1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

công nghệ và dịch vụ iptv và khả năng triển khai trên mạng băng rộng

185 338 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công nghệ và dịch vụ IPTV và khả năng triển khai trên mạng băng rộng
Tác giả Nguyễn Thị Thơ
Trường học Trường Đại học Công Nghệ Thông Tin và Truyền Thông
Chuyên ngành Công nghệ Thông tin
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: CÔNG NGHỆ TRUYỀN HÌNH MỚI DỰA TRÊN NỀN IP1.1 Tổng quan về mạng băng rộng: Để có thể kết nối các mạng máy tính của mộtdoanh nghiệp tại nhiều điểm cố định khác nhau, ngoàigiải ph

Trang 1

CHƯƠNG 1: CÔNG NGHỆ TRUYỀN HÌNH MỚI DỰA TRÊN NỀN IP

1.1 Tổng quan về mạng băng rộng:

Để có thể kết nối các mạng máy tính của mộtdoanh nghiệp tại nhiều điểm cố định khác nhau, ngoàigiải pháp sử dụng dịch vụ kênh thuê riêng hiện đang

sử dụng, khách hàng có thêm sự lựa chọn mới với dịch

vụ mạng băng rộng

Mạng băng rộng bao gồm các dịch vụ kết nốimạng máy tính trên diện rộng rất phù hợp với các tổchức, doanh nghiệp Dịch vụ này thích hợp cho cácdoanh nghiệp hoạt động kinh doanh có trên địa bànrộng với nhiều điểm giao dịch có nhu cầu kết nối sốliệu như: Ngân Hàng, Bảo Hiểm, Hàng Không

Thực tế đánh giá từ các chuyên gia và kết quả triểnkhai nhiều năm qua cho thấy, nhiều tính năng ưu việtcủa dịch vụ mạng băng rộng đã tỏ ra thích hợp và đemlại hiệu quả đáng kể cho các cơ quan, doanh nghiệp cónhu cầu kết nối mạng thông tin hiện đại và tiết kiệm

Trang 2

Tính hiện đại và tiết kiệm thể hiện ở : Khả năng mềmdẻo, linh hoạt của công nghệ cho phép khách hàng cóthể vừa kết nối mạng riêng ảo vừa truy cập Internet;khả năng nâng cấp tốc độ truyền dẫn nhanh chóng, dễdàng; khả năng cung cấp cho khách hàng các kênhthuê riêng có độ tin cậy cao; giá cước thấp.

Công nghệ mạng băng rộng :

Dịch vụ băng rộng xDSL là dịch vụ kết nối cácmạng máy tính trong nước và quốc tế bằng công nghệđường dây thuê bao số đối xứng (SHDSL) hoặc côngnghệ đường dây thuê bao số bất đối xứng (ADSL) kếthợp với công nghệ MPLS/VPN

Đặc điểm dịch vụ :

- Các mạng máy tính của khách hàng được kết nốiqua CPE bao gồm (Modem/RouterADSL/SHDSL)

- Mạng băng rộng cung cấp cho khách hàng hai khảnăng kết nối các mạng máy tính với tốc độ tối

Trang 3

thiểu là 64Kbp/s (Tối đa tùy theo dịch vụ có thểlên đến vài chục Mbps).

- Sử dụng SHDSL với tốc độ chiều đi và chiều vềbằng nhau

- Sử dụng ADSL với tốc độ trên lý thuyết lớn nhất

có thể là 8Mbps chiều về /640Kbps chiều đi

- Tốc độ cổng cung cấp dịch vụ thực tế phụ thuộcvào yêu cầu của khách hàng và chất lượng đườngtruyền của đường dây thuê bao xDSL được xácđịnh trong quá trình khảo sát lắp đặt

- Cung cấp cho khách hàng các kênh thuê riêng có

độ tin cậy cao

Trang 4

- Dịch vụ mạng băng rộng rất thích hợp cho các cơquan, doanh nghiệp có nhu cầu kết nối mạngthông tin hiện đại, hoàn hảo, tiết kiệm

Khách hàng đăng ký sử dụng các dịch vụ của mạngbăng rộng đồng thời được cung cấp dịch vụ truy nhậpInternet trên đường dây thuê bao điện thoại Tuy nhiêntốc độ cổng cung cấp dịch vụ được cài đặt cho truynhập dịch vụ Internet phụ thuộc vào tốc độ lớn nhất

mà đường dây thuê bao điện thoại thực tế có thể cungcấp và tốc độ của cổng mạng băng rộng theo yêu cầucủa khách hàng

ADSL là sự thay thế Modem tốc độ 64 Kbps cũ

bằng thiết bị Modem ADSL hoặc là Modem ISDN

Trang 5

giúp truy nhập Internet với tốc độ cao hơn Các biểu

đồ sau chỉ ra các tốc độ cao nhất có thể đạt được giữacác dịch vụ kết nối Internet

Hình 1.2.1: So sánh tốc độ giữa các dịch vụ Internet.

Giải thích các thuật ngữ:

Asymmetric : Tốc độ truyền không giống nhau

theo hai chiều đi (Download) và về (Uploat) Tốc độcủa chiều đi (Từ mạng tới thuê bao) và về (Từ thuêbao tới mạng) không giống nhau phù hợp cho việc sử

Trang 6

dụng dịch vụ Internet chỉ bằng phương thức nhấnchuột (Tương ứng với lưu lượng nhỏ thông tin màthuê bao gửi đến mạng Internet) là có thể nhận đượcmột lưu lượng lớn dữ liệu tải về từ mạng Internet.

Digital : Các Modem ADSL hoạt động với các tín

hiệu số (0 và 1) và dùng để chuyển thông tin số hóagiữa các thiết bị số như các máy tính cá nhân PC và từmáy tính PC lên mạng Internet Chính ở khía cạnh nàythì ADSL không khác gì các Modem thông thường chỉkhác là ở chỗ tốc độ của nó cao hơn

Subscriber Line : Dịch vụ ADSL được cung cấp

trên đường dây thuê bao điện thoại bình thường nối từkhách hàng tới tổng đài nội hạt Đường dây thuê baonày vẫn có thể được tiếp tục sử dụng cho các cuộc gọiđiện thoại đồng thời với việc sử dụng dịch vụ Internettốc độ cao ADSL thông qua thiết bị phân chia gọi là

“Splitters” có chức năng tách thoại và dữ liệu trênđường dây

1.2.2 Ưu điểm của ADSL :

Trang 7

Hiện tại ở Việt Nam thì ADSL đang có lợi thếphát triển hơn so với các dịch vụ truy nhập băng rộngkhác Sự phát triển này một phần là nhờ vào đặc tínhcủa công nghệ ADSL là phát triển trên nền cơ sở hạtầng của mạng điện thoại truyền thống đã thực sự lớnmạnh Các công nghệ khác cần xây dựng mới cơ sở hạtầng nên sẽ cần nhiều thời gian và vốn đầu tư hơn

Để thấy rõ ưu điểm của ADSL thì chúng ta làmmột phép so sánh sự khác nhau giữa ADSL vớiModem quay số truyền thống (PSTN) và mạng số liênkết đa dịch vụ (ISDN).

PSTN và ISDN cho

phép chúng ta sử dụng

Fax, dữ liệu, thoại, dữ

liệu tới Internet, dữ liệu

tới các thiết bị khác

ADSL chỉ trao đổi thôngtin dữ liệu tới Internet

Trang 8

Kết nối Internet qua

Trang 10

Chú ý:

- Mặc dù Modem ADSL luôn ở chế độ kết nối

thường trực, nhưng vẫn có thể cần phải thực hiệnlệnh kết nối Internet trên máy PC

- Các dịch vụ như : Fax và thoại có thể được thực

hiện cũng trên kết nối dữ liệu ADSL tới Internet

- Trên thực tế, tốc độ Download tiêu biểu đối với

dịch vụ ADSL gia đình thường cung cấp là512Kbps (gói tốc độ thấp nhất)

- Tính cước theo lưu lượng dữ liệu gửi/nhận với giá

cước thấp : Dùng bao nhiêu, trả bấy nhiêu

- Không hạn chế số người sử dụng khi chia sẻ kết

nối Internet trong mạng nội bộ

Từ phép so sánh trên ta có thể nêu ra ưu điểm củaADSL một cách đầy đủ và ngắn gọn như sau :

Về tốc độ : ADSL có tốc độ truy nhập cao vì nó có

tốc độ trao đổi dữ liệu cao, điều này rất phù hợp vớinhiều ứng dụng yêu cầu băng thông rộng như hội nghịtruyền hình, truyền hình theo yêu cầu, đào tạo từ xa,…

Trang 11

Về kết nối : Đối với ADSL do không phải quay số

nên người sử dụng luôn ở trạng thái kết nối (Tức là luônsẵn sàng-Always on) không có tín hiệu bận khi kết nối,không thời gian chờ Đặc tính này sẽ phục vụ cho cácứng dụng có dữ liệu liên tục như IP Multicast, Các dịch

vụ giáo dục trực tuyến, các dịch vụ dữ liệu kinh tế trựctuyến, chăm sóc sức khoẻ trực tuyến,…

Dễ sử dụng : Khách hàng có thể sử dụng dịch vụ

ngay sau khi nhà cung cấp dịch vụ hoàn thành công việclắp đặt

Độ tin cậy cao : Công nghệ ADSL được xây dựng

và phát triển trên nền cơ sở hạ tầng truyền dẫn của mạngđiện thoại truyền thống, là một trong những cơ sở hạtầng có độ tin cậy cao nhất

Tính bảo mật cao : Đối với các mạng cáp, vệ tinh,…

dùng các phương tiện truyền dẫn như dây cáp, cápquang và sóng vô tuyến thì nhiều người sử dụng dùngchung một phương tiện truyền dẫn vật lý ADSL sửdụng một kết nối điện thoại riêng, điểm nối điểm giữangười sử dụng và tổng đài của nhà cung cấp nên tính

Trang 12

bảo mật của ADSL là rất lớn, ít có hiện tượng nhiễuxuyên kênh, mất tín hiệu khi truyền.

1.2.3 Ứng dụng của ADSL :

Dịch vụ ADSL được kết nối cung cấp từ tổng đàicủa nhà cung cấp đến nhà khách hàng trên chính đườngdây điện thoại bình thường Thực chất của ứng dụngADSL không phải ở việc truyền dữ liệu đi/đến tổng đàiđiện thoại nội hạt mà là tạo ra khả năng truy nhậpInternet với tốc độ cao Như vậy, vấn đề nằm ở việcthiết lập kết nối dữ liệu tới nhà cung cấp dịch vụInternet

Mặc dù chúng ta cho rằng ADSL được sử dụng đểtruyền dữ liệu bằng các giao thức Internet, nhưng trênthực tế việc thực hiện điều đó như thế nào là do các giaothức kết nối Internet chứ không phải là đặc trưng kỹthuật của ADSL

Hiện nay, khách hàng phần lớn ứng dụng ADSL chotruy nhập Internet tốc độ cao và sử dụng các dịch vụtrên Internet một cách nhanh chóng ADSL là một côngnghệ đang rất được ưa chuộng cho những ai thường

Trang 13

xuyên kết nối Internet - một công nghệ cho phép truyền

dữ liệu và truy cập Internet tốc độ cao qua đường dâyđiện thoại ADSL là một trong những kết nối Internetphổ biến cung cấp băng thông lớn cho việc truyền tải dữliệu hay còn gọi là mạng băng rộng (BroadbandInternet) Internet tốc độ cao so với kết nối bằng Modemquay số truyền thống là một cuộc cách mạng lớn về tốc

độ với tốc độ kết nối gấp hàng trăm lần Modem quay số.ADSL - một ứng dụng của Broadband Internet - sẽ giúpkhách hàng thực sự thưởng thức thế giới kỹ thuật số trênmạng toàn cầu

Tính Bất đối xứng của ADSL được giải thích nhưsau : Công nghệ ADSL sử dụng phần lớn kênh truyềncho việc tải dữ liệu xuống (Download) và chỉ dành mộtphần nhỏ cho việc truyền dữ liệu lên (Upload) Trên lýthuyết tốc độ tải xuống của ADSL có thể đạt tới 8 Mbpscòn truyền lên là 640 Kbps Nếu so sánh với tốc độ truynhập Internet qua Modem quay số thông thường(Dialup), tốc độ tải xuống của ADSL cao gấp khoảng

Trang 14

142 lần, còn nếu so sánh với công nghệ truy nhập ISDNthì cao gấp khoảng 62 lần.

ADSL tận dụng băng thông chưa được dùng đến củađường dây cáp điện thoại Đường dây này có băngthông lên đến 100 Mhz, trong đó phần dành cho tín hiệuthoại chỉ chiếm khoảng 4 Khz nên phần còn lại củađường dây chưa được dùng đến

Công nghệ ADSL đã tận dụng phần băng thông dưthừa này để truyền dữ liệu Điều đó có nghĩa là chúng tavừa có thể truy cập Internet, vừa gọi điện thoại hoặc gửiFax trên cùng một đường dây điện thoại Dữ liệuInternet được truyền độc lập với dữ liệu thoại và Faxnên chất lượng thoại không thay đổi mà tốc độ truyền

dữ liệu Internet lại rất cao Đây là điểm nổi bật nhất củacông nghệ ADSL so với công nghệ kết nối Internet quaModem quay số thông thường

Với thế mạnh về tốc độ truyền dữ liệu cao và khảnăng kết nối Internet liên tục của mình, ADSL rất thíchhợp cho dịch vụ hội thảo qua mạng, xem phim, nghenhạc, chơi game trực tuyến, Video theo yêu cầu,…

Trang 15

Để sử dụng dịch vụ ADSL khách hàng cần trang bịmột Modem ADSL Modem ADSL khác với Modemquay số thông thường ở chỗ có khả năng ghép, tách tínhiệu thoại và dữ liệu nhờ bộ chia trên cùng một đườngdây thoại Sau khi đăng ký với nhà cung cấp dịch vụ,đường thuê bao của khách hàng sẽ được nối với thiết bịghép kênh truy nhập DSLAM đặt tại tổng đài MỗiDSLAM có thể có từ 24, 36, 48, 96 cổng… Tương ứngvới số thuê bao mà nó có thể đảm nhiệm Tuy nhiên cầnlưu ý một điều là: Tốc độ kết nồi Internet ADSL sẽ phụthuộc rất nhiều vào khoảng cách từ thuê bao đến nơi đặtDSLAM Với khoảng cách 3.5 Km tốc độ tải xuống cóthể đạt tới 8 Mbps và tốc độ truyền lên là 640 Kbps Khikhoảng cách lớn hơn thì tốc độ sẽ giảm đi và vượt rangoài khoảng cách 5 Km thì tốc độ của ADSL sẽ giảm

đi rất nhiều so với giá trị danh định ban đầu của dịch vụ

1.3 IPTV là gì?

IPTV (Viết tắt của Internet Protocol Television): Làquá trình phân phối kênh truyền hình kỹ thuật số và cácdịch vụ Audio và Video khác qua mạng dữ liệu băng

Trang 16

rộng sử dụng các giao thức hỗ trợ Internet Hay nói cáchkhác IPTV- công nghệ truyền hình sử dụng giao thứcInternet; là một công nghệ truyền dẫn cho phép truyềntải các tín hiệu hình ảnh (Video) và âm thanh (Audio)qua dịch vụ truyền hình trên nền hệ thống mạng IP.

Nguyên tắc chung của truyền dẫn tín hiện truyềnhình qua giao thức Internet là tín hiệu âm thanh và hìnhảnh được số hoá, nén để giảm tốc độ đường truyền yêucầu và được đóng thành các gói dữ liệu theo giao thứcInternet Một hệ thống phần mềm tương tác (Quản lýtrao đổi thông tin hai chiều) sẽ thực hiện truyền các gói

dữ liệu này đến người xem qua mạng IP Khi người xemgửi thông tin yêu cầu thì các gói dữ liệu được chuyểntới thiết bị đầu cuối của người xem như máy tính, bộSTB đã được kết nối vào mạng IP và được biến đổithành tín hiệu hình ảnh và âm thanh để hiển thị Côngnghệ truyền dẫn IPTV có ưu điểm đáng chú ý là phạm

vi cung cấp dịch vụ rộng lớn, khả năng triển khai và ứngdụng dịch vụ truyền hình tương tác và truyền hình theoyêu cầu rất linh động

Trang 17

IPTV có hai đặc điểm cơ bản là : Dựa trên nền côngnghệ IP và phục vụ theo yêu cầu trong khi truyền hình

số thông qua các Menu đã định trước để người dùng lựachọn thì IPTV có thể nâng cao chất lượng dịch vụ nhờtính tương tác cao So với các công nghệ cung cấpVideo qua Internet khác, IPTV có ưu thế là rất dễ sửdụng, hiển thị trên tivi rõ nét hơn màn hình máy vi tính,nhà cung cấp dịch vụ dễ quản lý khách hàng Ưu thế kỹthuật của IPTV là có thể cung cấp nhiều dịch vụ đaphương tiện (Multimedia) khác nhau Người dùng cóthể lựa chọn xem phim, gọi điện thoại IP thấy hình,nghe nhạc, tra cứu thông tin trên mạng qua màn hìnhtivi hay máy tính Ta thấy khả năng của IPTV gần như

vô hạn và nó hứa hẹn mang đến những dịch vụ nội dung

kỹ thuật số chất lượng cao Kỹ thuật này thích hợp chocác dịch vụ như Video theo yêu cầu (VoD), hội thảo,truyền hình tương tác/trực tiếp, Games, học từ xa, tinnhắn nhanh qua tivi Sức hấp dẫn chính của IPTV là nó

sử dụng cùng một công nghệ với mạng Internet Vị tríkhách hàng đã thay đổi, không còn là quan hệ một chiều

Trang 18

giữa người xem với nhà cung cấp mà IPTV cho phépkhách hàng và kênh dịch vụ truyền hình có được khảnăng tương tác kiểu DVD hơn Đây là đặc tính lưu trữkhông giới hạn theo đó các danh mục kênh yêu thích vàhàng ngàn giờ chương trình truyền hình hoặc phim nằmtrọn dưới ngón tay lựa chọn của khách hàng IPTV còncho phép các nhà định hướng cung cấp chương trìnhđến những đối tượng công chúng nhỏ hơn, hẹp hơn hoặc

“địa phương hoá” hơn Các nhà cung cấp cũng có thểgửi các chương trình độ phân giải cao thẳng tới ngườixem mà không cần có đầu thu tín hiệu đặc biệt Nhưng

có lẽ hấp dẫn nhất - dù nhiều người cho là không quantrọng lắm - chính là truyền hình trực tiếp

Hiện nay, nhiều hãng truyền thông lớn đã quyết địnhđầu tư cho IPTV vì tiềm năng lợi nhuận của dịch vụ này

sẽ rất lớn trong tương lai Hơn nữa IPTV sử dụng giaothức mạng tiêu chuẩn nên các nhà đầu tư không mấtnhiều chi phí để lắp đặt mạng và khách hàng cũngkhông phải bỏ nhiều tiền để mua các thiết bị dùng để kếtnối với mạng Chỉ cần một thiết bị STB kết nối với

Trang 19

Internet băng rộng thì tín hiệu truyền hình được cungcấp đến với khách hàng theo từng chuỗi kênh, hiệu quảhơn khi ta dùng cáp đồng trục để truyền tín hiệu Cápđồng trục có ưu điểm là rẻ tiền, nhẹ, mềm và dễ kéodây, nhưng tín hiệu truyền qua cáp đồng trục không đảmbảo được tính bảo mật và có thể bị nhiễu

Nói một cách tổng quát thì truyền hình qua giao thứcInternet là công nghệ truyền hình thế hệ mới, là một hệthống dịch vụ truyền hình kỹ thuật số được truyền đếnkhách hàng thuê bao bằng giao thức Internet băng thôngrộng qua dịch vụ ADSL

1.4 Khả năng khai thác IPTV tại Việt Nam :

1.4.1 Nhu cầu thị trường :

Để đánh giá nhu cầu thị trường (Khách hàng) đốivới dịch vụ IPTV thì một trong những nhà cung cấp nộidung VASC thuộc VNPT đã tổ chức một cuộc thăm dònhu cầu tại 04 thành phố : Hà Nội, thành phố Hồ ChíMinh, Đà Nẵng, Hải Phòng Mục tiêu của cuộc thăm dònhằm nghiên cứu thị trường trên các mặt : Tìm hiểu thóiquen, giải trí của công chúng; tìm hiểu mức độ chấp

Trang 20

nhận của công chúng đối với dịch vụ truyền hình trựctuyến Video theo yêu cầu và các dịch vụ khác của IPTVnhư ý tưởng, giá cả, dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụIPTV; phân tích dữ liệu thu được nhằm đề xuất các địnhhướng kinh doanh cho dịch vụ.

Đối tượng nghiên cứu : Tập trung khảo sát các đốitượng là các cá nhân trong độ tuổi từ 18 -50 có quantâm tới dịch vụ giải trí truyền hình và biết sử dụngInternet trên cả nước, riêng đối tượng được hỏi thì chỉgiới hạn ở 04 địa bàn tiêu biểu là Hà Nội, thành phố HồChí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng

Kết quả thăm dò nhu cầu thị trường: Xã hội ngàycàng phát triển nhu cầu giải trí của người dân cũng vìthế mà ngày một nâng cao, hầu hết các gia đình đều có

ti vi và nhiều gia đình còn có thêm cả CD, DVD, VCD.Thói quen xem ti vi, nghe nhạc tại nhà chiếm phần lớnthời gian giải trí Tại 04 thành phố khảo sát thì gần 1/3người dân có nhu cầu truy cập Internet và 1/8 dân chúng

có thói quen xem phim tại rạp và chơi Video Games.Một nửa đối tượng khảo sát có đăng ký sử dụng truyền

Trang 21

hình cáp/kỹ thuật số cho thấy người dân hứng thú vớicác dịch vụ giải trí truyền hình, đặc biệt là hình thức sửdụng truyền hình có trả tiền Thị phần của các nhà cungcấp dịch vụ là khác nhau, nhưng xét một cách tổng quátthì các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình cáp/kỹ thuật số

đã đáp ứng được hơn 70% nhu cầu giải trí truyền hìnhcủa khách hàng Gần một nửa khách hàng hài lòng vớinhà cung cấp dịch vụ nhờ sự đa dạng về các kênh vàchương trình truyền hình, 1/4 còn lại hài lòng về chấtlượng nội dung chương trình Trong khi đó 1/3 kháchhàng mong đợi có thêm nhiều kênh truyền hình, thuyếtminh và phụ đề tiếng việt

Loại hình dịch vụ truyền hình qua Internet (IPTV),Video theo yêu cầu (VoD) và các dịch vụ cộng thêmcủa IPTV như : Truy cập Internet và Email trên tivi,điện thoại hiển thị hình ảnh và điện thoại VoIP, chứcnăng ghi hình, chơi game được đông đảo khách hàngquan tâm

Trang 22

Tại Đà Nẵng, khoảng 90% khách hàng đều thú vịvới dịch vụ này kế đến là thành phố Hồ Chí Minh vàHải Phòng với 80% và 81%, cuối cùng là Hà Nội 54%.Nếu cứ căn cứ trên thói quen giải trí tại gia đình củađại đa số người dân thì nhu cầu sử dụng IPTV phảiđược triển khai một cách tích cực, nhanh chóng Nhưvậy nếu xét trên góc độ nhu cầu thị trường, đa số kháchhàng có nhu cầu sử dụng loại hình dịch vụ IPTV và sẵnsàng trả thêm mức phí dịch vụ để có khả năng giải tríthuận tiện, chất lượng.

1.4.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ IPTV của mạng viễn thông Việt Nam:

Với mạng băng hẹp truyền thống, chỉ có một sốdịch vụ đơn giản của IPTV là có thể xem được Còn để

có thể áp dụng thành công dịch vụ IPTV thì mạng băngrộng đóng vai trò cực kỳ quan trọng, bởi vì chỉ vớimạng băng rộng mới có thể bảo đảm cung cấp đầy đủbăng thông theo yêu cầu cho các dịch vụ IPTV (Nhưtruyền hình, Video, Games,…) Cho đến nay, thị trườngbăng rộng tại Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển

Trang 23

bùng nổ nhu cầu và còn rất nhiều tiềm năng lớn Bêncạnh đó, việc khai thác công nghệ hữu tuyến ADSL vàcông nghệ vô tuyến băng rộng (Wifi/Wimax,…) của cácnhà cung cấp dịch vụ ở Việt Nam, thì IPTV lại càng có

cơ hội phát triển mạnh mẽ và bảo đảm thành công củaloại hình dịch vụ mới này

Việc chuyển đổi cấu trúc mạng lưới từ chuyển mạchkênh truyền thống điều chế phân kênh theo thời giansang mạng mạng thế hệ tiếp theo (NGN) với công nghệchuyển mạch gói đây là một bước đột phá mới về côngnghệ rất phù hợp với xu thế phát triển chung của cácnước trên thế giới Do vậy, các nhà cung cấp dịch vụcủa Việt Nam đã chọn NGN làm bước phát triển tiếptheo trong việc tìm kiếm các giải pháp phát triển mạng.Mạng NGN sẽ cho phép triển khai các dịch vụ đa dạngvới giá thành thấp, giảm thiểu thời gian đưa dịch vụ mới

ra thị trường, giảm chi phí khai thác mạng và dịch vụ,đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư và tạo nguồn doanhthu mới ngoài doanh thu từ các dịch vụ truyền thống.NGN cho phép tăng cường khả năng kiểm soát, bảo mật

Trang 24

thông tin và tin cậy trong khi giảm thiểu được chi phívận hành NGN được xây dựng trên tiêu chí mạng mở,các giao thức chuẩn và thân thiện NGN thống nhấtmạng hữu tuyến truyền thống và chuẩn truyền tải âmthanh, hình ảnh, dữ liệu hữu tuyến hoặc vô tuyến.

Xét trên khía cạnh công nghệ, xu hướng công nghệhiện nay là sự hội tụ của nhiều công nghệ để đưa ranhững loại hình dịch vụ tổng hợp (Như kết hợp các dịch

vụ thoại, dữ liệu và băng rộng) cho khách hàng, đồngthời tận dụng được những cơ sở hạ tầng sẵn có để giảmthiểu chi phí đầu tư, nâng cấp Dịch vụ IPTV chính làmột sản phẩm của sự hội tụ đó và dịch vụ này cần mộtkết nối từ thiết bị đầu cuối của người dùng đến máy chủcủa nhà cung cấp (Server) Khi nhận được tín hiệu yêucầu, Server sẽ truyền dữ liệu truyền hình tới người dùngqua kết nối đó nếu đảm bảo một số yêu cầu cần thiết đểthiết lập cung cấp dịch vụ Đối với khách hàng muốn sửdụng dịch vụ IPTV trên ti vi truyền thống thì phải cóthêm bộ giao tiếp STB làm nhiệm vụ giao tiếp giữangười sử dụng và Server STB là bộ đệm và giải nén dữ

Trang 25

liệu làm nhiệm vụ chuyển đổi từ tín hiệu số sang tínhiệu tương tự để hiển thị lên màn hình ti vi Đối vớikhách hàng sử dụng máy tính cá nhân - PC thì việc giaotiếp với Server sẽ đơn giản hơn so với giao tiếp quamạng IP truyền thống PC sẽ sử dụng phần mềm thôngqua các giao thức phù hợp để thực hiện việc đệm, giảinén và sau đó hiển thị dữ liệu lên màn hình.

Hiện nay, sau khi nước ta đã gia nhập WTO thì việc

áp dụng công nghệ IPTV để triển khai những dịch vụvới các chi phí nhỏ, tối ưu hoá hạ tầng viễn thông sẵn có

sẽ làm tăng sức mạnh cạnh tranh của Việt Nam trên thịtrường công nghệ thông tin đối với các nước trong khuvực và thế giới Đồng thời có thể khẳng định rằng với

hạ tầng mạng truy nhập hữu tuyến và vô tuyến băngrộng trên cơ sở mạng NGN hiện đại mà các nhà khaithác cung cấp dịch vụ của Việt Nam đã và đang địnhhướng xây dựng thì việc triển khai dịch vụ IPTV là rấthợp lý và khả năng đảm bảo các yêu cầu triển khai dịch

vụ này là hoàn toàn khả thi

1.5 Tổng quát hệ thống truyền hình IPTV:

Trang 26

1.5.1 Sơ đồ khối:

Hình 1.5.1: Sơ đồ khối hệ thống IPTV.

1.5 2 Các thành phần:

Trang 27

Hình 1.5.1: Mô hình đơn giản nhất của IPTV.

1.5.2.1 Content Source (Nguồn nội dung):

Đây là một khối chức năng có nhiệm vụ biên tập tất

cả các nguồn nội dung từ các nhà sản xuất và từ bất kỳcác nguồn tín hiệu nào khác Các nội dung sau khi đượcbiên tập được mã hóa và được lưu trữ trong một máychủ cơ sở dữ liệu (VoD Streaming Server) để phục vụcho việc cung cấp dịch vụ theo yêu cầu (VoD) củakhách hàng gửi tới Đồng thời khối Content Source nàycũng thu tín hiệu từ các nguồn tín hiệu quảng bá và tínhiệu truyền hình trực tiếp sau đó tín hiệu này được mãhóa thành từng luồng dữ liệu và được lưu trong máy chủtrực tiếp (Live Streaming Server)

1.5.2.2 Node dịch vụ IPTV:

Khối chức năng này nằm ẩn trong khối chức năng

IP của hình vẽ 1.5.1 Nó nhận luồng Video dưới cácđịnh dạng khác nhau Sau đó luồng Video này đượcđịnh dạng lại và được đóng gói trước khi truyền đi trên

Trang 28

lượng mạng của khu vực đó Việc này giúp cho quátrình cung cấp tín hiệu tới khách hàng được dễ dànghơn Về mặt quản lý dịch vụ, Node dịch vụ sẽ tương tácvới các thiết bị đầu cuối khách hàng (CustomerPremises Equipment - CPE) để quản lý quyền truy nhập

và các phiên giao dịch của khách hàng Ngoài ra Nodedịch vụ còn trao đổi thông tin với phần phân phối kháccủa dịch vụ IPTV

1.5.2.3 Mạng phân phối :

Để nội dung được cung cấp tới người xem đầy đủ

và đạt yêu cầu thì ta cần chú ý tới khả năng phân phối,dung lượng và chất lượng dịch vụ của mạng phân phối.Đồng thời nó cũng có khả năng khác nữa chẳng hạn nhưquá trình phân phát đa điểm, rất cần thiết cho quá trìnhphân phối dữ liệu IPTV thời gian thực với chất lượngcao từ các Node dịch vụ tới các thiết bị đầu cuối kháchàng Các thành phần trong mạng trục chính, mạngphân phối và mạng truy nhập bao gồm : Mạng phânphối bằng cáp quang và rất nhiều bộ ghép kênh truynhập đường dây thuê bao số (DSLAM) Các bộ ghép

Trang 29

kênh này đặt tại tổng đài trung tâm (Central Office CO) hoặc các điểm phân phối từ xa

-1.5.2.4 Mạng truy nhập khách hàng :

Trong các mạng truy nhập khách hàng (có thể hỗ trợthêm công nghệ đường dây thuê bao số tốc độ cao nhưADSL2+…) thì khách hàng được cung cấp một mạchvòng thông qua đường dây điện thoại tới thẳng nhàkhách hàng Ngoài ra còn một số cách khác nữa ví dụnhư cáp quang truyền dẫn tín hiệu tới tận nhà, cách nàyđược công nhận là phương thức truyền tải tối ưu (Cápquang có băng tần rất rộng và có khả năng truyền dẫnhai hướng đi và về đối xứng đảm bảo được yêu cầutruyền hình ảnh động với chất lượng cao) Bên cạnh đó,nhà cung cấp có thể sử dụng kết hợp thêm hệ thốngmạng cáp quang tới FTTC, FTTB, FTTH và kỹ thuậtDSL để truyền tín hiệu tới nhà thuê bao

1.5.2.5 Thiết bị đầu cuối khách hàng :

Thiết bị đầu cuối khách hàng được đặt tại nhà kháchháng thông thường là một bộ STB, một PC hoặc cácthiết bị mạng khác trong gia đình

Trang 30

IPTV Client là một khối chức năng dùng để chuyểnlưu lượng IPTV tới thiết bị đầu cuối khách hàng chẳnghạn như STB với mục đích xử lý tín hiệu IPTV Clientthiết lập kết nối, QoS với Node dịch vụ, giải mã luồngVideo, thay đổi kênh, kiểm soát hiển thị và kết nối tớicác ứng dụng người sử dụng chẳng hạn như các kênhtruyền hình số có độ phân giải cao (HDTV)…

1.5.3 Các ứng dụng và các dịch vụ IPTV:

Đầu tiên thì chúng ta cần xem các dịch vụ mà IPTV

có thể cung cấp trước khi bước vào phần kỹ thuật IPTV.Tất cả các kỹ thuật cần sử dụng và các nguyên lý kỹthuật đều tập trung vào việc phân phối các loại dịch vụcung cấp bởi IPTV như:

- Cung cấp các dịch vụ quảng bá : Quảng bá truyền

hình (Broadcast TV); kênh âm thanh (AudioChanel); truyền hình trực tuyến (Time-Shift TV);VoD băng hẹp

- Cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu : Video theo

yêu cầu (Video on Demand -VoD, âm nhạc theo

Trang 31

yêu cầu ( Music on Demand - MoD), TV theo yêucầu (TV on Demand - TVoD).

- Cung cấp các dịch vụ tương tác : Thông tin tương

tác (Interactive Information); truyền hình tươngtác (Interactive TV); công ích, từ thiện; trực tuyến;trò chơi; phỏng vấn trực tuyến; truyền hình trựctuyến

Bên cạnh những dịch vụ mà IPTV có thể cung cấp,cần tìm hiểu thêm một số dịch vụ điển hình khác củaIPTV như :

- Máy ghi hình cá nhân qua mạng (Network

Personal Video Recorder - NPVR) đây là tiện ích

sử dụng trên mạng của PVR Nó có thể được xemnhư là VCR ảo (Máy ghi âm cát - xét Video) vớiviệc lưu trữ và kết hợp các chức năng khác cungcấp từ mạng Nội dung truyền hình quảng bá cóthể được ghi lại và xem lại sau đó

- Hướng dẫn các chương trình điện tử (Electronic

Program Guide - EPG) là chức năng hướng dẫn để

Trang 32

chương trình IPTV đang và sắp phát Như vậyEPG là phương thức để người sử dụng tìm kiếmcác nội dung của nhà cung cấp.

- Các dịch vụ thông tin : Các dịch vụ thông tin bao

gồm tin tức, thời sự, tin thể thao, dự báo thời tiết,thông tin về các chuyến bay, các sự kiện trong khuvực/địa phương…

- Truyền hình tương tác : “Kênh quảng bá tương

tác” (Back Chanel) IP không chỉ cung cấp khảnăng lấy thông tin mà còn cho phép khách hàngtương tác với các Show truyền hình hoặc khởi tạocác ứng dụng liên kết đến một chương trình đangđược cung cấp Các ví dụ điển hình của truyềnhình tương tác là tham dự vào các trò chơi truyềnhình, bình chọn qua truyền hình, phản hồi củangười xem truyền hình, các chương trình thươngmại…

- Các ứng dụng tương tác : Sự tương tác không đơn

thuần là sự liên kết đến một chương trình truyềnhình truyền thống mà cón là một số dịch vụ mới

Trang 33

như : Đấu giá, mua sắm, dịch vụ ngân hàng … làcác ứng dụng truyền hình được sử dụng rộng rãi,tạo ra sự hội tụ của thiết bị và sự phát triển cácgiao diện người sử dụng mới Truyền hình khiếncho việc sử dụng các ứng dụng tương tác (Giốngnhư việc sử dụng Internet) trở thành một trongnhững thành phần chiếm ưu thế của IPTV/VoDtrong tương lai Đây cũng là một yếu tố khác biệtchủ yếu nhất so với truyền hình quảng bá truyềnthống vốn không có một “Kênh quảng bá tươngtác” nào (Nếu có thì đó chỉ là một đường điệnthoại).

- Các ứng dụng băng rộng : Các ứng dụng dùng cho

người tiêu dùng và doanh nghiệp cũng có thể đượcthực hiện thông qua hạ tầng IPTV/VoD như hộinghị, đào tạo từ xa, giám sát an ninh…

- Pay-Per-View (PPV): Là hình thức trả tiền để xem

một phần chương trình nào đó không có trongdanh mục chính của dịch vụ, ví dụ: Trả tiền đểxem một sự kiện thể thao hay trả tiền để nghe một

Trang 34

bản nhạc Hệ thống cung cấp một kênh phimtruyền hình theo hình thức PPV cho các thuê bao.

- Trò chơi theo yêu cầu (Games on Demand) : Dịch

vụ này sẽ cung cấp nhiều loại Games tùy chọn đếnthuê bao từ một danh sách có sẵn IPTV yêu cầuhình thức đăng ký đơn giản dựa trên ngôn ngữđánh dấu siêu văn bản (HTML)

- Âm nhạc theo yêu cầu (Music on Demand) : Các

khách hàng có thể xem những Clip ca nhạc theoyêu cầu giống như dịch vụ VoD

Truyền hình của hôm trước (TV of Yesterday

-TVoY) : Dịch vụ này cho phép thuê bao xem lạicác nội dung kênh truyền hình đã được phát nhữngngày trước

- Karaoke theo yêu cầu (Karaoke on Demand) : Các

thuê bao có thể chọn và xem các bài Karaoke đãđược giới thiệu và có thể đăng ký một hoặc nhiềubài hát cùng lúc

Trang 35

- Trong số những dịch vụ điển hình của IPTV thì

dịch vụ nổi bật nhất vẫn là dịch vụ truyền hìnhquảng bá và Video theo yêu cầu

1.5.3.1 Truyền hình quảng bá kỹ thuật số:

Các nội dung truyền hình được quảng bá theo lịchtrình thời gian cố định như truyền hình truyền thống Sựlựa chọn các gói kênh theo yêu cầu của khách hàng cóthể bao gồm các kênh truyền hình công cộng (Public),các kênh truyền hình trả tiền (Pay TV), các kênh truyềnhình được yêu thích, các kênh truyền hình mua sắm, cáckênh về thời trang…

Trước đây thì dịch vụ truyền hình này được phát qua

hệ thống truyền hình cáp hoặc qua hệ thống vệ tinhnhưng hiện nay khách hàng có thể xem truyền hìnhquảng bá kỹ thuật số thông qua IPTV IPTV có thể cungcấp đến khách hàng rất nhiều loại hình dịch vụ chấtlượng và số lượng kênh truyền nhiều hơn so với các nhàcung cấp truyền hình cáp, vệ tinh hay quảng bá

Các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình cáp, truyềnhình vệ tinh hay truyền hình quảng bá đều phát các kênh

Trang 36

truyền hình đồng thời tới khách hàng điều này làm chokhách hàng không chủ động được để xem nhữngchương trình mà mình yêu thích Nhưng đối với IPTV làdịch vụ có thể chỉ cung cấp một kênh duy nhất hoặc cáckênh đang được xem trực tiếp hoặc đã được ghi lại trênđôi dây đồng truyền tới tận nhà thuê bao Nếu kháchhàng không thích xem kênh đó thì có thể gửi yêu cầulên mạng, sau đó sẽ nhận được kênh truyền hình mongmuốn với số lượng các kênh lưu trữ trên mạng là khônggiới hạn Điều này làm phong phú thêm cho khách hàngtrong việc lựa chọn các hình thức giải trí.

Thường thì các kênh truyền hình quảng bá ít đượcquan tâm và cũng ít được đầu tư như các kênh thể thaotheo vùng, kênh truyền hình chính phủ, kênh truyềnhình quốc tế…Vì thế mà ta có thể dùng phương phápphân phối Narrowcast và phương pháp phân phốiUnicast để phát nội dung tới khách hàng theo tình hình

ở khu vực muốn phát sóng và tùy thuộc vào khách hàng

đó thuộc vào đối tượng thuê bao nào

1.5.3.2 Truyền hình theo yêu cầu :

Trang 37

Việc phát nội dung truyền hình được lựa chọn bắtđầu khi người sử dụng lựa chọn kênh nội dung đó.Thông thường nội dung là các bộ phim hay các phim đãđược ghi lại từ một thư viện phim Dịch vụ này có thểđược sử dụng trong một số lượng giới hạn theo khảnăng lưu trữ.

Truyền hình theo yêu cầu (VoD) : đây là một dịch vụcung cấp các chương trình truyền hình theo sở thích củakhách hàng Người sử dụng sẽ nhận được kênh truyềnhình mà mình mong muốn sau khi gửi yêu cầu lên mạng

và các nhà cung cấp sẽ lấy nội dung từ máy chủ lưu trữcác phim giải trí hoặc các Video phục vụ cho kháchhàng Việc ứng dụng truyền hình theo yêu cầu tạo chokhách hàng một sự tự do thoải mái khi thưởng thức cácdịch vụ truyền hình

Như ta đã biết thì VoD là dịch vụ có sự tương tácgiữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ Các chứcnăng tương tác chính bao gồm duyệt danh sách ( Phim,kịch, tin tức, ca nhạc,…), lựa chọn và thanh toán ( Với

Trang 38

dịch vụ mua hàng từ xa,…), xem chi tiết về các sự kiện(Ví dụ như Hypermedia).

Ngoài ra, hệ thống còn cung cấp thêm các chức năng:

 Play/Resume: Bắt đầu một phiên phát hình hoặcbắt đầu phát lại sau lệnh Pause

 Stop : Ngừng phát

 Pause : Tạm ngừng

 Jump Forward : Tua tiến

 Back Forward : Tua lui

 Fast Forward : Tua nhanh

 Slow Down : Tua chậm

 Reverse : Phát ngược lại

 Fast Reverse : Tua ngược nhanh

 Slow Reverse : Tua ngược chậm

1.6 Các yêu cầu kỹ thuật :

Trang 39

Hình 1.6: Sơ đồ khối lớp cấu trúc dịch vụ.

Yêu cầu của các khối chính :

Headend trung tâm :

- Phải có HeadEnd chính và dự phòng : Nhà cung

cấp cũng phải có thiết bị thu phát chính và cả thiết

bị dự phòng để đề phòng lúc gặp trường hợp sự cố

Trang 40

thì tín hiệu sẽ vẫn truyền được liên tục tới các nhàthuê bao.

- Headend trung tâm thu tín hiệu từ vệ tinh các kênh

quảng bá trong nước

- Server VoD phải có dung lượng cao để có thể

chứa đủ nội dung nhằm đáp ứng yêu cầu củakhách hàng một cách tốt nhất

- Mã hóa nội dung : Đây là một tính năng rất quan

trọng xử lý cho nội dung trước khi truyền đi Nộidung được mã hóa để tránh những trường hợp truynhập tùy tiện của các khách hàng không đượcquyền

- Chuyển đổi tốc độ : Quá trình này xử lý các luồng

nội dung với các định dạng, tốc độ bit khác nhau

và biến đổi chúng thành dạng tốc độ bit không đổi

- Đóng gói IP : Các nhà cung cấp dịch vụ nhận được

rất nhiều nội dung từ nhiều nguồn khác nhau cùngvới các định dạng khác nhau Mỗi gói dữ liệuđược xử lý độc lập và đi tới đích trên các đường đi

Ngày đăng: 21/06/2014, 22:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2.1: So sánh tốc độ giữa các dịch vụ Internet. - công nghệ và dịch vụ iptv và khả năng triển khai trên mạng băng rộng
Hình 1.2.1 So sánh tốc độ giữa các dịch vụ Internet (Trang 5)
Hình 1.6: Sơ đồ khối lớp cấu trúc dịch vụ. - công nghệ và dịch vụ iptv và khả năng triển khai trên mạng băng rộng
Hình 1.6 Sơ đồ khối lớp cấu trúc dịch vụ (Trang 38)
Hình 1.7.1: QuickTime Player - công nghệ và dịch vụ iptv và khả năng triển khai trên mạng băng rộng
Hình 1.7.1 QuickTime Player (Trang 77)
Hình 1.7.2: RealPlayer. - công nghệ và dịch vụ iptv và khả năng triển khai trên mạng băng rộng
Hình 1.7.2 RealPlayer (Trang 79)
Hình 1.7.3:  Windows Media Player. - công nghệ và dịch vụ iptv và khả năng triển khai trên mạng băng rộng
Hình 1.7.3 Windows Media Player (Trang 80)
Hình 2.1.2: Cấu trúc hệ thống IPTV tại tỉnh - công nghệ và dịch vụ iptv và khả năng triển khai trên mạng băng rộng
Hình 2.1.2 Cấu trúc hệ thống IPTV tại tỉnh (Trang 92)
Hình 2.1.3.1 Cơ sở dữ liệu của hệ thống - công nghệ và dịch vụ iptv và khả năng triển khai trên mạng băng rộng
Hình 2.1.3.1 Cơ sở dữ liệu của hệ thống (Trang 98)
Bảng 2.1.6.4.b: Khả năng phục vụ Video Server với kết nối yêu cầu dữ liệu có Datarate 100K - công nghệ và dịch vụ iptv và khả năng triển khai trên mạng băng rộng
Bảng 2.1.6.4.b Khả năng phục vụ Video Server với kết nối yêu cầu dữ liệu có Datarate 100K (Trang 116)
Bảng 2.1.5.4.a : Khả năng phục vụ Video Server với kết nối yêu cầu dữ liệu có Datarate 22K - công nghệ và dịch vụ iptv và khả năng triển khai trên mạng băng rộng
Bảng 2.1.5.4.a Khả năng phục vụ Video Server với kết nối yêu cầu dữ liệu có Datarate 22K (Trang 116)
Hình 3.2 :  Mô hình mạng IPTV - công nghệ và dịch vụ iptv và khả năng triển khai trên mạng băng rộng
Hình 3.2 Mô hình mạng IPTV (Trang 133)
Hình 3.2.3a:  Mô hình HSI 1:1 VLAN, VoD & - công nghệ và dịch vụ iptv và khả năng triển khai trên mạng băng rộng
Hình 3.2.3a Mô hình HSI 1:1 VLAN, VoD & (Trang 149)
Hình 3.2.4 : Mô hình và giao thức cung cấp dịch vụ IPTV - công nghệ và dịch vụ iptv và khả năng triển khai trên mạng băng rộng
Hình 3.2.4 Mô hình và giao thức cung cấp dịch vụ IPTV (Trang 154)
BẢNG PHỤ LỤC - công nghệ và dịch vụ iptv và khả năng triển khai trên mạng băng rộng
BẢNG PHỤ LỤC (Trang 177)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w