Trong tình huống khác, hàng hoá hay chứng khoán vẫn được giao nhận vào một ngày sau đó, nhưng có các thoả thuận giúp cho người bán hoặc người mua được chọn là có thực hiện bán hay không
Trang 1-
HOÀNG THỊ VÂN
GI¶I PH¸P PH¸T TRIÓN THÞ TR¦êNG PH¸I SINH HμNG HãA T¹I VIÖT NAM
Chuyên ngành: Tài chính, Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN THỊ MÙI
HÀ NỘI - NĂM 2013
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn: “Giải pháp phát triển thị trường phái sinh hàng hóa tại Việt Nam” được hoàn thành bởi nỗ lực cá nhân tôi sau quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thị trường phái sinh hàng hóa Việt Nam dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của PGS TS Nguyễn Thị Mùi Số liệu trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và được trích dẫn nguồn tham khảo rõ ràng
Người cam đoan
Hoàng Thị Vân
Trang 31 AFET Agricultural Futures Exchange of Thailand Sàn giao dịch nông sản Thái Lan
Institude
Đơn vị đo trọng lượng
của Dầu mỏ
3 BIDV Bank for Investment and Development of Vietnam Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Futuros
Sàn giao dịch hàng hóa tương lai Braxin
Exchange
Sàn giao dịch hàng hoá
Đại Liên
Sàn giao dịch các hợp đồng tương lai tài chính
London
Trang 423 MCX The Multi Commodity Exchange Sàn giao dịch đa hàng hoá của Ấn Độ
Sàn giao dịch hàng hoá
và chứng khoán phái sinh
của Ấn Độ
Exchange
Sở thương mại NewYork
Trang 5MỞ ĐẦU - 1 -
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA - 4 -
1.1 VÀI NÉT VỀ SỰ RA ĐỜI VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNGPHÁISINHHÀNGHÓA -4-
1.1.1 Vài nét về sự ra đời thị trường phái sinh hàng hóa - 4 -
1.1.2 Quá trình phát triển thị trường phái sinh hàng hóa - 7 -
1.1.3 Phân loại thị trường phái sinh hàng hóa - 17 -
1.1.4 Vai trò của thị trường phái sinh hàng hóa - 18 -
1.2CÁCCHỦTHỂTHAMGIATHỊTRƯỜNGPHÁISINHHÀNGHÓA -20- 1.2.1 Những người tự bảo hiểm (Hedgers) - 20 -
1.2.2 Nhà đầu cơ (speculators): - 20 -
1.2.3 Người kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrageurs): - 21 -
1.2.4 Nhà tạo lập thị trường (the Market Makers) - 22 -
1.2.5 Các đối tượng trên sàn giao dịch - 22 -
1.2.6 Những đối tượng khác tham gia trên thị trường - 23 -
1.3CUNGCẦUTRÊNTHỊTRƯỜNGPHÁISINHHÀNGHÓA -24-
1.3.1 Cung trên thị trường - 24 -
1.3.2 Cầu trên thị trường - 25 -
1.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến cung cầu trên thị trường phái sinh hàng hóa - 25 -
1.4CƠCHẾHOẠTĐỘNGCỦATHỊTRƯỜNGPHÁISINHHÀNGHÓA -27-
1.4.1 Thị trường tập trung - 27 -
1.4.2 Thị trường phi tập trung - 33 -
Trang 61.6QUẢNLÝNHÀNƯỚCTRÊNTHỊTRƯỜNGPHÁISINHHÀNGHÓA -35-
CỦAMỘTSỐQUỐCGIAVÀBÀIHỌCCHOVIỆTNAM -37-
1.7.1 Phát triển thị trường phái sinh hàng hóa thành công của một số quốc gia - 37 -
1.7.2 Bài học cho Việt Nam - 43 -
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM - 46 -
2.1SỰPHÁTTRIỂNTHỊTRƯỜNGPHÁISINHHÀNGHÓAỞVIỆTNAM -46-
2.1.1 Cơ hội - 46 -
2.1.2 Thách thức - 47 -
2.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển - 50 -
2.1.4 Các quy định pháp luật, khung pháp lý - 50 -
2.2THỰCTRẠNGTHỊTRƯỜNGPHÁISINHHÀNGHÓAVIỆTNAM -57-
2.2.1 Các chủ thể tham gia trên thị trường - 57 -
2.2.2 Cung cầu trên thị trường phái sinh hàng hóa Việt Nam - 59 -
2.2.3 Cơ chế hoạt động của thị trường - 65 -
2.2.4 Vai trò của các Ngân hàng thương mại trong việc phát triển thị trường phái sinh hàng hóa tại Việt Nam - 70 -
2.3ĐÁNHGIÁSỰPHÁTTRIỂNTHỊTRƯỜNGPHÁISINHHÀNGHÓAỞ VIỆTNAM -71-
2.3.1 Kết quả đạt được - 71 -
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân - 73 -
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM - 82 -
Trang 73.2GIẢI PHÁPPHÁT TRIỂNTHỊ TRƯỜNG PHÁI SINHHÀNG HÓATẬP
TRUNG -83-
3.2.1 Giải pháp từ các Ngân hàng thương mại - 84 -
3.2.2 Giải pháp từ các Sàn giao dịch - 89 -
3.2.3 Doanh nghiệp - 92 -
3.2.4 Nhà đầu tư cá nhân - 95 -
3.3GIẢIPHÁPPHÁTTRIỂNTHỊTRƯỜNGPHITẬPTRUNG -96-
3.4MỘTSỐKIẾNNGHỊ -96-
3.4.1 Kiến nghị với Chính phủ - 96 -
3.4.2 Kiến nghị với NHNN - 105 -
3.4.3 Kiến nghị với các đơn vị/tổ chức chuyên đào tạo về các nghiệp vụ Ngân hàng 105
-KẾT LUẬN -107-
Trang 8Sơ đồ 1.1 Cầu trên thị trường phái sinh hàng hóa - 25 -
Sơ đồ 1.2 Quy trình ký quỹ tham gia thị trường tương lai - 29 -
Sơ đồ 1.3 Quy trình thanh toán giao hàng HĐTL - 31 -
Sơ đồ 1.4 Cơ chế giao dịch của thị trường quyền chọn - 32 -
Sơ đồ 1.5 Qui trình thực hiện quyền chọn - 33 -
Sơ đồ 1.6 Cơ chế hoạt động của thị trường phi tập trung - 33 -
Sơ đồ 2.1 Cách thức giao dịch trên thị trường phái sinh hàng hóa Việt Nam - 66 -
Sơ đồ 2.2 Các bước thực hiện hợp đồng tương lai - 67 -
Sơ đồ 2.3 Các bước thực hiện hợp đồng quyền chọn - 68 -
DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Quá trình thanh toán hàng ngày HĐTL - 30 -
Bảng 2.1 Giá trị HĐTL hàng hóa tại Techcombank giai đoạn 2004-2011 - 60 -
DANH MỤC HỘP Hộp 2.1 Nội dung cơ bản của các quy định về mua bán hàng hoá qua sở giao dịch trong luật Thương mại 2005 - 52 -
Hộp 2.2 Ông Trần Duy Phương - Tổng giám đốc VNX - 61 -
Hộp 2.3 Giám đốc STE Phan Vũ Hùng - 61 -
Hộp 2.4 Anh Nguyễn Văn Hoàng, một nhà đầu tư - 62 -
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, thị trường phái sinh hàng hóa đã hình thành từ thế kỷ 17
và đang tăng trưởng với tốc độ ngày càng nhanh hơn do giới đầu tư chuyển hướng và nâng tỷ trọng của hàng hóa trong danh mục đầu tư bởi họ đã nhận thấy sự mất cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hóa và giao dịch hàng hóa trở nên dễ dàng hơn với mọi đối tượng Tuy nhiên, ở Việt Nam, thị trường này còn khá mới mẻ Theo tập quán kinh doanh từ bao đời nay của người dân Việt Nam thì các loại hàng hóa cơ bản như nông sản, kim loại như sắt thép, đồng, chì… chủ yếu được mua bán giao ngay Do đó rủi ro biến động giá cả
là rất lớn, đặc biệt đối với những mặt hàng có tính mùa vụ cao như nông sản Khi áp dụng giao dịch phái sinh, hàng hóa cơ bản trở thành sản phẩm được đưa vào giao dịch trên thị trường tài chính Xét ở góc độ tổng thể của nền
kinh tế, thị trường phái sinh hàng hóa đóng góp cho tăng trưởng kinh tế thông
qua việc phát huy tốt các chức năng của hệ thống tài chính, đó là: Cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư; Sàng lọc, chuyển giao, và phân tán rủi ro; Giám sát doanh nghiệp; tăng tính thanh khoản của các công cụ tài chính (vận hành Hệ thống thanh toán thông suốt) Đã đến lúc Việt Nam cần phát triển thị trường phái sinh hàng hóa một cách đúng nghĩa nhằm giúp các doanh nghiệp quản lý rủi ro biến động giá hàng hóa, tạo điều kiện cho cả doanh nghiệp và những người sản xuất tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi với chiến lược phát triển dài hạn, đảm bảo sự bình đẳng cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia cuộc cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp nước ngoài trong bối cảnh
thị trường hàng hóa liên tục biến động
Trong các thành phần tham gia thị trường phái sinh hàng hóa, Ngân hàng có vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển của thị trường này Ngân hàng không chỉ là nhà môi giới, là thành viên của các sàn giao dịch - kết
Trang 10nối người đầu tư với thị trường; là những nhà tạo lập thị trường - đảm bảo cho thị trường hoạt động linh hoạt, thuận lợi; mà Ngân hàng còn có thể là những
người đầu tư để kiếm lợi
Thị trường phái sinh hàng hóa Việt Nam chính thức xuất hiện từ năm 2005-2006, ban đầu mới chỉ có sự tham gia của hai Ngân hàng là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) Đến nay, số lượng các Ngân hàng trên thị trường ngày một đông hơn: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritimebank), Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), Ngân hàng Xăng dầu Petrolimex (PG Bank) v.v Ngoài Ngân hàng thì các thành phần kinh tế khác như doanh nghiệp, các sàn giao dịch cũng đóng vai trò không thể thiếu cho hoạt động của thị trường Tuy nhiên, sự tham gia của các Ngân hàng vào thị trường còn hạn chế, mới chỉ dừng lại là người môi giới; Các doanh nghiệp, nhà sản xuất, nhà đầu tư còn nhiều e ngại với thị trường; sàn giao dịch hình thành nhưng hoạt động èo uột, kém sôi động, không hiệu quả…Về phía quản lý Nhà nước vẫn chưa có khung pháp lý cho hoạt động của thị trường này Thực tế này đòi hỏi cần phải có những giải pháp cụ thể để thị trường phái sinh hàng hóa Việt Nam ngày một phát triển
Xuất phát từ nhu cầu đó, đề tài “Giải pháp phát triển thị trường phái sinh
hàng hóa tại Việt Nam” được tác giả lựa chọn để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ vai trò của thị trường phái sinh hàng hóa với việc phát triển kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế thế giới, tính tất yếu khách quan phải phát triển thị trường phái sinh hàng hóa; Các chủ thể tham gia trên thị trường, đặc biệt là các Ngân hàng thương mại cần thực hiện những giải pháp gì? Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước cần tham gia điều chỉnh thị trường như
Trang 11thế nào để hoạt động của thị trường phái sinh hàng hóa Việt Nam ngày càng hiệu quả hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thị trường phái sinh hàng hóa ở Việt Nam đứng trên giác độ các Ngân hàng, làm rõ vai trò thúc đẩy sự phát triển thị trường phái sinh hàng hóa của các Ngân hàng Thương mại Các số liệu, dữ liệu dẫn
chứng được tổng hợp từ năm 2004 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp so sánh
Phương pháp mô tả và khái quát đối tượng nghiên cứu
Trong đó phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng nhiều nhất
5 Bố cục luận văn
Ngoài lời mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình
bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về thị trường phái sinh hàng hóa
Chương 2: Thực trạng thị trường phái sinh hàng hóa ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường phái sinh hàng hóa ở Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA
1.1 VÀI NÉT VỀ SỰ RA ĐỜI VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA
1.1.1 Vài nét về sự ra đời thị trường phái sinh hàng hóa
1.1.1.1 Sự ra đời
Đầu thế kỷ 17, vào những năm 1600-1637, khi hoạt động buôn bán hoa Tulip bùng nổ tại Anh và Hà Lan, những hợp đồng quyền chọn đã được ký kết tại Amsterdam và tại Hà Lan nhằm phòng ngừa rủi ro việc giá tăng do cơn sốt về nhu cầu hoa Tulip Năm 1630, những hợp đồng tương lai mua bán hoa Tulip cũng đã hình thành và giao dịch trên sàn giao dịch Hoàng Gia (Royal Exchange) tại Anh Vì vậy, sàn giao dịch Hoàng Gia (hình thành ở London từ năm 1571 với nhiệm vụ xúc tiến các hoạt động thương mại) cũng trở thành
sàn giao dịch sản phẩm phái sinh sớm nhất trên thế giới
thành phố Osaka, mang tên Sàn giao dịch Gạo Dojima (Dojima là tên một quận ở Osaka) Khi đó chính quyền Edo trả lương cho các samurai bằng gạo Năm 1730 giá gạo xuống thấp, nên số tiền quy đổi được từ gạo cũng giảm
đi Để giải quyết tình trạng này, người ta nghĩ ra cách mua bán gạo không thanh toán ngay mà thanh toán vào một thời điểm sau này với mức giá hiện tại, đề phòng tình trạng giá gạo còn xuống nữa Cách này được gọi là mua
bán gạo ghi sổ
Năm 1848: sàn giao dịch Chicago (Chicago Board of Trade - CBOT)
ra đời Đây là sàn giao dịch các công cụ tài chính phái sinh hiện đại đầu tiên trên thế giới Hội đồng mậu dịch kỳ hạn thành lập một trung tâm giao dịch mua bán nông phẩm theo phương mua bán trước giao nhận hàng sau, theo các
Trang 13kỳ hạn, gọi là sở giao dịch hàng hóa kỳ hạn; Thời kỳ đầu chỉ giao dịch ngũ cốc, về sau có thêm các đàn gia súc, sản phẩm đông lạnh, đầu thế kỷ XX có thêm chứng khoán, ngoại tệ và vàng Đến năm 1864, các hợp đồng tương lai
mới hình thành
Sự thành công của CBOT đã thúc đẩy khối lượng giao dịch các sản phẩm phái sinh tăng vọt, làm cơ sở ra đời cho các trung tâm giao dịch tài chính phái sinh tiếp theo tại Mỹ cũng như các nước khác Tại New York, từ năm 1870 - 1880, liên tục ra đời 4 sàn giao dịch: sàn giao dịch bông vải và các sản phẩm đông lạnh; sàn giao dịch bơ, sữa, trứng các lọai; sàn giao dịch
vàng, cao su, tơ lụa và gia thú, sàn giao dịch cà phê, ca cao và đường
Tại London, năm 1883 sàn giao dịch kim loại (London Metal Exchange
- LME) ra đời phục vụ nhập khẩu nguyên liệu công nghiệp, năm 1982 thành
lập sàn giao dịch các hợp đồng tài chính tương lai (LIFFE);
Tại Tokyo, cũng trong giai đoạn này đã ra đời 2 sàn giao dịch: sàn giao
dịch công nghệ phẩm (TOCOM), sàn giao dịch ngũ cốc (TGE)
Năm 1973: Sàn giao dịch quyền chọn Chicago (CBOE) được thiết lập Đây
là sàn giao dịch quyền chọn chứng khoán tiêu chuẩn hóa đầu tiên trên thế giới
Năm 1987: nhóm nghiên cứu các công cụ phái sinh của Ngân hàng JP Morgan Chase đã phát minh ra Credit Default Swap
Cho đến nay, các sản phẩm phái sinh vẫn liên tục phát triển, biển đổi để đáp ứng mọi nhu cầu của nền kinh tế Sở dĩ nó phát triển nhanh như vậy vì mọi thành viên tham gia thị trường đều thu được lợi ích Các nhà thương mại tìm đến công
cụ phái sinh nhằm loại trừ rủi ro, các nhà đầu cơ thì đánh cược với rủi ro để có mức sinh lời lớn hơn, còn nhà kinh doanh chênh lệch điểm thực hiện nghiệp vụ kiếm lời thông qua chênh lệch giá ở các thị trường Ngày nay, các sản phẩm phái
Trang 14sinh đơn giản trong quá khứ dần nhường chỗ cho các sản phẩm phái sinh phức tạp hơn, kết hợp nhiều yếu tố hơn và đem lại lợi ích lớn hơn
1.1.1.2 Khái niệm thị trường phái sinh hàng hóa
Trong các thị trường tài sản, việc mua bán hòi hỏi hàng hoá hoặc chứng khoán phải được giao nhận hoặc là ngay lập tức hoặc là chỉ ít lâu sau đó Việc thanh toán cũng thường được thực hiện tức thời mặc dù thỉnh thoảng cũng có trường hợp sử dụng một số thoả thuận tín dụng Do đặc điểm như vậy nên chúng ta thường gọi là thị trường tiền mặt hoặc là thị trường giao ngay (spot market) Doanh số được thực hiện, khoản thanh toán được hoàn trả và hàng hoá, chứng khoán được giao nhận Trong tình huống khác, hàng hoá hay chứng khoán vẫn được giao nhận vào một ngày sau đó, nhưng có các thoả thuận giúp cho người bán hoặc người mua được chọn là có thực hiện bán hay không các loại thoả thuận này, và nghiệp vụ này được thực hiện trong thị
trường phái sinh
Thị trường phái sinh là thị trường dành cho các công cụ tài chính phái sinh, những công cụ mang tính hợp đồng, mà thành quả của chúng được xác định trên 1 hoặc 1 số công cụ tài sản khác Chúng ta xem các công cụ phái sinh như là các hợp đồng, và giống như tất cả hợp đồng, chúng được thoả thuận giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó mỗi bên sẽ thực hiện nghĩa vụ gì đó cho bên kia Các hợp đồng này có giá cả và người mua sẽ cố gắng mua với giả rẻ và người bán cố gắng bán với giá cao nhất
Nghiệp vụ tài chính phái sinh là nghiệp vụ sử dụng các công cụ tài
chính phái sinh nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán, phòng ngừa rủi
ro về lãi suất, chứng khoán, ngoại tệ, giá cả hàng hóa…; kinh doanh, bảo vệ
lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận; lợi dụng chênh lệch giá và đầu cơ
Các nghiệp vụ tài chính phái sinh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển ngày càng sâu, rộng và đa dạng của thị trường tài chính Sự biến động khó
Trang 15lường của giá cả hàng hoá, lãi suất, tỷ giá trên thị trường là những nguyên nhân gây ra rủi ro cho các nhà đầu tư trong các phi vụ mua, bán Để hạn chế thấp nhất những rủi ro thua lỗ có thể xẩy ra, các nghiệp vụ tài chính phái sinh
đã được hình thành, đó thực chất là những hợp đồng tài chính mà giá trị cuả
nó phụ thuộc vào một hợp đồng mua bán cơ sở (hay còn gọi là chính phẩm)
1.1.2 Quá trình phát triển thị trường phái sinh hàng hóa
Công cụ tài chính phái sinh (hay thường được gọi là các công cụ tài chính mới) là công cụ tài chính có giá trị được xác định dựa trên giá trị của
các biến số cơ sở Biến số cơ sở là những yếu tố (như giá trị, mức độ biến
động giá, ) của một tài sản cơ sở (underlying asset) được giao dịch trong hợp
đồng phái sinh (hay còn gọi là tài sản gốc) Tài sản gốc có thể là bất cứ thứ gì (hàng hóa, cổ phiếu, USD…) Giá trị của tài sản gốc là giá trị của tài sản được giao dịch, giá trị này luôn biến động Như vậy, công cụ phái sinh gắn
kết người thực hiện nó với những rủi ro và lợi nhuận của một tài sản cơ sở nào đó mà họ không cần phải trực tiếp sở hữu tài sản cơ sở đó Việc đầu tư vào các công cụ phái sinh thường không yêu cầu một một khoản đầu tư thuần ban đầu nào hoặc chỉ yêu cầu một khoản đầu tư thuần ban đầu nhỏ hơn nhiều
so với giá trị tài sản cơ bản
Các loại công cụ phái sinh chuẩn bao gồm: Hợp đồng kỳ hạn, Hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi
Sản phẩm của thị trường phái sinh hàng hóa: là các dạng hợp đồng
phái sinh với tài sản cơ sở là hàng hóa Hàng hóa cơ sở có thể là nông sản (cà phê, lúa mì, lúa mạch, gạo, đậu nành ); thực phẩm (thịt heo, thịt bò); kim loại (vàng, bạc, đồng…)
a Hợp đồng kỳ hạn (Forward)
Hợp đồng kỳ hạn là thoả thuận mua hoặc bán một tài sản (hàng hoá hoặc các tài sản tài chính) tại một thời điểm trong tương lai với một mức giá
đã được định trước
Trang 16Thời điểm xác định trong tương lai được gọi là ngày thanh tóan, ngày tất tóan hay ngày đáo hạn hợp đồng
Thời gian từ ngay giao dịch của hợp đồng đến ngày đáo hạn của hợp đồng được gọi là kỳ hạn của hợp đồng
Mức giá xác định tại thời điểm hiện tại và áp dụng trong ngày đáo hạn của hợp đồng được gọi là giá kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn có đặc điểm:
Forward được mua bán trên thị trường OTC mà không được giao dịch trên sàn giao dịch tập trung do đây là thỏa thuận riêng lẻ giữa người mua và người bán
Các điều khoản của hợp đồng được tự do thỏa thuận phù hợp với nhu cầu của người mua và người bán về: khối lượng, chất lượng hàng hóa, địa điểm và thời gian giao hàng
Giao dịch kỳ hạn chỉ được thực hiện và bắt buộc phải thực hiện vào ngày đáo hạn của hợp đồng cho dù biến động thị trường tại ngày đáo hạn có gây bất lợi cho một bên nào đó
Lợi ích của hợp đồng kỳ hạn:
Kiếm lời thông qua nghiệp vụ Arbitrage (Nghiệp vụ Arbitrage theo nghĩa nguyên thủy là việc lợi dụng sự chênh lệch giá giữa các thị trường khác nhau để thu lời thông qua hoạt động mua và bán Những người thực hiện nghiệp vụ này (arbitragers) tóm được các cơ hội hiếm hoi này thường phải có các thiết bị máy tính hiện đại, quan sát tốt, tính toán nhanh và/hoặc có các chương trình xử lý tự động.)
Phòng ngừa rủi ro: Lo sợ rủi ro giá lên thì mua Forward Lo sợ rủi ro giá xuống thì bán Forward
Giá trị (payoff ) của hợp đồng kỳ hạn
Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả
do hai bên tự thoả thuận với nhau Giá hàng hoá đó trên thị trường giao ngay
Trang 17vào thời điểm giao nhận hàng hoá có thể tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đã ký kết trong hợp đồng Khi đó, một trong hai bên sẽ bị thiệt hại do
đã cam kết một mức giá thấp hơn (bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thị trường
Như vậy bằng việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình.Khi có thay đổi giá cả trên thị trường giao ngay, rủi ro thanh toán sẽ tăng lên khi một trong hai bên không thực hiện hợp đồng Ngoài ra, vì mức giá đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không chính xác
b Hợp đồng tương lai (Future)
Hợp đồng tương lai là một thỏa ước pháp lý giữa một bên là người mua (hoặc bán) và một bên là sở giao dịch hoặc một trung tâm thanh toán (clearing house) về việc giao nhận một khối lượng tài sản xác định tại một thời điểm nhất định trong tương lai với một mức giá đã được ấn định sẵn Thực chất hợp đồng tương lai chính là hợp đồng kỳ hạn được chuẩn hóa và giao dịch trên sàn giao dịch tập trung
Sự cam kết pháp lý về một hành vi trong tương lai này có thể được các bên huỷ bỏ một cách hợp pháp khi lập một hợp đồng tương lai khác ngược lại
vị thế mà mình đã có Cũng vì lý do này mà có thể chia hợp đồng tương lai thành hai loại:
- Hợp đồng tương lai được tất toán vào ngày đáo hạn của hợp đồng: Đây là loại hợp đồng dẫn đến việc giao hàng thực với khối lượng, mức giá, thời điểm giao hàng như đã thỏa thuận trước tại một kho hàng được Sàn giao dịch chỉ định Trong trường hợp này thì về bản chất hợp đồng tương lai tương
tự như hợp đồng kỳ hạn
- Hợp đồng tương lai được tất toán trước ngày đáo hạn của hợp đồng Đây là loại hợp đồng không có sự giao hàng trên thực tế, các bên chấm dứt sự
Trang 18ràng buộc của mình với bên kia bằng việc mua hoặc bán lại chính loại hàng hóa đó ngược với vị thế mà mình đã có Đây là dạng phổ biến, theo thống kê
có đến 95% hợp đồng tương lai được tất toán trước hạn
Hợp đồng tương lai tiến triển từ hợp đồng kỳ hạn nên có những điểm giống với hợp đồng kỳ hạn, đều được ấn định rõ loại hàng hóa, số lượng, chất lượng, giá tương lai, ngày giao hàng và địa điểm giao hàng Tuy vậy, khác với hợp đồng kỳ hạn, mọi điều khoản trong hợp đồng tương lai đều được tiêu chuẩn hóa Hợp đồng kỳ hạn giao dịch trên thị trường phi tập trung (OTC) còn hợp đồng tương lai được giao dịch trên thị trường có tổ chức, được gọi là sàn giao dịch giao sau, thông qua một môi giới trên thị trường; và người mua
và người bán thường không quen biết nhau, do vậy đơn vị môi giới thường quy định trước một số các điều khoản cho những hợp đồng này về mặt số lượng hàng hóa, ngày giao hàng và nơi giao hàng…
Hợp đồng tương lai được tái thanh toán hằng ngày và được ấn định, ghi nhận trên thị trường, nên các khoản lời lỗ được nhận biết hằng ngày Để tránh những rủi ro khi thực hiện hợp đồng mua bán trong tương lai, do người mua, hoặc người bán tháo lui khỏi hợp đồng vì sự biến động giá trên thị trường bất lợi cho mình, hoặc do đến thời điểm thanh toán, người mua không có khả năng tài chính, có những qui định về yều cầu dự trữ tối thiểu đối với người ký hợp đồng tương lai với nhà môi giới Khoản tiền dự trữ này được giữ tại một
tài khoản của người đầu tư mở tại Ngân hàng hoặc sàn giao dịch
Một số khái niệm liên quan đến hợp đồng tương lai:
• Trạng thái trường (long position): Bên mua của hợp đồng được gọi
là bên giữ thế trường vị
• Trạng thái đoản (short position): bên bán của hợp đồng được gọi là
bên giữ thế đoản vị
Trang 19• Trạng thái mở (open interest): là trạng thái mà khi đó khách hàng có
số dư mua/bán tương lai đối với hàng hoá đó
• Tất toán trạng thái: là việc mua/bán hợp đồng tương lai với cùng
khối lượng và kỳ hạn tương ứng với trạng thái mà khách hàng đang nắm giữ
• Ký quỹ ban đầu: là số dư tối thiểu trên tài khoản ký quỹ để có thể thực hiện giao dịch mua hoặc bán một đơn vị hợp đồng tương lai trên thị trường hàng hoá Mức ký quỹ ban đầu được quy định đối với các giao dịch trên từng thị trường và trong từng thời kỳ nhất định Thông thường mức ký
quỹ ban đầu chiếm khoảng 7-15% giá trị hợp đồng
Đặc điểm:
- Các điều khỏan của hợp đồng tương lai được tiêu chuẩn hóa Với mục đích đảm bảo hoạt động mua bán được diễn ra với tốc độ cao, số lượng lớn và đảm bảo an toàn, các Sàn giao dịch tương lai luôn đặt ra các quy định
để tiêu chuẩn hóa các điều khỏan trong hợp đồng như:
+ Chất lượng hàng hóa: hàng hóa phải được phân loại thành các mức chất lượng khác nhau và thông thường sàn giao dịch chỉ cho phép giao dịch
một vài mức chất lượng nhất định
+ Quy mô hợp đồng (thường được gọi là lô hay lot): Tùy loại hàng hóa, tùy sàn giao dịch sẽ quy định một lô hàng tương ứng với số lượng hàng hóa là bao nhiêu (VD: hợp đồng cà phê Robusta trên sàn LIFFE là 10 tấn, một hợp đồng cà phê Arabica trên sàn ICE là 5 tấn, một hợp đồng dầu thô WTI trên
sàn NYMEX là 1000 thùng…)
+ Cách yết giá, đồng yết giá: tùy Sàn giao dịch sẽ có quy định khác nhau, ví dụ như hợp đồng cà phê Robusta trên sàn LIFFE được yết giá là USD/tấn, trong khi hợp đồng cà phê Arabica trên sàn ICE được yết giá là
UScent/pound…
Trang 20+ Thời điểm đáo hạn hợp đồng: Thông thường các sàn giao dịch quy định các kỳ hạn giao hàng đối với từng loại hàng cụ thể Ví dụ như hợp đồng
cà phê Robusta trên sàn LIFFE có các tháng giao hàng trong năm là tháng 1,3,5,7,9,11, trong khi đó kỳ hạn giao hàng của hợp đồng cao su tren TOCOM
là 6 tháng tiếp theo kể từ thời điểm hiện tại Tuy nhiên cũng có sàn giao dịch quy định quy định thời điểm đáo hạn hợp đồng là một khoảng thời gian nhất định sau thời điểm thực hiện giao dịch, ví dụ như sàn giao dịch kim loại
London (LME) có các loại hợp đồng như hợp đồng 3 tháng, 6 tháng…
- Giao dịch tương lai được lập tại Sàn giao dịch và thực hiện thông
qua các trung gian môi giới
+ Các giao dịch của hợp đồng tương lai chịu sự quản lý của Sàn giao dịch theo những nguyên tắc và quy định nhất định Mọi giao dich dù bằng hệ thống điện tử hay đấu thầu trực tiếp đều phải được thực hiện tại Sàn giao dịch Sàn giao dịch do Chính phủ quản lý và bổ nhiệm cơ quan giám sát (như tại
Mỹ các sàn giao dịch chịu sự giám sát của Ủy ban giao dịch hàng hóa tương
lai CFTC)
+ Hợp đồng tương lai được giao dịch theo phương thức đấu giá khớp lệnh, theo đó sàn giao dịch đứng ra làm trung gian kết nối nhu cầu mua và bán của người giao dịch Do đó, khi tham gia giao dịch, các bên chỉ biết họ đang giao dịch với Sàn mà không cần quan tâm đến đối tác của mình là ai, các rủi
ro về đối tác được triệt tiêu hoàn toàn
+ Cơ chế thanh tóan bù trừ (Clearing) là cơ chế vận hành chính cảu thị trường tương lai, dưới sự điều hành của Trung tâm thanh toán bù trừ (Clearing House) của mỗi sàn giao dịch Khi tham gia giao dịch, Trung tâm thanh toán bù trừ sẽ cân đối, bù trừ vào tài khỏan của nhà đầu tư Trong trường hợp các bên muốn thực hiện nghĩa vụ giao/nhận hàng thực thì Trung tâm thanh tóan bù trừ sẽ là cầu nối, yêu cầu bên bán và bên mua thực hiện
giao nhận hàng tại một kho do Trung tâm thanh toán bù trừ chỉ định
Trang 21+ Ngoài trung tâm thanh tóan bù trừ, còn có nhiều bên làm trung gian giao dịch bao gồm các công ty thành viên trực thuộc sàn, các công ty mối
giới…làm trung gian thị trường
- Đa số các giao dịch tương lai được tất tóan trước hạn
Một đặc điểm khiến giao dịch tương lai vừa giống lại vừa khác với các chứng khoán là hợp đồng tương lai có thời hạn đáo hạn Tuy nhiên, trước thời điểm đóa hạn đó thì hợp đồng tương lai sẽ trở thành một hợp đồng giao nhận hàng thực Ngoài ra, việc dễ dàng tất tóan hợp đồng trước hạn cũng khiến hợp đồng tương lai có sự khác biệt với các hợp đồng thông thừơng khi các bên muốn thanh lý hợp đồng trước ngày giao hàng đồng nghĩa với việc hai bên phải thỏa thuận chấm dứt hợp đồng hoặc chuyển nghĩa vụ cho bên thứ ba Trong khi
đó với hợp đồng tương lai, việc tất toán hợp đồng rất dễ dàng, không cần phải
có sự thỏa thuận nào, bằng việc thực hiện nghiệp vụ thanh toán bù trừ là thực
hiện một giao dịch ngược với vị thế nhà đầu tư đang nắm giữ
- Giao dịch tương lai có cơ chế đòn bẩy bằng việc giao dịch dựa trên
một tỷ lệ ký quỹ nhất định
Tiên ký quỹ (bảo chứng) là biện pháp bảo đảm thi hành hợp đồng, bắt buộc đối với cả bên bán và bên mua Thay vì phải bỏ ra một khỏan tiền lớn để đặt cọc hoặc một lượng tiền bằng với giá trị hàng hóa để đảm bảo cho việc mua bán thì trung tâm thanh toán bù trừ chỉ quy định một mức bảo chứng rất thấp, tùy thuộc vào từng loại hàng hóa, thông thường chỉ chiếm từ 7-15% giá trị hợp đồng Tiền bảo chứng thấp trong hợp đồng tương lai là một trong những nguyên nhân khiến chúng trở thành công cụ đòn bẩy tài chính mạnh Và cũng
do tiền bảo chứng thấp nên ai cũng có thể tham gia thị trường với tư cách là nhà đầu cơ Những nhà đầu cơ luôn kỳ vọng vào việc kiếm lời trở thành nhân vật chủ yếu trong thị trường tưong lai, giúp thị trường này hoạt động sôi nổi hơn Thông qua đó, những người nắm giữ hàng hóa cần được bảo hộ cũng được lợi khi dễ dàng mua bán hợp đồng tương lai bất cứ lúc nào do thị trường
Trang 22luôn có người mua, người bán Nhờ vậy mà thị trường tương lai có tính thanh
khoản cao, giá cả trên thị trường có tính minh bạch cao
c Hợp đồng quyền chọn (Option)
Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua
(nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hàng hoá với một mức giá xác định và trong một thời gian nhất định
Quyền chọn: Là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, trong
đó cho người mua quyền nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay (thời điểm ký kết hợp đồng quyền chọn)
Quyền chọn mua (call opiton).Người sở hữu một quyền chọn mua có
quyền mua một tài sản, tại một mức giá nhất định,vào một thời điểm nhất định
Quyền chọn bán (put option).Người sở hữu một quyền chọn bán có
quyền bán một tài sản, tại một mức giá nhất định,vào một thời điểm nhất định
Giá thực hiện (strike price ) Giá thực hiện còn được gọi là giá điểm là
mức giá tại đó tài sản trong một quyền chọn có thể được mua hoặc bán
Tài sản cơ sở (underlying asset ) là loại tài sản sẽ được giao trên cơ sở
mua hoặc bán khi quyền chọn được thực hiện
Giá trị nội tại của hợp đồng quyền chọn là lượng tiền thu được khi thực hiện một quyền chọn tại mức giá thực hiện Giá trị nội tại của một hợp đồng quyền chọn được quyết định bởi mối quan hệ của giá thực hiện quyền chọn với giá hợp đồng tương lai tham chiếu
Đặc điểm
Người mua quyền chọn trả cho người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn Người bán quyền chọn sẵn sàng bán hoặc tiếp tục nắm giữ tài sản theo điều khoản của hợp đồng nếu người mua muốn thế
- Người mua quyền có quyền thực hiện hay không thực hiện hợp đồng
- Người bán phải thực hiện HĐ khi người mua yêu cầu
Trang 23- Giá trị của quyền chọn phụ thuộc vào sự biến động giá của tài sản cơ
sở, có ba trạng thái:
+ Sinh lời (In the money)
+ Hoà vốn (At the money)
+ Lỗ vốn (Out the money)
Một quyền chọn để mua tài sản gọi là quyền chọn mua (call),một quyền chọn bán một tài sản gọi là quyền chọn bán (put)
nhưng phần lớn các giao dịch quyền chọn được quản lý riêng rẽ giữa hai bên Những người này tự tìm đến với nhau, loại thị trường này gọi là thị trường OTC, đây chính là loại thị trường quyền chọn xuất hiện đầu tiên
Quyền chọn cũng có những nét giống với một hợp đồng kỳ hạn nhưng quyền chọn không bắt buộc phải thực hiện giao dịch còn người sở hữu hợp đồng kỳ hạn bắt buộc phải thực hiện giao dịch Hai bên trong hợp đồng kỳ hạn
có nghĩa vụ phải mua và bán hàng hoá, nhưng người nắm giữ quyền chọn có
thể quyết định mua hoặc bán tài sản với giá cố định nếu giá tri của nó thay đổi
Phân loại quyền chọn
Theo kiểu hợp đồng có ba loại: hợp đồng quyền chọn kiêu châu Âu, kiểu Mỹ và kiểu Châu Á
- Hợp đồng quyền chọn kiểu châu Âu ( european option): Chỉ thực
hiện quyền vào ngày đáo hạn
- Hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ (American option): Có thể thực hiện
vào bất kể ngày nào trong thời hạn quyền chọn (tính cả ngày đáo hạn) Tuy nhiên phí quyền chọn cao hơn so với kiểu châu Âu Rủi ro lớn hơn đối với người bán quyền chọn Hiện nay trên các thị trường chứng khoán hầu hết thực hiện theo kiểu Mỹ
Trang 24- Hợp đồng quyền chọn kiểu Châu Á (Asian option): Là loại quyền
chọn mà việc thanh toán phụ thuộc vào giá trung bình của những tài sản cơ sở trong một thời kỳ nhất dịnh chứ không phải là thời điểm đáo hạn Còn gọi là quyền chọn trung bình
Theo quyền hợp đồng có hai loại: Hợp đồng quyền chọn mua (call option)
và hợp đồng quyền chọn bán (put option)
- Hợp đồng quyền chọn mua (Call) là thoả thuận cho phép người cầm
hợp đồng có quyền mua sản phẩm từ một nhà đầu tư khác với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn của hợp đồng
- Hợp đồng quyền chọn bán (Put) là thoả thuận cho phép người cầm hợp
đồng có quyền bán sản phẩm cho một nhà đầu tư khác với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn của hợp đồng
o Hợp đồng bán quyền chọn bán: Trao quyền bán một tài sản cơ sở
c Hợp đồng hoán đổi (Swap)
Hợp đồng hoán đổi giá cả hàng hóa là hợp đồng giữa hai bên nhằm thỏa thuận về việc trao đổi với nhau giá trị thanh toán của một lượng hàng hóa nhất định theo các mức giá thả nổi hoặc cố định trong một khoảng thời gian nhất định được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng Một bên sẽ thanh toán giá cố định và nhận giá thả nổi, bên kia sẽ thanh toán và nhận theo chiều
ngược lại
Mặc dù việc hoán đổi đã tồn tại từ rất sớm, ngay từ khi có hoạt động thương mại của con người Tuy nhiên, sản phẩm phái sinh hoán đổi cho đến những năm 80 của thế kỷ XX mới được phát triển mạnh mẽ Hợp đồng hoán đổi là một công cụ hữu hiệu trong việc chuyển đổi từ tài sản có giá trị thả nổi
Trang 25theo giá thị trường sang tài sản cso giá trị cố định nhằm phòng chống rủi ro
cho nhà đầu tư hoặc phục vụ mục đích sinh lợi của nhà đầu tư
Hàng hóa trong hợp đồng hoán đổi được giới hạn so với các hợp đồng phái sinh khác Ba dạng hợp đồng hoán đổi chủ yếu là: hoán đổi tiền tệ, hóan
đổi giá cả hàng hóa và hoán đổi cổ phiếu (equity swaps)
Hợp đồng hoán đổi giá cả hàng hóa là việc hoán đổi chỉ số giá cả thị trường của một loại hàng hoá sang giá cố định Trong trường hợp hoán đổi giá cả hàng hoá chỉ có sự tham gia hoán đổi đơn thuần của các yếu tố tài
chính chứ hoàn toàn không có sự trao đổi hàng thực
Đặc điểm
Giao dịch hoán đổi hàng hoá được thực hiện trên thị trường phi tập trung Hợp đồng giao dịch có tính chất linh động phù hợp với nhu cầu đa
dạng của khách hàng về khối lượng, kỳ hạn, đơn vị yết giá…
Cuối mỗi kỳ thanh toán các bên trong giao dịch hoán đổi giá cả hàng hoá thực hiện thanh toán cho nhau phần chênh lệch giữa giá thả nổi và giá cố định tương ứng với khối lượng hàng hoá thực hiện hoán đổi Giá thả nổi được xác định theo một chỉ số giá tham chiếu nhất định, có thể theo phương thức tính giá trung bình hoặc tính giá theo thời điểm
1.1.3 Phân loại thị trường phái sinh hàng hóa
1.1.3.1 Thị trường giao dịch tập trung
Thị trường giao dịch tập trung hay còn gọi là thị trường giao dịch qua sàn là nơi mà các hợp đồng phái sinh được giao dịch thông qua các Sở giao dịch (Trung tâm giao dịch) với những nguyên tắc và phương thức hoạt động
nhất định
Thị trường giao dịch tập trung là một tổ chức có tư cách pháp nhân thông thường do nhà nước thành lập hoặc cũng có thể do nhiều tổ chức tư
Trang 26nhân thành lập, hoạt động công khai, theo các quy định của pháp luật về giao dịch phái sinh và theo các nguyên tắc, quy định, phương thức của sàn giao
dịch, Trung tâm giao dịch
Thành viên tham gia thị trường giao dịch tập trung phải đáp ứng đủ các điều kiện nhất định về tài chính, ký quỹ, hạn mức, năng lực pháp luật, năng lực hành vi,….Đối với môi giới viên, là người đưa ra các lệnh mua bán vào hệ thống theo yêu cầu của khách hàng thì còn cần phải đạt được các chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật Thông thường sàn giao dịch chỉ hoạt
động theo giờ nhất định, và thường theo giờ hành chính của nước đó
Các bộ phận cấu thành thị trường giao dịch tập trung bên cạnh cơ quan quan trọng nhất là Sở giao dịch, Trung tâm giao dịch (như CBOT, CME, LIFFE…) thì còn có trung tâm thanh toán bù trừ, trung tâm lưu ký, các công
ty môi giới tài chính phái sinh
1.1.3.2 Thị trường giao dịch phi tập trung
Thị trường giao dịch phi tập trung là thị trường không được (hoặc không muốn) giao dịch trên thị trường tập trung do các hợp đồng chưa được chuẩn hóa hoặc có thể biến đổi nhằm phù hợp với nhu cầu của người mua và
người bán
Đặc điểm của thị trường phi tập trung là ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu còn bỏ sót tại thị trường tập trung Đó là nơi giao dịch mọi loại hợp đồng phái sinh theo nguyên tắc thỏa thuận giữa các bên trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua môi giới Trong mỗi lần giao dịch, các hợp đồng phái sinh được biến đổi theo nhiều cách để đáp ứng nhu cầu của các bên Chính vì vậy, các hợp đồng ký kết trên thị trường phi tập trung lại là những hợp đồng đa dạng, phong phú nhất
1.1.4 Vai trò của thị trường phái sinh hàng hóa
Vai trò hàng đầu và cơ bản nhất của thị trường phái sinh nói chung, thị trường phái sinh hàng hóa nói riêng là chuyển giao rủi ro Đây là điểm khác
Trang 27biệt của thị trường phái sinh so với các thị trường khác trong thị trường tài chính Thị trường phái sinh hàng hóa giúp các nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro bằng nhiều biện pháp khác nhau Nguyên tắc hoạt động cơ bản của nó chính
là chuyển giao rủi ro từ những nhà đầu tư có nhu cầu phòng ngừa rủi ro sang những nhà đầu tư sẵn sang chấp nhận rủi ro Và đương nhiên, những nhà đầu
tư chấp nhận rủi ro về mình sẽ lấy được tiền để làm điều đó Phòng ngừa rủi
ro bằng công cụ phái sinh chỉ cần một mức đầu tư tối thiểu Thị trường phái sinh hàng hóa cho phép nhà đầu tư mua bán hàng hóa dựa trên mức giá mong đợi trong tương lai với mức phí giao dịch thấp hơn nhiều so với việc mua bán trực tiếp tài sản cơ sở Ngoài ra, nội dung của các hợp đồng phái sinh cũng có thể được thỏa thuận để thỏa mãn bất cứ nhu cầu của nhà đầu tư nào
Thị trường phái sinh hàng hóa giúp gia tăng tính thanh khoản của tài sản tài chính vì trên thị trường này nhà đầu tư có thể ký kết hợp đồng ngay cả khi không có tài sản cơ sở của hợp đồng đó trong tay Hơn nữa, thị trường phái sinh là thị trường duy nhất mà ở đó nhà đầu tư có thể thực hiện bán khống khi họ kỳ vọng giá trị của tài sản cơ sở sẽ giảm trong tương lai Điều này giúp cho thị trường có khả năng tự động điều tiết trong trường hợp có một
số hàng hóa nào đó được định giá cao quá mức Các giao dịch phái sinh sẽ giúp bình ổn giá cả thị trường trở lại
Ngoài ra, thị trường phái sinh hàng hóa còn là nhân tố tác động, thúc đẩy
sự phát triển của thị trường tài chính và đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Nhờ thị trường phái sinh, nhà đầu tư có nhiều chọn lựa hơn cho hoạt động đầu tư cũng như các giải pháp để phòng ngừa rủi ro Nhờ đó họ sẵn sàng đầu tư vào thị trường tài chính qua đó thúc đẩy thị trường phát triển Mặt khác thị trường phái sinh hoạt động trên toàn cầu, các giao dịch được thực hiện 24/7 giúp kết nối nhu cầu mua bán giữa các nhà đầu tư ở các quốc gia khác nhau, từ
đó đẩy nhanh quá trình hội nhập nền tài chính, kinh tế toàn cầu
Trang 28Trên thị trường phái sinh nói chung, thị trường phái sinh hàng hóa nói riêng, Ngân hàng và các tổ chức trung gian tài chính vẫn là những chủ thể tham gia linh hoạt, năng động nhất Các tổ chức này đóng vai trò then chốt không thể thiếu trên thị trường bởi việc cung cấp các công cụ phái sinh cho doanh nghiệp, tổ chức tài chính khác cũng như các nhà đầu tư Lý do chính thu hút các tổ chức tài chính tham gia thị trường phái sinh là phòng ngừa rủi
ro, nếu có sinh lợi thì bản chất của việc phòng ngừa rủi ro vẫn không thay đổi
1.2 CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA 1.2.1 Những người tự bảo hiểm (Hedgers)
Người tự bảo hiểm được coi là người sử dụng cuối cùng (end users) trong thị trường giao dịch phái sinh, tham gia thị trường với mục đích bảo hiểm cho tài sản tài chính hoặc tài sản vật chất của họ trước những biến động của thị trường Một nhà sản xuất kinh doanh hàng hoá vật chất sẽ chịu rủi ro khi giá cả hàng hoá biến động bất thường nhưng điều này có thể được loại trừ khi tham gia thị trường phái sinh, nơi có thể cố định các yếu tố biến đổi trong tương lai
Như đã đề cập trong phần lịch sử hình thành thị trường phái sinh, giai đoạn đầu chủ yếu là các nhà xuất nhập khẩu và sản xuất hàng hoá mới sử dụng công cụ phái sinh như hợp đồng tương lai để bảo hiểm rủi ro về giá Đến nay, công cụ phái sinh được mở rộng và phát triển lên hình thức cao hơn là hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi, đối tượng tham gia bảo hiểm thông qua thị trường phái sinh được mở rộng ra hầu hết các thành phần của nền kinh tế từ doanh nghiệp, Ngân hàng, tổ chức tài chính phi Ngân hàng và cả chính phủ đều
sử dụng các sản phẩm phái sinh để bảo hiểm rủi ro biến động của thị trường 1.2.2 Nhà đầu cơ (speculators):
Nhà đầu cơ là những người chấp nhận rủi ro cao để tìm kiếm lợi nhuận cao từ sự giao động giá và được coi là người sử dụng cuối cùng trong thị
Trang 29trường giao dịch phái sinh Nhà đầu cơ không phải là trung gian hưởng chênh lệch mà là người sẵn sàng chấp nhận, chia sẻ rủi ro với nhà bảo hiểm bằng cách tạo ra các trạng thái đầu cơ đối nghịch với nhà bảo hiểm với dự báo và
hy vọng thu được lợi từ sự biến động của thị trường Ngân hàng cũng có thể tham gia thị trường với tư cách là nhà đầu cơ với việc nghiên cứu, tính toán
và dự đoán, ước lượng các biến động tương lai trên thị trường để từ đó tham gia vào giao dịch Điều cần thiết và quan trọng nhất đối với các nhà đầu cơ ngoài khả năng phân tích thị trường tài chính là việc tuân thủ chặt chẽ các hạn mức cắt lỗ và lợi nhuận dự kiến Sự tham gia của nhà đầu cơ là nhân tố quyết
định yếu tố thanh khoản của thị trường
Trên thị trường tương lai hàng hóa, những nhà đầu cơ có thể giữ thế trường vị (long position) hay đoản vị (short position) hay cả hai vị thế cho
cùng một hàng hóa (spread position) Có thể chia ra làm 2 loại nhà đầu cơ:
- Nhà đầu cơ vị thế (position traders): thường vào các vị thế và giữ chúng trong vài ngày, vài tuần, hay vài tháng Họ thường sử dụng các phân tích kỹ thuật để dự đoán sự biến động giá và xu hướng giá cả trong tương lai,
từ đó sẽ vào các vị thế thích hợp để tìm kiếm lợi nhuận Hoặc những nhà đầu
cơ khác lại sử dụng các phân tích cơ bản để đưa ra nhận định về giá, họ thường sử dựa vào các dữ liệu kinh tế vĩ mô để đưa ra các dự đoán về sự biến
động giá
- Nhà đầu cơ ngày (day traders): chỉ đầu cơ dựa vào sự biến động giá chỉ trong một ngày giao dịch Họ không bao giờ trở về nhà với một vị thế trong tay Giao dịch ngày thường tốn kém chi phí vì họ phải theo thông tin, biến động giá cả thường xuyên, và tốn các chi phí cho những giao dịch trong suốt
một ngày, với mục đích kiếm được vài tick lợi nhuận trong một giao dịch
1.2.3 Người kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrageurs):
Người kinh doanh chênh lệch giá là những người tìm kiếm lợi nhuận bằng cách xem xét một loại hàng hóa nào đó cùng những hàng hóa tương
Trang 30đương để bán hai giá khác nhau ở hai thị tường khác nhau Đây là những người dựa vào mối quan hệ giữa giá giao ngay và giá tương lai, hay những biến động cung cầu nhất thời làm rối loạn giá để kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giữa giá giao ngay và giá tương lai Tuy nhiên mức lợi nhuận này thấp hơn nhiều so với việc chấp nhận rủi ro của các nhà đầu cơ Để khắc phục tình trạng này, các nhà kinh doanh chênh lệch giá phải mở rộng quy mô, làm sao
để người mua, người bán giao dịch nhiều hơn, việc làm này giúp thúc đẩy thị trường ngày càng phát triển Do vậy, vai trò là người kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường rất phù hợp với các Ngân hàng/ công ty môi giới
1.2.4 Nhà tạo lập thị trường (the Market Makers)
Ngân hàng và các công ty mối giới chính là những người đảm nhận vai trò nhà tạo lập thị trường trên thị trường phái sinh hàng hóa
Hầu hết thị trường đều sử dụng hệ thống những người tạo lập thị trường nhằm tạo thuận lợi hơn cho hoạt động giao dịch bằng việc nêu ra giá cả hỏi mua (the bid) và giá cả chào bán (the ask) nhằm đảm bảo rằng lệnh mua và bán luôn được thực hiện ở một vài mức giá mà không có bất cứ sự chậm trễ nào Những người kiến tạo thị trường giúp cải thiện tính linh hoạt của thị trường và họ tự tạo ra lợi nhuận cho mình từ chênh lệch giá mua, giá bán Các nhà kinh doanh hưởng chênh lệch giá (Arbitrageurs) cũng có thể coi là các nhà tạo lập thị trường khi hoạt động của họ giúp cho nhu cầu của người mua
và người bán gặp nhau, khiến cho thị trường thông suốt và việc mua đi bán lại các hợp đồng phái sinh làm tăng tính thanh khoản của thị trường
1.2.5 Các đối tượng trên sàn giao dịch
Những người giao dịch trên các sàn giao dịch có thể được phân loại
theo mục tiêu và chức năng:
- Những người giao dịch sàn (Floor traders) : là những thành viên giao dịch các hợp đồng tương lai ở các khu vực tương lai (futures pit) Những
Trang 31người giao dịch tài khoản riêng của anh ta gọi là một local, họ tạo ra tính thanh khoản cho thị trường vì họ hoạt động như những nhà đầu cơ (scalpers) giao dịch rất ngắn hạn Họ muốn mua hợp đồng tương lai ở giá đã đặt (bid) và nhanh chóng bán lại ở một mức giá phù hợp (asked) Họ phải đăng ký với ủy ban giao dịch hàng hóa tương lai (Commodity Futures Trading Commission-
CFTC) để được hoạt động
- Những nhà môi giới sàn (floor brokers) : giúp thi hành lệnh cho các bên, ví dụ như các công ty môi giới (Futures commission merchant- FCM), hoạt động gần giống như các công ty môi giới chứng khoán, bằng cách thu phí giao dịch (khoảng $1 hay $2 một hợp đồng) Họ cũng phải đăng ký với
CFTC để được hoạt động
- Một chủ thể nữa là những người giao dịch sàn mà hoạt động như cả một local và một nhà mội giới, thường được gọi là dual trading Họ thường thực hiện mua 2 hợp đồng trong một khỏang thời gian ngắn ở 2 mức giá khác nhau, 1 cho khách hàng và 1 cho chính anh ta Điều này gây ra những tranh cải về “tình trạng tiến thoái lưỡng nan về đạo đức (ethical dilemma)”, nên để được phép hoạt động, anh ta phải trải qua những thủ tục kiểm tra dài dòng và
hệ thống kiểm soát nhằm hạn chế sự lạm dụng của anh ta
1.2.6 Những đối tượng khác tham gia trên thị trường
- Những người cộng tác (Associated persons-APs): là những cá nhân làm việc cho FCM bằng cách nhận lệnh và chấp nhận lệnh Gần giống những
người môi giới chứng khoán
- Các nhà tư vấn giao dịch hàng hóa (Commodity trading CTAs): phân tích thị trường tương lai, cung cấp thông tin, phát triển hệ thống
advisers-giao dịch, đồng thời đưa ra các lời khuyên, tư vấn cho các nhà advisers-giao dịch
- Các nhà môi giới giới thiệu (Introducing brokers-IBs): Là những cá nhân trực tiếp kinh doanh với các FCM và các CTA, nhưng chính họ không
Trang 32phải là các AP và các CTA Một IB thường chào mời và chuyển lệnh, khi một lệnh được nhận, nó được đưa vào một FCM để thi hành.Những IB khác thì góp các khoản quỹ nhỏ thành một khoản lớn để có thể trở thành một CTA mà
đòi hỏi khoản đầu tư tối thiểu lớn
- Các nhà huy động quỹ hàng hóa (Commodity pool operators-CPOs): Hoạt động như các quỹ tương hỗ trong thị trường chứng khoán, huy động vốn
của các nhà đầu tư nhỏ và sử dụng để giao dịch tương lai
Các đối tượng này muốn tham gia thị trường tương lai cần phải đăng ký với
CFTC để được hoạt động
- Công ty thanh toán hợp đồng option (Option Clearing Corporation -
OCC) Thực hiện nhiều chức năng cho thị trường option, trong đó có vai trò
đảm bảo bên phát hành option sẽ hoàn thành nghĩa vụ của họ theo các điều kiện trên Hợp đồng quyên chọn OCC đồng thời cũng thực hiện việc lưu trữ, báo cáo tất cả các vị thế mua và bán Các thành viên của OCC được yêu cầu phải có một số vốn tối thiểu nhất định và cùng đóng góp thành lập một quỹ đặc biệt để có thể sử dụng khi có bất cứ thành viên nào của OCC không thể
đảm bảo nghĩa vụ thanh toán hợp đồng
Có thể thấy tham gia thị trường phái sinh hàng hóa có rất nhiều đối tượng, chủ thể khác nhau Và Ngân hàng chính là chủ thể linh hoạt nhất trên thị trường thể hiện ở chỗ Ngân hàng có thể tham gia thị trường với tư cách là nhà đầu cơ, lại vừa tự bảo hiểm hay có thể làm tăng tính thanh khoản của thị trường với vai trò là nhà tạo lập thị trường
1.3 CUNG CẦU TRÊN THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA
1.3.1 Cung trên thị trường
Các sở giao dịch hàng hóa là nơi diễn ra các giao dịch phái sinh về hàng hóa, là nơi gặp gỡ kết nối giữa cung và cầu Trên thế giới hiện có khoảng hơn
80 sàn giao dịch hàng hóa, các mặt hàng giao dịch phổ biến:
Trang 33- Nông sản, giao dịch tại 41 Sàn giao dịch,
- Năng lượng và hóa chất, giao dịch tại 32 Sàn giao dịch,
- Kim loại (kể cả vàng và kim cương), giao dịch tại 26 Sàn giao dịch 1.3.2 Cầu trên thị trường
Cầu trên thị trường xuất phát từ các Ngân hàng, doanh nghiệp, cá nhân với vai trò là nhà đầu tư kiếm lời; các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các nhà sản xuất, những người nông dân tham gia giao dịch các sản phẩm phái sinh với mục đích bảo hiểm rủi ro về giá
Sơ đồ 1.1 Cầu trên thị trường phái sinh hàng hóa
1.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến cung cầu trên thị trường phái sinh hàng hóa
1.3.3.1 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế như: Tổng thu nhập quốc dân, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tình hình kinh tế trong nước và thế giới, tình hình sản xuất kinh doanh các ngành nông nghiệp, công nghiệp, vấn đề lạm phát, việc làm…vai trò của chính phủ trong việc ổn định kinh tế vĩ mô tất cả đều ảnh hưởng đến cung cầu
trên thị trường phái sinh hàng hóa
Sàn giao dịch
Nhà sản xuất
Nhà nhập khẩu
Định chế TC
đầu tư HH
Nông dân
Người tiêu dùng
Đơn vị xuất khẩu
Trang 34Sự phát triển của thị trường hàng hóa cơ sở sẽ là nền tảng cho sự phát triển của thị trường phái sinh hàng hóa Một nhân tố quan trọng tác động đến cung cầu trên thị trường phái sinh hàng hóa là biến động giá cả hàng hóa trên thị trường hàng hóa cơ sở Giá biến động càng mạnh, thì rủi ro càng lớn, nhu cầu bảo hiểm rủi ro sẽ tăng và nhu cầu đầu cơ cũng sẽ tăng vì với biên độ giao
động giá mạnh, thì lợi nhuận chênh lệch càng lớn
1.3.3.2 Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý có thể tạo điều kiện cho thị trường phát triển, kích thích cung cầu trên thị trường và cũng có thể “bóp chết” thị trường, cản trở sự phát triển của thị trường và ngăn cản các đối tượng cả bên cung lẫn bên cầu
tham gia thị trường
Một môi trường pháp lý lý tưởng cần:
- Bảo vệ nhà đầu tư
- Đảm bảo thị trường công bằng, ổn định, hiệu quả
- Đảm bảo sự phát triển của thị trường
- Giảm rủi ro hệ thống
Có như vậy mới kích thích cả bên cầu và bên cung tham gia thị trường
1.3.3.3 Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin
Khi nhà đầu tư có thông tin đầy đủ, họ tham gia thị trường sẽ hiệu quả hơn, vì vậy khi thông tin thị trường minh bạch, đầy đủ, sẽ có tác dụng kích cầu Hiểu biết rõ về thị trường, nắm vững những kỹ thuật phân tích thị trường, nhà đầu tư sẽ có những quyết định đúng đắn, kịp thời để thu về lợi nhuận,
tránh được sai lầm, giảm thiểu được rủi ro
Hệ thống công nghệ thông tin phát triển giúp nhà đầu tư tiếp cận được thị trường dễ dàng và hiệu quả hơn Khi áp dụng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại có sự chuẩn bị đầy đủ từ cơ sở vật chất đến trình độ của người vận hành, làm hiện đại hóa các khâu trong giao dịch, đảm bảo giao dịch được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, chính xác và tăng tính thanh khoản của thị trường
Trang 351.4 CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH HÀNG HÓA 1.4.1 Thị trường tập trung
Về nguyên tắc, sàn giao dịch tập trung sẽ là trung gian kết nối người mua và người bán Khi lệnh mua và bán các hợp đồng phái sinh của các bên phù hợp với nhau về giá cả, số lượng, thời gian thì lập tức sẽ được khớp Tuy người mua và người bán không biết nhau nhưng không cần phải lo lắng về năng lực thực hiện giao dịch của bên kia vì công ty môi giới, Sàn giao dịch sẽ
là bên đứng ra chịu trách nhiệm đảm bảo nghĩa vụ với người mua và người bán Thông thường, tại các sàn giao dịch lớn trên thế giới, các Ngân hàng
thường mua seat của sàn, và tham gia thị trường như một nhà môi giới
Có hai phương thức giao dịch trên sàn giao dịch tập trung là phương
thức đấu thầu trực tiếp và phương thức khớp lệnh tự động
Phương thức đấu thầu trực tiếp (open outcry) là phương thức giao dịch lâu đời cùng với sự ra đời của sàn giao dịch tập trung Phương thức đấu thầu trực tiếp yêu cầu các nhà giao dịch hay nhà môi giới tập trung tại sàn giao dịch và các nhà giao dịch hay môi giới này liên hệ với nhau bằng việc hét to
và đưa ra những tín hiệu bằng tay Tại một số sàn giao dịch lớn như LIFFE, CME, SIMEX… sàn giao dịch khá màu sắc do các nhà giao dịch mặc một số màu áo nhất định và họ dùng ký hiệu bằng tay để thực hiện giao dịch, đấu giá trực tiếp với nhau nên các sàn giao dịch tập trung theo phương thức này khá
ồn ào
Phương thức khớp lệnh tự động (automated matching system) ra đời cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin Các sàn giao dịch sử dụng phương thức giao dịch điện tử để kéo dài thời gian giao dịch và thu hút các nhà đầu tư nhiều hơn khi có thể tham gia giao dich từ xa thông qua màn hình điện tử Hệ thống giao dịch điện tử vận hành áp dụng các quy tắc của sàn giao dịch Có ba đặc điểm cơ bản của hệ thống khớp lệnh tự động trong giao dịch
điện tử :
Trang 36o Người giao dịch thông qua màn hình giao dịch chuyển các lệnh chào
mua/ chào bán (bit/offer) lên hệ thống khớp lệnh trung tâm
khác được biết
chào bán và mọt số quy tắc khác của thị trường
Để có cái nhìn sâu hơn với thị trường phái sinh hàng hóa, luận văn đưa
ra hai hoạt động giao dịch chủ yếu trên thị trường giao dịch tập trung là giao
dịch tương lai hàng hóa và quyền chọn hàng hóa
1.4.1.1 Cơ chế hoạt động của thị trường tương lai hàng hóa
Như đã đề cập ở trên, hợp đồng tương lai chính là hợp đồng kỳ hạn được chuẩn hóa và được giao dịch trên sàn giao dịch tập trung
Sàn giao dịch là một công ty gồm các thành viên Muốn trở thành thành viên của sàn giao dịch phải mua 1 seat (mua chỗ ngồi) và Seat có thể cho thuê
Sàn giao dịch có trách nhiệm phát triển các hợp đồng và qui định các chi tiết của hợp đồng như : qui định điều kiện của tài sản giao dịch, độ lớn của hợp đồng (tổng tài sản được giao dịch của 1 hợp đồng), qui định số lượng hợp đồng tối đa mà nhà đầu tư được nắm giữ, qui định cách yết giá (VD: dầu thô
là dollar/thùng (với 2 số lẻ)), giới hạn dịch chuyển giá hàng ngày nhằm mục
đích ngăn ngừa giá do đầu cơ
Phương thức giao dịch trên thị trường:
- Nhà đầu tư sẽ liên lạc với Ngân hàng/công ty môi giới (đặt lệnh)
- Ngân hàng/Công ty môi giới chuyển lệnh đến nhân viên tại sàn để thực hiện lệnh
- Hoạt động thanh toán được thực hiện qua Công ty thanh toán bù trừ
dừng hoặc lệnh chấm dứt thiệt hại, Lệnh dừng có giới hạn,…
Trang 37Trên thị trường tương lai về hàng hóa, các công ty thanh toán bù trừ có vai trò là một trung gian thanh toán, đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tương lai Thành viên của công ty thanh toán bù trừ là các công ty môi giới
Sơ đồ 1.2 Quy trình ký quỹ tham gia thị trường tương lai
Công ty thanh toán bù trừ sẽ thực hiện thanh toán bù trừ lãi (lỗ) hàng ngày trên tài khoản ký quỹ của nhà đầu tư
Quy trình thanh toán hàng ngày
- Nhà đầu tư phải ký quỹ để đảm bảo khả năng thanh toán
- Tài khoản ký quỹ được điều chỉnh cuối mỗi ngày theo sự biến động giá future, phản ánh mức lời (lỗ) của nhà đầu tư và được định giá theo thị
trường
Có 2 loại ký quỹ: kỹ quỹ ban đầu và ký quỹ duy trì
trường Thị trường qui định mức ký quỹ tối thiểu cho mỗi loại hợp đồng
Khi Tiền quỹ < tiền quỹ duy trì nhà đầu tư sẽ nhận được lệnh gọi nộp tiền để đạt mức ký quỹ ban đầu
Ví dụ hợp đồng future vàng tháng 12 trên thị trường COMEX ngày 05/06/XX như sau:
- Mỗi hợp đồng là 100 ounces, giá future hiện tại 400$/ounce
- Nhà đầu tư mua 2 hợp đồng future vàng tháng 12
- Nhà môi giới yêu cầu nhà đầu tư ký quỹ ban đầu 2.000$/HĐ, mức
ký quỹ duy trì 1.500$/HĐ
môi giới
Trang 38Bảng 1.1 Ví dụ về quá trình thanh toán hàng ngày HĐTL
future ($)
Lời (Lỗ) hàng ngày ($)
Tích luỹ lời (lỗ)
Tồn quỹ trên TK
Lệnh gọi nộp tiền
- Nhà đầu tư thường đóng trạng thái trước thời hạn giao hàng trên hợp đồng
- Để đóng trạng thái hợp đồng, nhà đầu tư chỉ việc thực hiện một giao dịch ngược với giao dịch ban đầu Mục đích của hoạt động này là để ngăn chặn lỗ
và tránh việc thực hiện chuyển giao hàng
Trang 39Thanh toán khi đến hạn hợp đồng
Khi đến hạn hợp đồng, sẽ có hai trường hợp xảy ra: nếu thanh toán có giao hàng tức là có sự giao nhận hàng hóa và thanh toán tiền giữa người mua
và người bán Khi đó người bán sẽ quyết định việc chuyển giao
Sơ đồ 1.3 Quy trình thanh toán giao hàng HĐTL
Giá phải trả sẽ dựa trên giá thanh toán ngay trước ngày thông báo giao hàng
Trường hợp chỉ thanh toán tiền mặt mà không có giao hàng, giá thanh toán được xác định ở mức giá giao ngay ở thời điểm đóng cửa của tài sản cơ
sở Các hợp đồng được điều chỉnh theo thị trường vào ngày giao dịch cuối cùng Số tiền được thanh toán là khoản chênh lệch giá bằng tiền mặt, không giao hàng và tất cả các vị thế sẽ được công bố đóng trạng thái
1.4.1.2 Cơ chế hoạt động của thị trường quyền chọn hàng hóa
Cũng giống như thị trường tương lai, đối với thị trường quyền chọn, sàn giao dịch quy định các chi tiết của hợp đồng quyền chọn như: Điều kiện niêm yết, qui mô hợp đồng, giá thực hiện, ngày đáo hạn, hạn mức vị thế và hạn mức thực hiện
Người
bán
Người ở vị thế mua hiện tại
Phòng TTBT
Thông báo
giao hàng
Thông báo
giao hàng
Trang 40Sơ đồ 1.4 Cơ chế giao dịch của thị trường quyền chọn
Để tham gia thị trường, nhà đầu tư mở tài khoản tại Ngân hàng/công ty môi giới, đặt lệnh cho người môi giới thực hiện giao dịch quyền chọn
Các loại lệnh được sử dụng trong giao dịch quyền chọn:
+ Lệnh thị trường: nhận giá tốt nhất hiện có trên thị trường
+ Lệnh giới hạn: qui định giá mua cao nhất và giá bán thấp nhất
• Lệnh giới hạn có giá trị đến khi bị hủy
• Lệnh giới hạn có giá trị trong ngày
+ Lệnh dừng: ● Giá dừng mua cao hơn giá hiện tại
● Giá dừng bán thấp hơn giá hiện tại
+ Lệnh tất cả hoặc không: một phần lệnh được thực hiện với giá này,
phần còn lại với giá khác
+ Lệnh tất cả hoặc không cùng giá: thực hiện toàn bộ lệnh với cùng
một mức giá hoặc không thực hiện lệnh
Về ký quỹ có những HĐQC bắt người bán quyền phải ký quỹ để đảm
bảo khả năng thanh toán tuy nhiên không bắt ký quỹ đối với người mua Lượng ký quỹ phải thay đổi theo từng hợp đồng
Sàn giao dịch
8
9