Chính sách và pháp luật của Nhà nước về dân tộc...5 Chương 2: Thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam...7 Chương 3: Giải pháp tăng tường việc th
Trang 1TIỂU LUẬN:
Môn học: Chủ nghĩa xã hội khoa học TÊN ĐỀ TÀI: Đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của
Nhà nước đối với dân tộc Tên sinh viên: Phan Yến Nhi
Mã số sinh viên: 20412110 Lớp: Kinh doanh thương mại K20 Ngành: Kinh tế
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do nghiên cứu đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1
a Mục đích 1
b Nhiệm vụ 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
a Đối tượng 2
b Phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 2
B NỘI DUNG 3
Chương 1: Quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về dân tộc 3
1 Khái niệm về dân tộc và chính sách dân tộc 3
2 Quan điểm của Đảng về dân tộc và chính sách dân tộc 4
3 Chính sách và pháp luật của Nhà nước về dân tộc 5
Chương 2: Thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 7
Chương 3: Giải pháp tăng tường việc thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ lên chủ nghĩa xã hội 9
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
PHẦN ĐÁNH GIÁ 17
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn nhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc, phát huy sức mạnh của cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc vì mục tiêu độc lập, thống nhất, tiến lên dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh Bước sang thời kỳ mới của sự nghiệp xây dựng đất nước, nhân dân ta càng có điều kiện để thực hiện tốt hơn việc tăng cường, mở rộng khối đại đòan kết tòan dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, động viên cao nhất sức mạnh dân tộc để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc là những vấn đề rất lớn, phức tạp và nhạy cảm, nhiều nội dung của vấn đề này cần được nghiên cứu, giải quyết cả về lý luận và thực tiễn Những vấn đề thời sự liên quan đến dân tộc, chính sách dân tộc đang làm cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về những nội dung trở nên rất quan trọng và bức thiết
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích Nắm được quan điểm, chính sách, pháp luật cơ bản của Đảng và Nhà nước về dân tộc Thấy rõ được chính sách dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; từ đó xác định trách nhiệm của bản thân góp phần tuyên truyền và thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật, về dân tộc của Đảng và Nhà nước
b Nhiệm vụ Xác định quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về dân tộc: khái niệm dân tộc, chính sách dân tộc; quan điểm của Đảng về dân tộc và chính sách dân tộc; chính sách của Nhà nước về dân tộc Tìm hiểu việc
Trang 4thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Tìm hiểu giải pháp tăng cường việc thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ lên chủ nghĩa xã hội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng
Đề tài nghiên cứu về vấn đề quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng
và Nhà nước về dân tộc và chính sách dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
b Phạm vi nghiên cứu
- Quan điểm,đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước về vấn đề dân tộc
- Chính sách dân tộc trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc chung sống Cộng đồng các dân tộc Việt nam được hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử hàng năm dựng nước và giữ nước tạo nên một dân tộc Việt Nam thống nhất Các dân tộc ở nước ta sinh sống gắn bó cùng nhau từ lâu đời, đã rất sớm có ý thức đoàn kết, giúp nhau trong chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước Sự đòan kết gắn bó giữa các cộng đồng dân tộc đã tạo nên một quốc gia đa dân tộc bền vững, tốt nhất Ngày nay, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu xây dựng đất nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh tiến lên chủ nghĩa xã hội
Sinh viên ký, ghi rõ họ tên
Trang 5A NỘI DUNG Chương 1: Quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về dân tộc
1 Khái niệm về dân tộc và chính sách dân tộc
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, dân tộc là quá trinh phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao gồm: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Sự biến đổi của phương thức sản xuất chinh là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
Theo nghĩa rộng, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng người
ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của minh, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Với nghĩa này, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một quốc gia, nghĩa là toàn bộ nhân dân của một nước Ví dụ, dân tộc Ấn Độ, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Việt Nam…
Theo nghĩa hẹp, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng người được hình thanh trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung
ý thức tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hóa Cộng đồng này xuất hiện sau
bộ lạc, bộ tộc, kế thừa và phát triển cao hơn những nhân tố tộc người của các cộng đồng đó Với nghĩa này, dân tộc là một bộ phận hay thành phần của quốc gia Chẳng hạn, Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc, tức 54 cộng đồng tộc người Sự khác nhau giữa các cộng đồng tộc người ấy biểu hiện chủ yếu ở đặc trưng văn hóa, lối sống, tâm lý, ý thức tộc người
Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là một hệ thống các chủ trương, giải pháp, nhằm thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn
Trang 6hóa, xã hội giữa các dân tộc, trong đó có sự quan tâm đến các dân tộc thiểu số
có trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp
2 Quan điểm của Đảng về dân tộc và chính sách dân tộc
Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng
ta luôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta
đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với những nội dung cơ bản là:
“Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển”
Chủ trương đường lối của Đảng về công tác dân tộc từ thời kỳ đổi mới đất nước đến nay được thể hiện thông qua văn kiện các kỳ đại hội và các chỉ thị, nghị quyết chuyên đề của Đảng, được ban hanh cụ thể trong từng nhiệm kỳ, từng giai đoạn, với nội dung cơ bản thống nhất, đó là: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẻ dân tộc Phát triển toàn diện chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội và an ninh – quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất”
Với những nội dung trên, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc đã mang tính toàn diện trên các lĩnh vực và phủ kín địa bàn vùng dân tộc
và miền núi và luôn được sửa đổi, bổ sung theo từng giai đoạn nhằm phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc và miền núi cùng với sự phát triển chung của đất nước Theo đó, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới đã được thể chế hóa trong nhiều bộ luật,
Trang 7luật, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết, chỉ thị, thông tư… của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã tiếp tục bổ sung, phát triển chủ trương đường lối về dân tộc và chính sách dân tộc: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tọa chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ các bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc Tăng cường kiểm tra, giám sát, đanh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đòan kết dân tộc”
3 Chính sách và pháp luật của Nhà nước về dân tộc
Bình đẳng giữa các dân tộc là một nguyên tắc cơ bản có ý nghĩa quan trọng hàng đầu của chính sách dân tộc về quyền của các dân tộc thiểu số Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và được đảm bảo bằng Hiến pháp và pháp luật quyền binh đảng giữa các dân tộc, trước hết là quyền binh đẳng về chính trị, chống mọi biểu hiện chia rẽ kỳ thị dân tộc, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tự ti dân tộc,… Quyền bình đẳng về kinh tế, đảm bảo sự bình đẳng trong quan hệ lợi ích giữa các dân tộc Nhà nước có trách nhiệm giúp các dân tộc có kinh tế chậm phát triển để cùng đạt được trinh độ phát triển chung với các dân tộc khác trong cả nước Bình đẳng về văn hoá, xã hội bảo đảm cho việc giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, làm phong phú và đa dạng nền
Trang 8văn hóa Việt Nam thống nhất Do phần lớn các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay có trình độ phát triển thấp vì vậy bên cạnh việc bảo đảm quyền bình đẳng tòan diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cần phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để đồng bào các dân tộc thiểu số có cơ hội phát triển bình đẳng với các dân tộc khác Sự quan tâm tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, đó chính là biểu hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc đặc trưng nhất ở Việt Nam
Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng về các dân tộc, chính sách dân tộc, Quốc hội đã ban hành Hiến pháp năm 2013; Chính phủ đã xây dựng
và trình Quốc hội xem xét, thông qua hệ thống pháp luật, từ đó góp phần hoàn thiện thể chế chính sách pháp luật liên quan đến công tác dân tộc, chính sách dân tộc Hiến pháp 2013 chỉ rõ: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiềng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của minh Nhà nước thực hiện chính sách phát triển tòan diện và tạo điền kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước
Trang 9Chương 2: Thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Do có chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp và sự vào cuộc của cả
hệ thống chính trị nên trong những năm qua, công tác dân tộc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tính riêng trong giai đoạn 2016 – 2020, vùng đồng bằng dân tộc miền núi có những chuyển biến quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Trong phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới đạt kết quả bước đầu đang ghi nhận Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 7%/năm; tỷ lệ hộ nghèo vùng dân tộc miền núi giảm 4%/năm; các huyện nghèo giảm 4 – 5%/năm, có nơi giảm trên 5%; tỷ lệ hộ cận nghèo tòan vùng giảm 1,2%; đã có 22 huyện, 125 xã,1.298 thôn ra khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn; có 1.052 xã (chiếm 22,3%) đạt chuẩn nông thôn mới có 27 huyện (chiếm 6%) đạt chuẩn nông thôn mới
Kết cấu hạ tầng cơ sở được đầu tư đồng bộ, hệ thống giao thông từ tỉnh đến trung tâm các huyện đã được rải nhựa bê tông hóa 100%; các xã có đường ô – tô đến trung tâm đạt 96,7%; 100% xã có trường tiểu học, trung học
cơ sở, 99,7% xã có trường mầm non, mẫu giao; 99,5% xã có trạm y tế; 76,7% thôn có nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng; tỷ lệ thôn có đường giao thông được kiên cố tăng 16,7% so với năm 2015
Trong lĩnh vực giao dục, đào tạo và dạy nghề ngày càng phát triển, tỷ lệ người đủ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết tiếng phổ thông tăng 1,7%; tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học tăng 8%, trung học cơ sở tăng 9%, trung học phổ thông tăng 14,7% Đến hết năm 2020 cả nước đã xây dựng được 316 trường phổ thông dân tộc nội trú, 1.097 trường phổ thông dân tộc bán trú, 4 trường và 3 khoa dự bị đại học dân tộc Bên cạnh đó, công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số đạt được một số kết quả quan trọng
Trang 10Trong việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa cũng đạt được kết quả đang ghi nhận, trong đó, tiếng tục công nhận di tích quốc gia đặc biệt, 8 di tích lịch sử văn hóa quốc gia; phong tặng, truy tặng 559 nghệ nhân dân gian là người dân tộc thiểu số; hàng năm đã tổ chức tốt ngày hội văn hóa của các dân tộc thiểu số… Có 95% số xã được phủ sóng phát thanh truyền hình; phát sóng được 22 thứ tiếng dân tộc, phù hợp với từng vùng, miền Ngoài ra, đến hết năm 2020 đã xây dựng được hơn 16.000 điểm bưu điện văn hóa xã; có hàng triệu tờ báo được cấp không thu tiền
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn những hạn chế, yếu kém, đó là: “Kết quả thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu, cấp bách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền Trung chưa đạt được như mong muốn So với mặt bằng chung của cả nước, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn thuộc diện khó khăn nhất Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo, tái nghèo còn cao; khoảng cách so với vùng phát triển có xu hướng gia tăng; khả năng tiếp cận dịch vụ
xã hội còn thấp; tình trạng di cư tự phát chưa được giải quyết hiệu quả; cán
bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số nhiều nơi chưa đạt tỷ lệ theo đúng quy định; hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan ở một số nơi chưa được khắc phục, vẫn còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp về an ninh, trật tự”
Những hạn chế, yếu kém trên được xác định có nhiều nguyên nhân, trong đó có cả khách quan và chủ quan, đó là: Điểm xuất phát của vùng đồng bào dân tộc và miền núi còn thấp; địa hình hiểm trở, chia cắt, giao thông khó khăn, khí hậu khắc nghiệt; thiên tai, bão lũ xãy ra thường xuyên; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp Bên cạnh đó, một số cấp ủy chinh quyền, nhận thức chưa đầy đủ về công tác dân tộc; công tác lãnh đạo, chỉ đạo chưa thực sự quyết liệt; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa chặt chẽ, đồng bộ; một
số chinh sách còn chồng chéo, nguồn lực đầu tư còn nhiều hạn chế Ngoài ra, một số bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn có tư tưởng bằng lòng với hiện tại, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên