Làm sạch chỉ tiết Để tiện cho việc xác định các sai hỏng của chỉ tiết và nâng cao chất lượng lắp ráp, các chỉ tiết sau khi tháo cần được tiến hành lau rửa sạch sẽ, tuỳ theo từng loại khá
Trang 1Ly thuyét hao mon sai hdng của chỉ tiết máy 2.4 Làm sạch chỉ tiết
Để tiện cho việc xác định các sai hỏng của chỉ tiết và nâng cao chất lượng lắp ráp, các chỉ tiết sau khi tháo cần được tiến hành lau rửa sạch sẽ, tuỳ theo từng loại khác nhau mà ta
có các phương pháp lau rửa khác nhau
a) Khử cặn nước (cặn vôi)
+ Cặn vôi đóng ở áo nước, két nước
- Khi tháo rời có thể cạo rửa, phun nước sạch
- Cũng có thể dùng hoá chất sau:
Bảng 4.2-2: Hoá chất rửa chỉ tiết bằng gang thép (cặn vôi)
Loại hoá chất (nồng độ %)
Trang 2
CẤU TẠO VÀ SỬA CHỮA ĐỘNG CƠ Ô TÔ - XE MAY
b) Khử sạch dầu mỡ
* Khử bằng dâu hoả, dâu ma dút hoặc xăng
- Phương pháp này dùng để rửa phổ biến nhất, đơn giản thích hợp với các trạm bảo dưỡng hoặc sửa chữa nhỏ Rửa bằng phương pháp này không cần phải đun nóng, không làm sai hỏng bể mặt ngoài của chỉ tiết Nhưng dễ gây hoa hoạn, không kinh tế Dé đảm bảo tiết kiệm đầu vào thao tác nhanh gọn, tốt nhất là dùng chậu rửa có lót tấm đát
- Đổ dầu hoả hay ma dút vào chậu, mặt dầu ngập tấm dát, đặt chỉ tiết lên và dùng bàn chải để cọ, cáu bẩn sẽ lọt qua tam dat va ling đọng xuống đáy chậu Sau khi rửa sạch, lau khô bằng giẻ sạch hoặc dùng khí nén để thổi
- Khi rửa trước tiên ta rửa các chỉ tiết có độ chính xác cao như: con đội xéc - măng Không nên rửa lẫn các chỉ tiết với nhau để tránh va đập, cào xước bề mặt chỉ tiết, rửa các chỉ tiết chính trước, phụ sau, chỉ tiết sạch trước, chỉ tiết bẩn sau
- Khi tửa các chỉ tiết nhỏ xong thì rửa các chỉ tiết vừa như: thanh truyền, pít - tông, trục cam, trục khuỷu, bánh răng, khi rửa để tránh sai hỏng nên rửa từng chỉ tiết một
- Cuối cùng rửa các chỉ tiết lớn như: thân máy, các - te
* Khử bằng dung dich hod hoc
- Để tiết kiệm dầu rửa, ở các xí nghiệp sửa chữa, bảo dưỡng lớn thường sử dụng các loại dung dịch để rửa chỉ tiết Hiệu quả rửa rất cao giống như rửa bằng dầu, nhưng tẻ, không gây hoả hoạn
- Để tránh hỏng hóc các chỉ tiết và nâng cao năng suất rửa ta cần phân loại các chỉ tiết cần rửa bằng một loại dung dịch ra riêng từng nhóm
Bảng 4.2-4: Hoá chất rửa các chỉ tiết bằng gang thép (có dầu)
Natri cacbonat Na,CO,
Thuy tinh long Na,SiO,
Trang 3Ly thuyét hao mon sai héng cua chi tiết máy Bảng 4.2-5: Hố chất rửa các chỉ tiết bàng nhơm (cĩ dầu)
Natri cacbonat Na,CO
Thuy tinh long Na,SiO
* Khử dâu mỡ đối với má phanh, ly hợp (dang phit)
Ta phải rửa bằng xăng, nếu rửa bàng đầu Điêzen sẽ gây ra trượt ly hợp, trượt phanh
* Khử dầu mỡ đối với trang thiết bị điện
Các trang thiết bị điện nĩi chung phải rửa bằng xăng, nếu sử dụng dầu Điêzen rửa sẽ làm mất độ cách điện Rửa bằng xăng máy phát điện, máy khởi động rồi sấy khơ
* Khử dẫu mỡ dối với chỉ tiết bằng cao su
Như cúp - pen, giộng, phot ta chi duoc rita bang cén hoặc dầu phanh Nếu rửa bằng dầu Điêzen, xăng thì sẽ bị sai hỏng
©) Khử muội than
Phương pháp khử muội than như sau:
* Khử muội than bằng cơ giới hố
Dùng đao cạo, chổi sắt để làm sạch muội than rồi rửa trong đầu hoả lấy bàn chải cạo sạch, sau đĩ dùng khí nén thổi khơ để tránh hít phải muội than, phải nhúng chỉ tiết trong dầu hoả trước khi cạo Phương pháp nay đơn giản, xong chất lượng kém, dễ bị cào xước
* Khử muội than bằng dung dịch hố học
Ta ngâm chỉ tiết vào dung dịch hố học với chỉ tiết bằng gang, thép thì thành phần dung dịch hố học gồm:
- NaOH: 25g/ít
- Na,CO,: 35g/lit
- Na;SiO,: L,Sg/lit
- Nước xà phịng: 25g/lít
Trang 4CAU TAO VA SUA CHUA DONG CO 6 TO - XE MAY
Dun nóng ở dung địch nhiệt độ là: 90 + 95°C, thdi gian ngâm 3 + 4 giờ Sau đó dùng chối lông hoặc giẻ lau, lau sạch muội than rồi dùng nước nóng 60 + 90°C để rửa các chỉ tiết Cuối cùng dùng không khí sạch thổi khô
Với chị tiết bằng hợp kim nhôm thành phần hỗn hợp gồm:
II KIỂM TRA, PHÂN LOẠI CHÍ TIẾT
3,1 Mục đích và phân loại kiểm tra
a) Mục đích
Kiểm tra là để xác định được tình trạng kỹ thuật của chỉ tiết, cụm chỉ tiết, trên cơ sở
đó để phân loại chỉ tiết và nêu phương án sửa chữa
b) Phân loại chỉ tiết
Qua công tác kiểm tra người ta phân ra làm 3 loại:
+ Chỉ tiết còn dùng được
Chỉ tiết còn dùng được là chỉ tiết đã bị mài mòn hoặc giảm yéu cầu kỹ thuật Nhưng vẫn còn nằm trong giới hạn cho phép sử dụng
+ Chỉ tiết cần sửa chữa
Chỉ tiết cần sửa chữa là chi tiết đã bị mài mòn hoặc các yêu cầu kỹ thuật giảm quá giới hạn cho phép Nhưng có thể sửa chữa để phục hồi lại khả năng làm việc theo các yêu cầu kỹ thuật
+ Chỉ tiết không dùng được
Chỉ tiết không dùng được là chỉ tiết bị mòn hoặc sai hỏng, không thể sửa chữa để phục hồi lại khả năng làm việc theo yêu cầu kỹ thuật
c) Phuong án sửa chữa
Căn cứ vào trình độ cán bộ kỹ thuật, trình độ công nhân, cơ sở vật chất của nơi sửa chữa mà ta đề ra phương án sửa chữa
Ví dụ: Để sửa chữa xi - lanh tùy theo yêu cầu cụ thể thay xi - lanh mới hoặc có thể
doa lai xi - lanh
36
Trang 5Lý thuyết hao mòn sai hỏng của chỉ tiết máy
3.2 Kiểm tra và chẩn đoán
a) Khái niệm, phán loại và phương pháp kiểm tra
+ Kiểm tra sau khi lắp nhằm mục đích biết được chất lượng lắp và những sai sót sai hồng cần khắc phục kịp thời
- Kiểm tra sau khi sửa chữa: chủ yếu là đánh giá chất lượng sửa chữa của cụm máy, chi tiết máy
Ví dụ: Kiểm tra chất lượng lắp ghép của nhóm pít - tông, xi - lanh bằng áp suất nén, bơm cao áp, chế hoà khí
* Các phương pháp kiểm tra
+ Phương pháp kiểm tra đơn giản
- Kiểm tra bằng phương pháp quan sát nhằm phát hiện chỉ tiết bị nứt vỡ, biến dạng bề mặt chỉ tiết bị cháy, xước, sự thiếu đủ các bộ phận Khi máy nổ quan sát khói (màu đen, trắng hay xanh)
- Kiểm tra theo kinh nghiệm
+ Nghe các hoạt động của động cơ
- Nghe tiếng gõ của động cơ bằng ống nghe hay tai thường
- Nghe tiếng nổ của động cơ hoạt động có đều không
- Nghe tiếng kêu của ly hợp, hộp số, cầu
Trang 6CẤU TẠO VÀ SỬA CHỮA ĐỘNG CƠ Ô TÔ - XE MÁY
+ Dùng cảm giác để kiểm tra
- Dùng tay kiểm tra khe hở xu - páp, độ dịch đọc của biên, của trục khuỷu, trục cam
- Dùng sức của bàn tay kiểm tra sức căng của dây đai, kiểm tra khe hở lấp ghép của trục khuyu với bạc, giữa chốt pít - tông với bệ chốt
- Dùng tay kiểm tra nhiệt độ của các cụm chỉ tiết khi làm việc như: cầu, ly hợp, hộp
Số, phanh để đánh giá chất lượng lắp ghép
+ Dùng khứu giác để kiểm tra
- Dùng khứu giác để phát hiện như: mùi xăng sống, mùi cháy của các bề mặt ma sát (ly hợp bị trượt, phanh bó )
+ Phương pháp kiểm tra bằng dụng cụ đo
- Dùng các dụng cụ đo để xác định kích thước hình dạng của chỉ tiết rồi so sánh với điều kiện kỹ thuật cho phép của chỉ tiết để xác định xem chỉ tiết còn dùng được hay không được hoặc sửa chữa hay thay mới
- Kiểm tra các chỉ tiết dạng lỗ: Dùng dụng cụ chủ yếu là pan me đo trong, thước cặp, dưỡng, đồng hồ so Đối với xi - lanh, dùng đồng hồ so đo độ côn theo theo dọc thân, ô van theo hướng kính
- Kiểm tra chỉ tiết dạng trục: Trục có độ mòn không đều, thường dùng pan me, thước cập
để kiểm tra độ côn, độ méo Đối với trục mòn đều thể dùng dưỡng để nâng cao năng suất
- Kiểm tra khe hở: Dùng các bộ căn lá hoặc cữ tiêu chuẩn để kiểm tra
- Kiểm tra các chỉ tiết dạng bánh răng: Dùng đưỡng đo để kiểm tra đánh giá sai hỏng + Kiểm tra bằng phương pháp vật lý
Các phương pháp vật lý chủ yếu nhằm phát hiện rõ khí hay vết nứt bên trong chỉ tiết
mà mắt thường không thể phát hiện được
- Kiểm tra bằng phương pháp áp lực nước: “ñường dùng để kiểm tra thân máy, nap máy, với áp lực 3 + 5 KG/cmỶ, thời gian thử 5 phút không có hiện tượng rò rỉ là được
+ Kiểm tra bằng quang tuyến: Phương pháp này ứng dụng cho các chỉ tiết kim loại đen có vết nứt trên bể mặt chỉ tiết Phương phấp này kiểm tra như sau: Nhúng chỉ tiết và dung dịch kiểm tra có thành phần:
- Dầu biến thế: 0,25lít
- Dầu hoả: 0,5 lít
- Xăng: 0,25lít
- Bột màu (vàng, xanh): 0.25lít
Trang 7Lý thuyết hao mòn sai hỏng của chỉ tiết máy
Sau thời gian 10 + 15 phút để chất phát quang ngấm vào vết nứt Sau đó rửa sạch chỉ tiết dùng không khí nén để sấy khô chỉ tiết, dưới tác dụng của nhiệt độ dung dịch trong vết nứt bốc hơi Nếu chiếu tia tử ngoại sẽ thấy có màu xanh hoặc màu vàng
+ Ngoài ra, người ta có thể dùng phương pháp siêu âm, phương pháp từ trường, bột màu để phát hiện các vết nứt
b) Chẩn đoán kỹ thuật
* Mục đích của chẩn đoán kỹ thuật
- Nang cao tinh tin cay của xe và an toàn giao thông, phát hiện kịp thời và dự đoán sai hỏng xảy ra
- Nang cao được độ bền, giảm chi phí vẻ phụ tùng thay thế Do không phải thay rời các cụm tổng thành và các chỉ tiết máy nên giảm được cường độ mài mòn của các chỉ tiết
- Giảm được tiêu hao nhiên liệu do kịp thời điều chính các bộ phận của hệ thống nhiên liệu và các bộ phận khác của ô tô
- Giảm công lao động do không phải tháo rời các chỉ tiết và tổng thành
* Các phương pháp chẩn doán động cơ
+ Chẩn đoán đánh giá chất lượng động cơ theo thành phần khí xả
~ Thành phần khí xả phản ánh tình trạng chung của động cơ về quá trình chuẩn bị và đốt cháy hoà khí, trạng thái nhiệt độ động cơ, tình trạng hoạt động của hệ thống đánh lửa trong động cơ xăng, chất lượng quá trình rién trong động cơ Điêzen, phẩm chất của nhiên liệu + Biểu hiện khí xả Thông thường có thể quan sát khí xả qua mầu sắc của nó như:
- Khí xả không mầu hoặc có màu nâu rất nhạt: báo hiệu quá trình cháy tốt
- Khí xả có màu đen: báo hiệu thừa nhiên liệu hoặc thiếu không khí do hệ thống nhiên liệu hỏng (điều chỉnh sai lượng nhiên liệu cung cấp, vòi phun phun không sương) hoặc cần trở lớn ở đường nạp (tắc bầu lọc khí, bướm gió mở không hết ) Đối với động cơ tang 4p, nhiều khi là do bộ tua bin, máy nén làm việc không tốt gây nên
- Khí xả có màu xanh: Do lọt dầu nhờn vào buồng cháy khi nhóm xéc - mang, xi - lanh không bảo đảm kín khít Nếu màu xanh nhạt lúc có lúc không, thường do nguyên nhân không nổ bỏ máy
- Khí xả có màu trắng: Do nước lọt vào xi - lanh
+ Phương pháp phân tích khí
- Hiên nay thiết bị phân tích khí được sử dụng chủ yếu là loại đo nhanh Thí dụ: Thiết
bị dùng phổ kế hồng ngoại đo lượng CO, dùng phương pháp quang hoá đo lượng NO, NO Thiết bị dò ion hoá ngọn lửa để xác định thành phần Hidrô Cácbon
39
Trang 8CẤU TẠO VÀ SỬA CHỮA ĐỘNG CƠ Ô TÔ - XE MÁY
- Để kiểm tra sự tồn tại của muội than trong khí xả động cơ Diézen, thường dùng phương pháp kiểm tra độ cảm quang hoặc xác định giấy lọc làm đen giấy lọc của luồng khí xả
- Các thiết bị này hầu hết thường sử dụng kỹ thuật số trong quá trình thu nhận và xử
lý số liệu, cho kết quả đo nhanh lưu trữ thông tin trên máy hoặc in ra giấy
+ Xác định sai hỏng một số bộ phận bằng phương pháp phân tích khí xả
- Lần lượt ngắt từng xi - lanh (tháo dây cao áp vào bu - gi hoặc đường cao áp đến vòi phun) nếu hàm lượng khí xả không đổi thì xi - lanh đó không làm việc, còn thay đổi thì chứng tỏ các xi - lanh làm việc không đồng đều
- Khi thay đổi tốc độ động cơ đột ngột, nếu hàm lượng CO, HC không tăng thì chứng
tỏ hệ thống tăng tốc làm việc kém hoặc không hoạt động
+ Chẩn đoán động cơ theo tiếng va đập
- Tiếng va đập (gõ) là do khe hở lớn giữa các chỉ tiết có chuyển động tương đối với nhau hoặc do sự va chạm bởi các nguyên nhân sau: rơi dị vật vào buồng cháy, xu - páp chạm vào đỉnh pít - tông do lắp hay điều chỉnh sai
- Mỗi loại tiếng gõ đều có những đặc trưng riêng và phát ra rõ nhất ở các vị trí va đập Những đặc điểm này cần được khai thác khi kiểm tra và phát hiện Tuy nhiên nó phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người kiểm tra Những thiết bị đo âm thanh thực ra cũng có hiệu quả hơn nhiều, vì chỉ khuếch đại âm thanh và độ rung động mà không có khả năng phân tích đặc tính tần số, biên độ của loại va đập
40
Trang 9Ly thuyét hao mon sai héng cua chi tiét may
+ Đặc điểm một số loại tiếng gõ và thao tác kiểm tra
- Cổ chính và bạc: Thay đổi đột ngột tốc độ động cơ nghe tiếng trầm đục và mạnh
- Tiếng gõ pit - tong và xi - lanh: Động cơ nguội nghe tiếng gõ dọc theo xi - lanh là loại tiếng gõ trầm đục Động cơ nóng thì tiếng gõ giảm bớt có thể mất
- Cổ biên và bạc: Thay đổi đột ngột tốc độ động cơ, ngắt điện kiểm tra: nghe gõ nhẹ
và vang hơn cổ chính, triệt tiêu khi ngắt điện
- Chốt pít - tông và bạc: Thay đổi tốc độ đột ngột từ thấp đến trung bình, ngất điện kiểm tra nghe tiếng gõ kim loại đanh rõ, giảm đi khi ngắt điện
- Xu - pấp và đòn bẩy: Vòng quay nhỏ và trung bình: tiếng lách cách nhẹ đều ở mọi chế độ làm việc
- Tiếng bánh răng: Vòng quay nhỏ, tiếng rào rào đều dễ lẫn với tiếng ồn của chúng Ngoài ra, ta còn đùng phương pháp chẩn đoán theo nhiệt độ, chấn đoán động cơ theo lượng khí lọt vào các - te, chẩn đoán động cơ theo áp suất cuối kỳ nén
IV CÁC PHƯƠNG PHÁP PHỤC HỒI, SỬA CHỮA CHI TIẾT MÁY
4.1 Phương pháp điều chỉnh
Sau một thời gian làm việc, các chỉ tiết bị mài mòn, khe hở lấp ghép giữa các chỉ tiết tăng quá giới hạn cho phép, gây va đập trong quá trình làm việc dẫn đến mòn hỏng nhanh chỉ tiết Vì vậy, phải tiến hành điều chỉnh khe hở, mối ghép theo đúng quy định Phương pháp này không làm thay đổi hình dáng, kết cấu của chỉ tiết mà phụ thuộc vào kết cấu của chỉ tiết có cho phép điều chỉnh hay không
Ví dụ: Điều chỉnh khe hở nhiệt của xu - páp, độ rơ vành lái, độ rơ vòng bị côn moay - ở bánh xe, khe hở cập bánh răng côn ở cầu chủ động việc điều chỉnh khe hở này bằng cách thêm hay bớt miếng đệm hoặc nới ra, van chat vit, bu - long, dai ốc
4.2 Phương pháp sửa chữa chỉ tiết bằng gia công cơ khí
a) Phương pháp sửa chữa kích thước
Sau khi sửa chữa chỉ tiết có kích thước thay đổi so với kích thước ban đầu nhưng vẫn phải nằm trong phạm vì cho phép
Trang 10CẤU TẠO VÀ SỬA CHỮA ĐỘNG CƠ Ô TÔ - XE MÁY
Vi du: Doa xi - lanh làm cho kích thước đường kính xi - lanh lớn lên Mài trục khuỷu làm cho trục khuỷu nhỏ đi
b) Phương pháp ghép thêm chỉ tiết
Những chỉ tiết sau khi đã sửa chữa đến kích thước cuối cùng mà phải tiếp tục sử dụng, sửa chữa bằng cách ép thêm chỉ tiết mới rồi mới gia công lại theo kích thước ban đầu
©) Sửa chữa bằng phương pháp hàn
- Phương pháp hàn đùng để sửa chữa phục hồi lại hình đáng kích thước của chỉ tiết có yêu cầu độ chính xác không cao Có thể ding han hơi hàn điện Yêu cầu vi liệu que hàn phải đồng nhất với vật liệu chỉ tiết được hàn
Đối với phương pháp hàn, ta phục hồi những chỉ tiết bị vỡ, bị nứt như: vết nứt ở thân máy Những chỉ tiết bị mòn có thể hàn đắp sau đó gia công lại
Vi du: Han dap truc bị mòn sau đó tiện lại và đánh bóng rà lại
d) Sua chữa bằng phương pháp phun kim loại
Đừng máy chuyên dùng thối kim loại đã nóng chảy bằng khí nén có áp suất cao vào
bề mặt chỉ tiết bị mòn sau đó gia công lạt theo kích thước sửa chữa
Ví d„: Phục hồi trục khuỷu
©) Sửa chữa bằng phương pháp mạ kim loại
Mạ kim loại là phủ lên bề mặt chỉ tiết một lớp kim loại bằng phương pháp mạ Phương pháp này chỉ dùng cho các chỉ tiết quan trọng không cho phép thay đổi kích thước ban đầu hoặc vượt quá kích thước sửa chữa
Phương pháp mạ kim loại là sử dụng dòng điện một chiều Chi tiết được mạ ngâm trong bể mạ chứa dung dịch mạ và được nối với cực (-) Còn cực (+) nối với kim loại để mạ chỉ tiết
Ví dụ: Mạ Crôm cho cặp pít - tông, xi - lanh bơm cao Ap
Cực (-) nối với pít - tông, xi - lanh, cực (+) nối với kim loại Crôm,
Dung dich ma là dung dịch muối Crôm
J) Sửa chữa bằng phương pháp cạo rà
Dùng các dụng cụ như dao cạo, bột rà để sửa chữa các bề mặt làm việc của chỉ tiết không gia công được trên máy công cụ Chất lượng sản phẩm phụ thuộc nhiều vào tay nghề người thợ
Ví dụ: Cạo bạc lót trục khuỷu, trục cam, ắc pít - tông, rà nấp máy, rà xu - páp và ổ đặt 42
Trang 11Ly thuyét hao mòn sai hỏng của chỉ tiết máy
#) Sửa chữa bằng phương pháp táp vá và cấy chốt
- Phương pháp cấy chốt
Khoan các lỗ theo vết nứt có đường kính từ ÿ3 + $6 sau đó cấy chốt Theo yêu cầu lỗ khoan có phần giao nhau từ 1/3 + 1/5 đường kính yêu cầu chốt có vật liệu mềm hơn vật liệu cần vá
43
Trang 12CẤU TẠO VÀ SỬA CHỮA ĐỘNG CƠ Ô TÔ - XE MÁY
V LẮP MÁY
- Nội dung chủ yếu của công việc lắp máy là tập hợp các chỉ tiết thành từng cụm và tổng thành trên cơ sở các cặp lấp ghép, sau đó nối ghép các cụm, tổng thành thành một khối hoàn chỉnh
- Trước khi lắp máy phải chuẩn bị đây đủ các dụng cụ, đồ nghề, các chỉ tiết phải sạch
sẽ và đúng tiêu chuẩn kỹ thuật
- Nắm vững thông số kỹ thuật của các nhóm chỉ tiết
- Đảm bảo cho các nhóm chỉ tiết sau khi lắp xong có khe hở và sai lệch không vượt quá giới hạn cho phép Lắp là một trong những khâu cuối cùng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng máy sau khi sửa chữa Nên khi lắp cần phải chú ý:
+ Không lắp lẫn các chỉ tiết như xi - lanh, pít - tông bơm cao áp, kim phun, ổ đặt của vòi phun nhiên liệu
+ Các mặt ma sát chuyển động phải bôi trơn
+ Các loại chốt trẻ, tấm đệm bảo hiểm, dây thép bảo hiểm đã dùng rồi thì không được dùng lại
+ Đệm nắp máy: Nếu nắp máy bằng gang, mặt nhẩn quay vẻ phía trên thân máy Nếu nắp máy bằng hợp kim nhôm, mặt nhắn quay về phía nắp máy
+ Đệm ống hút, xả mặt nhãn quay về phía ống
+ Đệm là bìa các tông, đệm lie, các phớt dầu bằng đạ đều phải thay mới và chú ý đúng chiều đầy ban đầu không dùng tuỳ tiện các loại đệm Khi lấp các loại đệm không được bôi sơn, bôi mỡ mà có thể bôi dầu máy Đệm nắp máy bôi Grabit Đệm chắn đầu bang da mới trước khi lắp phải ngâm trong hỗn hợp 50% dầu ma dút, 50% đầu hoa dun nóng tdi 60°C trong thời gian 5 + 6 phút
+ Chốt định vị không được đóng mạnh bằng búa sắt mà chỉ gõ nhẹ vào để đảm bảo lắp phép chính xác Không được dùng búa sắt đóng trực tiếp vào chỉ tiết lắp ghép mà phải dùng búa cao su hoặc đệm bằng đồng
+ Khi lắp máy, lắp gối đỡ trục khuỷu nắp đầu to thanh truyền phải siết bu - lông hoặc đai ốc đúng mômen quy định đối với từng loại và đúng trình tự
+ Những loại bu - lông, đai ốc thông thường cần sử dụng các chỉ tiêu:
M10 Mômen siết 3 + 4 KG/m
M12 Mômen siết 5 + 6 KG/m
M14 Mômen siết 8 + 9 KG/m
44
Trang 13Lý thuyết hao mòn sai hỏng của chỉ tiết máy
MI6 Mô men siết 12 + 14 KG/m
M18 Mômen siết 14 + 17 KG/m
M20 Mômen siết 20 + 23 KG/m
M22 Mômen siết 28 + 32 KG/m
M24 Mômen siết 36 + 40 KG/m
Mômen mở lớn hơn mô men siết từ 20 + 25% vì mối ghép có ma sát hoặc có han gi
- Siết bu - lông, đai ốc theo một thứ tự nhất định từ trong ra ngoài, siết đối xứng qua tâm, siết nhiều lần, lần sau cũng đủ mômen quy định Nắp máy bằng gang sau khi siết nguội đủ mômen cho nổ máy nóng tới nhiệt độ quy định cân siết lại vì gu dong cay bằng thép dãn nở ít
Nắp máy bằng hợp kim nhôm siết nguội đủ mô men là được Hiện nay, một số động
cơ của ô tô TOYOTA siết dai ốc bằng phương pháp biến dạng dẻo nghĩa là siết đai ốc đủ mômen sau đó siết thêm 1/2 vòng
VI CÁC CHẾ ĐỘ BẢO DƯỠNG, SỬA CHỮA Ô TÔ - XE MÁY
6.1 Mục đích, ý nghĩa của công việc bảo dưỡng sửa chữa
Nhằm phát hiện những sai hỏng để kịp thời khấc phục, sửa chữa và duy trì điều kiện hoạt động bình thường của chỉ tiết, các cơ cấu và hệ thống của động cơ, đảm bảo cho chúng luôn luôn có công suất lớn, hiệu suất cao, tránh những sai hỏng nhỏ trong suốt quá trình sử dụng và kéo dài tuổi thọ máy Bảo dưỡng kỹ thuật bao gồm các thao tác nhằm chẩn đoán tình trạng kỹ thuật, kiểm tra điều chỉnh các cơ cấu và hệ thống của động cơ ô tô, các thao tác dọn, rửa sạch, bôi trơn, siết chặt tạo nên hệ thống bảo dưỡng dự phòng có kế hoạch được dự định trước, sau khi động cơ ô tô đã đi được một số km hoặc một số giờ quy định
Ví dụ: Ổ lăn bị cháy kẹt nếu không khác phục kịp thời dẫn tới cả ổ bỉ bị xoay làm sai hồng phần giá đỡ ổ bì và làm va đập gây tiếng kêu, gây ra sai hỏng gối đỡ và trục
6.2 Nội dung các cấp bảo dưỡng ô tô - xe máy
Các cấp bảo dưỡng được tiến hành bất buộc theo trình tự, kế hoạch căn cứ vào số km
đã chạy đối với ô tô, xe máy hoặc theo số giờ máy đã hoạt động đối với máy kéo và máy tĩnh tại bảo dưỡng được phân ra như sau:
a) Bảo dưỡng ngày do thợ vận hành thực hiện
- Quét dọn xe, rửa sạch đất bám dưới gầm xe, lau chùi sạch sẽ động cơ
- Kiểm tra đường nhiên liệu, đầu mỡ, nước, nếu có rò rỉ phải xử lý và khắc phục
Trang 14CẤU TẠO VÀ SỬA CHỮA ĐỘNG CƠ Ô TÔ - XE MAY
- Kiểm tra mức đầu, nước, nhiên liệu nếu thiếu phải bổ sung đúng quy định
- Bảo đảm các loại đồng hồ, đèn chiếu sáng hoạt động tốt Kiểm tra còi, phanh, lái,
các bu - lông bắt chặt, cơ cấu phanh, bánh trước, bánh sau, áp suất bánh xe, làm sạch bánh
xe, loại bỏ các vật cứng cài ở kẽ hoa lốp
b) Bao dưỡng cấp I
Do thợ vận hành thực hiện
- Được thực hiện sau 60 giờ hoạt động của động cơ (800 + 1000km hoạt động của xe) Nội dung gồm các thao tác bảo dưỡng ngày và cộng thêm:
+ Lau rửa sạch mặt ngoài máy,
+ Kiểm tra nếu cần điều chỉnh độ căng dây đai quạt gió, máy phát
+ Bảo đưỡng bình lọc khí: rửa lưới lọc, lõi lọc và bôi dầu rồi lắp vào vị trí
+ Rửa bình lọc tỉnh dầu bôi trơn
+ Tháo xả cặn bẩn trong các bình lọc thô và lọc tỉnh nhiên liệu, thay cuộn lọc
- Bảo dưỡng thiết bị điện, kiểm tra nút xả hơi, mức dung dịch trong bình ắc quy, lau sạch mặt ngoài của bình, cạo sạch mặt tiếp xúc giữa cực và đầu dây nối, bổ sung nước cất vào bình, kiểm tra các chỉ tiết và siết chặt các bu - lông giữ mặt bình
- Cuối ca máy đầu tiên sau bảo dưỡng cấp I cần kiểm tra thời gian quay tiếp của bầu lọc ly tâm sau khi tắt máy (nếu có bầu lọc ly tâm)
+ Kiểm tra bu - lông siết chặt động cơ và giá đỡ máy
+ Rửa hệ thống bôi trơn, thay đầu các - te
+ Kiểm tra điều chỉnh khe hở nhiệt xu - pap
Trang 15Lý thuyết hao mòn sai hỏng của chỉ tiết máy
quyết định cho động cơ hoạt động tiếp hay cần phải sửa chữa một vài bộ phận Bảo dưỡng cấp III gồm phần lớn nội dung bảo dưỡng II và cộng thêm;
+ Cọ rửa thân bình lọc, bình chứa nhiên liệu, lỗ thông gió các - te
+ Thông rửa đường ống nhiên liệu và ống nạp Thay lõi lọc tỉnh nhiên liệu
+ Thay đầu nhờn trong các - te
+ Nên cọ rửa hệ thống làm mát động cơ
Khi kết thúc bảo dưỡng cấp III cần kiểm tra các chỉ tiết siết chặt bên ngoài, xác định công suất và suất tiêu thụ nhiên liệu của động cơ, thực hiện điều chỉnh để đạt các giá trị quy định của động cơ
Các cấp bảo dưỡng ô tô xe máy được thực hiện sau khi xe đã chạy được số km quy định, tuỳ thuộc vào chủng loại xe và điều kiện sử dụng xe Các hãng sản xuất đều quy định các hạng mục và lịch trình bảo dưỡng xe của mình trong bảng hướng dẫn sử dụng kèm theo
xe Trong khi bảo dưỡng kỹ thuật cần thực hiện nghiêm chỉnh mọi quy tắc an toàn trong khi sử dụng các thiết bị và dụng cụ bảo đưỡng
6.3 Các hình thức tổ chức sửa chữa
a) Sửa chữa theo vị trí cố định
- Công việc sửa chữa ô tô - xe máy được giao cho một tổ hoặc một nhóm công nhân thực hiện từ khi xe vào xưởng đến lúc xe ra xưởng ở một vị trí nhất định
Phương pháp này chỉ áp dụng đối với cơ sở sản xuất nhỏ, số lượng xe ít, kế hoạch sửa chữa không ổn định Một tổ hoặc một nhóm công nhân sửa chữa từ đầu đến cuối (hay tất cả
các công đoạn)
b) Sửa chữa theo dây chuyên
- Công việc sửa chữa 6 tô - xe máy được thực hiện ở nhiều vị tri do nhiều tổ hoặc nhóm công nhân đảm nhiệm
- Phương pháp này được áp dụng ở những cơ sở sửa chữa vừa và lớn có đủ trang thiết
bị chuyên dùng kế hoạch sản xuất ổn định và nâng cao năng suất sửa chữa, giảm thời gian nằm sửa chữa, cho phép tự động hoá và cơ giới hoá dây chuyền sản xuất
Ví dụ: Có các tổ hoặc công nhân gồm: tố sửa chữa động cơ, tố sửa chữa điện, tổ sửa chữa hệ thống truyền lực, tổ sửa chữa vỏ xe
©) Sửa chữa nhỏ (tiểu tu)
Sửa chữa nhỏ được làm tại trạm các bảo dưỡng hoặc tại nơi sử dụng xe bao gồm các công việc: kiểm tra, chẩn đoán kỹ thuật, lắp tháo cụm, điều chỉnh, gò, sơn
Trang 16CẤU TẠO VÀ SỬA CHỮA ĐỘNG CƠ Ô TÔ - XE MÁY
d) Sửa chữa vừa (trung ti)
Sau 5 lần bảo đưỡng cấp III
- Sửa chữa vừa là một dạng sửa chữa theo kế hoạch, trong đó tiến hành từng bộ phận của xe - máy, thay thế hay phục hồi
- Sau khi tháo xe - máy cần lập biên bản kê khai khuyết tật (bản kiểm tu) đó là tài liện cơ bản để xác định khối lượng công việc cần sửa chữa
- Sau khi sửa chữa vừa, xe - máy cần được kiểm tra ở các chế độ không tải và có tải tất cả các công việc sửa chữa đều phải được ghi vào lý lịch xe
e) Sửa chữa lớn (sau hai lân trung tu)
Sửa chữa là sửa chữa theo kế hoạch trong đó phải tháo rời toàn bộ xe - máy, khi sửa chữa lớn phải thay thế hay phục hồi toàn bộ các chỉ tiết bị sai hỏng Điều chỉnh toàn bộ các cụm máy tổng thành để phục hỏi độ chính xác theo yêu cầu kỹ thuật (như mới)
Nội dung công việc sửa chữa lớn:
- Tháo rời toàn bộ các chỉ tiết
- Rửa sạch các chỉ tiết
- Lập bảng kê khai khuyết tật (kiểm tu)
Công việc sửa chữa tiến hành theo bản kê khai khuyết tật đã lập, sau khi sửa chữa
xe - máy cần được chạy thử ở tất cả các chế độ: không tải, có tải, tất cả công việc sửa chữa phải được ghi vào lý lịch xe - máy
6.4 Các phương pháp sửa chữa
a) Sửa chữa theo phương pháp thay thế tổng thành
- Sơ đồ quy trình công nghệ