HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA SAO ĐẠI HOÍ NGUYỄN VIỆT ANH QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN NGÂN H
Trang 1UYÊN ViÊT, kNH
QUÁN TRỊ RỦI RO T IN DỤ; G T R O -JG H O Ạ ’: DỘNG CHO T MUẺ TẤI chếnh, t a i c ô n g 'í 'Y c iro o f ư F TÀ ỉ O F N K
Y'. ■ /ẨJH N H IỆ M H Ữ U HẠN M ’ ĩ THÀ' ã V ỈÊ
NG THƯƠNG M Ạ I CỎ P.ÌÁN CÔ; THI r< ,c
■' ƯẠN AN THẠC
V /m em m m /
Trang 2HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA SAO ĐẠI HOÍ
NGUYỄN VIỆT ANH
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG
CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN NGÂN HÀNG THƯONG MẠI CỎ PHẦN CÔNG THƯONG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TÉNgười hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Kim Hảo
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG TRUNG TẨM THÔNG TIN - THƯ VIỆN SỐ:
Hà Nội - 2013
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi Các số liệu đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Việt Anh
Trang 4STT Nội dung Trang
I
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN c o BẢN VÊ QUẢN TRỊ RỦI RO
TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI
CHÍNH
4
1.1. TỎNG QUAN VÊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG
1.1.2. Rủi ro tín dụng trong hoạt động Cho thuê tài chính 9 1.2. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO
1.2.1. Khái niệm và sự cần thiết của quản trị rủi ro 15 1.2.2. Các công cụ quản trị rủi ro tín dụng 20 1.2.3. Quy trình quản trị rủi ro tín dụng 22 1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng 33 1.3.
KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở MỘT SỐ CÔNG TY
CHO THUÊ TÀI CHÍNH CÁC NƯỚC VÀ BÀI HỌC ĐÓI VỚI
CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH VIỆT NAM
36
1.3.1. Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động Cho thuê tài
chính ở một số Công ty Cho thuê tài chính các nước 36
1.3.2. Kinh nghiệm đối với các công ty cho thuê tài chính Việt Nam 40
II
CHƯƠNG 2: THựC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DUNG TRONG HO AT DÕNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH • • •
TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TNHH MTV
42
Trang 5KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO TIN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG
CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI
CHÍNH TNHH MTV NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG
VIỆT NAM
42
2.1.1 Khái quát về hoạt động Cho thuê tài chính của Công ty 42
2.1.2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại Công ty 49
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG 'TY 73
2.2.2 Chiến lược chính sách quản trị rủi ro tín dụng 75
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY 86
2.3.2 Những hạn chê trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng 89
Ill
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
HOAT ĐỎNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TAI CÔNG TY • • •
CHO THUÊ TÀI CHÍNH TNHH MTV NGÂN HÀNG TMCP
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
97
Trang 63.1.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh của Công ty 973.1.2 Định hướng công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho
3.2
GIẢI PHÁP NẨNG CAO CHÁT LƯỢNG CỔNG TÁC QUẢN
TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ
TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TNHH
MTV NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯONG VIỆT NAM
100
3.2.1 Hoàn thiện cơ cấu bộ máy tổ chức quản trị rủi ro 100
3.2.2 Xây dựng định hướng chính sách cho thuê hợp lý 101
3.2.3 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định, đánh giá tài sản 1033.2.4 Nâng cao chất lượng công tác thu thập thông tin, xử lý thông tin
3.2.6 Thực hiện các biện pháp đảm bảo bổ sung 1063.2.7 Nghiêm túc thực hiện kiểm tra, giám sát trước, trong và sau khi
cho thuê, tích cực thu hồi nợ xấu, nợ ngoại bảng 107
3.2.9 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ 110
3.3.3 Đối với Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 115
Trang 7CTTC Cho thuê tài chính
Trang 82.7 Hiệp hội CTTC Việt Nam giai đoạn 2009 - 2012Tổng họp tỷ lệ nợ xấu (Nhóm 3, 4, 5) của các công ty CTTC thuộc 2.8 Phân loại dư nợ cho thuê và đầu tư theo các loại hình doanh nghiệp2.9 Dư nợ xấu phân theo loại hình doanh nghiệp
2.10 Dư nợ đầu tư và cho thuê theo các ngành kinh tế
2.11 Dư nợ xấu phân theo ngành kinh tế
2.12 Dư nợ đầu tư và cho thuê theo loại hình tài sản
2.13 Dư nợ xấu phân theo loại tài sản
2.14 Dư nợ đầu tư và cho thuê theo hình thức cho thuê
2.15 Dư nợ xấu phân theo hình thức cho thuê
2.16 Tỷ lệ các khoản nợ xử lý rủi ro
2.17 Tình hình trích lập dự phòng rủi ro cho thuê tài chính
2.18 Tỷ lệ dự phòng rủi ro so với nợ xấu
2.19 Thang điểm xếp hạng tín dụng
3.1 Trích chỉ tiêu kế hoạch giai đoạn 2013-2014
Trang 9Số hiêu • S O ’
1.1 Sơ đồ giao dịch cho thuê tài chính ba bên
1.2 Sơ đồ giao dịch cho thuê tài chính hai bên
1.3 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
2.1 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty từ năm 2009 đến năm 20122.2 Dư nợ cho thuê và đầu tư của Công ty từ năm 2009 - 2012
2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty giai đoạn 2009 -20122.4 Tỷ lệ nợ xấu của công ty giai đoạn 2009 - 2012
2.5 Tỷ lệ nợ xấu của các Công ty CTTC thuộc hiệp hội CTTC Việt Nam năm 20122.6 Cơ cấu dư nợ cho thuê theo loại hình doanh nghiệp
2.7 Cơ cấu dư nợ cho thuê và đầu tư theo các ngành kinh tế
2.8 Dư nợ đầu tư và cho thuê theo loại hình tài sản
2.9 Cơ cấu dư nợ cho thuê và đầu tư theo hình thức cho thuê
2.10 Tổng các khoản nợ XLRR và tỷ lệ các khoản nợ XTRR
2.11 Số liệu trích lập rủi ro của Công ty giai đoạn 2009-2012
2.12 Số liệu dự phòng rủi ro so với nợ xấu
2.13 Quy trình cho thuê tài chính (tóm tắt)
Trang 10MỎ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ở Việt Nam hiên nay, các tổ chức tín dụng nói chung và các công ty cho thuê tài chính nói riêng đã và đang phải chịu áp lực từ cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu Sự sụp đổ của hệ thông tài chính hệ lụy từ sự suy yếu của hệ thống ngân hàng
là bài học cảnh báo về chất lượng quản trị rủi ro tín dụng trong các tổ chức tín dụng Theo thống kê của Ngân hàng nhà nước đến hết tháng 12/2012 tỷ lệ nợ xấu của toàn
bộ hệ thống Ngân hàng chiếm khoảng 8,8 — 10% tổng dư nợ
Trong bối cảnh chung đỏ, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam nói chung và Công ty Cho thuê tài chính TNHH MTV Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam nói riêng ý thức được rằng, việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh phải đi đôi với quản trị rủi ro, đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê tài chính Là một đơn vị nằm trong hệ thống NHCT, Công ty Cho thuê tài chính NHCT cũng phải đối mặt với những cơ hội cũng như những rủi ro trong xu thế cạnh tranh và hội nhập quốc tế như các tổ chức tín dụng khác Theo báo cáo tổng kết hoạt uọng Kiph deanh' ty lệ nợ xấu của Công ty Cho thuê tài chính đến hết năm 2011 là 2,29%, tuy nhiên đến thời điểm hết 2012 tỷ lệ nợ xấu đã lên đến 3,14% đây là tỷ lệ cao hơn so với thông lệ và chuẩn mực quốc tê
Với tuổi đời 15 năm hình thành và phát triển, Công ty Cho thuê tài chính TNHH MTV Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam nhận thức được sự khó khăn của mình trong hoạt động quản lý nói chung và công tác quản trị rủi ro tín dụng nói riêng, đây là điều kiện tiên quyết để Công ty đứng vững trong cạnh tranh
và hạn chế những nguy cơ rủi ro có thể đến với mình
Vì những lý do trên, việc tìm hiểu, phân tích và nghiên cứu hoạt động quản trị rủi ro tín dụng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn: ‘ Q u ả n tr ị r ủ i ro tín d ụ n g tr o n g
h o ạ t đ ộ n g c h o th u ê tà i c h ín h tạ i C ô n g ty C h o th u ê tà i c h ín h T N H H M T V N g â n
h à n g T M C P C ô n g th ư ơ n g V iệt N a m” được tác giả lựa chọn để nghiên cứu
Trang 112 M ục đích nghiên cứu
Thứ nhất: Phân tích cơ sở lý luận chung về hoạt động cho thuê tài chính và quản
trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê tài chính của công ty cho thuê tài chính
Thứ hai: Trên cơ sở những lý luận đó, phân tích và đánh giá thực trạng quản
trị rủi ro tín dụng tại Công ty Cho thuê tài chính TNHH MTV Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Thứ ba: Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín
dụng của Công ty Cho thuê Tài chính TNHH MTV Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
dụng trong hoạt động cho thuê tài chính tại công ty cho thuê tài chính TNHH MTV Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
thuê tài chính tại Công ty Cho thuê tài chính TNHH MTV Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp điều tra nghiên cứu, phương pháp thống kê và so sánh, phân tích và tổng họp
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương như sau:
chính tại Công ty Cho thuê tài chính TNHH Một thành viên Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Trang 12C huong 3: Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty Cho thuê tài chính TNHH Một thành viên Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN c ơ BẢN VÈ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1.1 TỎNG QUAN VÈ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1.1 H oạt động Cho thuê tài chính
1.1.1.1 Khải niệm về hoạt động Cho thuê tài chính
Định nghĩa về cho thuê tài chính của ủy ban Chuẩn mực Kể toán Quốc tế đưa ra như sau: “Cho thuê tài chính là loại hình cho thuê tài sản có khả năng chuyển dịch về căn bản tất cả những rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản đó Quyền sở hữu có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê”
Ở Việt Nam, Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 của Chính phủ
về “Tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính” định nghĩa: “Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiêt bị, phương tiện vận chuyên và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng giữa bên thuê và bên cho thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyên và các động sản khác theo yêu câu của bên thuê và năm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã thỏa thuận Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê”;
Cũng theo Nghị định trên, một giao dịch cho thuê tài chính là một giao dịch thỏa mãn một trong những điều kiện sau đây:
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo họp đồng, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thỏa thuận của hai bên;
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua lại tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại;
- Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê;
Trang 14- Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng;
Điếm khác biệt lớn giữa quan điểm về cho thuê tài chính ở Việt nam so với nhiều nước khác trên thế giới là đối tượng cho thuê là máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác mà không áp dụng cho thuê đối với bất động sản
Một số điếm khác biệt của giao dịch cho thuê tài chính so với nghiệp vụ cho vay trung dài hạn:
về bản chất, có thể coi cho thuê tài chính là một loại hình tín dụng trung và dài hạn vì nó mang những đặc trưng cơ bản của tín dụng trung và dài hạn:
Bên cho vay (hay bên cho thuê) chuyển giao có thời hạn cho bên đi vay (bên
đi thuê) một lượng giá trị dựa trên cơ sở tín nhiệm
Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (hay cho thuê) hay nói cách khác là bên đi vay (đi thuê) phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc
Tuy nhiên, cho thuê tài chính vẫn có thể phân biệt với tín dụng trung và dài hạn thông thường của ngân hàng qua một số điểm sau:
Đối tượng của tín dụng trung và dài hạn là tiền trong khi đối tượng của cho thuê tài chính là tài sản hiện vật mà khách hàng yêu cầu từ trước Nhờ vậy, tài trợ bằng cho thuê tài chính đảm bảo sử dụng đúng mục đích vốn vay hơn
Đối với tín dụng trung và dài hạn, ngân hàng thường đòi hỏi khách hàng phải thế chấp tài sản, trong khi sử dụng dịch vụ cho thuê tài chính khách hàng không nhất thiết phải có tài sản đảm bảo vì tài sản cho thuê (thuộc sở hữu của bên cho thuê) cũng có thể coi như tài sản đảm bảo
Trong giao dịch tín dụng trung và dài hạn thường chỉ có sự tham gia của bên
đi vay và bên cho vay, còn trong cho thuê tài chính ngoài sự tham gia của bên thuê, bên cho thuê còn có sự tham gia của nhà cung cấp tài sản
Căn cứ vào đối tượng tham gia trong một giao dịch, cho thuê tài chính có thể chia ra làm 2 loại chính: (i) cho thuê tài chính ba bên, (ii) cho thuê tài chính hai bên
Trang 15Ngoài ra còn có trường hợp đặc biệt của cho thuê tài chính ba bên là cho thuê hợp vốn, và mua và cho thuê lại.
■ Cho thuê tài chính ba bên
Theo phương thức này, bên thuê được quyền lựa chọn, thỏa thuận với bên cung câp vê tài sản Bên cho thuê chỉ thực hiện việc mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê đã được hai bên thỏa thuận trong họp đồng cho thuê tài chính Quy trình này có sự tham gia của ba bên là bên cho thuê, bên thuê và nhà cung cấp
Sơ đồ 1.1: So' đồ giao dịch cho thuê tài chính ba bên
6
1 Bên thuê được chủ động lựa chọn máy móc thiết bị, thỏa thuận với nhà cung cấp bằng họp đồng hoặc biên bản ghi nhớ
2 Bên thuê - Bên cho thuê ký kết hợp đồng cho thuê tài chính
3 Bên cho thuê - Nhà cung cấp ký kết hợp đồng mua bán máy móc thiết bị là tài sản thuê theo thỏa thuận phù họp với yêu cầu của bên thuê quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính
4 Nhà cung cấp giao hàng cho bên thuê, lắp đặt, chạy thử, nghiệm thu tài sản
5 Bên cho thuê thanh toán tiền mua tài sản thuê cho nhà cung cấp
6 Bên thuê thanh toán tiền thuê tài chính theo họp đồng cho thuê tài chính
Đây là phương thức cho thuê tài chính được sử dụng phổ biến nhất nhờ những ưu điểm sau:
Trang 16- Bên thuê được quyền lựa chọn nhà cung cấp, trực tiếp thỏa thuận, đàm phán với nhà cung cấp về những đặc tính của sản phẩm nhằm lựa chọn ra sản phẩm phù họp nhất, thỏa mãn tối đa yêu cầu của bên thuê.
- Bên cho thuê không phải mua sản phẩm trước, như vậy sẽ giảm bớt những chi phí
vê kho bãi, hao mòn trong quá trình dự trữ và hon nữa còn giúp quay vòng vốn nhanh hon nhờ không phải dự trữ hàng tồn kho
- Bên thuê trực tiếp nhận sản phẩm từ nhà cung cấp, nhờ vậy, bên cho thuê giảm được rủi ro xảy ra khi bên thuê từ chối nhận hàng do những sai sót về mặt kỹ thuật
- Do việc lắp đặt, bảo dưỡng, sửa chữa sản phẩm đều thuộc trách nhiệm của nhà cung cấp và bên thuê nên bên cho thuê không phải quan tâm đến tình trạng hoạt động của tài sản
■ Cho thuê tài chính hai bên
Đây là phưong thức thường được các công ty kinh doanh bất động sản và các công ty sản xuất máy móc thiết bị thực hiện Nhờ phương thức này, các công ty tạo điều kiện cho khách hàng không cần phải mua mà vẫn có thể có được tài sản để sử dụng Phưong thức này chỉ có sự tham gia của bên thuê và bên cho thuê
So' đồ 1.2: Sơ đồ giao dịch cho thuê tài chính hai bên
1 Bên cho thuê và bên thuê ký họp đồng cho thuê
2 Bên cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho bên thuê
3 Bên cho thuê chuyển giao tài sản cho bên thuê
4 Theo định kỳ bên thuê thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê
Trang 17Theo phương thức này, trước khi thực hiện nghiệp vụ cho thuê, tài sản cho thuê đã thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê bằng cách sản xuất, mua tài sản hoặc tự xây dựng Các tổ chức tài chính rất ít áp dụng phương thức tài trợ này vì chỉ có thể sử dụng đối với những tài sản cho thuê bị thu hồi về mà không đem phát mại.
■ Mua và cho thuê lại
Đây là một dạng đặc biệt của loại hình cho thuê ba bên, trong đó bên thuê tài chính đồng thời là bên cung cấp tài sản
Trong hoạt động kinh doanh có nhiều doanh nghiệp thiếu vốn lưu động, hoặc
sử dụng nguồn vốn kinh doanh không cân đối (sử dụng nguồn vốn ngắn hạn đầu tư tài sản cổ định), đã ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp Để cải thiện tình hình tài chính, các doanh nghiệp này chọn phương thức bán lại tài sản là máy móc thiết bị cho ngân hàng để thu được một khoản vốn, cải thiện tình trạng lệch nguồn, đồng thời thực hiện thuê lại chính những tài sản đó để sử dụng, khai thác, đảm bảo ổn định sản xuất kinh doanh
Đối với hình thức mua và cho thuê lại, quy trình một giao dịch được thực hiện như sau: (1) Bên cho thuê và Bên thuê ký họp đồng thuê tài chính, theo đó có điều khoản thỏa thuận nhà cung cấp tài sản chính là Bên thuê (2)Bên cho thuê và Bên thuê ký kết họp đồng mua bán, trong đó Bên cho thuê là Bên mua, và Bên thuê
là Bên bán (3) Bên mua (chính là Bên cho thuê) thanh toán tiền mua tài sản cho Bên bán (chính là Bên thuê) (4) Bên thuê nhận nợ và thanh toán cho Bên cho thuê theo lịch thanh toán hai bên ký kết
■ Cho thuê hợp vốn
Cho thuê tài chính hợp vốn cũng là trường họp đặc biệt của cho thuê tài chính ba bên trong đó bên cho thuê gồm từ hai công ty cho thuê tài chính trở lên Các công ty cho thuê tài chính thống nhất cử một công ty cho thuê tài chính đứng ra làm bên cho thuê tài chính đầu mối Bên cho thuê tài chính đầu mối đại diện cho các bên cho thuê họp vốn thực hiện các giao dịch với Bên thuê và hưởng phí đầu mối Tất cả các bên cho thuê tài chính hợp vốn tiến hành góp vốn, san sẻ lợi ích và rủi ro theo tỉ lệ góp vốn Cho thuê tài chính hợp vốn thường được áp dụng trong trường
Trang 18hợp khoản cho thuê tài chính vượt quá hạn mức cho phép của NHNN quy định tại từng thời kỳ Quy trình một giao dịch cho thuê hợp vốn đổi với một Bên thuê cụ thê như sau: (1) Các bên cho thuê tài chính tham gia cho thuê tài chính hợp vốn
ký kết hợp đồng hợp vốn, theo đó thỏa thuận mức góp vốn, tiến độ góp vốn, quyền lợi được hưởng và rủi ro gánh chịu theo tỉ lệ vốn góp, chỉ định Công ty cho thuê tài chính là Công ty cho thuê đầu mối, phí đầu mối được hường (2) Công ty cho thuê tài chính đầu mối và Bên thuê ký kết hợp đồng cho thuê tài chính (3) Công
ty cho thuê tài chính đầu mối ký kết hợp đồng mua bán tài sản với Bên cung cấp (4) Các công ty cho thuê tài chính hợp vốn chuyển tiền cho Công ty cho thuê tài chính đầu mối theo tiến độ thỏa thuận tại họp đồng hợp vốn (5) Công ty cho thuê tài chính đầu mối thanh toán tiền mua tài sản cho Bên cung cấp theo hợp đồng mua bán đã ký kết (6) Bên thuê ký nhận nợ và thanh toán tiền thuê tài chính theo lịch thanh toán đã ký kết với Công ty cho thuê tài chính đầu mối (7) Công ty cho thuê tài chính đầu mối thanh toán tiền thuê thu được từ Bên thuê cho các công ty cho thuê tài chính hợp vốn
1.1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động Cho thuê tài chính
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Hoạt động kinh doanh luôn chưa đựng rủi ro và theo nghĩa chung nhất có thể hiêu rủi ro là khả năng có thể xảy ra tổn thất Cho thuê tài chính cũng là một hoạt động kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận, nên rủi ro phát sinh trong hoạt động cho thuê tài chính cũng không phải là một ngoại lệ
Rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính là sự xuất hiện của một hay một số biển cố không mong đợi gây thất thoát thiệt hại về tài sản, về thu nhập, uy tín của công ty cho thuê tài chính trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh cho thuê tài chính Trong hoạt động cho thuê tài chính tồn tại một sổ loại rủi ro như: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản Tuy nhiên, rủi ro tín dụng là rủi ro chủ yếu của hoạt động này
Rủi ro tín dụng là rủi ro về mất khả năng trả nợ của đối tác - Bên thuê tài chính Do Bên thuê tài chính có nhiều loại có thể là cá nhân, tổ chức, .nên rủi ro
Trang 19tín dụng có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Các đối tác khác nhau cần
có những phương pháp quản trị rủi ro khác nhau
Tùy theo mức độ về khả năng mất vốn, rủi ro tín dụng có the chia thành 2 loại là rủi ro đọng vốn (Bên cho thuê vẫn có khả năng thu hồi được khoản nợ song khó khăn) và rủi ro mất vốn (Bên cho thuê không thể thu hồi được khoản nợ) Rủi
ro đọng vốn sẽ ảnh hưởng tới kế hoạch sử dụng vốn, trong khi đó rủi ro mất vốn làm tăng chi phí (chi phí pháp lý, chi phí giám sát, nợ khó đòi ), làm suy giảm dòng tiền và làm giảm mức sinh lời (do mất gốc, chi phí dự trữ tăng cao )
1.1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, có thể chia thành hai loại chính: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan Rủi ro tín dụng xuất phát
từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan Rủi ro xuất phát
từ người đi thuê và người cho thuê gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, do môi trường kinh tế, chính trị không ổn định Nền chính trị quốc
gia ổn định là điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, là điều kiện thuận lợi thu hút, gọi vốn đầu tư Ngược lại, môi trường chính trị kém ổn định tất yếu dẫn đến sản xuất ngừng trệ, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng Quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của công ty cho thuê tài chính phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các công ty CTTC trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các công ty CTTC trong nước với hệ thống quản lý yểu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các công ty CTTC nước ngoài thu hút
Thứ hai, do môi trường tự nhiên Những nguyên nhân từ môi trường tự nhiên
như thiên tai, lũ lụt cũng gây ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh
Trang 20doanh và hiệu quả hoạt động kinh doanh của khách hàng đi thuê tài chính làm suy giảm khả năng trả nợ tiền thuê dẫn tới rủi ro tín dụng trong hoạt động Cl TC.
Thứ ba, do môi trường pháp lý chưa thuận lợi Chẳng hạn, việc thiếu sự hỗ
trợ phối họp từ phía cơ quan công an, tòa án trong việc thu hôi tài sản cho thuê, khởi kiện khi khách hàng vi phạm cam kết khiến khách hàng thiếu ý thức, cổ gắng trong thực hiện các cam kết trong họp đồng cho thuê tài chính đã ký kết, và vì vậy rủi ro tín dụng cao hơn
Thứ tư, do môi trường công nghệ, tập quán văn hóa xã hội thay đôi nhanh
chóng, đặc biệt trong xu hướng khoa học công nghệ phát triển phát triên mãnh mẽ trên quy mô toàn cầu Việc thay đổi nhanh chóng vê công nghệ, làm gia tăng hao mòn vô hình, đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục thay đổi mẫu mã hàng hóa, ngoài ra thị hiếu, quy mô, cơ cấu dân số, đặc thù kinh tế các vùng miền cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó có nguy
cơ dẫn đến rủi ro tín dụng
V Nguyên nhân chủ quan
■ Nguyên nhân từ phía công ty CTTC
Thứ nhất, xét về khía cạnh tổng thể, rủi ro tín dụng có thể xảy ra do chính
sách cho thuê của công ty cho thuê tài chính chưa hợp lý Chăng hạn, một chính sách tập trung vào mục tiêu tăng trưởng dư nợ cho thuê hơn là chú trọng vào chât lượng cho thuê có thể làm gia tăng các khoản cho thuê tài chính không tôt Hoặc Công ty cho thuê tài chính chưa xác định rõ ràng được thị trường mục tiêu dẫn đến phát triển không có định hướng, đầu tư vào các lĩnh vực có độ rủi ro cao Trong quản trị tác nghiệp, việc công ty cho thuê tài chính không có hoặc chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp quản lý hợp lý trong quy trình cho thuê, không có những giải pháp kịp thời đối phó với sự suy giảm chất lượng cho thuê, còn chú trọng vào những chỉ tiêu mang tính hình thức cũng dẫn tới kẽ hở trong quy trình làm tăng khả năng rủi ro tín dụng xảy ra
Thứ hai, công ty CTTC chưa chú trọng giám sát và quản lý sau khi cho thuê
Các công ty CTTC thường chỉ chú trọng nhiều vào công tác thẩm định trước khi
Trang 21cho thuê mà nới lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho thuê Khi công ty cho thuê thì khoản cho thuê cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ kinh doanh nói riêng và công ty cho thuê tài chính nói chung Việc theo dõi hoạt động của khách hàng thuê nhằm tuân thủ các điều khoản đã đề ra trong hợp đồng cho thuê tài chính giữa công ty và khách hàng nhằm tìm ra cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh Tuy nhiên trong thời gian qua các công ty CTTC chưa thực hiện tốt công tác này Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ cho thuê, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà công ty CTTC yêu cầu.
Thứ ba, công ty CTTC thường lỏng lẻo trong công tác kiểm tra, kiểm toán
nội bộ Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống “phanh” của cỗ xe CTTC
Cồ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới Tuy nhiên công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ hầu như chỉ tồn tại trên hình thức, chưa cảnh báo được rủi ro tín dụng mà chỉ xử lý vụ việc khi đã phát sinh rủi ro tín dụng trong hoạt động CTTC
Thứ tư, rủi ro tín dụng cũng có thể xuất phát từ yếu tố thiếu nguồn lực cần
thiêt đê phát huy hiệu quả công tác quản trị rủi ro mà công ty cho thuê tài chính đã
đề ra như nhân lực chưa đầy đủ về số lượng hay chưa được đào tạo một cách thích họp, vốn đầu tư cho nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin chưa họp lý, cơ sở hạ tầng khác không đáp ứng yêu cầu công việc
Thứ năm, do bố trí cán bộ thiểu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Các vụ án kinh tế liên quan đến hoạt động của các TCTD trong thời gian qua thường có sự thông đồng hoặc tiếp tay của một số cán bộ tiếp tay cùng với khách hàng làm giả hồ sơ thuê, nâng giá trị tài sản thuê cao hơn thực tế để rút tiền của TCTD Đạo đức của cán bộ là một trong những yếu tố quan trọng để giải quyết vấn
đề hạn chế rủi ro tín dụng Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm,
Trang 22nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác kinh doanh.
■ Nguyên nhân từ phía khách hàng thuê tài chính
Thứ nhất, do khách hàng chịu sự tác động của môi trường kinh doanh không
thuận lợi, không lường trước được, ví dụ như sự thay đổi về giá cả, nhu cầu thị trường, sự thay đổi trong chính sách điều hành của Chính phủ dẫn đến việc khách hàng không xoay sở được và gặp khó khăn về tài chính, vì thế dù khách hàng có thiện chí trả nợ nhưng cũng không có cách nào để trả được nợ
Thứ hai, do tình hình hoạt động của bên thuê Nếu hoạt động kinh doanh của
khách hàng suôn sẻ, họ sẽ hoàn thành nghĩa vụ tài chính với bên cho thuê Nhưng ngược lại, nếu họ gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh hoặc bên thuê cũng không được bạn hàng của họ trả nợ sẽ làm giảm khả năng chi trả của họ dẫn đến có thể không thực hiện đúng các cam kết với công ty CTTC Mặt khác, có thể do trình
độ quản lý yếu kém dẫn đến khả năng sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát về vốn sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng Thêm nữa, có nhiều khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ trong khi biện pháp xử lý thu hồi
nợ của công ty CTTC kém hiệu quả
Thứ ba, do tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch Quy
mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác,
rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh
và trung thực Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho công ty nhiều khi chỉ mang tính hình thức hơn là thực chất Khi cán bộ cho thuê lập các bản phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực Dần đến việc quyết định cho thuê sai lệch, cho thuê đối với những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả
1.1.2.3 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
Mức độ rủi ro tín dụng có thể được đo lường qua 4 chỉ tiêu chủ yếu như sau:
Trang 23a) H I = Nọ’ Xấu/Dư nọ' cho thuê tài chính
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 Chỉ tiêu HI phản ánh chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng Chỉ tiêu này cho biết trong tổng số dư nợ cho thuê tài chính nợ xấu bằng bao nhiêu, hay chiếm bao nhiêu phần trăm Chỉ tiêu này càng cao
có nghĩa là chất lượng tín dụng của công ty cho thuê tài chính càng thấp, rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê càng lớn
b) H2=Tổn thất cho thuê/dư nọ' cho thuê tài chính
Neu như chỉ tiêu trên phản ánh rủi ro tiềm ẩn thì chỉ tiêu này cho thấy sự tổn thất thực sự của công ty cho thuê tài chính Tỉ lệ này tỉ lệ thuận với mức độ rủi ro tín dụng trong hoạt động của các công ty cho thuê tài chính Để thấy kết quả quản
lý, thu nợ của công ty cho thuê tài chính, người ta có thể kết họp chỉ tiêu này với tỷ
lệ thu hồi vốn/nợ đã xử lý
c) H3 = Nợ xấu/vốn chủ sỏ’ hữu
Chỉ tiêu nợ xấu trên vốn chủ sở hữu thể hiện mức độ tổn thất của công ty cho thuê tài chính so với năng lực tài chính hiện thời Tỉ lệ này càng cao cho thấy khả năng chống đỡ với rủi ro tín dụng của công ty cho thuê tài chính càng thấp Nếu nợ xấu quá lớn so với vốn chủ sở hữu có nghĩa công ty cho thuê tài chính có thể mất khả năng thanh toán các nghĩa vụ công nợ của mình
d) H4 = Tỷ lệ nợ xấu /D ự phòng rủi ro tín dụng
Nhằm chống đỡ với rủi ro tín dụng xảy ra, các công ty cho thuê tài chính thực hiện trích lập dự phòng rủi ro - gồm dự phòng chung và dự phòng cụ thể Chỉ tiêu nợ xấu/quỹ dự phòng cho thấy khả năng bù đắp rủi ro tín dụng của công ty cho thuê tài chính
e) H5 = Dự phòng rủi ro tín dụng/ Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này vừa cho thấy chất lượng nợ xấu của doanh mục đầu tư vừa cho
ta thấy khả năng bù đắp các rủi ro phát sinh khi so sánh với chỉ tiêu H1
Chỉ tiêu này cho ta thấy mức độ tập trung tín dụng của danh mục đầu tư đối với các ngành kinh tế hoặc các loại hình doanh nghiệp Khi quá tập trung cho vay
Trang 24vào một ngành hoặc một nhóm đối tượng Khách hàng thì nguy cơ phát sinh rủi ro tín dụng cao hơn.
Ngoài ra, tuỳ yêu cầu quản lý, có thể sử dụng những chỉ tiêu khác khi xem xét, đánh giá chât lượng danh mục cho thuê tài chính và chất lượng quản trị rủi ro tín dụng của công ty cho thuê tài chính Tuy nhiên, với các công ty cho thuê tài chính hiện nay, chỉ tiêu nợ xấu hoặc nợ quá hạn trong tổng dư nợ thường là những chỉ tiêu đánh giá chủ yếu
1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết của quản trị rủi ro
1.2.1.1 Khái niệm quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro có thể hiểu là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của các nhà quản trị doanh nghiệp lên đối tượng quản trị và khách thể kinh doanh nhăm mục tiêu phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh từ đó nâng cao mức độ an toàn, khả năng sinh lời và đạt được các mục tiêu tăng trưởng trong ngắn hạn và dài hạn ở mỗi doanh nghiệp
Đôi với các tổ chức tài chính tín dụng nói chung, các công ty cho thuê tài chính nói riêng thì quản trị kinh doanh cũng chính là quản trị rủi ro đặc biệt là rủi ro tín dụng, hay nói cách khác quản trị rủi ro tín dụng chính là nhiệm vụ trung tâm của hoạt động quản trị ở mỗi tổ chức tín dụng, ở mỗi công ty cho thuê tài chính
Như vậy, hiểu một cách đơn giản thì quản trị rủi ro tín dụng tại các công ty cho thuê tài chính là quá trình các công ty cho thuê tài chính xây dựng các chính sách, quy trình, các công cụ, tổ chức bộ máy, nhằm nhận diện, đo lường, giám sát rủi ro tín dụng
1.2.1.2 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro
Lợi nhuận trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng gắn liền với rủi ro đặc biệt là rủi ro tín dụng, hoạt động kinh doanh càng thu được nhiều lợi nhuận thì đồng nghĩa với việc tỷ lệ rủi ro càng lớn Vì vậy yêu cầu đặt ra cho các công ty CTTC đó là cân đôi giữa lợi nhuận có thê đạt được và mức độ rủi ro tín dụng có khả năng chịu đựng được Có thê coi rủi ro tín dụng là một phần tất yếu của kinh doanh ngân hàng, tuy
Trang 25nhiên cần xem xét sự ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động của công ty CTTC nói riêng và đến nền kinh tế nói chung.
Sự ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của công
ty CTTC cũng như ảnh hưởng đến nền kinh tế khiến cho các công ty CTTC ngày càng phải nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê Các công ty CTTC phải nâng cao chất lượng rủi ro tín dụng vì những lý do sau:
■A Đối với công ty CTTC
Đặc trưng trong hoạt động của các công ty CTTC cũng giống như hoạt động Ngân hàng đó là huy động vốn để cho vay - công ty CTTC huy động tiền nhàn rỗi
từ người thừa vốn để cho những người thiếu vốn vay với mục đích thu hồi được tiền gốc và lãi cho vay vào một thời điểm nhất định trong tương lai Tuy nhiên hoạt động cho thuê của các công ty CTTC luôn tiềm ẩn những rủi ro khiến cho công ty CTTC không thu hồi được hoặc không thu hồi đủ tiền gốc và lãi khi đến hạn Chính
vì vậy, hoạt động cho thuê của công ty CTTC luôn phải đi kèm với công tác quản trị rủi ro tín dụng Sự ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của công ty CTTC thể hiện rõ nét ở những mặt sau:
Anh hường tới khả năng thanh toán và các hoạt động khác của công ty CTTC
Như đã nói ở trên, hoạt động chủ yếu của các công ty CTTC đó là huy động vón đế cấp tín dụng Điều này quy định hoạt động chủ yếu của công ty CTTC là nhận tiên gửi, huy động vốn của các cá nhân tổ chức khác và sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi này đê cho vay những người thiếu vốn Nếu rủi ro tín dụng xảy ra công ty CTTC có thê không thu hồi được nợ đúng hạn trong khi đó các khoản vốn huy động vẫn phải thanh toán đúng hạn cho người gửi tiền, người cho vay Sự thiếu hụt nguồn vốn tạm thời xảy ra do rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán tạm thời cho công ty CTTC, đặc biệt nểu nhu cầu rút tiền của khách hàng tăng cao hoặc các khế ước vay đến hạn trong cùng một thời điểm Trong lúc không huy động được vốn do mất uy tín, người rút tiền ngày càng tăng lên thì kết quả là công ty CTTC gặp khó khăn trong khâu thanh toán
Trang 26Chất lượng quản trị rủi ro tín dụng kém hiệu quả đồng nghĩa với việc công ty CTTC kiểm soát các khoản nợ quá hạn kém, khả năng thu hồi nợ không hiệu quả và các biện pháp quản lý nợ không phát huy tác dụng Điều này phản ánh phần nào năng lực của công ty CTTC trong công tác điều hành và quản trị rủi ro tín dụng và tât yêu dẫn đến hiệu quả cho thuê thấp Công tác quản lý nợ kém sẽ dẫn đến khó khăn trong việc mở rộng phần tín dụng và tốc độ tăng trưởng tín dụng bởi công ty CTTC lúc này sẽ chú trọng công tác thu hồi nợ hơn là tăng trưởng, đặt mục tiêu an toàn cho thuê lên trước hết Trong khi đó môi trường cạnh tranh gay gắt với rất nhiều TCTD cùng tranh giành thị phần Nguồn vốn của công ty CTTC bị chiếm dụng bởi những khoản nợ quá hạn, không thu hồi được sẽ dẫn đến khó khăn trong việc luân chuyên vôn cho thuê đối với những khách hàng khác Điều này làm giảm khả năng phục vụ khách hàng dẫn đến khả năng cạnh tranh kém, giảm uy tín của công ty CTTC.
- Gia tăng chi phí và suy giảm lợi nhuận
Tỷ lệ nợ quá hạn tăng, mức tăng trưởng tín dụng quá nóng dẫn đến chi phí tổn thất cho thuê và các chi phí hoạt động khác tăng thêm do phải tăng tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản nợ quá hạn, điều này làm thu nhập của công ty CTTC giảm Thêm nữa chất lượng quản trị rủi ro tín dụng kém, dẫn đến nhiều khoản nợ không có khả năng thu hồi, chi phí thu hồi nợ tăng, chi phí tổn thất cho thuê tăng làm giảm lợi nhuận của công ty CTTC Hơn nữa, sự thiếu hụt vốn tạm thời do các khoản
nợ không trả được đúng cam kết dẫn đến khó khăn trong việc sử dụng nguồn vốn đầu
tư hoặt luân chuyển vốn cho thuê phục vụ khách hàng khác Giải pháp tình thế lúc này là công ty CTTC phải đi vay trên thị trường tiền tệ với lãi suất cao để đảm bảo đủ nguồn thanh toán, biện pháp này chỉ giải quyết được nhu cầu vốn tạm thời của công
ty CTIC song công ty CTTC lại phải chịu chi phí cao do lãi suất cho vay trên thị trường tiền tệ không nhỏ trong khi lợi nhuận không thay đổi, điều này ảnh hưởng trực tiếp đển hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty CTTC
HỌ C VIỆN N G ÂN H À NG TRUNG TÂM THÔNG TIN ■ THƯ VIỆN SỐ: LVL 1.1.11.I I.
Trang 27- Uy tín của công ty CTTC suy giảm
Mức độ rủi ro của các tài sản có trong công ty CTTC càng cao thì nguy cơ mât uy tín trên thị trưởng của công ty đó càng lớn Cụ thể, nếu công ty CTTC có tỷ
lệ nợ quá hạn cao, nợ xấu vượt mức cho phép, chất lượng cho thuê kém, khả năng thu hồi nợ thấp thì đồng nghĩa với mức độ rủi ro cao Không ai muốn gửi tiền vào một công ty CTTC có mức độ rủi ro cao như vậy Thêm nữa, thông tin về những rủi
ro trong công ty CTTC thường có hiệu ứng lan truyền rất lớn, vì vậy chỉ cần một công ty CTTC có dấu hiệu xảy ra rủi ro sẽ dẫn đến tâm lý không tin tưởng trong dân chúng vào công ty CTTC cũng như ngân hàng mẹ của nó, điều này khiến cho việc huy động vốn của toàn hệ thống gặp rất nhiều khó khăn Bên cạnh đó, việc giảm uy tín còn làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty CTTC, càng làm cho hoạt động của công ty CTTC gặp nhiều khó khăn hơn
- Nguy cơ phá sản Công ty CTTC
Rủi ro tín dụng xảy ra thường tạo cho công ty CTTC những tổn thất về tài chính nhưng những thiệt hại về uy tín, để mất lòng tin của xã hội là những tổn thất còn lớn hơn nhiều, vấn đề giữ uy tín là điều tối quan trọng, chỉ cần mất niềm tin vào tổ chức tín dụng thì sẽ xảy ra tình trạng rút tiền hàng loạt Nếu rủi ro xảy ra ở mức độ công ty CTTC không có khả năng ứng phó thì sẽ gây ra phản ứng dây chuyền trong dân chúng, dân chúng sẽ đổ xô đến công ty CTTC và các TCTD để rút tiền gửi CTTC là hoạt động tín dụng trung và dài hạn nên công ty CTTC không thu thu hồi vốn ngay, đồng thời rủi ro tín dụng đã làm mất một phần vốn của công ty CTTC, như vậy công ty CTTC không còn khả năng thanh toán và sẽ đi đến phá sản
V Đổi với khách hàng
Rủi ro tín dụng không chỉ gây hậu quả nghiêm trọng đối với công ty CTTC
mà nó còn tác động xấu đối với khách hàng
- Đổi với người gửi tiền: khi công ty CTTC gặp phải rủi ro tín dụng, tức là công
ty CTTC không thu hồi được gốc và lãi của từng khoản đã cho thuê, vốn để công ty CTTC tài trợ cho doanh nghiệp một phần từ nguồn tiền gửi của người gửi tiền Bên cạnh đó, khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ ảnh hưởng đến uy tín của công ty CTTC dẫn
Trang 28đến khách hàng đến rút tiền hàng loạt, vì vậy công ty CTTC mất khả năng thanh toán Khi đó khách hàng cũng phải đối mặt với rủi ro là họ không thể thu hồi lại khoản tiền gửi.
- Đổi với người thuê tài chính: Khi công ty CTTC có rủi ro tín dụng ở mức độ cao
ảnh hưởng đến uy tín của công ty CTTC, việc huy động vốn của công ty CTTC sẽ khó khăn hơn và công ty CTTC sẽ phải trả cho họ một lãi suất cao đồng thời công
ty CTTC áp dụng chính sách thận trọng hơn khi cho thuê Như vậy, công ty CTTC
sẽ hạn chế cho thuê và áp dụng các điều khoản cho thuê chặt chẽ hơn, đồng thời phải áp dụng lãi suất cao hơn để đủ bù đắp lãi suất cao từ các khoản tiền gửi Do đó, người đi thuê sẽ gặp khó khăn trong việc huy động và phải huy động vốn với lãi suât cao hơn, ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả kinh doanh của người đi thuê
- Đổi với khách hàng gây ra rủi ro tín dụng: Cụ thể khách hàng thuê tài chính gây
ra nợ xấu, nợ quá hạn sẽ bị áp dụng một mức lãi suất phạt cao hơn lãi suất cho thuê thông thường (thường là 150% lãi suất trong hạn), làm tăng chi phí kinh doanh của bản thân họ Đồng thời họ mất đi hẳn nguồn vốn từ công ty CTTC đó và cơ hội để khách hàng tìm được các nguồn tài trợ khác trong nền kinh tế sẽ giảm đi rất nhiều vì không còn uy tín trong khả năng trả nợ
Qua đây có thể thấy rằng nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng không chỉ quan trọng với công ty CTTC mà còn vô cùng cần thiết đối với khách hàng thuê tài chính và người gửi tiền
V Đoi với nền kinh tế
Hoạt động của công ty CTTC tuy rằng còn khá mới mẻ tại Việt Nam tuy nhiên hoạt động CTTC liên quan đến nhiều ngành nghề Công ty CTTC dần được coi là trung gian tài chính của nền kinh tế có quan hệ trực tiếp và thường xuyên với tât cả các tô chức kinh tê và mọi thành phần kinh tế Do đó khi rủi ro tín dụng xảy
ra có thể gây tổn thất lan truyền trong mọi tổ chức kinh tế và các cá nhân khác Đặc biệt khi các công ty CTTC mất khả năng thanh sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống các công ty CTTC - ngân hàng theo phản ứng dây chuyền Khách hàng thuê tài chính sẽ gặp khó khăn trong việc huy động vổn đầu tư tài sản dẫn tới tăng chi
Trang 29phí tài chính dẫn tới thua lỗ, phá sản Các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, khó
có thê thanh toán nợ sẽ ảnh hưởng tới cả nên kinh tê cũng như đôi với công ty CTTC mà doanh nghiệp đó thuê tài chính Như vậy sự đổ vỡ của một công ty CTTC
có thể kéo theo sự đổ vỡ của hệ thống các Công ty CTTC và ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng, gây mất lòng tin ở dân chúng và có thể dẫn tới khủng hoảng kinh
tế Từ đó nền kinh tế suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế xã hội, nạn thất nghiệp tăng lên kéo theo một loạt các tệ nạn khác, xã hồi mất ổn định
1.2.2 Các công cụ quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê tài chính là điều mà tất cả các công ty cho thuê tài chính đều quan tâm Việc quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê tài chính được các công ty sử dụng một số công cụ và biện pháp chủ yếu sau:
- Quy định về cho thuê tài chính:
Hoạt động CTTC tiềm ẩn nhiều rủi ro vì vậy việc ban hành quy định về hoạt động CTTC nhất quán, hợp lý, phù họp với các quy định hiện hành của pháp luật về CTTC là rất cần thiết Các quy định sẽ là hành lang xuyên suốt giúp công ty hoạt động đúng hướng, lựa chọn được các khách hàng đủ tiêu chuẩn, các hồ sơ cần thiết cho việc xem xét, quyết định cho thuê
- Quy trình cho thuê:
Quy trình cho thuê là những quy định nội bộ của công ty về trình tự các bước nghiệp vụ trong một quá trình cho thuê, từ khi nhận hồ sơ cho thuê đển khi quyết định cho thuê, thu hồi gốc lãi cho thuê và kết thúc họp đồng thuê Xây dựng một quy trình cho thuê họp lý sẽ giúp cho công tác quản lý cho thuê được thống nhất, khoa học đồng thời nâng cáo trách nhiệm của từng khâu trong quy trình cho thuê Tất cả các khâu trong quá trình cho thuê đều có khả năng xảy ra rủi ro, đòi hỏi nhà quản lý cần có quy trình cho thuê chặt chẽ, thường xuyên giám sát để xử lý nghiêm khăc đối với từng khâu, quy trách nhiệm đúng người, đúng việc
Trang 30- Xây dựng hệ thống chấm điểm, xếp hạng khách hàng:
Hệ thống chấm điểm, xếp hạng khách hàng được xây dựng trên nguyên tắc chấm điểm dựa trên cơ sở các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của khách hàng nhằm lượng hóa rủi ro tín dụng mà công ty CTTC sẽ phải đối mặt Xây dựng một hệ thống chấm điểm, xếp hạng khách hàng giúp cho việc đánh giá khách hàng được nhât quán, giảm bớt các đánh giá mang tính chủ quan của con người Ngoài ra nó còn là cơ sở để quyết định cho thuê, đánh giá thực trạng khách hàng, là cơ sở để phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro cho thuê tài chính
- Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro:
Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro là một công cụ quản trị rủi ro mà bất
cứ công ty cho thuê tài chính nào cũng áp dụng Việc phân loại nợ các khoản vay thành các nhóm khác nhau dựa trên đánh giá về mức độ rủi ro của các khoản vay, giúp nhà quản lý đánh giá đúng chất lượng cho thuê, đồng thời là cơ sở để xác định mức dự phòng cần trích lập cho các khoản vay có dấu hiệu giảm khả năng thu hồi
Hiện nay ở Việt Nam, các công ty cho thuê tài chính đang thực hiện việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 493 Theo quy định này, tất cả các khoản cho thuê tài chính được phân loại vào 5 nhóm nợ, việc phân loại nợ có thể sử dụng một trong hai phương pháp: phương pháp định lượng (Điều 6- Quyết định 18)
và phương pháp định tính (Điều 7- Quyết định 493)
Theo điều 6- Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của NHNN, các tổ chức tín dụng phải tiến hành phân loại nợ theo 5 nhóm:
Trang 31R= max{0, (A - C)}x r
Trong đó:
- R: So tiền dự phòng cụ thể phải trích
- A: Số dư nợ gốc của khoản cho thuê
- C: Giá trị khấu trừ của tài sản (bằng giá trị tài sản nhân (x) tỷ lệ khấu trừ)
- r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
Ngoài phân loại nợ theo phưong pháp định lượng trên, đến nay hầu hết các công ty CTTC còn áp dụng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro CTTC theo phương pháp định tính (theo điều 7, quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005) Việc phân loại nợ theo phương pháp định tính là xu thể tất yếu của thể giới mà công ty CTTC các nước đang áp dụng, dựa trên hệ thống xếp hạng và chấm diêm khách hàng có thê đánh giá khách hàng ở mọi thời diêm, giúp cho việc phân loại nợ và trích lập dự phòng được tự động Với phương pháp định tính giúp cho nhà quản trị công ty CTTC đánh giá đủng thực trạng của khách hàng bởi các yếu tố tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng, đánh giá được chất lượng hoạt động CTTC của mình, từ đó đưa ra các quyết sách đối phó với những rủi
ro có thể xảy ra nhằm giảm thiểu rủi tối đa tổn thất
1.2.3 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng gốm 4 khâu chính là: Xác định hạn mức rủi ro; đánh giá rủi ro; theo dõi rủi ro và kiểm soát rủi ro
Sơ đồ 1.3: Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
a) Xác định hạn mức rủi ro
Xác định hạn mức rủi ro là việc các công ty CTTC xác định mức độ rủi ro tín dụng, mức độ tổn thất mà công ty có thể chịu được trong nồ lực để có được lợi
Trang 32nhuận Dựa trên cơ sở mức sẵn sàng chịu đựng rủi ro tín dụng và sức mạnh tài chính của chính mình, Hội đồng quản trị hoặc Ban điều hành theo định kỳ có trách nhiệm xem xét lại và thông qua các hạn mức đó Các mức này sau đó được thông báo tới toàn bộ nhân viên công ty và bộ phận quản lý, bộ phận quản lý có trách nhiệm đảm bảo các bộ phận có liên quan của công ty tuân thủ các hạn mức này
b) Đánh giá rủi ro
Việc đánh giá rủi ro đòi hỏi phải xác định được rủi ro tín dụng liên quan đến hoạt động của công ty cho thuê tài chính, phải có các chốt kiểm tra nằm trong các quy trình nghiệp vụ (hệ thống kiểm soát nôi bộ) để kiềm chế rủi ro tín dụng trong các hạn mức đã được đê ra cùng với các biện pháp để theo dõi các trường họp ngoại
lệ vượt hạn mức rủi ro
Đánh giá rủi ro gồm 2 giai đoạn chính là: (i) Nhận biết rủi ro và (ii) Định lượng rủi ro
(ì) Nhận biết rủi ro:
Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê tài chính có thể được nhận biết dựa trên các yêu tô tạo nên rủi ro tín dụng Các yếu tố cấu thành tạo nên rủi ro tín dụng được giải thích như sau:
Các khách hàng và ngành kinh tế khác nhau có các rủi ro khác nhau: Khả năng tôn tại và phát triên của bât kỳ khách hàng nào cũng có mối liên quan với khả năng tăng trưởng của ngành mà khách hàng đang kinh doanh Trong trường hợp mức độ rủi ro tín dụng được xác định cao có thể hạn chế bằng cách đưa ra những yêu câu cao hơn vê tỉ lệ vốn tham gia đối ứng (tỉ lệ trả trước/trị giá tài sản cho thuê), hoặc yêu cầu có tài sản thế chấp, yêu cầu bảo lãnh, giám sát chặt chẽ hơn Chẳng hạn trong trường hợp thông tin tài chính công ty CTTC thu thập được không đầy đủ hoặc không đủ độ tin cậy do cơ chế quản lý chế độ tài chính
kê toán hiện nay còn chưa chặt chẽ đối với các doanh nghiệp tư nhân, khách hàng thể nhân,
Khả năng cấp tín dụng và trình độ cán bộ tín dụng: có thể xảy ra khi cán bộ tín dụng không xác định được rủi ro tín dụng khi tiến hành thẩm định cũng như
Trang 33trong suốt thời hạn cho thuê Ngoài năng lực của bản thân các cán bộ tín dụng còn
có yêu tố mức độ nguồn lực khác như nhân sự và cơ sở hạ tầng
Mức độ tập trung của danh mục cho thuê: một nhân tố tác động tiêu cực đến khoản cho thuê có thể gây ra tổn thất nghiêm trọng hơn nhiều nếu danh mục cho thuê của công ty cho thuê tài chính quá tập trung vào những khoản cho thuê có đặc thù như vậy Rủi ro tín dụng loại này có thể hạn chế thông qua sự đánh giá thường xuyên mức độ rủi ro của ngành, khu vực, loại hình tài sản cho thuê, đối tượng khách hàng,
(ii) Đo lường rủi ro:
Sau khi nhận biết được rủi ro tín dụng có thể xảy ra, các công ty CTTC cần phải tiên hành đo lường rủi ro tín dụng — tức là cụ thể hoá dưới những chỉ tiêu đánh giá giúp ban điều hành xác định được rủi ro tín dụng cần được ưu tiên theo dõi và kiểm soát
Trong bước đo lường rủi ro, thông tin về thành phần và chất lượng cho thuê
là yếu tổ rất quan trọng cho phép công ty cho thuê tài chính đánh giá được liệu công
ty cho thuê tài chính đã đáp ứng chiến lược rủi ro đề ra hay chưa
Rủi ro tín dụng có thể được đo lường bằng nhiều phương pháp:
^ Một mô hình xác định rủi ro tín dụng theo tiêu chuẩn 5 c (phươngpháp định tính)
Tiêu chuẩn 5C được áp dụng để đánh giá rủi ro đối với khách hàng bao gồm năng lực (Capacity), vốn (Capital), đảm bảo khoản vay (collateral), uy tín (Character) và các điều kiện khác (Conditions) Đánh giá này thích hợp khi đánh giá khách hàng ở giai đoạn xét duyệt cho thuê tài chính
Năng lực (Capacity) nói đến khả năng khách hàng có tiền để thanh toán các khoản nợ hay không Công ty cho thuê tài chính sẽ tính đến việc lưu chuyển tiền tệ của khách hàng, thời hạn hoàn trả, và khả năng việc hoàn trả nợ thành công Công
ty cho thuê tài chính đồng thời xem xét việc trả nợ trong quá khứ để xem xét khả năng trả nợ trong tương lai
Vốn (Capital) là tiền của khách hàng đã đầu tư vào phương án kinh doanh Chỉ sô nợ/vôn chủ sở hữu cao có nghĩa là khách hàng đã vay rất nhiều và khả năng rủi ro tài chính cao
Trang 34Đảm bảo cho khoản thuê (Collateral) hay sự bảo lãnh của bên thứ ba là một hình thức bảo hiểm trong trường họp khách hàng không thể trả nợ Nếu khách hàng không trả được nợ, công ty cho thuê tài chính sẽ thu hồi các tài sản đảm bảo để thay cho các khoản nợ.
Điều kiện (Conditions) liên quan đến mục đích của thuê tài chính và các điều kiện khác liên quan đến chu kỳ kinh doanh, các điều kiện kinh tế ở mức quốc gia, địa phương và công nghiệp Một nền kinh tế không ổn định sẽ có ảnh hưởng xấu đến việc đánh giá
Uy tín (Character) là ý thức trách nhiệm hoàn trả lại khoản nợ vay, nợ thuê tài chính của khách hàng Công ty cho thuê tài chính sẽ kiểm tra những khoản nợ trước đây, xem xét những báo cáo tín dụng, và trình độ học vấn cũng như kinh nghiệm kinh doanh Các vấn đề khác liên quan đến cá nhân, trình độ, kinh nghiệm của Ban lãnh đạo và nhân viên cũng sẽ được xem xét
> Ap dụng phương pháp chấm điểm xếp hạng tín dụng, (phương pháp định lượng)
Đây là một phương pháp tương đối khoa học khi định lượng rủi ro tín dụng, không chỉ hỗ trợ cho quá trình ra quyết cho thuê tài chính mà còn sử dụng để theo dõi khách hàng Trên thế giới, hệ thống cho điểm và xếp loại rủi ro là một phương thức căn bản trong việc xây dựng khung quản trị rủi ro tín dụng cho các tổ chức tín dụng Chấm điểm tín dụng sử dụng các phương pháp định lượng về tình hình hoạt động và uy tín của các giao dịch tín dụng trong quá khứ để dự đoán hoạt động tín dụng có những đặc tính tương tự trong tương lai Hệ thống chấm điểm tín dụng rất quan trọng trong việc quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng và cần được sử dụng ở nhiều giai đoạn trong chu kỳ tín dụng
Giai đoạn xem xét cho thuê tài chính: trong giai đoạn này, mức điểm tín dụng hồ trợ cho việc sàng lọc ban đầu đối với khách hàng nhằm ra quyết định từ chối hay tiếp tục đánh giá sâu hơn
Giai đoạn giám sát các khoản cho thuê: kết quả xếp hạng tín dụng đối với khách hàng thuê tài chính là một cách thức đánh giá hiện trạng khách hàng và phục
vụ công tác phân loại các khoản cho thuê một cách thích họp Một bộ phận xem xét
Trang 35tín dụng độc lập sẽ kiểm tra tính chính xác của việc cho điểm tín dụng, nếu thấy cần thiết sẽ yêu cầu phân loại lại và đề nghị mức trích lập dự phòng rủi ro cao hơn.
Công ty cho thuê tài chính cần phải xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu cho hệ thống chấm điểm tín dụng để đảm bảo các kết quả được lưu trữ và có thể khai thác phục vụ công tác quản lý Sau khi công ty cho thuê tài chính áp dụng hệ thống chấm điểm tín dụng, cần phải thường xuyên xem xét và hoàn thiện
về cơ bản, phương pháp chấm điểm tín dụng phân chia theo các đối tượng khách hàng khác nhau Tương ứng từng đối tượng khách hàng là các định chế tài chính, doanh nghiệp hay khách hàng cá nhân, công ty cho thuê xây dựng và áp dụng các tiêu thức, tỷ trọng tiêu thức và hệ thống tính điểm khác nhau
Đối với khách hàng là doanh nghiệp, việc cho điểm tập trung vào đánh giá 2 tiêu chí là các chỉ số tài chính và các chỉ tiêu phi tài chính theo các trọng số tính diêm tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp Đối với bất kỳ đối tượng khách hàng nào, các thông tin tài chính đã được kiểm toán sẽ được tin tưởng so với các thông tin chưa được kiểm toán, do đó, khi tính toán các chỉ số tài chính sẽ có tỷ trọng tính điểm cao hơn Ngoài ra, cũng có sự phân biệt các đối tượng khách hàng do khác biệt vê hình thức sở hữu Do hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước và các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ ít nhiều chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố phi tài chính nên được đánh giá thấp hơn trong tỷ trọng điểm
Sau khi phân chia các đối tượng, công ty sẽ sử dụng các tiêu chí để đánh giá Thông thường các tiêu chí dùng để đánh giá, cho điểm được áp dụng bao gồm:
Các thông tin tài chính về khách hàng:
- Quy mô: doanh nghiệp có quy mô lớn, trung bình, hay chỉ ở quy mô nhỏ
- Lĩnh vực hoạt động: thương mại dịch vụ, xây dựng, sản xuất,
- Các chỉ số tính toán căn cứ báo cáo tài chính: tỷ lệ thanh khoản, chỉ số hoạt động, chỉ tiêu đòn cân nợ, chỉ tiêu lợi nhuận
Các tiêu chí cơ bản áp dụng đối với các thông tin phi tài chính:
Trang 36Khả năng trả nợ từ lưu chuyển tiền tệ: hệ số khả năng trả lãi từ thu nhập thuần,
hệ số khả năng trả nợ gốc, xu hướng lưu chuyển tiền tệ thuần trong quá khứ, trạng thái lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động
- Trình độ quản lý của Ban điều hành và môi trường nội bộ doanh nghiệp: kinh nghiệm hoạt động trong ngành kinh doanh, kinh nghiệm trong lĩnh vực liên quan, môi trường kiểm soát nội bộ, các thành tựu đạt được, những lần thất bại
- Tình hình giao dịch với ngân hàng: trả nợ đúng hạn, số lần cơ cấu nợ, nợ quá hạn trong quá khứ, số lần cam kết mất khả năng thanh toán, số lần quá hạn nợ lãi vay
- Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp: tính ổn định của nguồn nguyên liệu, chính sách hỗ trợ nếu có của Nhà nước
- Các đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp: doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề nào, triển vọng ngành, vị thế cạnh tranh, đối thủ cạnh tranh
Các tiêu chí sử dụng đánh giá được tập hợp hình thành nên một ma trận diêm Tương ứng tại môi tiêu chí đánh giá có những khoảng điểm chuẩn để cán bộ đánh giá lựa chọn và cho điểm Sau khi cho điểm với từng tiêu chí trên theo bảng điểm lập sẵn, kết quả sổ điểm trên nhân với trọng số để xác định tổng số điểm So sánh tổng số điểm mà các cán bộ đánh giá với thang điểm xếp hạng chuẩn, công ty
sẽ có sự đánh giá tương đối tổng quan về khách hàng
Sự kêt hợp giữa thang diêm rủi ro tín dụng và đánh giá tài sản cho thuê sẽ được kết họp để đưa ra quyết định cuối cùng của công ty về mức độ rủi ro của khoản thuê tài chính
Ngoài việc sử dụng cách xếp hạng trên trong giai đoạn ra quyết định cho thuê tài chính, trong khi theo dõi và quản lý tín dụng, bộ phận kiểm tra, giám sát cho thuê có thể sử dụng hệ thống tính điểm trên để đánh giá mức độ rủi ro và xếp nhóm đối với khách hàng Thông qua hệ thống này, công ty cho thuê tài chính có thê xem xét xêp loại khách hàng không chỉ tại thời diêm xét duyệt cho thuê mà còn cập nhật trong trường hợp khách hàng có tình hình khả quan hơn hay xấu đi Cán bộ tín dụng phải có khả năng nhận biết được sớm và giải thích những dấu hiệu giảm sút tín dụng để đưa ra những cảnh báo kịp thời
Trang 37r Ap đụng các mô hình đo lường rủi ro tín dụng (phươngpháp thống kê)
Để khắc phục các nhược điểm của phương pháp đánh giá định tính như mất thời gian, tôn kém, mang tính chủ quản .các Ngân hàng đã sử dụng các mô hình đo lường rủi ro tín dụng nhằm lượng hóa được rủi ro tín dụng người vay Mô hình đo lường rủi
ro tín dụng có ưu điểm so với các phương pháp truyền thống ở chồ nó cho phép xử lý nhanh chóng một lượng lớn các đề nghị vay vốn, chi phí thấp, khách quan do đó góp phân tích cực vào công tác kiêm soát rủi ro tín dụng Các mô hình này sử dụng các số liệu để phản ánh những đặc điểm của người đi vay để lượng hóa rủi ro tín dụng cũng như phân loại Khách hàng thành các nhóm có mức độ rủi ro khác nhau Đổ sử dụng mô hình này nhà quản trị rủi ro phải xác định các tiêu chí kinh tế và tài chính liên quan đến rủi ro tín dụng đối với từng nhóm Khách hàng cụ thể Đối với tín dụng tiêu dùng, các tiêu chí đó có thể là thu nhập, tài sản, tuổi tác, giới tính Đối với tín dụng là các Khách hàng doanh nghiệp thường là các chỉ tiêu về tài chính, hiệu quả hoạt động Sau khi các chỉ tiêu đã được xác định, kỹ thuật thống kê sẽ sử dụng để lượng hóa xác suất rủi ro tín dụng hoặc để phân loại rủi ro tín dụng Sau đây là một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng cơ bản thường được sử dụng
dụng đối với các công ty sản xuất của Mỹ Đại lượng z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đổi với người đi vay và phụ thuộc vào:
- Trị số của các chỉ số tài chính của người đi vay (Xj)
- Tâm quan trọng của các trị sô này trong việc xác định xác suất rủi ro tín dụng của người đi vay (trọng số)
Từ đó Altman đi đến mô hình cho điểm như sau:
z = 1,2X1 + 1,4 X2 + 3,3 X3 + 0,6X4+ 1,0 X5
Trong đó:
XI = Tỷ số vốn lưu động ròng/ tổng tài sản
X2 = Tỷ số lợi nhuận giữ lại/ tổng tài sản
X3 = tỷ số lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)/Tổng tài sản
X4 = tỷ số thị giá cổ phiếu /giá trị ghi sổ của nợ dài hạn
Trang 38X5 = tỷ sổ doanh thu/ tổng tài sản
Trị số z càng cao thì người đi vay có xác suất rủi ro tín dụng càng thấp, như vậy khi trị so z thấp hoặc âm là căn cứ để xếp Khách hàng vào nhóm có nguy cơ rủi
ro cao Theo Altman bất cứ Công ty nào có điểm số z thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao và Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi điểm số
z được cải thiện
Tuy nhiên mô hình này có những hạn chế là chỉ phân biệt được khách hàng thành 02 nhóm là nhóm có nguy cơ rủi ro túi dụng và nhóm không nguy cơ rủi ro tín dụng Trong thực tế rủi ro tín dụng được phân chia thành nhiều loại Hơn nữa mô hình này không tính đến một số nhân tố quan trọng nhưng khó lượng hóa như uy tín, danh tiếng, mối quan hệ truyền thống hay các yếu tố vĩ mô như chu kỳ kinh tế, chu kỳ kinh doanh Vì vậy trong thực tế các Ngân hàng thường kết hợp mô hình đo lường rủi ro tín dụng này với mô hình đánh giá định tính
Đây là mô hình để lượng hóa rủi ro tín dụng với các đề nghị vay của người tiêu dùng là cá nhân Nhiều khách hàng ưa thích sự thuận tiện và nhanh chóng khi những nhu cầu tín dụng của họ được xử lý bằng hệ thống tính điểm tự động
Các yểu tố quan trọng liên quan đến Khách hàng sử dụng trong mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi tác, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, năng lực tài chính, thu nhập, tài khoản Mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng thường sử dụng trừ 7 dến 12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho điểm từ 1 đến 10 điểm tương ứng của tình trạng của người xin vay Tổng điểm ở tất cả các hạng mục của Khách hàng đó là tiêu chí để xếp hạng mức độ rủi ro cao hay thấp từ đó có quyết định cho vay hay không
Ưu điểm của mô hình điểm số tín dụng là đã loại bỏ được sự phán xét chủ quan trong quá trình cho vay và giảm đáng kể thời gian quyết định tín dụng của Ngân hàng Tuy nhiên nhược điểm của mô hình này là không điều chỉnh linh hoạt thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế
Trang 39c) Kiêm soát rủi ro
Đây là bước thể hiện rõ ràng nhất chiến lược, tư tưởng của công ty cho thuê tài chính về quản trị rủi ro tín dụng Bằng cách xây dựng một hệ thống các biện pháp, công cụ quản lý tín dụng được văn bản hoá trong chính sách cho thuê tài chính, công ty cho thuê tài chính đã cụ thể hoá các quan điểm, chiến lược quản trị rủi ro vào các bước tác nghiệp cụ thể mà việc thực hiện đầy đủ các quy định trong chính sách sẽ hạn chế tối đa rủi ro phát sinh
Hoạt động cho thuê tài chính luôn là một quá trình ra quyết định và bao gồm rất nhiều vấn đề có thể phát sinh Chính sách cho thuê tài chính được thiết lập để đưa ra những nguyên tắc chung nhằm hướng dẫn áp dụng trong từng trường hợp cụ thê Chính sách cho thuê tài chính băng văn bản là một nền tảng để quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả Chính sách cho thuê tài chính đặt ra mục tiêu, tham số định hướng tác nghiệp cho các phòng ban, bộ phận liên quan đến nghiệp vụ và quản trị danh mục cho thuê Chính sách cho thuê tài chính được xây dựng một cách khoa học, thống nhất sẽ tạo điều kiện cho công ty cho thuê tài chính duy trì tiêu chuẩn tín dụng, tránh được các rủi ro trong kinh doanh Việc xác định trước về chính sách sẽ góp phần làm giảm bớt sự thay đổi, đon giản hóa và tiến hành nhanh các quá trình
ra quyết định
Một chính sách cho thuê tài chính hoàn chỉnh sẽ củng cố sự nhất quán trong triết lý kinh doanh qua từng thời kỳ của công ty cho thuê tài chính cho dù có những thay đổi về mặt quản lý và nhân sự Bên cạnh đó, một chính sách cho thuê tài chính hoàn chỉnh sẽ góp phần giảm thiểu những điểm không rõ ràng liên quan đến việc cho thuê, từ đó tăng cường sự minh bạch trong các hoạt động và đảm bảo sự khách quan trong việc đánh giá các cơ hội kinh doanh mới
Một chính sách cho thuê tài chính phải đảm bảo thích họp với những thay đổi của các nhân tố và môi trường kinh tế Công ty cho thuê tài chính luôn phải thích ứng với môi trường kinh tế biến đổi liên tục Do đó, để đạt hiệu quả tốt nhất, các chính sách cho thuê tài chính đã phê duyệt phải được phổ biến kịp thời và được thực hiện bởi tất cả các cấp trong công ty theo những quy trình thích hợp và phải
Trang 40được điều chỉnh định kỳ trong trường họp tình hình thực tế có thay đổi Nhìn chung, các chính sách và quy trình thực hiện cần đạt được những mục tiêu sau:
- Duy trì tiêu chuẩn cấp tín dụng phù hợp: bao gồm những tiêu chuẩn đối với danh mục cho thuê và với từng ngành nghề, nhóm khách hàng, tài sản cho thuê thích họp
- Giám sát và kiểm soát rủi ro tín dụng: bao gồm rất nhiều vấn đề như phân cấp thẩm quyền ra quyết định cho thuê tài chính, những thủ tục, hồ sơ tài liệu cần thiết, các chính sách về lãi suất, thời hạn cho thuê, phân tích xử lý những khoản cho thuê
> Các biện pháp kiểm soát rủi ro
- Xác định hạn mức cho thuê tài chính đối với từng dự án thuê tài chính, từng khách hàng cụ thể, và nhóm khách hàng có liên quan Hạn mức cho thuê tài chính thể hiện sự định lượng rủi ro tín dụng tối đa mà công ty cho thuê tài chính có thể sẵn sàng chấp nhận đối với từng dự án, từng khách hàng, và nhóm khách hàng có liên quan Đe hạn chế rủi ro tiềm tàng, nên đưa ra hạn mức tín dụng thấp với những khách hàng mà trước đó công ty cho thuê tài chính chưa có quan hệ tín dụng hoặc chưa từng có quan hệ tín dụng với bất cứ tổ chức tín dụng nào khác và cần xem xét lại hạn mức trong thời gian thiết lập quan hệ tín dụng dựa trên những kinh nghiệm
và những thay đổi về đánh giá rủi ro
- Xác định tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn theo mức độ rủi ro của các tài sản có của công ty cho thuê tài chính, vốn chủ sở hữu là nguồn quan trọng giúp công ty cho thuê tài chính bù đắp đươc tốn thất tín dụng và các tổn thất hoạt động khác mà không ảnh hưởng đến mức độ an toàn của khoản tiền gửi, tiền vay của khách hàng Tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn được xác định bằng tỷ số giữa vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có rủi
ro được điều chính