứa đựng những lợi ích thống nhất với nhau nhưng đồng thời lại chứa đựng những mâu thuân Trong tổng thể các lợi ích đó nếu tăng lợi ích này sẽ làm giảm lợi ích kia và ngược lại Do đó việc kêt hợp hài hoà các lợi ích trên có ý nghĩa hêt sức quan trọng đôi với việc phát huy vai trò của lợi nhuận, làm cho người lao động găn bó với doanh nghiệp, quan tâm đến sự phát triển của doanh nghiệp ngược lại sẽ làm suy yếu vai trò đòn bẩy của lợi nhuận, kìm hãm sự phát triên của xã hội nói chung và của ngành ngân hàng nói riêng.
1.2.4 Cơ chế tính Thu nhập của một chi nhánh NHTM
Đối với các chi nhánh của NHTM không dùng chỉ tiêu lợi nhuận vì chi nhánh là đơn vị hạch toán phụ thuộc, chi nhánh chưa tính đủ các khoản chi (như Thuê— ) Do đó, thay cho chỉ tiêu lợi nhuận chi nhánh dùng chỉ tiêu thu nhập
Thu nhập của Chi nhánh NHTM được hiểu là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của một NHTM Thu nhập là một khái niệm thường được sử dụng phô biến đối với các NHTM phản ánh hiệu quả đạt được trong
kỳ kinh doanh ở một chi nhánh cụ thể
Trang 271.2.4.2 Sự hình thành Thu nhập của NHTMhạch toán phụ thuộc
Thu nhập của một chi nhánh NHTM được hình thành trên cơ sở thu nhập trừ chi phí Thu nhập bao gồm các chỉ tiêu như thu nội bảng (phần hạch toán trên bảng cân đôi của chi nhánh) và phần thu ngoại bảng (thu nhập từ hoạt động điều chuyển vốn nội ngành); Chi phí bao gồm các khoản chi phí nội bảng (chi phí hạch toán trên cân đối) và các khoản chi ngoại bảng (chi phí cho hoạt động sử dụng vốn nội ngành)
Do cơ cấu tổ chức của mồi hệ thống NHTM bao gồm nhiều chi nhánh thành viên hoạt động trên khắp các Tỉnh thành trong cả nước với các chức năng và nhiệm vụ được giao và thực hiện các mục tiêu kinh tế chính trị xã hội khác nhau nhưng cùng có một mục tiêu là tạo ra lợi nhuận mà có các cơ chế quản lý về tài chính khác nhau phù họp với điều kiện của từng hệ thống Nhưng hầu hết các NHTM đều xây dựng cơ chế hạch toán phụ thuộc tại các chi nhánh, đơn vị thành viên Tất cả thu nhập và chi phí hoạt động của chi nhánh thực tể phát sinh được hạch toán trên cân đối của từng chi nhánh sau
đó Trụ sở chính sẽ tiên hành thanh quyết toán với các đơn vị khác có liên quan như tính toán các khoản thuế thu nhập phải nộp, trích lập các quỹ Trụ Sở Chính sẽ ban hành các quy chế cụ thể về khoản lợi nhuận mà chi nhánh được hưởng trên cơ sở chênh lệch thu chi thực tế tại chi nhánh tạo ra
Do đó, với mỗi chi nhánh thì thu nhập mà chi nhánh tạo ra quyết định lợi nhuận mà chi nhánh được hưởng, thu nhập tạo ra càng lớn thì lợi nhuận được hưởng càng cao, đây là một trong những yếu tố kích thích các chi nhánh nồ lực trong việc tạo ra thu nhập
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI THU NHẬP TẠI CHI NHÁNH NHTM
Thu nhập của chi nhánh NHTM chịu ảnh hưởng rất lớn của các nhân
tô trong đó có những nhân tô trực tiếp thu nhập, chi phí hay những nhân tố gián tiếp như công nghệ, môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý, các
Trang 28chính sách vĩ mô của Nhà Nước Tuy nhiên, có thể cụ thể hoá các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng bao gồm các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới thu nhập và chi phí của NHTM.
1.3.1 Lãi suất là nhân tố quyết định quy mô lợi nhuận của NHTM
Lãi suất bao gồm lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay, đây là chỉ tiêu có ảnh hưởng trực tiếp tới cả thu nhập và chi phí của ngân hàng Sự thay đổi về lãi suất dẫn đến sự thay đổi về thu nhập và chi phí:
Lãi suất huy động vốn là tỷ lệ giữa số tiền mà khách hàng được hưởng
từ ngân hàng khi gửi một khoản tiền và ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định, số tiền mà khách hàng được hưởng đó chính là chi phí của ngân hàng Nếu lãi suất huy động tăng cao thì chi phí huy động trên một khoản tiền nhất định của ngân hàng tăng và ngược lại Lãi suất huy động vốn phụ thuộc và chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như: Quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ; Loại kỳ hạn tiền gửi; Chỉ số giá cả chung và lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế; Phụ thuộc vào chính sách của Nhà Nước
Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao và do ảnh hưởng bởi tỷ lệ lạm phát hàng năm mà lãi suất huy động vốn ngày càng có xu hướng tăng làm giảm khoảng cách chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn
Lãi suất cho vay: Là giá của một món tiền mà ngân hàng cho khách
hàng vay Đó chính là tỷ lệ giữa số tiền mà khách hàng phải trả cho ngân hàng trên tổng số tiền mà khách hàng được Ngân hàng cho vay Lãi suất cho vay hiện nay của các NHTM là lãi suất thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng và bị giới hạn bởi mức lãi suất cơ bản của NHNN quy định từng thời
kỳ Lãi suất cho vay có ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của ngân hàng, lãi suất cho vay cao dẫn đến thu nhập từ cho vay cao và làm tăng lợi nhuận của ngân hàng Cũng như lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay cũng chịu ảnh hưởng và phụ thuộc vào các nhân tố như: Quan hệ cung cầu về tiền tệ trên
Trang 29thị trường tiền tệ; Kỳ hạn cho vay; Mục đích cho vay; Đối tượng vay; Biện pháp bảo đảm tiền vay; Chính sách của Nhà N ư ớ c
Khác với lãi suât huy động vốn, lãi suất cho vay chịu ảnh hưởng của nhiêu nhân tố hơn và gần như lãi suất cho vay phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các NHTM nhằm bảo vệ và có lợi cho các NHTM.
hưởng trực tiêp tới chi phí và thu nhập của NHTM Để huy động vốn của doanh nghiệp và dân cư, ngân hàng phải trả lãi đồng thời khi tài trợ ngân hàng sẽ thu lãi Như nhiêu giá cả hàng hoá khác, lãi suất của các khoản vay, tiên gửi và chứng khoán thường xuyên biến động có thể làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng và ngược lại gây tổn thất cho ngân hàng Rủi ro lãi suât là khả năng xẩy ra những tổn thất ngoài dự kiến gắn với sự thay đổi của lãi suât và nhiêu nhân tô khác như cấu trúc, kỳ hạn của tài sản và nguồn, quy
mô và kỳ hạn của các hợp đồng kỳ hạn .
Mặc dù N H NN đã có những biện pháp cởi mở hơn với việc quy định chặt chẽ về lãi suất cả cho vay và huy động vốn nhưng hiện tại các NHTM vân chịu ràng buộc bởi các quy định khác và NHNN vẫn quản lý mức lãi suât, chính việc can thiệp của NHNN về lãi suất làm cho các mối quan hệ tiên tệ không được phản ánh đúng theo quan hệ cung cầu trên thị trường. 1.3.2 Chất lượng tín dụng là nhân tố quyết định thu nhập của NHTM Chât lượng tín dụng là nhân tô quyêt định sự tồn tại và phát triển của một NHTM hiện nay bởi hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu và mang lại thu nhập lớn nhât cho ngân hàng Chất lượng tín dụng có ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà ảnh hưởng trực tiếp là lợi nhuận của ngân hàng làm tăng chi phí và giảm thu nhập Không có một NHTM nào có thể khẳng định chất lượng tín dụng của mình là quá tốt bởi ngoài những yếu tố chủ quan ra còn có các yếu tố khách quan.
Trang 30Đi liền với chất lượng tín dụng là rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng không trả, không trả đúng hạn hoặc không trả đầy đủ
cả gốc và lãi cho ngân hàng dẫn đến giảm lợi nhuận.
1.3.3 Tổng nguồn vốn huy động và cơ cấu nguồn vốn quyết định quy
mô tăng trưởng tín dụng
NHTM sử dụng khoảng 70% nguồn vốn huy động để cho vay Hiện nay N H NoV N quản lý mức Dư Có và mức Dư N ợ của các chi nhánh, do đó chi nhánh muốn mở rộng tín dụng thì phải huy động được vốn.
Đối với một NHTM thì cơ cấu nguồn vốn quyết định tính ổn định của tổng nguồn vốn và tổng chi phí huy động vốn Tổng nguồn vốn được cơ cấu bởi các nguồn vốn khác nhau và ứng với mỗi loại nguồn vốn thì có các mức lãi suất khác nhau như: Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm có kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu thực tế hiện nay tại các NHTM nguồn vốn có kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao Sự biến động của kết cấu các loại nguồn vốn dẫn đến thay đổi lượng chi phí trả lãi cho nguồn vốn, việc giảm chi phí huy động vốn trên cơ sở
tỷ trọng nguồn vốn có lãi suất huy động thấp sẽ làm giảm lãi suất đầu vào làm tăng khoảng cách chênh lệch lãi suất và ngược lại Đó cũng chính là nhân tố thúc đấy các nhà quản trị ngân hàng luôn luôn tìm kiếm các nguồn vốn có lãi suất thấp hoặc là tiêu chí để điều chỉnh chuyển dịch cơ cấu theo chiều hướng
có lợi cho ngân hàng nhằm giảm chi phí tương đối và tăng lợi nhuận.
1.3.3 Sản phấm dịch vụ là nhân tố cạnh tranh có tính chiến lược của NHTM hiện đại
Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cũng là nhân tố tạo ra thu nhập thông qua các khoản phí dịch vụ mà khách hàng phải trả cho ngân hàng khi
sử dụng các dịch vụ của ngân hàng Đa dạng hoá các loại hình dịch vụ cũng
là chiến lược mà các nhà quản trị ngân hàng quan tâm tới nhằm phục vụ mọi
Trang 31yêu câu của khách hàng vừa tạo ra thu nhập cho ngân hàng vừa khuếch trương được danh tiếng và tạo được niềm tin cho khách hàng.
Bên cạnh các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thì chất lượng của các sản phâm đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng Chất lượng các sản phẩm và dịch vụ càng cao càng tạo niêm tin cho người sử dụng cũng như thu hút các khách hàng tăng thu nhập của ngân hàng.
Trong bôi cảnh cạnh tranh hiện nay thì các NHTM luôn luôn quan tâm tới việc đa dạng hoá các sản phâm dịch vụ gắn liền với không ngừng nâng cao chât lượng các dịch vụ đó với mục đích là thu hút khách hàng và nâng cao vị thê Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển với sự ra đời và lớn mạnh của cuộc cách mạng công nghệ thông tin cùng với đời sống của người dân ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại ngày càng lớn do đó đê thoả mãn được nhu cầu ngày càng cao thì các NHTM phải luôn luôn thường xuyên quan tâm tới việc đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng gắn liền với chất lượng của các dịch vụ đó.
Với một ngân hàng hiện đại thì phí dịch vụ trong tổng thu nhập của ngân hàng chiêm một tỷ trọng lớn Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay găt, chênh lệch lãi suât huy động và lãi suất cho vay ngày càng có xu hướng thu hẹp thì thu nhập thông qua các hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ trở lên có ý nghĩa quan trọng đối với các ngân hàng Mức phí dịch
vụ của các ngân hàng mặc dù có sự cạnh tranh nhưng ngày càng có xu hướng tăng cao do ảnh hưởng bởi chỉ số tiêu dùng trên thị trường và tỷ lệ lạm phát bên cạnh đó các mức phí vê dịch vụ của ngân hàng còn phụ thuộc vào các yêu tô như: uy tín của ngân hàng, sản phẩm độc quyền và sự tiện ích của dịch vụ ngân hàng Không phải bất cứ một tổ chức kinh tế nào cũng có thể thực hiện được các hoạt động cung cấp các dịch vụ đó cho khách hàng được bởi những lý do như chi phí đầu tư vào công nghệ lớn, uy tín của tổ chức cung cấp dịch vụ, màng lưới hoạt động của tổ chức đó Chính sự lớn
Trang 32mạnh của các NHTM đã tự thân tạo cho khách hàng có được niềm tin và có thể cung cấp được các sản phẩm dịch vụ hoàn hảo nhất.
1.3.4 Ảnh hưởng của chi phí quản lý đến thu nhập của NHTM
Đôi với NHTM ngoài các chi phí cho hoạt động huy động vốn, chi cho hoạt động kinh doanh, chi dự phòng và bảo hiểm tiền gửi ra thì các khoản chi còn lại là chi cho hoạt động quản lý như chi cho nhân viên, chi khâu hao Tài sản cô định— Chi phí quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của NHTM Nếu chi phí quản lý phù họp và họp lý thì sẽ mang lại hiệu quả cho hoạt động kinh doanh làm tăng thu nhập của NHTM và ngược lại nếu chi phí quản lý không phù họp thì sẽ làm giảm thu nhập của NHTM Chẳng hạn nếu quá tiết kiệm chi phí quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh dẫn tới ảnh hưởng đến thu nhập; nếu lãng phí chi phí quản lý gây lãng phí tiền của và ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập.
1.3.5 Ảnh hưởng của công nghệ và nguồn nhân lực của NHTM
Công nghệ có vai trò quan trọng đối với hoạt động ngân hàng đặc biệt
là ngân hàng hiện đại Một ngân hàng hiện đại gắn liền với việc cung cấp các dịch vụ hiện đại là phải có công nghệ hiện đại đáp ứng được nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện Công nghệ hiện đại có vai trò quan trọng đối với các NHTM bởi trong xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin nếu các NHTM không năm bắt kịp thời sẽ dẫn đến chậm phát triển, không theo kịp được các NHTM khác trong và ngoài nước, sự chênh lệch về công nghệ hiện đại luôn
là yêu tố bất lợi đối với các NHTM có công nghệ yếu kém, gây mất niềm tin
ở khách hàng.
Bên cạnh công nghệ đó là nguồn nhân lực, trong bất cứ một nền kinh
tê chính trị xã hội nào thì con người luôn là hạt nhân quan trọng Đối với các NHTM cũng vậy, con người có ý nghĩa vô cùng to lớn với sự phát triển lớn mạnh của ngân hàng Đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ, có năng
Trang 33lực cũng như phẩm chất chính trị và đạo đức xã hội luôn là tài sản quý giá đối với ngân hàng và là nhân tố trực tiếp tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. 1.3.6 Ảnh hưởng của môi trường khách quan
Khả năng sinh lợi của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào các tiêu chí trên Thực tế cho thấy các ngân hàng nằm tại các khu kinh tế phát triển thì bao giờ cũng tạo ra lợi nhuận cao hơn Hơn nữa nền kinh tế ngày càng phát triển ổn định thì hệ thống NHTM càng có điều kiện để phát triển, áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ cũng như các sản phẩm dịch vụ hiện đại khác Ngược lại, nếu nền kinh tế kém phát triển thì việc giao lưu thương mại giữa các thành phần trong nền kinh tế bị hạn chế, việc sử dụng các sản phẩm tiện ích của ngân hàng được các doanh nghiệp coi nhẹ cũng như việc thanh toán mua bán trao đổi hàng hoá bằng đơn vị tiền mặt được ưa chuộng hơn là thanh toán bằng chuyển khoản
Một đất nước có nền kinh tế chính trị và xã hội ổn định luôn là điều kiện cần thiết để phát triển các nghành nghề đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính tiền tệ Thực tế cho thấy các cuộc khủng hoảng về kinh tế bao giờ cũng bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính tiền tệ hoặc ngược lại khủng hoảng
về kinh tế bao giờ cũng kéo theo sự khủng hoảng về tài chính như khủng khoảng kinh tế ở Châu á những năm cuối của thế kỷ 20, cuộc khủng hoảng
về tiền tệ ở Achentina những năm đầu thế kỷ 21 đã làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống các NHTM và hậu quả của nó còn kéo dài đến tận ngày nay vẫn chưa thể phục hồi được.
Bên cạnh đó môi trường kinh doanh cũng có ảnh hưởng lớn tới hoạt động của các NHTM Một hệ thống NHTM vững mạnh sẽ góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế thông qua việc huy động và phân bổ vốn cho các hoạt động kinh tế để mang lại hiệu quả cao nhất Khi môi trường kinh doanh xấu đi làm đảo lộn về các chiến lược kinh doanh của các nhà quản trị ngân hàng.
Trang 34Ngoài ra các vấn đề của từng ngân hàng có thể trở thành vấn đề mang tính hệ thống do sự liên kết trong thanh toán.
Môi trường cạnh tranh cũng có ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM, cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng ngày càng gay gắt dẫn đến khả năng tạo thêm lợi nhuận của các NHTM ngày càng khó khăn hơn.
Nhà nước sử dụng các chính sách kinh tế v ĩ mô để điều tiết hoạt động của các NHNTM trước hết đó là chính sách tiền tệ, tín dụng như công cụ cho vay chiết khấu, công cụ dự trữ bắt buộc Sự thay đổi về các chính sách tiền
tệ luôn làm thay đổi tình hình hoạt động kinh doanh của các NHTM và ảnh hưởng tới thu nhập và chi phí của NHTM.
Tiếp sau chính sách kinh tế vĩ mô là chính sách tài chính Việc NHTW quy định lợi nhuận dùng đế tính thuế bao gồm cả lãi cộng dồn của các khoản
nợ quá hạn khó đòi mà trên thực tế là đánh thuế trên lợi nhuận không tồn tại làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng Bên cạnh đó các chính sách tài chính được ban hành có tác động tới các doanh nghiệp ngoài hệ thống Ngân hàng cũng có thể làm ảnh hưởng tới khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng cũng như không khuyến khích được các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng.
Các chính sách về tỷ giá và ngoại thương có tác động khác nhau đối với các ngành và ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của các ngân hàng chủ yếu
do kết quả kinh doanh của các khách hàng vay vốn ngân hàng Khi tỷ giá thay đổi theo chiều hướng làm mất giá đồng tiền bản tệ thì khả năng trả nợ các khoản vay ngân hàng bằng ngoại tệ sẽ giảm dẫn đến rủi ro tín dụng tăng.
Bên cạnh các chính sách quản lý của Nhà nước thì các NHTM cũng thực hiện công tác quản lý điều hành vĩ mô và vi mô các hoạt động của các chi nhánh trực thuộc thông qua các chính sách của mình Đây cũng là đặc điểm chung của các hệ thống NHTM nhằm quản lý tập trung, tạo sức mạnh
Trang 35tổng thể và thực hiện các chiến lược của Quốc gia Mồi một chính sách do Trụ
sở chính ban hành đều ảnh hưởng và thậm chí còn điều chỉnh trực tiếp các hành vi kinh doanh của các chi nhánh do đó có ảnh hưởng tới thu nhập, chi phí hay quỹ tiền lương của chi nhánh.
Lợi nhuận của các NHTM không chỉ chịu ảnh hưởng bởi những quy định trong hoạt động ngân hàng mà còn chịu ảnh hưởng của các quy định đối với các hoạt động của các doanh nghiệp với tư cách là khách hàng của ngân hàng chăng hạn như quy định về điều kiện thành lập doanh nghiệp, điêu kiện đăng ký kinh doanh hay kiểm toán bắt buộc làm tăng sự tin tưởng của ngân hàng đối với khách hàng Một khi môi trường pháp lý cho hoạt động của các TCTD cũng như các doanh nghiệp ngày càng được hoàn thiện
và ôn định thì hoạt động của các NHTM ngày càng phát triển và hạn chế được rủi ro.
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU NHẬP TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN NAM HÀ NỘI
2.1 KHÁI QUÁT VÊ NHNo NAM HÀ NỘI
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của NHNo Nam Hà Nội
Trong những năm đầu của thế kỷ 21, nền kinh tế Việt Nam luôn phát triển
ổn định, bền vững tạo tiền đề cho việc mở cửa và hội nhập kinh tế thế giới Không nằm ngoài xu hướng đó, các NHTM cạnh tranh gay gắt để chiếm lĩnh thị trường
và khách hàng đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh để khẳng định và tạo lập vị trí của mình Đối với NHNo Việt Nam tổng nguồn vốn huy động tại các thành phố lớn luôn chiếm trên 30% tổng nguồn vốn huy động của toàn hệ thống, nhằm cung ứng vốn cho khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và tập trung cho vay các dự án lỏn của chính phủ Trước bối cảnh về điều kiện kinh tế chính trị - xã hội trên địa bàn cũng như các điều kiện về phát triển chung của toàn ngành nên ngày 12/03/2001 NHNo Nam Hà Nội được thành lập theo Quyết đinh
số 48/NHNo/QĐHĐQT Đây là một Chi nhánh trực thuộc NHNo VN, có trụ sở tại toà nhà C3 Phưong Liệt, Quận thanh Xuân, Thành phố Hà Nội Ngày
05/08/2001 Chi nhánh chính thức khai trương đi vào hoạt động Việc khai trương hoạt động Chi nhánh không chỉ góp phần phát triển kinh tế của địa bàn Hà Nội mà còn khai thác khả năng nguồn vốn nội lực tại các đô thị lớn phục vụ nhu cầu vốn cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước.
N gay từ khi mới ra đời Ban lãnh đạo Chi nhánh đã đề ra các nhiệm
vụ chính đó là: Nhanh chóng ổn định hoạt động của Chi nhánh, về con người cũng như trang bị cơ sở vật chất Triển khai các hoạt động kinh doanh với phương châm hành động là "Vì sự thành đạt của khách hàng và ngân hàng"; Tăng cường công tác Marketing thu hút khách hàng; Xây dựng các nội quy, quy chế điều hành, cơ chế khoán .
Trang 37Trong những năm qua Chi nhánh đã nỗ lực phấn đấu mở rộng màng lưới hoạt động Khi mới thành lập chỉ có hội sở chính đến nay Chi nhánh đã thành lập thêm 3 Chi nhánh cấp 2, 4 phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh cấp 1 và 08 phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh cấp 2, với tổng số cán bộ công nhân viên là 152 người trong đó các cán bộ có trình độ tiến sĩ 02 người, thạc sĩ 09 người Cơ cấu bộ máy tổ chức của của chi nhánh được thể hiện ở
sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Mô hình tổ chức kinh doanh của NHNo Nam Hà Nội
Trang 38Với 6 Phòng chức năng và các Phòng giao dịch đã thực hiện toàn bộ các hoạt động kinh doanh của Chi nhánh, góp phần phát triển tỷ lệ tăng trưởng về nguồn vốn, dư nợ, thu nhập của toàn Chi nhánh.
2.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHNo Nam Hà Nội
Là chi nhánh mới thành lập trong điều kiện địa bàn Hà Nội có rất nhiều các chi nhánh của các NHTM Quốc doanh và NHTM c ổ phần, trong
đó chủ yếu là các chi nhánh lớn, được thành lập từ lâu, với đội ngũ công nhân viên giàu kinh nghiệm có đủ các điều kiện vượt trội trong cuộc cạnh tranh gay gắt về thị trường và các sản phẩm dịch vụ NHNo Nam Hà Nội gặp không ít những khó khăn, trong khi đó các khách hàng nhất là các khách hàng lớn tại Hà N ội hầu hết đã thiết lập các mối quan hệ truyền thống với các NHTM có bề dầy kinh nghiệm khác, có vị trí giao dịch thuận lợi Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường bất lợi đó Ban Giám đốc chi nhánh cũng như toàn thể cán bộ công nhân viên đã đồng lòng nhất trí thực hiện các mục tiêu đã đề ra và đã dần từng bước tạo lập cho chi nhánh một chỗ đứng vững chắc và uy tín trong lòng khách hàng.
BẢNG 1 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2005-2007)
Trang 39Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 2007/2006
Tỹ.VNĐ Tỷ trg Tỷ.VNĐ Tỷ trg Tỷ.VNĐ Tỷ trg Tỷ.VNĐ %T-G Theo tiền tệ 4,429 100.00 7,953 100.00 8,320 100.00 367 105
Tiền gửi, tiền vay các TCTD 551 12.44 818 10.29 569 6.84 (249) 70
Nguồn vốn uý thác đầu tư 853 19.26 6 0.08 3 0.04 (3) 50 Phản theo thòi gian 4,429 100.00 7,953 100.00 8,320 100.00 367 105
Tiền gửi không kỳ hạn 894 20.19 1,189 14.95 1,238 14.88 49 104
Tiền gửi CKH < 12 tháng 1,057 23.87 1,489 18.72 1,591 19.12 102 107
Tiền gửi CKH >= 12 tháng 1,625 36.69 5,269 66.25 5,488 65.96 219 104
Nguồn uý thác đầu tư 853 19.26 6 0.08 3 0.04 (3)
Với số liệu tổng họp từ báo cáo kết quả kinh doanh qua các năm tại Chi nhánh cho thấy năm 2005 tổng nguồn vốn huy động là 4.429 tỷ đồng trong đó nguồn huy động bằng nội tệ là 3.592 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 81%; Nguồn huy động bằng ngoại tệ chiếm 19%, nguồn ngoại tệ mà Chi nhánh huy động được chủ yếu là tiền gửi ngoại tệ có kỳ hạn của dân cư và các dự án Trong cơ cấu nguồn vốn huy động thì tỷ trọng tiền gửi dân cư và tổ chức kinh tế chiếm một tỷ lệ tương đối cao đạt 3.025 tỷ và đạt 68% trong tổng nguồn vốn cả về nguồn nội tệ
và nguồn ngoại tệ, đây là nguồn vốn ổn định qua các năm kể từ khi chi nhánh
đi vào hoạt động và đã tạo được niềm tin với khách hàng Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ huy động cho thấy tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên tại Chi nhánh chiếm tỷ trọng cao nhất 37% trong tổng nguồn vốn.
Trong năm 2006 tổng nguồn vốn huy động tại Chi nhánh là 7.953 tỷ đồng tăng 3.524 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2005, trong đó nguồn huy động bằng nội tệ 7.373 tỷ đồng chiếm 92% trong tổng nguồn vốn tăng 3.781 tỷ đồng so với năm 2005, nguồn huy động nội tệ tăng do tăng mạnh về tiền gửi của dân cư và các tổ chức kinh tế Tuy nhiên trong điều kiện cạnh tranh về nguồn vốn trên thị trường giữa các NHTM thì việc thu hút được nguồn vốn
là rất quan trọng, việc đa dạng hoá các hình thức thu hút vốn với lãi suất cao
Trang 40nhăm tăng tông nguôn vôn huy động cũng là một chiến lược được ban lãnh đạo Chi nhánh đề ra và thực hiện nhưng nguồn vốn huy động đó phải có lãi suât thâp hơn mức lãi suât điêu vôn của NHNo VN Bên cạnh nguồn huy động bằng nội tệ thì nguồn huy động bằng ngoại tệ tại Chi nhánh giảm về số lượng tuyệt đôi là 257 tỷ đồng so với năm 2005 Nguyên nhân giảm là do nguồn vốn uỷ thác bằng ngoại tệ đến hạn thanh toán.
Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước năm 2007 có nhiều biến động tỷ
lệ lạm phát cao, thị trường chứng khoán bất ổn định, giá vàng trên thị trường hên tục tăng dân đên một lượng không nhỏ tiền gửi ngân hàng được các nhà đầu tư chuyển sang các hình thức đầu tư khác dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn vốn huy động của các NHTM nói chung và NHNo Nam Hà
N ội nói riêng Tuy nhiên chi nhánh vẫn giữ được mức huy động tiền gửi ổn định cụ thể năm 2007 tổng nguồn vốn mà Chi nhánh huy động được là 8.320
tỷ đồng tăng 367 tỷ đồng, tăng 105% so với năm 2006 và 88% so với năm
2005, trong đó chủ yêu là tăng nguôn vôn nội tệ Nguồn vốn bằng ngoại tệ giảm 265 tỷ, tương đương 32% so với năm 2005 do có sự thay đổi trong cơ cấu nguồn vốn, nguồn vốn uỷ thác đầu tư giảm 850 tỷ đồng do đến hạn.
Nếu phân theo kỳ hạn thì năm 2005 nguồn tiền gửi có kì hạn trên 12 tháng chỉ chiếm tỷ lệ 37%, năm 2006 là 66% thì đến năm 2007 chi nhánh vẫn đảm bảo đạt được tỷ lệ 66%, đây cũng là một tỷ lệ cho thấy có sự ổn định và đảm bảo khả năng thanh khoản cũng như cho vay dài hạn.
Có thể nói tổng nguồn vốn tại Chi nhánh đã từng bước được cải thiện
và tăng với tốc độ cao, đảm bảo được nguồn vốn cho vay, đảm bảo được khả năng thanh toán, góp phần huy động được nguồn vốn cho Trụ Sở Chính tạo thêm được thu nhập Bên cạnh đó đã gây dựng được uy tín và niềm tin đói với khách hàng khi đem tiền đến gửi tại Chi nhánh nâng cao và khẳng định được vị thê của Chi nhánh trong hệ thống cũng như trên địa bàn, nơi là trung tâm kinh tê chính trị văn hoá xã hội của cả nước, nơi mà có sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt và mạnh mẽ.