Điều này một phần là do các cơ quan quản lý thường không hiểu rõ về tài chính vi mô nên các quy định đưa ra thường dựa trên các quy định áp dụng đối với ngân hàng và các tổ chức tài chín
Trang 1iir viẹn - HOC viẹn IN gan
Trang 2B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-*-■—0O0
LÊ QUANG THANH
XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LÝ CHO HOẠT
Chuyên ngành : Kinh tế tài chính, ngân hàng
HỌC VIỆN NGÂN HÁNG TRUNG TÁM THÔNG TIN - THƯ VIỆN
T H Ư VIỆN
LUẬN ÁN THẠC sĩ KINH TẾ Người hướng dẫn: TS Đỗ Văn Đức
Hà Nội, 2005
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kêt quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, ngày ỵ ( thảng âynăm 2005
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ QUANG THANH
Trang 41.1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUÓC TẾ VỀ TÀI CHÍNH
1.1.1 Khái niệm về hoạt động tài chính vi mô: 41.1.2 Các đặc trưng của tài chính vi mô: 51.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tài chính vi mô: 61.1.4 Các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh hoạt động tài chính vi mô: 81.1.5 Các mô hình tài chính vi mô 81.1.6 Khả năng tiếp cận và khả năng bền vững của các tổ chức tài chính vi
1.1.7 Chức năng của tài chính vi mô: 16
1.2 VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI TÀI
1.2.1 Mục tiêu của Ngân hàng Trung ương 171.2.2 Nhận thức của các NHTW về Tài chính vi mô 181.2.3 Các hoạt động phát triển và hoạt động khuyến khích của NHTW đối
1.3.1 Kinh nghiệm các nước: 3 0
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI
2.1 S ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ
2.1.1 Khu vực chính thức: 3 82.1.2 Khu vực tài chính bán chính thức 442.1.3 Khu vực tài chính không chính thức 49
2.2 KHÁI QUÁT VÈ KÉT QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ
2.3 NHỮNG TRỞ NGẠI ĐỐI VỚI s ự PHÁT TRIỂN CỦA TÀI CHÍNH
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG KHUÔN KHỒ PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VI MÔ Ở VIỆT NAM
3.1.1 Định huớng đối với khu vực tài chính chính thức: 703.1.2 Định hướng đối với khu vực bán chính thức: 70
3.2 XÂY DựNG KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ CHO TÀI CHÍNH VI MÔ 71
3.2.1 Phương hướng chung: 723.2.2 Các giải pháp: 76
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ : 843.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 853.3.3 Kiến nghị đối với các ủ y Ban Nhân dân các cấp: 91
Trang 6Ngân hàng Rakyat IndonesiaQuỹ Trợ vốn tạo Việc làmNhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất
Tổ chức Cứu trợ Thiên chúa giáo
Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh
Tổ chức tài chính vi mô
Tổ chức phi chính phủNgân hàng Chính sách Xã hộiNgân hàng Nhà nước Việt NamNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thônNgân hàng Trung ưcmg
Quỹ Tín dụng Nhân dân
Tổ chức cứu trợ trẻ em Vương quốc AnhNhóm tương hỗ
Quỹ Tình thươngQuỹ dân số Liên hiệp quốcQuỹ Nhi đồng Liên hiệp quốcNgân hàng Thế giới
Hội đồng liên minh tín dụng thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
STT Ký hiệu Tên Bảng Trang
1 2.1 Cơ cấu vốn của Ngân hàng Phục vụ Người
3 2.3 Chỉ tiêu cơ bản của một số chương trình tài
chính vi mô bán chính thức do NGO tài trợ
51
4 2.4 Một số chỉ tiêu cơ bản của CEP (tổ chức tài
chính vi mô bán chính thức lớn nhất Việt Nam hiện nay), năm 2003
2 2.2 Mức vay bình quân (triệu VND) 41
3 2.3 Tỷ trọng thị phần cho vay của các tố chức tài
chính vi mô do NGO tài trợ
46
4 2.4 So sánh tỷ lệ hộ nghèo giữa nhóm tham gia
với nhóm không tham gia dự án của SCF/UK
52
5 2.5 So sánh tỷ lệ hộ nghèo giữa nhóm tham gia
với nhóm không tham gia dự án của CIDSE
54
Trang 8MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIÉT CỦA ĐÈ TÀI
Năm 1986, Chính phủ Việt Nam quyết định thực hiện chiến lược quốc gia xoá đói giảm nghèo thông qua việc đẩy mạnh các hoạt động sản xuất của người nghèo Kể từ đó tới nay, dựa vào những kết quả phát triển kinh tế gần đây, Việt Nam đã trở thành một trong những nước giảm nghèo thành công nhất, có tỉ lệ nghèo giảm xuống gần một nửa, từ 58% năm 1993 xuống còn 29% năm 2002
Đe đẩy mạnh các hoạt động sản xuất thì yếu tố không thể thiếu đó là vốn Càng là người nghèo thì càng cần vốn, đôi khi chỉ là một khoản vốn rất nhỏ chỉ vài trăm ngàn đến vài triệu đồng Tuy nhiên, việc tiếp cận với các nguồn vốn cho vay của các tổ chức tín dụng chính thức đối với người nghèo lại không hề đơn giản Thực tế là ở nhiều vùng, miền, thậm chí ngay ở thành phố, người nghèo đã buộc phải vay nặng lãi với lãi suất 2% - 6%/ngày Trước yêu cầu cần phải xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm và cải thiện đời sống cho người nghèo và các hộ gia đình có thu nhập thấp Đáp ứng nhu cầu
về các khoản vốn nhỏ của người nghèo, hoạt động tài chính vi mô ở Việt Nam
đã ra đời
Thực tiễn 10 năm qua đã khẳng định các chương trình tài chính vi mô
là một công cụ giảm nghèo hiệu quả Nhiều phụ nữ và gia đình khi tham gia chương trình đã nhận được các lợi ích kinh tế xã hội to lớn và bền vững thông qua việc tiếp cận liên tục và dễ dàng với những khoản cho vay nhỏ, phù hợp với nhu cầu của họ Kết quả là hiện nay tại Việt Nam, nhu cầu và hoạt động tài chính vi mô đã và đang phát triển rất mạnh Tuy nhiên, phần lớn hoạt động tài chính vi mô lại do các tổ chức bán chính thức (không phải tổ chức tín dụng) thực hiện, và cho đến nay vẫn chưa có một khuôn khổ pháp lý nào
Trang 9chính thức và phù họp để điều chỉnh cũng như bảo vệ những hoạt động và tổ chức này.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, tác giả đã lựa chọn đề tài
"Xây dựng khung pháp lý cho hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam" cho luận văn thạc sĩ của mình nhằm tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn cần thiết để xây dựng khung pháp lý cho hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u
Xây dựng khung pháp lý cho hoạt động tài chính vi mô với mục tiêu định hướng hoạt động tài chính vi mô phục vụ người nghèo; xác định các tổ chức được phép hoạt động tài chính vi mô; xác định các kênh truyền dẫn vốn
và sự phối họp giữa các cơ quan chức năng với nhau để thúc đẩy hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam
4 PHƯONG PHÁP NGHIÊN c ứ u
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tổ thống kê, phân tích hoạt động kinh tế và xử lý hệ thống
Trang 105 KÉT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: c ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI TÀI CHÍNH VI MÔ
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM
Chương 3: XÂY DựNG KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM
Trang 11CHƯƠNG 1
C ơ SỞ LÝ LUÃN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TÉ
VÊ TÀI CHINH VI MÔ VÀ VAI TRO CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐÓI VỚI TAI
CHÍNH VI MÔ
1.1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TÉ VÈ TÀI CHÍNH
VI MÔ:
1.1.1 Khái niệm về hoạt động tài chính vi mô:
Mặc dù còn có nhiều ý kiến khác nhau nhưng đa số các quan điểm cho rằng tài chính vi mô là việc cung cấp các dịch vụ tài chính, cơ bản nhất là tiết kiẹm, tin dụng và các dịch vụ tài chính khác cho các hộ gia đình nghèo và thu nhập thắp không tiếp cận được hoặc chỉ được tiếp cận một cách rất hạn chế
VƠI cac to chưc tai chinh chính thức Từ đó đã có một sô cách định nghĩa về tài chính vi mô như sau:
- Tài chính vi mô là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyên tiên và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình thu nhập thấp và các doanh nghiệp vi mô của họ (theo ADB)
- Tài chính vi mô là việc cung cấp các khoản cho vay, nhận tiết kiệm và cung ứng các dịch vụ tài chính cơ bản khác cho người nghèo, (theo CGAP)
- Tài chính vi mô là việc cung ứng các khoản vay và nhận tiết kiệm món nhỏ cho các hộ gia đình [1],
Theo như định nghĩa của ADB thì tài chính vi mô bao gồm cả việc cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô cho các hộ gia đình thu nhập thấp cũng như dưới ngưỡng nghèo Có một số lượng đáng kể các hộ gia đình thu nhập thấp không ờ dưới ngưỡng nghèo nhưng cũng chì được tiếp cận rất hạn chế
Trang 12với các dịch vụ tài chính Điều này có thể thấy rõ ở các vùng nông thôn Thách thức đặt ra là làm sao có thể xoá bỏ khoảng cách này và đưa các dịch
vụ tài chính đến với nhóm mục tiêu là người thu nhập thấp cũng như đến với người nghèo Trong một số trường họp, cung cấp dịch vụ cho các khách hàng thu nhập thấp cùng với phục vụ người nghèo có thể cải thiện khả năng bền vững của các tổ chức tài chính vi mô (MFI) Do vậy họ sẽ tiếp cận được với các khách hàng nghèo một cách dễ dàng hơn Cung cấp dịch vụ cho các khách hàng thu nhập thấp cũng có thể đem đến những lợi ích gián tiếp cho người nghèo thông qua việc tạo nhiều cơ hội việc làm hơn, các hàng hoá và dịch vụ
rẻ hơn và dễ tiếp cận hơn
Tài chính vi mô đã ra đời và phát triển trên khắp thế giới hàng thập kỷ qua, đặc biệt là ở những nước đang phát triển với tỷ lệ nghèo đói cao thì tài chính vi mô càng phát triển mạnh mẽ Điều này đã chứng tỏ sự tồn tại khách quan của tài chính vi mô, chứng tỏ thị trường, nhất là phân đoạn thị trường người thu nhập thấp và nghèo, thực sự có cầu dịch vụ tài chính vi mô Sự tồn tại và lớn mạnh của tài chính vi mô là minh chứng khách quan nhất cho sự cần thiết của chính nó Chính vì vậy, chúng ta cần nhìn nhận và đối xử với tài chính vi mô như đối với bất kỳ một thực thể khách quan nào khác, cần thiết cho cuộc sống, tồn tại và phát triển vì nhu cầu của cuộc sống
1.1.2 Các đặc trưng của tài chính vi mô:
Kể từ những năm 70 của thế kỷ 20, nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở vùng Châu Á - Thái Bình Dương, người ta đã chú trọng tới việc thiết lập một
hệ thong tài chính bền vững nhưng vẫn đảm bảo tiếp cận được với các khách hàng nghèo Nhiều mô hỉnh, nhiều cách tiếp cận đã được thử nghiệm và phát triển, tiêu biểu là mô hỉnh của Ngân hàng Grameen' ờ Bangladesh và Ngân hàng Rakyat ở Indonesia2
Trang 13Mặc dù những phương pháp thực hành tài chính vi mô cụ thể có thể khác nhau, thay đổi tuỳ theo từng nước, từng tổ chức nhưng đằng sau những mô hình khác nhau đó luôn có một số nguyên tắc chung, căn bản sau [11]3:
- Nắm vững thị trường của mình Các điểm cho vay của MFI thường nằm gần với khách hàng, quy trình xin vay vốn đơn giản và các khoản vay được giải ngân nhanh chóng
- Lãi suất áp dụng là lãi suất thị trường, đảm bảo trang trải được các chi phí tài chính và chi phí hoạt động Thị trường cho thấy khách hàng chấp nhận trả tiền để được tiếp cận dịch vụ một cách tiện lợi
- Giảm thiểu chi phí Các chi phí, nhất là chi phí hành chính, được cắt giảm tối đa Quy trình tín dụng đơn giản, phân quyền cao Phần lớn công việc xét duyệt vốn vay nằm ngay ở các nhóm vay vốn
- Áp dụng các phương pháp đặc biệt để đảm bảo tỷ lệ hoàn trả cao Các phương pháp này bao gồm việc sử dụng các nhóm tương hỗ trong đó các thành viên bảo lãnh lẫn nhau, khuyến khích và giám sát chặt chẽ người vay tạo động lực cho người vay, cho vay tăng dần, và yêu cầu tiết kiệm bắt buộc
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tài chính vi mô:
Cũng giống như hoạt động ngân hàng nói chung, có nhiều nhân tố có thể ảnh hưởng đến hoạt động tài chính vi mô như tình hình kinh tế vĩ mô, tình hình chính trị xã hội, các biến động của thị trường nhưng do đặc thù là hoạt động ờ quy mô nhỏ nên tài chính vi mô đặc biệt chịu ảnh hưởng của các yếu
tố ổn định kinh tế vĩ mô; biến động lạm phát và lãi suất; môi trường pháp lý (khác với hoạt động ngân hàng, môi trường pháp lý lỏng lẻo, không đồng bộ lại thường là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ban đầu của tài chính vi mô); và xu hướng của các nhà tài trợ
Trang 14Hoạt động tài chính vi mô phát triển hay không phụ thuộc rất nhiều vào
sự ôn định kinh tê vĩ mô Do đại đa số các tổ chức tài chính vi mô đều hoạt động ờ quy mô nhỏ, phụ thuộc nhiều vào các nhà tài trợ nên khi có những cú sốc kinh tế thì những tổ chức này thường khó chống chọi được do vốn tự có (lóp chắn thứ nhất) quá nhỏ Hơn nữa, những biến động kinh tế vĩ mô, lạm phát, lãi suất thường kéo theo các biến động tâm lý số đông, trong khi đó phạm vi khách hàng của các tổ chức tài chính vi mô thường nhỏ và có liên hệ với nhau nên khi phản ứng bất lợi có nhiều khả năng sẽ phản ứng đồng loạt như cùng rút tiền tiết kiệm, không trả nợ vay Điều này sẽ dẫn đến sự đổ vỡ gân như tức thì của tổ chức tài chính vi mô vì các Ngân hàng Trung ương thường không giám sát nên cũng không đóng vai trò người cho vay cuối cùng đối với những tổ chức này
Môi trường pháp lý cũng đóng một vai trò quan ưọng đối với sự phát triển của tài chính vi mô Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, tài chính vi mô thường phát sinh và phát triển trong môi trường thiếu vắng các quy định pháp
lý cần thiết Điều này một phần là do các cơ quan quản lý thường không hiểu
rõ về tài chính vi mô nên các quy định đưa ra thường dựa trên các quy định áp dụng đối với ngân hàng và các tổ chức tài chính lớn mà những quy định này lại không phù họp với đặc thù của tài chính vi mô (đấy cũng chính là lý do vì sao những tổ chức đó không cung cấp dịch vụ hiệu quả cho người nghèo như tài chính vi mô) Tuy nhiên, qua giai đoạn phát triển ban đầu, nếu muốn tài chính vi mô phát triển hơn, mở rộng phạm vi tiếp cận hơn thì không thể không có một khuôn khổ pháp lý điều chỉnh và định hướng cho những tổ chức này
Trang 151.1.4 Các chỉ tiêu cliủ yếu phản ánh hoạt động tài chính vi mô:
Bản chất của hoạt động tài chính vi mô là hoạt động ngân hàng nên nhiều MFI đã áp dụng các chỉ tiêu và phương pháp CAMELS để đánh giá hoạt động của mình như đối với các ngân hàng Tuy nhiên, do đặc thù khách hàng của MFI là khách hàng nhỏ, số món vay và lượt vay thì nhiều nhưng giá trị món vay nhỏ, chi phí hoạt động cao nên nhiều tổ chức lại áp dụng các chỉ tiêu và phương pháp PEARLS4
Hệ thống chỉ tiêu PEARLS có 06 hạng mục bao gồm Bảo vệ (P) với các chỉ tiêu về trích lập dự phòng, khả năng thanh khoản; cấu trúc Tài chính Hiệu quả (E) với các chỉ tiêu về dư nợ, tiết kiệm, vốn tự có, cấu trúc danh mục đầu tư; Chất lượng Tài sản Có (A) với các chỉ tiêu về tài sản Có, nợ chậm trả; Lợi nhuận (R) với các chỉ tiêu về thu nhập, chi phí; Khả năng thanh toán nhanh (L) với các chỉ tiêu về dự trữ thanh toán, tài sản có tính lỏng; và Tăng trưởng (S) với các chỉ tiêu về tăng trưởng thành viên, tài sản, vốn
Cũng như CAMELS, PEARLS cũng xoay quanh các chi tiêu tài chính chủ chốt là tài sản có, nguồn vốn, chi phí, thu nhập nhưng phương pháp đánh giá theo PEARLS mang tính định lượng cao hơn và có thêm các chỉ số đánh giá về cấu trúc bảng cân đối và khả năng tăng trưởng Đây là những yếu
tố rất quan trọng trong hoạt động tài chính vi mô, đặc biệt là các chỉ số về khả năng tăng trưởng
1.1.5 Các mô hình tài chính vi mô
Các mô hình tài chính vi mô khác nhau phản ánh những môi trường với các điều kiện khác nhau mà trong đó tài chính vi mô phát sinh, tồn tại và phát triển Một số nước có xu hướng chỉ áp dụng một mô hình hoặc phương pháp phổ biến nào đó, trong khi đó những nước khác lại có thể có nhiều mô hỉnh khác nhau cùng tồn tại
Trang 16Mô hình tài chính vi mô phổ biến nhất là mô hình Grameen Đây là mô hình do Ngân hàng Grameen (Bangladesh) phát triển và áp dụng rất thành công trong hoạt động tài chính vi mô của mình Sau sự thành công của Ngân hàng Grameen, phương pháp thực hành tài chính vi mô của ngân hàng này đã nhanh chóng được các tổ chức có hoạt động tài chính vi mô khác học tập Tại Bangladesh,Nepal, Philippines, đại đa số các MFI đều sử dụng một dạng biến thể nào đó từ mô hình của Ngân hàng Grameen và tại phần lớn các nước, nếu không nói là tất cả, đều có ít nhất một vài MFI sử dụng mô hình của Ngân hàng Grameen Các đặc trưng của mô hình này là thận trọng lựa chọn đối tượng người nghèo thông qua thẩm tra tài sản và/hoặc thu nhập; sử dụng các nhóm tương hỗ, thường gồm 5 thành viên vay vốn, những người này bảo lãnh cho nhau vay; huy động tiết kiệm bắt buộc và thường là không hoặc hầu như không chú trọng đến tiết kiệm tự nguyện; khuyến khích và giám sát chặt chẽ người vay (cơ chế họp tuần); và hoạt động trên cơ sở phân quyền.
Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng hoạt động tài chính vi mô là một lĩnh vực rất năng động Ngoài mô hình của Ngân hàng Grameen là mô hình phổ biến nhất thì còn nhiều dạng thực hành tài chính vi mô khác Ở Banladesh, quê hương của Ngân hàng Grameen, một số MFI đã có những điều chỉnh lớn đối với mô hình này, chẳng hạn như triển khai thêm các chương trình tiết kiệm tự nguyện Hiệp hội Vì sự tiến bộ Xã hội (ASA) thì lại bỏ hình thức bảo lãnh nhóm Các bước đi của ASA cho thấy là tổ chức này đang nhằm tới mục tiêu đưa ra một bộ quy chế mới nhằm xây dựng một mô hình mới, và bộ quy
chế này sẽ khắc nhiều so VỚỊ cùa Ngân hàng Grameen.
Ở Ấn Độ có nhiều mô hình tài chính vi mô cùng tồn tại Mô hình quan trọng nhất là nhóm tương hỗ (SHGs) Nhóm này gồm khoảng khoảng 20 thành viên, lớn hơn và có quyền tự chủ hơn nhiều so với nhóm vay vốn của
mô hình Ngân hàng Grameen SHG chủ yếu dựa trên nguyên tắc cho vay
Trang 17băng tiên tiêt kiệm của thành viên nhưng đông thời vẫn tìm kiếm nguồn vốn bên ngoài nhằm nâng cao nguồn vốn của mình Một số tổ chức phi chính phủ (NGOs) chuyên hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động của các SHG nhưng luôn có sự
phân tách giữa chức năng trung gian tài chỉnh với chức năng hoạt động xã
hội Nhiều hình thức tương tự cũng tồn tại ở các nước như Indonesia Nepal
Pakistan và Sri Lanka
ơ Indonesia, hoạt động tài chính vi mô chỉ tập trung vào hộ gia đình nghèo với hàng loạt các định chế tài chính chính thức tham gia cung cấp dịch
vụ tài chính cho khu vực nông thôn Tổ chức lớn nhất là Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI), ngân hàng này đã thiết lập một mạng lưới đơn vị làng xã để cung cấp các dịch vụ tài chính cho các vùng nông thôn Các đơn vị này chỉ cung cấp các sản phẩm cho vay và tiết kiệm sơ đẳng trên cơ sở lãi suất thị trường và thông qua các hoạt động đã được phân quyền và rất tiết kiệm chi phí Những tổ chức này đặc biệt thành công trong huy động tiết kiệm và đóng góp một phần không nhỏ vào lợi nhuận của BRI nói chung Ngoài BRI, còn một mạng lưới rộng rãi các ngân hàng nông thôn (BPR) và các định chế tài chính nhỏ khác hoạt động tại địa phương Trong khi BRI và các tổ chức gần như ngân hàng này không định hướng là chú trọng vào người nghèo nhưng các khách hàng của họ bao gôm nhiêu hộ gia đình nghèo và cận nghèo mà ở phần lớn các nước khác những người này không tiếp cận được với hệ thống tài chính chính thức
Tương tự như vậy, ở Philippines, các định chế tài chính nhỏ, được cấp phép cũng là một phần quan trọng của khu vực tài chính vi mô ở Sri Lanka, các hiệp hội họp tác tín dụng và tiết kiệm là một phần quan trọng của khu vực tài chính vi mô Các hội cơ sở hoạt động ở mức làng xã hoặc địa phương, và cung cấp các sản phẩm tiết kiệm và cho vay thành viên Các hội cơ sở này được các hiệp hội câp huyện quản lý và đào tạo, các hiệp hội cấp huyện này
Trang 18nằm dưới quyền của Hiệp hội Hợp tác tín dụng và tiết kiệm Các hiệp hội hợp tác tín dụng ở Sri Lanka đã có những nỗ lực rõ ràng trong việc thu nhận thành viên là người nghèo Tuy nhiên, ở các nước khác thì hoạt động của hình thức này lại không thành công lắm trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho các hộ gia đình nghèo và thu nhập thấp.
Các ví dụ nêu trên là bằng chứng minh hoạ sự đa dạng của các mô hình tài chính vi mô ở các nước Châu Á Sự đa dạng này cũng phản ánh thực trạng
là chưa có mô hình nào phù họp cho tất cả các nước Hơn nữa sự phong phú
về mô hình là một điều rất quan trọng cho sự phát triển của tài chính vi mô vì không thể chỉ đơn giản đem một mô hình đã thành công ở nơi này sang áp dụng vào điều kiện cụ thể ở nơi khác là có thể có được thành công Vì như đã nói ở trên, mỗi nước, mỗi vùng có những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau
và chính những sự khác nhau này đã đưa đến những mô hình thực hành tài chính vi mô khác nhau phù họp với thực tiễn
1.1.6 Khả năng tiếp cận và khả năng bền vững của các tổ chức tài chính vi mô:
Trang 19tiếp cận với các dịch vụ tài chính Nếu loại trừ Banladesh - quốc gia duy nhất thực sự tiếp cận được với số đông - thì số lượng những người tiếp cận được với dịch vụ tài chính vi mô chỉ còn chưa đến 1% nhóm mục tiêu”.
Tương tự như vậy, ADB cũng lưu ý rằng khoảng 95% trong tổng số
180 triệu hộ gia đình nghèo vùng Châu Á - Thái Bình Dương vẫn hầu như không được tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thức Phần lớn các MFI thường chỉ tập trung vào cấp tín dụng, huy động tiết kiệm vẫn chưa nhận được sự quan tâm thích đáng, và các dịch vụ tài chính khác như bảo hiểm và chuyển tiền thì còn ít được quan tâm hơn nữa Điều đó cho thấy, cầu tiềm năng đối với tài chính vi mô vẫn còn rất lớn Tăng tiếp cận đối với khu vực tài chính vi mô đòi hỏi phải mở rộng cả hoạt động tài chính vi mô của khu vực chính thức lẫn của các MFI chuyên doanh
số 49 MFI ờ vùng Châu Á - Thái Bình Dương được khảo sát trong BankPoor '96 đã bao gồm những tổ chức lớn nhất và thành công nhất trong khu vực nhưng cũng chì có sáu MFI trong số 49 MFI đó là đạt mức tự vững tài chính Tuy nhiên, để có thể tự vững các MFI lại phải đánh đổi bằng khả năng tiếp
Trang 20cận của mình Trong số 06 MFI tự vững tài chính nói trên thì chỉ có ASA (Banladesh) và Ngân hàng SEWA (Ẩn Độ) là tiếp cận được đến một lượng khách hàng nghèo đáng kể.
Trong số 104 MFI hàng đầu trên thế giới có tham gia cung cấp số liệu
cho The MicroBankỉng Bulletin (2000) thì chỉ có 60 tổ chức là tự vững tài
chính Tuy nhiên, chỉ có một số ít nằm ở vùng Châu Á Tuy bản tin không đưa số liệu cụ thể về từng MFI nhưng chỉ có 18 trong 104 MFI nói trên thuộc Châu Á, và những tổ chức này nói chung đều ở mức tự vững thấp hon các MFI vùng Mỹ Latinh Hon nữa, không phải tất cả các tổ chức nói trên đều lấy khách hàng nghèo làm mục tiêu Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng các MFI Châu Á nói trên đều hoạt động với mức chi phí thấp hon nhiều so với các chuông trình ở những nơi khác với mức lương thấp hon, hiệu suất làm việc của nhân viên cao hon, và tập trung vào đối tượng nghèo hon Tuy nhiên, tình hình tài chính của các chương trình Châu Á không tốt như các chương trình ở Châu Mỹ Latinh chủ yếu là do họ áp dụng mức lãi suất tương đối thấp, đặc biệt là ở vùng Nam Á
Những kết luận sơ bộ về phạm vi tiếp cận và tính bền vững nêu trên cũng thống nhất với kết quả của các nghiên cứu theo quốc gia Tại nhiều nước, như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Sri Lanka và ngay cả Việt Nam, tín dụng bao cấp được phân phát rộng rãi cho các hộ nghèo thông qua các Ngân hàng quốc doanh hoặc do chính phủ trực tiếp thực hiện Tại một số nước, những chương trình này đã với tới được một số lượng lớn các hộ gia đinh Tuy nhiên, phần lớn trường họp tín dụng bao cấp và các lợi ích tương ứng lại rơi vào những hộ gia đình không nghèo Hơn nữa, các chương trình này rõ ràng là không bền vững Các khoản vay đều mang tính ban phát một
lân chứ không đóng vai trò một nguồn dịch vụ tài chính liên tục đến với các
hộ gia đình nghèo Nếu những chương trình này được loại ra thỉ chỉ còn ở
Trang 21Banladesh và may ra là Indonesia, mức tiếp cận đối với người nghèo của tài chính vi mô mới được coi là đáng kể.
Tại Bangladesh, các MFI đang phục vụ khoảng 9 triệu khách hàng với hon 80% các hộ gia đình nghèo được tiếp cận với dịch vụ tài chính vi mô Ước tính số lượng các MFI tại nước này khoảng 1.000 tổ chức, tuy nhiên hai mươi tổ chức lớn nhất đã chiếm khoảng 85% khách hàng, ở những vùng mật
độ dân cư đông đúc thì cạnh tranh giữa các MFI khá gay gắt, và kết quả là các khách hàng được lợi, tuy vậy vẫn còn một phần nhỏ chưa được tiếp cận nhiều với dịch vụ tài chính vi mô Ngay cả ở Banladesh thì ba MFI lớn nhất (ngân hàng Grameen, Ưỷ ban Tiến bộ Nông thôn Banladesh (BRAC) và Proshika)
và phần lớn trong số hàng trăm MFI nhỏ đều không phải là những tổ chức tự vững Tuy nhiên, ASA, MFI lớn thứ tư ở Banladesh và một vài MFI nhỏ hơn lại tự vững
Tại Indonesia, một loạt các định chế tài chính chính thức cũng tham gia cung cấp dịch vụ tài chính cho khu vực nông thôn Những tổ chức này đều có phạm vi tiếp cận rộng và phần lớn là tự vững Các bộ phận của BRI, các ngân hàng nông thôn, và các định chế tài chính loại nhỏ khác đang phục vụ khoảng
30 triệu khách hàng và tất cả đều tham gia ở một mức độ nào đó vào hoạt động tài chính vi mô Tuy nhiên, phần lớn khách hàng của những tổ chức này không phải là người nghèo Ngoài ra, người ta ước tính hiện khoảng 400 NGO đang tham gia hoạt động tài chính vi mô với khoảng 200.000 khách hàng Tuy nhiên, nếu xét chung cả khu vực tài chính vi mô thì phạm vi tiếp cận của tài chính vi mô Indonesia là lớn nhưng lại chỉ rất ít người nghèo và hộ gia đình thu nhập thấp được tiếp cận với các dịch vụ tài chính
Tại các nước Châu Á khác, phạm vi tiếp cận và tính bền vững của tài chính vi mô còn thấp hơn nhiều, ở Philippines, phạm vi tiếp cận của các NGO tài chính vi mô được ước tính khoảng 100.000 khách hàng năm 1995
Trang 22tuy nhien con so nay chăc chăn là có tăng kê từ đó Ngoài ra, một loạt các tổ chức khác như các ngân hàng nông thôn và các hợp tác xã cũng tham gia vào tai chinh VI mo ơ mọt mưc đọ nhat đinh Tuy nhiên, phạm vi tiêp cận vẫn chỉ
ở mức thấp khi so với cầu tiềm năng, và chỉ rất ít MFI là đạt mức tự vững hoạt động
ở các nước Nam Á, ngoại trừ Bangladesh, phạm vi tiếp cận của các chưcmg trình tài chính vi mô đích thực vẫn thấp khi so với cầu tiềm năng Tại
An Độ, ước tính khoảng 400 đến 500 NGO có tham gia tài chính vi mô nhưng tổng số tiếp cận thì chưa đến 1,5 triệu hộ gia đình, rất nhỏ khi so với số hộ gia đmh ngheo trên toàn quôc Trong khi một sô NGO nhấn mạnh vào tự vững thì trong nhieu trưong hợp chenh lệch lãi suât lại quá thâp khiên cho họ không the dạt được mục tieu đo mà vân phải dựa vào hô trợ của nhà tài trợ Tại Nepal, các chương trình tài chính vi mô do các ngân hàng phát triển nông thôn (RRDBs) và các NGO thực hiện, ước tính có khoảng 70.000 khách hàng Mức độ tự vững thường là thấp Tại Pakistan, ước tính các NGO có hoạt động tài chính vi mô đến được với khoảng 800.000 khách hàng Tuy nhiên các NGO lớn nhất hoạt động thông qua các tổ chức làng xã, là các kênh phân phối của nhiều chương trình phát triển kinh tế, xã hội khác nhau, số khách hàng nhận tiếp cận được với các dịch vụ tài chính vi mô chắc chắn chỉ là một phần trong tổng số khách hàng của các NGO này Chỉ một sổ ít các MFI ở Pakistan
có mong muốn xây dựng những tổ chức tự vững được về tài chính Tại Sri Lanka, các hiệp hội tín dụng và tiết kiệm có tổng số thành viên gần 800 000 người, bao gồm nhiều hộ nghèo Nhiều NGO cũng tham gia vào tài chính vi mô: một sô hoạt động khá tôt và một số khác thì lại hướng cầu
Tại Trung Quôc, điểm nổi bật nhất là tín dụng bao cấp dược phân bố rộng rãi thông qua các chương trình của chính phủ Nhiều dự án nhỏ cố gắng
áp dụng các kinh nghiệm quốc tế về tài chính vi mô, phần lớn những chương
Trang 23trình này là do các NGO quốc tế hỗ trợ Những dự án này có phạm vi tiếp cận rất nhỏ nếu so với cầu tiềm năng của thị trường đối với loại hình dịch vụ tài chính vi mô bền vững Các định chế mới xuất hiện từ đống đổ vỡ của các hợp tác xã tín dụng cũng đang bắt đầu áp dụng các nguyên tắc bền vững hơn ở những vùng mà điều kiện chính trị và quản lý nhà nước thuận lợi cho các hoạt động kiểu này.
Tại Papua New Guinea và Vanuatu chỉ một số rất ít các chương trình tài chính vi mô là được thành lập hẳn hoi (thực tế, ở Vanuatu chỉ có một trường hợp) Tất cả các chương trình đều có độ tự vững thấp, điều này phản ánh mật độ dân số thấp, quy mô hoạt động nhỏ và cấu trúc chi phí lớn Ở những nước này, cầu tín dụng bị hạn chế do sản xuất chủ yếu là tự cung tự cấp và thiếu những cơ hội làm việc tạo thu nhập thêm trên thị trường của nền kinh tế nói chung Ở Cộng hoà Kyrgyz cũng vậy, chỉ một số ít các NGO là có tham gia vào tài chính vi mô
1.1.7 Chức năng của tài chính vi mô:
Một cách tổng quan, chức năng của tài chính vi mô là cung ứng các
dịch vụ tài chính cho nhóm khách hàng mục tiêu là người nghèo và thu nhập thấp Đây cũng chính là lý do ra đời và tồn tại của hoạt động tài chính vi mô
va cung la yeu to cơ ban đe phân biệt tài chính vi mô với hoạt động ngân hàng thong thương, mạc du ve ban chât tài chính vi mô là hoạt động ngân hàng và cũng có những chức năng như hoạt động ngân hàng
Thông thường các tổ chức tài chính vi mô hoạt động như một yếu tố bổ sung cho hệ thống các tổ chức tài chính chính thức, phục vụ phân đoạn thị trường không có hoặc ít có khả năng tiếp cận với các tổ chức tài chính chính thưc (ngươi ngheo va thu nhập thâp) Các sản phâm và phương pháp cung ứng dịch vụ của tài chính vi mô về bản chất cũng giống như của khu vực
Trang 24chính thức, tuy nhiên để phù họp với phân đoạn thị trường đặc biệt của mình các sản phẩm và dịch vụ này đã được điều chỉnh để thích ứng với những đặc tính mới của nhóm khách hàng mục tiêu.
Ngoài ra, do khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động tài chính vi mô ở các nước khác nhau cũng rất khác nhau nên chức năng của tài chính vi mô ở những nước khác nhau cũng có thể thay đổi, mở rộng và thu hẹp trên cơ sở các chức năng cơ bản của hoạt động ngân hàng Chẳng hạn như ở hầu hết các nước, các tổ chức tài chính vi mô không được phép cung ứng dịch vụ thanh toán, khi ấy, tài chính vi mô sẽ không có chức năng làm trung gian thanh toán, ở những nước khác, tài chính vi mô lại không được phép huy động tiết kiệm, và do vậy sẽ không có chức năng tập trung tư bản từ những nguồn vốn nhỏ như các ngân hàng thương mại với hoạt động ngân hàng thông thường
1.2 VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VÓI TÀI CHÍNH VI MÔ
1.2.1 Mục tiêu của Ngân hàng Trung ương
Vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) đối với tài chính vi mô liên quan chặt chẽ đến vai trò rộng lớn hơn của tổ chức này đổi với hệ thống tài chính và nền kinh tế nói chung, về cơ bản, NHTW có một số mục tiêu sau:
- Các mục tiêu cụ thê hoặc mục tiêu kinh tế vĩ mô (liên quan chủ yếu đến lạm phát và tỷ giá);
- Các mục tiêu chiến lược dài hạn đối với sự phát triển khu vực tài chính (bao gồm phát triển một hệ thống thanh toán hiệu quả và các dạng công
cụ tài chính khác nhau); và
- Các mục tiêu theo từng lĩnh vực hoặc mục tiêu kinh tế vi mô (như giám sát an toàn và bào hiểm tiền gửi)
Trang 25Các mục tiêu của chính sách tiền tệ bao gồm tăng trưởng kinh tế, lạm phát thấp, ổn định tiền tệ Tuy nhiên, phần lớn những nhà bình luận đều cho rằng đóng góp chính của chính sách tiền tệ đối với quản lý kinh tế trong dài hạn là duy trì lạm phát thấp Người ta đều cho rằng mức lạm phát thấp sẽ tạo nền tảng thiết yếu cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững Thực tế thì tại nhiều nước lạm phát thấp cũng đã góp một phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của khu vực tài chính vi mô Trong một số trường hợp, Chính phủ đặt ra các mức lạm phát mục tiêu và NHTW sẽ phải duy trì tỷ lệ lạm phát trong một phạm vi đã xác định trước Một quan điểm được nhiều người thừa nhận là NHTW sẽ duy trì được mức lạm phát một cách hữu hiệu nhất và thực hiện các chức năng khác của mình tốt nhất khi độc lập với Chính phủ.
Gần đây, ở một số nước phát triển, người ta có xu hướng chia tách chức năng của NHTW thành hai tổ chức riêng biệt NHTW có trách nhiệm điều hành chính sách tiền tệ và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính, và điều tiêt hệ thông thanh toán Một cơ quan giám sát ngân hàng mới sẽ được thành lập chịu trách nhiệm về các quy chế an toàn và giám sát các tổ chức nhận tiền gửi Tuy nhiên, cho tới nay, mô hình này vẫn chưa được áp dụng ở Châu Á
1.2.2 Nhận thức của các NHTW về Tài chính vi mô
Mức độ các NHTW tham gia vào tài chính vi mô phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của bản thân các NHTW về vai trò của họ đối với khu vực tài chính Điều này lại phụ thuộc rất nhiều vào vấn đề NHTW nhìn nhận đâu là mục tiêu của họ Nếu NHTW nào nhìn nhận mục tiêu của họ chủ yếu liên quan tới chính sách tiền tệ và việc quản lý, giám sát an toàn hệ thống ngân hàng thì ít có khả năng nhận thấy rằng họ nên hỗ trợ khu vực tài chính vi mô Trái lại, NHTW nào nhìn nhận nhiệm vụ của mình bao gồm cả việc phát triển
Trang 26hệ thống và góp phần vào mục tiêu phát triển chung thì sẽ có nhiều khả năng
hỗ trợ cho hoạt động tài chính vi mô hơn
Vì thực ra bản chất của hoạt động tài chính vi mô là hoạt động ngân hàng, các tổ chức tài chính vi mô cũng cung ứng các dịch vụ tài chính cho khách hàng như bất kỳ một tổ chức tài chính nào khác Chỉ khác là đối tượng khách hàng của tài chính vi mô là người nghèo và thu nhập thấp Chính vì vậy, có thể coi tài chính vi mô là một họp phần không tách rời của hệ thống tài chính, bổ khuyết cho những tổ chức tài chính lớn Nếu NHTW nhìn nhận vai trò của mình là phát triển hệ thống thì không thể không hỗ trợ cho hoạt động tài chính vi mô
Tại một sô nước, NHTW nhận thức được vai trò chính thức của mình trong hỗ trợ tài chính vi mô Ở Ấn Độ, NHTW có vai trò truyền thống đói với
sự phat trien cua thị trường tài chính và cơ sở hạ tâng tài chính và trong những năm gần đây NHTW Ấn Độ ngày càng tăng cường sự thừa nhận đầy
đủ hơn vị trí của tài chính vi mô Còn ở Nepal thì kể từ khi thành lập NHTW
đã coi việc cung cấp tín dụng cho người nghèo nông thôn là một mục tiêu quan trọng và đã triển khai một số biện pháp mang tính sáng tạo để đạt được mục tieu nay ơ Sri Lanka, thì ngay từ câp cao nhât, NHTW cũng đã xác định việc hỗ trợ hoạt động tài chính vi mô như một nhiệm vụ của mình
Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN VN) cũng phần nào nhìn nhận vai trò tham gia đóng góp vào mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo của Chính phủ Có nhiều hoạt động của NHTW thể hiện vai trò này trong đó có cả những hoạt động liên quan đến tài chính vi mô
ở Indonesia, sự hỗ trợ của NHTW đối với tài chính vi mô có liên quan tới sự phát triển của khu vực tài chính, chứ không chỉ liên hệ cụ thể với công tác giảm nghèo Thống đốc trước đây của NHTW đã thừa nhận rằng chính sách của NHTW đối với hệ thống tài chính có thể tác động tới nghèo đói Tuy
Trang 27nhiên, bản thân công tác giảm nghèo là chức năng của Chính phủ mà NHTW chỉ có thê góp phân tạo điêu kiện nhất định trong phạm vi chức năng của NHTW mà thôi.
Nhưng nói chung, tại phần lớn các nước, NHTW không nhận thức được ràng họ có vai trò gì quan trong đối với tài chính vi mô Nói chung, điều đó phản ánh sự hạn chế về nguồn lực và sự mong muốn tập trung vào cái gọi là
“các chức năng cơ bản” Trong một vài trường hợp, thậm chí các NHTW có thể quan ngại về sự xuất hiện của tài chính vi mô vì các hoạt động này dường như mang tính chất phi tập trung và tự phát và do vậy, khó có thể kiểm soát được Chẳng hạn như trong trường họp của Trung Quốc, NHTW phản đối sự xuất hiện của các các tổ chức tài chính không được quản lý, giám sát ở cấp địa phương vì nhiều vi phạm đã xảy ra và NHTW hoàn toàn không ủng hộ việc các NGO hay một tổ chức cộng đồng đứng ra đảm nhiệm một vai trò nào
đó trong hoạt động trung gian tài chính
1.2.3 Các hoạt động phát triển và hoạt động khuyến khích của NHTW đối với tài chính vi mô:
1.2.3.1 H oạt động mang tính phát triển:
Nói một cách đơn giản, hoạt động phát triển của NHTW là việc NHTW hấp thụ một sổ chính sách tài khoá mang tính bao cấp của Chính phủ vào chính sách tiền tệ của mình với mục tiêu phát triển kinh tế, phát triển hệ thống tài chính
Hoạt động này được thể hiện ở việc NHTW đứng ra bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng, góp vốn và tham gia quản lý đối với các tổ chức hoạt động chính sách, cho vay các ngành ưu tiên, áp dụng lãi suất khác nhau với các khu vực kinh tế khác nhau, áp dụng các cơ chế và lãi suất tái chiết khấu ưu đãi cho nhưng đoi tượng nhât đinh, hay áp đặt một tỷ lệ nhât định giữa tín dụng chỉ
Trang 28định đối với tiền gửi tại các chi nhánh nông thôn của các ngân hàng Quyền
sở hữu của Chính phủ tại các ngân hàng cũng có thể được coi là một hoạt động phát triển mặc dù quyền sở hữu đó và các hoạt động phát sinh từ quyền
sở hữu này không nhất thiết liên quan trực tiếp tới NHTW Một điều quan trọng cân lưu ý là các hoạt động phát triển thường nhằm góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung chứ không phải sự phát triển của bản thân khu vực tài chính Trên thực tế, các hoạt động này thường gây ra tình trạng ”kiềm chế tài chính” và có tác động tiêu cực đối với sự phát triển của khu vực tài chính Tuy nhiên, sự thật không phải lúc nào cũng như vậy
a Tín dụng chỉ định
Trong các chương trình tín dụng chỉ định, các ngân hàng thương mại buộc phải dành một tỷ trọng nhất định dư nợ cho vay để cho vay đối với các khu vực/ngành nghề đặc biệt Các chưong trình này thường được NHTW đứng ra quản lý
Có thể lấy ví dụ về loại hình này từ trường họp của Ấn Độ Tất cả các ngân hàng thương mại và các ngân hàng nông thôn khu vực buộc phải dành 40% cho vay ròng của ngân hàng để cho vay các khu vực/ngành ưu tiên Theo quy đinh chung, ít nhât 18% dư nợ cho vay phải dành cho nông nghiệp 10% nữa phải dành cho các khu vực yếu thế hơn như các nông dân nhỏ thợ thủ công nông thôn, người làm thuê trong lĩnh vực nông nghiệp Phân bổ 12% con lại la tuy chọn va có thê cho các nhóm trên hoặc cho các ngành có quy
mô nhỏ Trong dư nợ cho vay đối với các ngành có quy mô nhỏ, 40% phải dành cho ngành “tí hon”
Trung Quốc, Cộng hoà Kyrgyz, và Việt Nam không có các yêu cầu tín dụng chì định như trên mà tín dụng chỉ định lại tồn tại ở một hình thức hơi khác Ở Trung Quốc, phân bổ tín dụng thường do trung ương quyết định và
Trang 29lập thành kê hoạch như một phân không tách rời của kế hoạch sản xuất vật chất chung của Nhà nước Theo kế hoạch tín dụng này, NHTW ấn định tổng mức tín dụng ngân hàng và phân bố tín dụng theo khu vực/ngành Các tổ chức cho vay thực hiện nghĩa vụ của mình bằng cách tuân thủ hạn mức tín dụng đã được quy định Năm 1998, Trung Quốc đã bãi bỏ hoàn toàn các kế hoạch tín dụng chỉ định của Trung ương, các ngân hàng phân bổ tín dụng trên cơ sở thị trường thay vì tuân theo các chỉ thị của NHTW và Chính phủ như trước kia Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của nhiều cấp chính quyền đối với việc cho vay vẫn còn tồn tại với thuật ngữ “cho vay thương mại hoá theo định hướng chính sách” hàm ý những ưu đãi mà đối tượng được vay có thể được hưởng theo một chính sách nào đó.
Tín dụng chỉ định gây ra kiềm chế tài chính và cản trở sự phát triển của một hệ thông tài chính bền vững Các chương trình cho vay như vậy thường
có tỷ lệ hoàn trả thấp Vào đầu thập kỷ 90, tỷ lệ hoàn trả ở Án Độ, Nepal, và Pakistan nằm trong khoảng từ dưới 50% tới khoảng 75% Các bằng chứng cho thấy tỷ lệ hoàn trả đối với các chương trình tương tự ở Trung Quốc cũng vào khoảng 50% Tín dụng chỉ định thường chịu sự chi phối của trần lãi suất
và mức lãi suất trần quá thấp không đủ để bù đắp chi phí hoạt động và chi phí nguồn vốn Do vậy, các khoản cho vay này thường gây lỗ cho các ngân hàng thương mại Tín dụng chỉ định cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực tới bảng tổng kết tài sản của NHTW khi các khoản cho vay theo tín dụng chỉ định được phép nhận tái cấp vốn từ NHTW
b Các hoạt động phát triển khác để hỗ trợ Tài chính vi mô
Như đã đề cập ở trên, các hoạt động phát triển có thể bao gồm bảo lãnh
và bảo hiểm tín dụng, góp vốn và tham gia quản lý các tổ chức hoạt động chính sách, cho vay các khu vực/ngành ưu tiên, áp dụng lãi suất phân biệt, tỷ
Trang 30lẹ va cơ chê tái chiêt khâu ưu đãi, và tỷ lệ tín dụng chỉ định/tiền gửi đối với chi nhánh của ngân hàng nông thôn Các hoạt động này được tiến hành với mục tiêu điều chỉnh phân bổ nguồn lực và thường liên quan tới các chương trình dài hạn với nguồn tài trợ lớn của NHTW Điều này sẽ có ảnh hưởng tới tổng lượng tiền cung ứng.
Để đạt được cùng những mục tiêu trên, Chính phủ, các cơ quan tài trợ
và các NHTW có thể hỗ trợ cho sự phát triển của tài chính vi mô và qua kênh này gián tiếp đạt được các mục tiêu của mình NHTW cũng có thể có nhiều each hô trợ, có thê cho vay hoặc trợ giúp nguồn lực, tái tài trợ hoặc bảo lãnh các khoản cho vay của các MFI và các ngân hàng, làm đầu mối thu hút các chương trình tài trợ rồi cho vay lại đến các MFI hoặc các ngân hàng
Hỗ trọ Các tổ chức tài chính vi mô phi ngân hàng riêng lẻ Như đã
đề cập, các MFI ở hầu hết các nước đã nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ bên ngoài Trước đây, hầu hết những hỗ trợ này là dưới hình thức hỗ trợ tài chính trực tiep tới các MFI riêng lẻ Những hô trợ như vậy rất quan trọng trong việc giup các MFI xây dựng và mở rộng phạm vi tiếp cận của mình cũng như sự tự vưng ve tai chinh Tuy nhiên, phân lớn những hoạt động hỗ trợ này được thực hiện một cách không hiệu quả và không có tính liên tục Một quan điểm hiện được nhiều người chấp nhận là chỉ nên hỗ trợ các tổ chức thể hiện được cam kết và năng lực tiếp cận người nghèo trên cơ sở bền vững
Các NHTW thường không trực tiếp hỗ trợ tài chính cho các MFI không phải là các tổ chức tài chính chính thức Tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ Như ơ Bangladesh, NHTW đã hô trợ cho Ngân hàng Grameen ngay từ năm
1979, trước khi ngân hàng này được thành lập như một ngân hàng phát triển chuyên doanh vào năm 1983 NHTW cũng dành cho Ngân hàng Grameen một hạn mức tín dụng nhất định; trong năm 1993-94 NHTW hỗ trợ một hạn mưc tin dụng 6 ty TK (122 triệu USD) Tuy nhiên, ngân hàng Grameen chỉ
Trang 31sử dụng chưa đến một nửa hạn mức đó Tại Trung Quốc, NHTW bắt buộc phai ho trợ các họp tác xã tín dụng nông thôn (RCC) bằng nhiều cách bao gồm cả “cho vay chính sách” Các khoản cho vay của NHTW được cấp cho các RCC ở những vùng nghèo mà không có khả năng huy động tiết kiệm đủ
để đáp ứng nhu cầu tín dụng nông nghiệp của địa phương Các RCC do NHTW quản lý, giám sát, và có thể được coi là “tổ chức gần như ngân hàng ”
Hỗ trợ Các M FI bán buôn Nhiều nước đã có một số hình thức tổ chức tài chính vi mô “bán buôn” có chức năng điều chuyển vốn tới các MFI rieng le To chưc cho vay bán buôn lớn nhât và thành công nhất là Palli Karma Sahayak Foundation ở Bangladesh Ở Ấn Độ, Pakistan, Philippines Nepal, va Sri Lanka, cac to chức tài chính vi mô cũng có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động tài chính vi mô
Đã có nhiều tranh luận về tác dụng của các MFI bán buôn McGuire (1998) đã cho rằng các tổ chức này có thể là một công cụ hữu hiệu để hỗ trợ các MFI Ông ta lập luận rằng việc có một tổ chức đứng ra chịu trách nhiệm phân tích và giám sát két quả hoạt động của các MFI sẽ hiệu quả hơn là việc nhiều cơ quan của Chính phủ và các cơ quan tài trợ tự mình đánh giá và giám sat Cac to chưc cho vay bán buôn cũng có thê đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và áp đặt các chuẩn mực hoạt động và báo cáo cho các MFI Tuy nhien, Gonzalez-Vega (1998) lại cho răng các tô chức cho vay bán buôn chỉ cỏ thể đóng vai trò hữu hiệu khi đã có sẵn một nhóm các MFI bán lẻ đủ mạnh Các vấn đề vướng mắc khác đối với các tổ chức bán buôn có thể bao gồm việc các tổ chức này thiếu sự độc lập về mặt chính trị hoặc phải chịu áp lực giải ngân, dẫn đến việc hạ thấp các chuẩn mực tín dụng
Vê nguyên tăc, các NHTW có thể cung cấp vốn cho các tổ chức cho vay bán buôn để cho vay lại đối với các MFI bán lẻ, hoặc các tổ chức cho vay bán buôn có thể tái tài trợ đối với các MFI bán lẻ Trên thực tế hiện nay
Trang 32dường như không có ví dụ nào về việc NHTW cung cấp vốn thông qua các tổ chức cho vay bán buôn Thay vào đó, các NHTW có thể hoạt động như các tổ chức cho vay bán buôn trong phạm vi thẩm quyền của mình Như đã đề cập NABARD ơ An Đọ đa thực hiẹn chức năng này với mức độ nhỏ (mặc dù với vai trò là đại lý cho NHTW) Một ví dụ khác là ở Nepal, nơi mà NHTW quản
lý Quỹ Tự vững Nông thôn Quỹ này cung cấp các khoản cho vay bán buôn đôi với các MFI để cho vay tiếp tới người vay cuối cùng
Chính phủ điều hành các chương trình tài chính vi mô cụ thể với nguồn vốn được chuyển thông qua các ngân hàng Những chương trình như vậy, cùng với các yêu cầu về tín dụng chỉ định, là hoạt động phát triển phổ biến nhất mà các NHTW thường tham gia
Chương trinh lơn nhât trong sô các chương trình này là Chương trình Phát triển Nông thôn Tổng họp (IRDP) ở Ẩn Độ Chương trình này liên quan tới việc cấp tín dụng của các ngân hàng, với phần bao cấp bằng tiền của Chính phủ cho người vay NHTW cũng tham gia, bởi vì các khoản cho vay của các ngân hàng trong khuôn khổ IRDP đủ điều kiện để được tái tài trợ từ NABARD Nhiều đánh giá đã cho thấy IRDP chưa đạt được các mục tiêu của mình Ví dụ, một hội đồng chuyên gia, do NHTW (Ngân hàng Dự trữ Án Độ nam 1995) thanh lập, phát hiện thây răng các khoản cho vay thường chỉ tới các hộ gia đình khá giả, và tỷ lệ hoàn trả chỉ đạt 30%
Nhieu nươc khác cũng hô trợ thông qua hệ thông ngân hàng của họ và thường với sự tham gia của NHTW Ở Nepal, NHTW là cổ đông chính của Công ty Bảo lãnh Tín dụng - tổ chức điều hành quỹ bảo lãnh cho vay gia súc
và tín dụng cho các khu vực ưu tiên, ở cả Nepal và Sri Lanka NHTW là cơ quan thực hiẹn đôi VỚI các dự án tài chính vi mô được tài trợ bởi các tổ chức bên ngoài và được điều chuyển thông qua hệ thống ngân hàng Các chương
Trang 33trinh vạn hanh thông qua hệ thông ngân hàng với sự tham gia ở những mức
đọ khac nhau cua NHTW cũng là đặc điêm của tình hình tài chính vi mô ở PRC, Cộng hoà Kyrgyz, và Pakistan
Kinh nghiệm từ những chương trình như vậy cho thấy các chương trình này thường không thành công và các ngân hàng thương mại thường là những đoi tac khong nhiệt tình Goodwin-Groen (1998) đã phát hiện được rằng trên 95% các ngân hàng thương mại mà bà ta nghiên cứu ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương thực hiện việc cho vay tài chính vi mô chỉ vì Chính phủ yêu cầu
họ phải thực hiện Trong nhiều trường họp, các chương trình như vậy được vạn hanh thong qua cac ngân hàng quôc doanh Trong hâu hết các trường họp chất lượng tín dụng thấp, quy mô thì rất nhỏ, và/hoặc các khoản cho vay khong đên được người nghèo, mặc dù, như đã đề cập ở trên, trường họp của Indonesia là một ngoại lệ [11]
Thiết lập các hoạt động Tài chính vi mô bán lẻ của Chính phủ Mộtnhom chinh khac trong cac chương trình tài chính vi mô là các chương trình
do các cơ quan của Chính phủ trực tiếp điều hành Nhìn chung các chương trinh như vạy không thành công Một phân tích vê các chương trình tài chính
vi mô của Chính phủ ờ Philippines cho thấy các chương trình này không hiệu qua, bị chinh tri hoá quá nhiêu, không có sự phôi họp và không bền vững (Llanto, sđd 1996) Cac chi trích như vậy cũng có thê nhăm vào các các chương trình tài chính vi mô trực tiếp của Chính phủ ở những nước khác McGuire (sđd, 1998) đã kêt luận răng, nhìn chung, Chính phủ nên xoá bỏ các chương trình tài chính vi mô trực tiếp của Nhà nước và hỗ trợ tài chính vi mô thông qua các phương tiện khác [11]
ở hầu hét các nước, NHTW chưa có vai trò gì trong các chương trình tài chính vi mô trực tiếp của Chính phủ Tuy nhiên, ở Nepal, NHTW nắm giữ
cô phần đa số tại 05 ngân hàng phát triển nông thôn khu vực (RRDB) và bổ
Trang 34nhiệm tổng giám đốc của các ngân hàng này Năm 1998 NHTW cấp một hạn mức tín dụng 100 triệu NRs cho RRDB lớn nhất để khắc phục tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng do mở rộng nhanh chương trình Trên thực tế, sự tham gia đáng kể của NHTW vào việc quản lý các RRDB đem lại sự kiểm soát hiệu quả mặc dù cũng có sự can thiệp chính trị vào hoạt động của các RRDB NHTW cũng có cổ phần nhỏ ở hai ngân hàng phát triển lớn Tương tự như vậy, ở Sri Lanka, NHTW duy trì cổ phần bằng 72% và bổ nhiệm một số thành viên hội đồng quản trị đối với các ngân hàng phát triển khu vực mới.
I.2.3.2 Hoạt động mang tính khuyến khích:
Hoạt động khuyên khích của NHTW là những biện pháp tạo ra các yếu
tố ngoại sinh và làm giảm chi phí thông tin và giao dịch, có thể bao gồm việc
hỗ trợ các dự án thí điểm sử dụng các phương pháp mang tính sáng tạo đối với tài chính vi mô, tiến hành các nghiên cứu, thu thập và xuất bản số liệu đào tạo, vận động các cơ quan chính phủ khác có các chính sách phù hơp với tai chmh VI mô Trong hoạt động này, NHTW vừa đóng vai trò sáng tạo vừa đóng vai trò xúc tác
Ranh giới giữa các hoạt động khuyên khích và phát triển khá mờ nhạt Tuy nhien, cac hoạt động phát triên được tiên hành để tác động một cách trực tiếp tới việc phân phối nguồn lực, thường liên quan các chương trình dài hạn,
va thương đoi hỏi nguôn tài trợ lớn từ NHTW với những tác động ảnh hưởng tới tổng lượng tiền cung ứng Trái lại, các hoạt động khuyến khích liên quan tới các chương trình ngắn hạn, nhằm xúc tiến các hoạt động không có bao câp và tự nguyện của khu vực tư nhân, và chỉ liên quan tới những cam kết tài chính nhỏ của NHTW
NHTW có nhiều lý do thực hiện các hoạt động khuyến khích hơn so
VƠI cac hoạt đọng phat tnên Do vị trí của NHTW là cơ quan đầu mối của hệ
Trang 35thong tai chinh ncn cac NHTW hoan toan có thê đóng vai trò là người lãnh đạo và điều phối đối với tài chính vi mô Các NHTW có thể hỗ trợ các dự án thí điểm nghiên cứu và phổ biển các cách tiếp cận tiên tiến đối với tài chính vi
mô Một tổ chức áp dụng các cách tiếp cận mới thường có chi phí cao hơn những tô chức chỉ nhân rộng mô hình đã có, chi phí này phản ánh chi phí cao của việc xây dựng các hệ thống mới và mức độ rủi ro cao hơn Tuy nhiên nhưng to chưc luon đôi mới lại tạo ra được một môi trường tích cực chẳng hạn như các dạng tô chức, các quy trình và sản phẩm mới hoặc được hoàn thiện hơn, những đổi mới này sau đó sẽ được các tổ chức khác học hỏi Do vậy, việc cung cấp một khoản "vốn khởi điểm" rất nhỏ nhằm hỗ trợ những ý tương đoi mơi có ý nghĩa rât lớn lao và đây có thê là một hoạt động phù họp với vai trò của NHTW
Sự phân tách giữa các hoạt động phát triển và hoạt động khuyến khích
sẽ đặc biệt không rõ ràng khi NHTW tham gia hỗ trợ các dự án thí điểm Các
dự án thí điểm nhàm hỗ trợ liên két giữa các ngân hàng với các MFI ở Ấn Độ
và Indonesia, sẽ được thảo luận kỹ hơn sau đây, là một ví dụ đổi chiếu rất đáng quan tâm Khi hỗ trợ những ý tưởng kiểu này, NHTW nên có một chiến lược rõ ràng, xác định rõ phạm vi và thời gian hỗ trợ Ở Indonesia NHTW đang rút dần khỏi chương trình tái cấp vốn cho các ngân hàng/NGO/nhóm tương hỗ nhằm tránh việc biến chương trình này thành một cam kết phát triển khi dự án hết giai đoạn thử nghiệm Ngược lại, Án Độ vẫn tiếp tục tái cấp vốn ngay cả khi dự án đã hoạt động bền vững trên quy mô lớn
Cac hoạt đọng của NHTW nhăm tạo điêu kiện cho sự phát triển của khu vực tài chính vi mô bao gồm:
- Nghiên cứu thị trường tài chính nông thôn, tài chính vi mô, và tài chính không chính thức nhằm tăng sự hiểu biết giữa những người làm chính sách về cac dạc điem của các thị trường tài chính này và để đảm bảo rằng các chính
Trang 36sách đưa ra phải phù họp với thực tiễn Chẳng hạn như, có thể nghiên cứu về các vấn đề ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của các hộ gia đình thu nhập thấp như các yếu tố về quyền chiếm hữu và sử dụng đất, cầm cố động sản quy trình tịch biên tài sản và truy đòi những món nhỏ.
- Thu thập và xuât bản dữ liệu vê các hoạt động tài chính vi mô của các ngân hàng chính thức NHTW cũng có thể thu thập số liệu của các MFI phi ngân hàng, về mạng lưới các MFI và các định chế khác Điều này có thể giúp NHTW nắm được khả năng tiếp cận và khả năng bền vững của khu vực tài chính vi mô
- Tuyên truyên cho hoạt động tài chính vi mô bền vững thông qua việc chuẩn bị và phát các ấn phẩm về thông lệ tốt nhất của tài chính vi mô, thực hiện và/hoặc tham dự các hội thảo và các hoạt động tương tự
- Tiến hành hoặc khởi xướng các chương trình đào tạo cho các quan chức thuộc cơ quan nhà nước, các ngân hàng, các MFI, các tổ chức cho vay ban buon, va các tô chức khác Các chương trình đào tạo này nên tập trung vao vân đê khi nào thì NHTW nên đảm trách vị trí lãnh đạo rõ ràng về mặt chuyên môn, chẳng hạn như về các vấn đề chính sách và các chuẩn mực báo cáo và hoạt động hơn là tập trung vào các vấn đề cụ thể Ngoài ra, NHTW cũng có thê tạo điêu kiện hoặc phối họp về các vấn đề liên quan đến đào tạo
và tác nghiệp nếu không có bên nào khác tham gia
- Cung cấp chuyên gia nghiệp vụ ở những lĩnh vực mà NHTW có lợi thế
so sánh, chẳng hạn như giúp đỡ các tổ chức cho vay bán buôn, mạng lưới các MFI, và các tổ chức xếp hạng, tín nhiệm nhằm đưa ra các chuẩn mực báo cáo
và hoạt động cho các MFI
- Phổ biến các thông tin kinh tế cho khu vực tài chính vi mô, chẳng hạn như dữ liệu kinh tê vĩ mô, thông tin về tình hình hoạt động của những khu vực kinh tế nhất định và thông tin về các nguồn và chi phí vốn
Trang 371.3 K IN H NG H IỆM CỦA M Ộ T SỐ NƯ Ớ C VÈ TÀI CHÍNH VI M Ô
1.3.1 Kinh nghiệm các nước:
Ấn Độ
ơ Án Độ, NHTW và NABARD đã tiến hành rất nhiều những hoạt động
hỗ trợ khác nhau nhằm hỗ trợ tài chính vi mô Năm 1992 NABARD triển khai một dự án thử nghiệm liên kết nhóm tương hỗ (SHG) với các ngân hàng ngan hang cho SHG vay sẽ được NABARJD tái câp vôn Trong vài năm trước đây, dự án này đã nhận được nhiều sự chú ý và hiện nay đang được khuyến khích chuyển đổi thành một chương trình chính thức của khu vực ngân hàng Tháng 3/1999, chương trình báo cáo đã liên kết khoảng 33.000 SHG với các ngan hang va tiêp cận đên khoảng 560.000 gia đình Mặc dù ban đầu chương trinh được COI như một hoạt động khuyên khích nhằm nghiên cứu một cách tiêp cận mới đôi với tài chính vi mô nhưng hiện nay chương trình này đã bắt đầu mang dáng vẻ một hoạt động phát triển Cũng cần phải lưu ý là chương trinh nay hiẹn tại không bên vững Trân lãi suât áp dụng đối với lãi suất các ngân hàng cho NGO và SHG vay không đủ đề bù đắp chi phí của các NGO trong việc thành lập và đưa vào hoạt động các SHG
NABARD cũng cho vay bán buôn đôi với các MFI bán lẻ đang triển khai những hoạt động thử nghiệm trong lĩnh vực tài chính vi mô, và cũng đào tạo về tài chính vi mô, xây dựng năng lực cho cả nhân viên ngân hàng và MFI Tháng 2/2000, Bộ trường.BỘ Tài chính tuyên bố thành lập quỹ 1 tỷ Rs (23 triệu USD) thuộc NABARD nhằm mục đích khuyến khích hoạt động tài chính vi mô Quỹ được thành lập với mục đích hỗ trợ xây dựng năng lực cho các MFI và cung cấp vốn khởi động cho các chương trình tài chính vi mô
Trang 38Chúng ta có thể thấy rằng hoạt động này cũng pha trộn cả hoạt động phát triển lẫn hoạt động khuyến khích.
Indonesia
NHTW ở Indonesia cũng tham gia vào nhiều hoạt động khuyến khích khác nhau Thực tể thì đóng góp lớn nhất của NHTW đối với khu vực tài chính vi mô là về lĩnh vực khuyến khích chứ không phải phát triển NHTW đã đóng vai trò tích cực trong dự án liên kết các ngân hàng với các nhóm tương
hỗ (PHBK), dự án này triển khai năm 1989 phối họp với cơ quan hỗ trợ kỹ thuật của Chính phủ Đức (GTZ) Sau giai đoạn thử nghiệm đến năm 1992, dự
án vẫn tiếp tục tồn tại Năm 1995, NHTW dừng không cung cấp tái cấp vốn nữa, và hiện nay chương trình đã hoạt động bền vững, mặc dù vẫn có những hạn chế, và các ngân hàng tham gia đều áp dụng lãi suất thị trường
NHTW cũng tham gia vào các hoạt động khuyến khích khác, liên quan đến cả các MFI và các Ngân hàng nông thôn như tham gia thành lập Phong trào Liên hiệp Phát triển tài chính vi mô Indonesia vào tháng 3/2000; hỗ trợ
kỹ thuật cho các tổ chức tài chính nhỏ; tạo một quỹ cho vay xây dựng năng lực cho các ngân hàng nông thôn; đồng thời NHTW cũng tiến hành nghiên cứu khả thi lập một chương trình bảo hiểm tiền gửi cho các ngân hàng nông thôn và chủ động chuẩn bị cho ra đời chương trình này
Các nước khác
NHTW ở Bangladesh- cũng đã ban hành các thông tư hướng dẫn khuyến khích các ngân hàng thương mại cho vay các MFI, năm 1994, đã tiến hành một hội thảo về vấn đề này Tuy nhiên, đáng buồn là tác dụng các các biện pháp này không lớn, chỉ có một số nhỏ các ngân hàng tham gia cho vay MFI Gần đây, NHTW được Ngân hàng Thế giới hỗ trợ triển khai dự án tiến
Trang 39hành hai nghiên cứu Một nghiên cứu là về khuôn khổ pháp lý và tổ chức phù họp với chức năng quản lý và giám sát việc nhận tiền gửi của các MFI nghiên cứu thứ hai là vê cải cách quy định và các biện pháp khởi xướng khuyến khích liên kết giữa các MFI với khu vực tài chính chính thức.
ơ Cộng hoà Kyrgyz, NHTW đã áp dụng ngân hàng biện pháp có tính chất khuyến khích Công ty tài chính Hỗ trợ và Phát triển các Hiệp hội tín dụng (FCSCU), tổ chức do NHTW sở hữu 100%, được thành lập tháng 4/1997 nhăm triển khai và giám sát dự án hiệp hội tín dụng của ADB FCSCU tiên hành đào tạo vê quản lý, kế toán, phân tích tín dụng và các chức năng nghiẹp vụ khác của các hiệp hội tín dụng NHTW còn có một văn phòng đăng
ký theo dõi những tài sản thế chấp được dùng để bảo đảm cho các khoản cho vay Các MFI có thể tiếp cận trực tiếp với thông tin của văn phòng này Còn nhiều ý tưởng nữa về các hoạt động khuyến khích của NHTW nhưng những hoạt động này không nhận được nhiều sự quan tâm vì NHTW hiện cũng gặp nhiều khó khăn
NHTW Nepal cũng tham gia vào các hoạt động khuyến khích Việc đưa ra loại giấy phép hoạt động ngân hàng có hạn chế cho các MFI và việc xay dựng Đạo Luạt cac Hiệp hội trung gian Tài chính, trong khi có quản lý đặc thù đối với các tổ chức này, đều là nhằm mục đích khuyến khích sự phát tnen cua khu vực tai chinh vi mô Tât nhiên, không phải tât cả các quy định của Đạo luật nói trên đều phù họp với sự phát triển lâu dài của tài chính vi mô
va Đạo luạt sẽ con cân phải được sửa đôi đê đảm bảo được mục tiêu vừa nêuTại Papua New Guinea, hoạt động khuyến khích chủ yếu của NHTW là viẹc khôi phục lại các hoạt động hô trợ kê từ năm 1992 cho các hiệp hội cho vay và tiết kiệm nhằm bổ khuyết cho phạm vi tiếp cận đang giảm dần của hệ thống ngân hàng Đến năm 1998, NHTW giám sát việc thành lập 05 hiệp hội mới Ngoài ra, NHTW còn dự kiến sẽ xây dựng năng lực cho Liên đoàn các
Trang 40Hiẹp họi Cho vay và tiêt kiệm nhằm phục vụ cho công tác hỗ trợ kỹ thuật
quản lý và các dịch vụ hỗ trợ khác cho từng hiệp hội thành viên
ơ nhiêu nước, có thể cả Chính phủ và cộng đồng đều muốn NHTW hỗ tiợ cho sự phát triên của các hệ thống tài chính phục vụ hộ gia đỉnh nghèo Như đã thảo luận, NHTW chỉ nên thực hiện các hoạt động phát triển ở những gioi hạn nhat đinh Các hoạt động khuyên khích sẽ có những đónơ góp tích cực hơn và trong hoàn cảnh nào thỉ cũng sẽ ít xung đột với "việc chính" của NHTW hơn Ngoài ra cũng cần phải ý thức được rằng sự phân biệt giữa các hoạt động phát triển và hoạt động khuyến khích về một mặt nào đó là không rành mạch Chẳng hạn như trường họp các NHTW hỗ trợ ý tưởng đổi mới không nên được coi là lý do để tham gia sâu hơn vào các hoạt động phát triển
Hơn nưa, khong phải hoạt động khuyên khích nào cũng phù họp với NHTW ơ một sô nước, các tô chức khác có thể có lợi thế so sánh hơn đối với một số hoặc phần lớn các hoạt động khuyến khích đã đề cập đến trên đây Ngoài ra cũng còn phải tính đến nguồn lực của NHTW và nhu cầu phải cùno
cố những nhiệm vụ chính của NHTW như chính sách tiền tệ và quản lý giám sát an toàn các ngân hàng đã được cấp phép [11] [12]
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam:
Ta có thê thây rằng hoạt động tài chính vi mô là thực sự hiệu quả và cân thiêt trong việc đưa các dịch vụ tài chính đến với người nghèo và nmrợc lcỊĨ Với tỷ lệ hộ nghèo chiếm khoảng 20% dân số như hiện nay, sự phát triển của hoạt động tài chính vi mô ở Việt Nam sẽ là một sự bổ sung rất tốt cho hệ thống tài chính chính thức, phục vụ một thị phần lớn người dân nghèo đặc biệt là người nghèo ở nông thôn, không thể hoặc rất khó có thể tiếp cận được với các tổ chức tài chính chính thức