1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ

272 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tỷ Lệ Thừa Cân Béo Phì Của Học Sinh Lớp 6 Thành Phố Hồ Chí Minh Và Hiệu Quả Của Can Thiệp Thay Đổi Lối Sống Thông Qua Nhóm Bạn Đồng Trang Lứa Và Hệ Thống Hỗ Trợ
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trinh
Người hướng dẫn PGS. TS. Tăng Kim Hồng, TS. Phạm Thị Lan Anh
Trường học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Dịch tễ học
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 272
Dung lượng 12,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN (16)
    • 1.1. Định nghĩa thừa cân – béo phì ở trẻ em (16)
    • 1.2. Các yếu tố nguy cơ của béo phì (19)
    • 1.3. Hậu quả của thừa cân – béo phì lên sức khoẻ trẻ em (0)
    • 1.4. Các nghiên cứu về tình trạng thừa cân - béo phì trên thế giới và Việt Nam (27)
    • 1.5. Đặc điểm lứa tuổi vị thành niên (31)
    • 1.6. Học thuyết thay đổi hành vi áp dụng cho chương trình can thiệp (32)
    • 1.7. Các mô hình can thiệp thay đổi hành vi lối sống cho trẻ vị thành niên (40)
    • 1.8. Vài nét về địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019-2021 (51)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (53)
    • 2.1. Thiết kế nghiên cứu (53)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (53)
    • 2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (53)
    • 2.4. Cỡ mẫu của nghiên cứu (54)
    • 2.5. Định nghĩa biến số (59)
    • 2.6. Phương pháp và công cụ đo lường, thu thập số liệu (68)
    • 2.7. Qui trình nghiên cứu (69)
    • 2.8. Phương pháp phân tích dữ liệu (85)
    • 2.9. Đạo đức trong nghiên cứu (90)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (92)
    • 3.1. Tình trạng thừa cân – béo phì học sinh lớp 6 Thành phố Hồ Chí Minh (94)
    • 3.2. Mối liên quan giữa các yếu tố với tình trạng thừa cân – béo phì ở học sinh lớp 6 TP. HCM (97)
    • 3.3. Sự thay đổi về hành vi ăn uống sau 6 tháng theo dõi, giữa 2 nhóm học sinh lớp 6 được can thiệp và không được can thiệp (114)
    • 3.4. Sự thay đổi thời gian hoạt động thể lực và tĩnh tại sau 6 tháng theo dõi, giữa 2 nhóm học sinh lớp 6 được can thiệp và không được can thiệp (117)
    • 3.5. Sự thay đổi về tình trạng thừa cân – béo phì (119)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (120)
    • 4.1. Tình trạng thừa cân – béo phì học sinh lớp 6 Thành phố Hồ Chí Minh (121)
    • 4.2. Các yếu tố liên quan đến tình trạng thừa cân – béo phì học sinh lớp 6 Thành phố Hồ Chí Minh (126)
    • 4.3. Sự thay đổi sau can thiệp về hành vi ăn uống mỗi ngày giữa nhóm chứng so với nhóm can thiệp (135)
    • 4.4. Sự thay đổi sau can thiệp về thời gian hoạt động thể lực và hoạt động tĩnh tại (141)
    • 4.5. Sự thay đổi sau can thiệp về tình trạng thừa cân – béo phì giữa nhóm chứng so với nhóm can thiệp (145)
  • KẾT LUẬN (159)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (164)

Nội dung

Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ

TỔNG QUAN

Định nghĩa thừa cân – béo phì ở trẻ em

Định nghĩa: Thừa cân béo phì là tình trạng chất béo trong cơ thể tích tụ bất thường hoặc quá mức, có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe

Chiều cao (m) 2 là thước đo phổ biến để đánh giá chỉ số khối cơ thể (BMI) ở người trưởng thành và đã được mở rộng áp dụng cho trẻ lớn và vị thành niên Do đó, cần lựa chọn tiêu chuẩn BMI phù hợp để xác định tình trạng sức khỏe.

Các tiêu chuẩn quốc tế về tình trạng dinh dưỡng trẻ em, như IOTF, WHO và CDC, đóng vai trò quan trọng trong việc so sánh và theo dõi sự thay đổi giữa các nhóm dân số Việc áp dụng các chuẩn đánh giá TC – BP quốc tế hiện nay giúp cải thiện khả năng so sánh giữa các nghiên cứu và quốc gia, đồng thời giám sát xu hướng TC – BP toàn cầu Trước đây, tình trạng dinh dưỡng của trẻ nhỏ thường được đánh giá qua tỉ số cân nặng/chiều cao thay vì BMI, chủ yếu để xác định tình trạng nhẹ cân và gầy còm thông qua so sánh với đường cong phát triển tiêu chuẩn.

Bảng 1.1 Các tiêu chuẩn thừa cân – béo phì ở trẻ em

Tổ chức đặt ra tiêu chuẩn Định nghĩa Dữ liệu hoặc

Tổ chức Y tế Thế giới

Trẻ em từ 5 đến 19 tuổi 24,25

- Béo phì: BMI ≥ +2 độ lệch chuẩn

- Thừa cân: +1 độ lệch chuẩn ≤ BMI < +2 độ lệch chuẩn

Bộ dữ liệu của Trung tâm Thống kê

Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NCHS), thu thập trên trẻ từ 5-19 tuổi năm 1977 24 , kết hợp với bộ dữ liệu của trẻ từ 18-

71 tháng tuổi từ mẫu cắt ngang của WHO năm 2007

Trung tâm Quản lý và

Hoa Kỳ (US Centers for

Dựa theo bảng phát triển của CDC 26

Dành cho trẻ em từ 2 đến 19 tuổi, được xếp loại theo tuổi và giới:

- Béo phì: BMI ≥ bách phân vị thứ 95

- Thừa cân: bách phân vị thứ 85 ≤ BMI < bách phân vị thứ

- BMI bình thường: bách phân vị thứ 5 < BMI < bách phân vị thứ 85

Bộ dữ liệu của Khảo sát kiểm tra sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia Hoa Kỳ (1971–1994), (NHANES)

Tổ chức hành động phòng chống Béo phì quốc tế IOTF

Sử dụng điểm cắt BMI theo tuổi và giới của Tim Cole 27

Bộ dữ liệu từ 6 quốc gia Brazil, Vương quốc Anh, Hồng Kông, Hà Lan, Singapore và Mỹ

Trong nghiên cứu về tình trạng thừa cân - béo phì ở trẻ em tại Việt Nam và quốc tế, phần lớn các nghiên cứu hiện nay dựa vào hai tiêu chuẩn chính là IOTF và WHO Do đó, chúng tôi sẽ tập trung vào việc phân tích hai tiêu chuẩn này.

Cả hai tiêu chuẩn của IOTF và WHO đều có những hạn chế khi so sánh với đặc điểm kỳ vọng của tiêu chuẩn tăng trưởng quốc tế

Dữ liệu từ các quốc gia xây dựng tiêu chuẩn của IOTF và WHO không bao gồm dân số Việt Nam, dẫn đến việc áp dụng các tiêu chuẩn này trong nghiên cứu gặp nhiều hạn chế Tiêu chuẩn của WHO, năm

Vào năm 2007, dự kiến sẽ cập nhật dữ liệu từ 115 bộ dữ liệu của 45 quốc gia, nhưng cuối cùng chỉ còn 34 bộ dữ liệu từ 22 quốc gia do sự không đồng nhất về phương pháp và chất lượng dữ liệu Điều này đã dẫn đến việc tiêu chuẩn WHO, 2007 được xây dựng dựa trên dữ liệu của Trung tâm Quốc gia Hoa Kỳ cho Thống kê Y tế (NCHS), sử dụng số liệu khảo sát quốc gia từ trẻ em 5-19 tuổi năm 1977, kết hợp với dữ liệu từ trẻ dưới 5 tuổi từ mẫu cắt ngang của WHO và áp dụng các phương pháp phân tích tiên tiến để làm mượt số liệu chuyển tiếp ở độ tuổi 5.

Dữ liệu để xây dựng tiêu chuẩn IOTF được thu thập từ một cuộc khảo sát không đồng nhất diễn ra tại 6 quốc gia, bao gồm Brazil, Vương quốc Anh, Hồng Kông, Hà Lan và Singapore.

Mỹ cũng gặp phải các hạn chế tương tự 28

Xét độ tuổi từ 5-19, điểm cắt về tình trạng thừa cân và béo phì (TC – BP) giữa hai tiêu chuẩn IOTF và WHO có sự khác biệt rõ rệt Theo tiêu chuẩn của WHO, béo phì được xác định khi BMI nằm ngoài khoảng +2 lần độ lệch chuẩn bình thường, trong khi thừa cân được xác định khi BMI từ +1 đến dưới +2 lần độ lệch chuẩn Tuy nhiên, cách xác định này không xem xét đến các hậu quả sức khỏe của TC – BP Ngược lại, tiêu chuẩn IOTF xác định TC – BP dựa trên phân vị BMI thừa cân (BMI > 25 kg/m²) và béo phì (BMI > 30 kg/m²) tại tuổi 18, đã được chứng minh liên quan đến các hậu quả sức khỏe ở người trưởng thành Dữ liệu tham chiếu sẽ được hồi cứu để xác định TC – BP cho các độ tuổi nhỏ hơn, nhưng suy luận này có thể không chính xác do các vấn đề sức khỏe ở trẻ em tại các điểm cắt có thể khác với người lớn.

Tiêu chuẩn IOTF được coi là ít tùy tiện hơn và đã khắc phục một số hạn chế của tiêu chuẩn WHO, với hy vọng được chấp nhận rộng rãi hơn Trong khi tiêu chuẩn WHO phù hợp hơn cho việc đánh giá ở cấp độ quần thể, tiêu chuẩn IOTF lại tỏ ra phù hợp hơn trong việc xác định tình trạng béo phì và thừa cân ở cấp độ cá nhân, đặc biệt trong bối cảnh lâm sàng.

Hiện tại, chưa có bằng chứng rõ ràng cho thấy tiêu chuẩn IOTF hoặc WHO phù hợp hơn cho các nước đang phát triển Nghiên cứu của chúng tôi đã phân tích tỷ lệ thừa cân - béo phì dựa trên cả hai tiêu chuẩn này.

Các yếu tố nguy cơ của béo phì

Bảng 1.2 Các yếu tố nguy cơ béo phì ở trẻ em

Yếu tố di truyền và sinh học

Dân tộc ít người (ví dụ: người gốc Châu Mỹ ở Mỹ), cân nặng lúc sinh cao, tăng cân nhanh trong thời ấu thơ, tích trữ mỡ sớm

Chế độ ăn uống Cách nấu ăn cho trẻ, năng lượng , đậm độ năng lượng của bữa ăn, tiêu thụ nhiều thức ăn có đường, bánh kẹo

Hoạt động thể lực và tĩnh tại

Thời gian ngồi trước màn hình tivi/ vi tính, di chuyển bằng ô tô/ xe máy, ít đi bộ/ đạp xe đến trường

Yếu tố gia đình có ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế Ở các nước phát triển, nhiều gia đình có tình trạng kinh tế thấp, trong khi các nước đang phát triển lại có kinh tế gia đình cao hơn Thói quen sức khỏe của cha mẹ, như béo phì, đái tháo đường, và hút thuốc lá trong thai kỳ, cũng đóng vai trò quan trọng Ngoài ra, chế độ ăn uống và mức độ vận động của cha mẹ trước và trong thời kỳ mang thai có thể tác động lớn đến sức khỏe của trẻ.

Môi trường học đường và cộng đồng có ảnh hưởng lớn đến việc tiêu thụ năng lượng, dẫn đến lối sống ít vận động Thiếu các không gian chung để tập luyện, câu lạc bộ sức khỏe, cùng với sự phổ biến của thức ăn nhanh và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, đã góp phần làm giảm hoạt động thể chất trong cộng đồng.

Lý thuyết hệ thống sinh thái của Davison về cơ chế hình thành thừa cân – béo phì ở trẻ em

Theo Davison, một loạt các yếu tố phức tạp trong thời thơ ấu có thể dẫn đến nguy cơ thừa cân ở trẻ em, được khái niệm hóa qua "Lý thuyết hệ thống sinh thái" (Ecological Systems Theory - EST) Hệ thống này bao gồm các yếu tố như gia đình, trường học, cộng đồng và xã hội, ảnh hưởng đến chế độ ăn uống, thói quen hoạt động thể lực và hành vi tĩnh tại của trẻ Davison nhấn mạnh rằng các nghiên cứu tương lai cần áp dụng cách tiếp cận bối cảnh rộng hơn để hiểu và ngăn chặn quá trình phát triển thừa cân ở trẻ Việc áp dụng EST sẽ giúp phát triển và thử nghiệm các mô hình can thiệp hiệu quả nhằm phòng chống béo phì.

Hình 1.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái tình trạng thừa cân ở trẻ em theo

1.2.1 Các yếu tố thuộc về bản thân trẻ o Giới tính và khu vực sống:

Nghiên cứu cắt ngang tại Ethiopia, trên 546 trẻ em vào năm 2015 lại ghi nhận tình trạng TC – BP ở trẻ gái cao hơn 3,57 lần so với trẻ trai (OR = 3,57; KTC 95% = 1,28 – 9,9) 36

Theo khảo sát toàn quốc của Trung Quốc về Hiến pháp và sức khỏe học sinh, dữ liệu từ 1985 đến 2014 cho thấy tỷ lệ trẻ em có sức khỏe tốt đang giảm dần.

BP ở trẻ em ở Trung Quốc ở trẻ em trai cao hơn trẻ em gái; ở thành thị cao hơn nông thôn (Hình 1.2) 37

Hình 1.2 Xu hướng thừa cân, và béo phì của trẻ vị thành niên 7–18 tuổi từ

1985 đến 2014, theo giới tính, theo khu vực sống ở Trung Quốc

Một tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp đã được thực hiện trên 38 nghiên cứu công bố từ tháng 1/1999 đến 30/5/2017, tập trung vào trẻ em (5–12 tuổi) và thanh thiếu niên (12–19 tuổi) tại các nước Châu Á Kết quả cho thấy tỷ lệ béo phì ở trẻ trai cao hơn trẻ gái (10,1% so với 6,2%, p < 0,001), và tỷ lệ thừa cân cũng cao hơn ở trẻ trai (15,9% so với 13,7%, p < 0,001).

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ bị thừa cân - béo phì (TC - BP) ở trẻ trai cao hơn trẻ gái, có thể do sự khác biệt về thành phần mỡ cơ thể, mức độ hoạt động thể lực và sự quan tâm của trẻ gái đến hình ảnh cơ thể Các yếu tố như nội tiết tố, nhạy cảm với quan điểm xã hội về tăng cân, cũng như yếu tố dân tộc, di truyền và môi trường, góp phần giải thích sự khác biệt này Thêm vào đó, tỷ lệ TC - BP ở trẻ em thành phố cao hơn so với trẻ em nông thôn, có thể do thói quen xem tivi nhiều, ngủ ít và sử dụng công nghệ cao ở gia đình thành phố Trẻ em thành phố cũng có điều kiện di chuyển dễ dàng hơn, điều này có thể làm tăng nguy cơ TC - BP, đặc biệt trong giai đoạn dậy thì.

Quá trình chuyển sang tuổi vị thành niên ảnh hưởng lớn đến sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ, dẫn đến sự thay đổi trong lựa chọn thực phẩm và lối sống Trong giai đoạn này, trẻ thường tách khỏi cha mẹ và tương tác nhiều hơn với bạn bè, hình thành thói quen ăn uống không lành mạnh, như lựa chọn thức ăn nhanh nhiều calo Bên cạnh đó, việc sử dụng thiết bị công nghệ và mạng xã hội gia tăng cũng làm giảm hoạt động thể chất, gia tăng nguy cơ thừa cân, béo phì Tình trạng tăng cân nhanh chóng ở trẻ có thể liên quan đến sự phát triển kháng insulin và các vấn đề về nội tiết tố, ảnh hưởng đến tốc độ phát triển dậy thì, đặc biệt ở trẻ béo phì.

Nghiên cứu cắt ngang trên 2.996 nữ sinh người Hán từ 9 - 19 tuổi tại 6 tỉnh Trung Quốc cho thấy nữ sinh bị béo phì trung tâm và thừa cân (TC – BP) dậy thì sớm hơn trong hầu hết các giai đoạn Tanner của vú và lông mu so với những bạn cùng lứa có cân nặng bình thường Đặc biệt, các bé gái béo phì phát triển lông mu sớm hơn so với các bạn bị thừa cân.

Một phân tích tổng quan hệ thống đã được thực hiện trên 11 nghiên cứu đoàn hệ với 4.841 trẻ em đáp ứng tiêu chuẩn nhập vào Kết quả cho thấy, so với nhóm trẻ gái có cân nặng bình thường, nhóm trẻ gái béo phì có tỷ lệ cao hơn về việc đã có kinh nguyệt (RR = 1,87, KTC 95%).

= 1,59 – 2,19, 2 nghiên cứu) Số trẻ em gái dậy thì sớm ở nhóm béo phì cao hơn đáng kể so với nhóm cân nặng bình thường (RR = 2,44, KTC 95% = 1,32 – 4,52, 5 nghiên cứu)

1.2.2 Các yếu tố thuộc về hành vi - lối sống của trẻ:

1.2.2.1 Hành vi ăn uống của trẻ: Ăn uống là quá trình giúp cung cấp năng lượng cho trẻ Năng lượng dự trữ trong cơ thể là hiệu số của năng lượng hấp thu và năng lượng tiêu hao WHO đã kết luận tình trạng béo phì có liên quan đến chế độ ăn dư thừa năng lượng Do vậy, việc ăn nhiều thức ăn có đậm độ năng lượng cao có liên quan chặt chẽ với sự gia tăng tỷ lệ béo phì Nhìn chung, khi vào cơ thể, các chất đạm, đường, béo đều chuyển thành chất béo dự trữ, đặc biệt chất béo có đậm độ năng lượng cao gấp 2 lần chất đường bột, lại cần ít calo hơn để dự trữ dưới dạng triglycerit Vì vậy, khẩu phần ăn nhiều chất béo dễ gây thừa năng lượng và tăng cân hơn nhưng đồng thời ăn nhiều chất bột đường cũng có thể gây béo phì

Theo dữ liệu từ chương trình can thiệp quốc gia tại Trung Quốc, trẻ em và thanh thiếu niên từ 6 đến 17 tuổi tiêu thụ nhiều thức uống có đường sẽ có nguy cơ béo bụng cao hơn 1,13 lần Số liệu này đã được hiệu chỉnh theo tuổi, giới tính, nơi ở, tình trạng kinh tế xã hội, chế độ ăn uống, thời gian tĩnh tại và hoạt động thể lực.

KTC 95% = [1,054 - 1,217]) 46 Tuy nhiên, không có mối liên quan nào giữa béo phì và lượng tiêu thụ thức uống có đường

Nghiên cứu của XueZhou năm 2015 tại Trung Quốc cho thấy, trong số 1.207 trẻ từ 8-14 tuổi, trẻ trai có tổng năng lượng cao có chỉ số BMI và % mỡ cơ thể cao hơn so với trẻ trai có tổng năng lượng thấp, sau khi điều chỉnh cho các yếu tố như tuổi, hoạt động thể lực, lượng chất xơ, trình độ học vấn của mẹ và BMI của mẹ (p < 0,04) Tương tự, nghiên cứu của Gaylis năm 2017 trên 1.212 trẻ vị thành niên tại California, Hoa Kỳ, cho thấy trẻ thừa cân tiêu thụ thịt đỏ, thịt đã chế biến và phô-mai nhiều hơn trẻ có cân nặng bình thường (p < 0,05).

1.2.2.2 Hoạt động thể lực và hành vi tĩnh tại:

Hoạt động thể lực là yếu tố quan trọng giúp trẻ tiêu hao năng lượng, từ đó duy trì sự cân bằng năng lượng trong cơ thể Việc giảm thiểu hoạt động thể chất hoặc gia tăng hành vi tĩnh tại có thể dẫn đến tình trạng béo phì ở trẻ em.

Nghiên cứu của Gaylis năm 2017 trên 1.212 trẻ vị thành niên tại California, Hoa Kỳ cho thấy không có sự khác biệt giữa hoạt động thể lực và tình trạng tăng huyết áp Ngược lại, một nghiên cứu cắt ngang tại Ethiopia cùng năm, với 546 trẻ em, cho thấy tình trạng tăng huyết áp ở trẻ ít vận động thể lực cao gấp 3,7 lần so với những trẻ khác (OR = 3,7; KTC 95% = 1,06).

- 13,02), ở trẻ có đời sống tĩnh tại cao gấp 3,6 lần (OR = 3,64; KTC 95% = 1,39 - 9,5) 36

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Vân Phương năm 2016 cho thấy trong số 2.024 học sinh cấp 2 tại TP HCM, nhóm trẻ 11-12 tuổi có thời gian sử dụng máy tính ≥ 2 giờ có tỷ lệ thừa cân - béo phì (OR hc = 1,48, KTC 95% = 1,09 – 1,99, p < 0,02) Nghiên cứu cắt ngang của Phan Hướng Dương năm 2020 trên ba miền Việt Nam cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian vận động giữa các nhóm học sinh với cân nặng bình thường (52 phút/ngày), thừa cân (58 phút/ngày) và béo phì (66 phút/ngày) (p < 0,05) Ngoài ra, có sự khác biệt đáng kể về thời gian chơi game hàng ngày (p < 0,05), nhưng không có sự khác biệt về thời gian xem tivi và tình trạng thừa cân-béo phì Nghiên cứu của Tô Gia Quyền năm 2020 trên học sinh lớp 5 tại 8 trường tiểu học ở TP HCM cũng xác nhận những xu hướng tương tự.

TC – BP trung bình dành thêm khoảng 1,5 giờ mỗi tuần để học thêm so với nhóm cân nặng bình thường vào các ngày trong tuần (p < 0,05)

1.3 Hậu quả của thừa cân – béo phì lên sức khoẻ trẻ em o Nguy cơ sức khỏe ngắn hạn

Béo phì tuổi nhỏ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe khi trưởng thành bao gồm: 2,4-6,52

• Tăng huyết áp và mỡ máu cao, là các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch

• Tăng nguy cơ bị rối loạn dung nạp đường, đề kháng insulin, đái tháo đường tuýp 2

• Vấn đề đường thở, như suyễn hay ngưng thở khi ngủ

• Bệnh lý về cơ xương khớp

• Bệnh gan nhiễm mỡ, và trào ngược dạ dày thực quản

• Bệnh lý tâm thần như rối loạn lo âu và trầm cảm

• Tự kỷ và chất lượng cuộc sống kém

• Có khuynh hướng bạo lực o Nguy cơ sức khỏe lâu dài

Các nghiên cứu về tình trạng thừa cân - béo phì trên thế giới và Việt Nam

Nghiên cứu của Ahluwalia trên 25 quốc gia cho thấy tỷ lệ thừa cân ở trẻ trai gia tăng mạnh mẽ ở 13 nước, trong khi tỷ lệ thừa cân ở trẻ gái cũng tăng đáng kể ở 12 nước, chủ yếu là các nước Châu Âu Chỉ có 8 quốc gia duy trì tỷ lệ thừa cân ổn định trong 8 năm qua, và không có quốc gia nào ghi nhận xu hướng giảm.

Từ năm 1980 đến 2013, một nghiên cứu tổng quan trên 183 quốc gia cho thấy tỷ lệ tình trạng thừa cân - béo phì (TC – BP) ở trẻ em và vị thành niên có xu hướng gia tăng, đặc biệt tại các nước đang phát triển, với tỷ lệ tăng từ 8,1% (KTC 95% = 7,7% - 8,6%) lên 12,9% (KTC 95% = 12,3%).

-13,5%) đối với trẻ trai và từ 8,4% (KTC 95% = 8,1% - 8,8%) đến 13,4% (KTC 95%

Vào năm 2013, tỷ lệ thai chết lưu và sinh non ở trẻ gái từ 10 đến 14 tuổi đạt 13,0% - 13,9% Trong nhóm tuổi này, tỷ lệ thai kỳ ở vị thành niên chiếm 26% – 28% tại các nước phát triển và 15% tại các nước đang phát triển, cao hơn so với nhóm tuổi từ 15 đến 19 tuổi, với tỷ lệ lần lượt là 21% – 23% và 10% – 11%.

Một phân tích tổng hợp trên 2.416 nghiên cứu từ 200 quốc gia cho thấy xu hướng BMI trung bình của trẻ em từ 5-19 tuổi trong giai đoạn 1975-2016 Kết quả cho thấy xu hướng BMI ổn định ở Tây Bắc Châu Âu, các khu vực nói tiếng Anh và khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có thu nhập cao Trong khi đó, chỉ số BMI đã gia tăng nhanh chóng ở Đông Á và Nam Á cho cả trẻ trai và trẻ gái, cũng như ở Đông Nam Á đối với trẻ trai.

Báo cáo Khảo sát hoạt động thể chất và dinh dưỡng năm 2015 tại trường New South Wales, Úc cho thấy 24,5% trẻ em và vị thành niên gặp vấn đề về thể chất và béo phì Đặc biệt, trẻ em trong các gia đình có mức kinh tế - xã hội thấp và trung bình có nguy cơ cao hơn.

TC – BP hơn (lần lượt với tỷ lệ 33,7%, và 23,4%) so với trẻ thuộc gia đình có mức kinh tế - xã hội cao (19,3%)

Hình 1.3 Xu hướng thừa cân – béo phì ở trẻ em và vị thành niên 5 – 16 tuổi ở

New South Wales (PHS và SPANS) hoặc 5 – 17 tuổi (AHS/NHS)

Nguồn: Theo Trung tâm Sức Khoẻ Dân số, 2015 63

Từ năm 1991 đến 2016, xu hướng thừa cân - béo phì ở trẻ em đã có sự khác biệt rõ rệt trên toàn cầu, với tỷ lệ cao nhất ghi nhận tại Mỹ (hơn 40% vào năm 2016) và ở các nước phát triển như New Zealand, Canada và Úc Trong khi đó, tình trạng thừa cân - béo phì ở trẻ em tại các nước đang phát triển cũng đang gia tăng với tỷ lệ cao hơn nhiều.

Hình 1.4 Xu hướng thừa cân – béo phì ở trẻ em và vị thành niên 5 – 16 tuổi ở các nước phát triển trên thế giới qua các năm

Nguồn: Theo NCD Risk Factor Collaboration, 2017 64

Hình 1.5 Tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ em và vị thành niên 5 – 16 tuổi ở các nước phát triển trên thế giới, năm 2016

Nguồn: Theo NCD Risk Factor Collaboration, 2017 64

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ thừa cân - béo phì ở trẻ em và vị thành niên từ 5 đến 19 tuổi đã tăng từ 4% vào năm 1975 lên hơn 18% vào năm 2016, tương đương với hơn 340 triệu trẻ em và vị thành niên trong độ tuổi này bị thừa cân - béo phì vào năm 2016.

Một tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp 38 được thực hiện để ước tính tỷ lệ

Từ các nghiên cứu công bố từ tháng 1/1999 đến 30/5/2017, tỷ lệ thừa cân ở trẻ em (5–12 tuổi) và vị thành niên (12–19 tuổi) tại các nước Châu Á được ghi nhận là 14,6% theo tiêu chuẩn CDC, 17,0% theo tiêu chuẩn IOTF và 9,8% theo tiêu chuẩn WHO Các con số này cho thấy sự khác biệt trong đánh giá tỷ lệ thừa cân, với độ không đồng nhất thấp giữa các nghiên cứu.

Tại Việt Nam, nghiên cứu dinh dưỡng gần đây cho thấy sự chuyển tiếp rõ rệt trong chế độ ăn uống Mặc dù tỷ lệ suy dinh dưỡng vẫn còn cao, nhưng tình trạng thừa cân và béo phì cũng đang gia tăng, tạo ra những thách thức mới cho sức khỏe cộng đồng.

BP ở trẻ em cũng tăng rất nhanh trong những năm gần đây, nhất là ở các thành phố lớn

Tại TP HCM, nghiên cứu về tình trạng thừa cân - béo phì (TC – BP) ở trẻ vị thành niên cho thấy tỷ lệ TC – BP của học sinh THCS độ tuổi 14 là 15,5% vào năm 2007 Năm 2010, tỷ lệ này tăng lên 23,6% (thừa cân) và 4,8% (béo phì) ở học sinh 11 tuổi Đến năm 2016, tỷ lệ TC – BP chung ở học sinh lớp 5 đã đạt 52,7% Nghiên cứu năm 2018 ghi nhận tỷ lệ TC – BP ở trẻ 11-14 tuổi là 17,1% (thừa cân) và 5,4% (béo phì) theo tiêu chuẩn IOTF Cuối năm 2019, tỷ lệ TC – BP tiếp tục cao với 41,9% (thừa cân) và 16% (béo phì) theo WHO Tổng điều tra dinh dưỡng năm 2019-2020 cho thấy tỷ lệ TC – BP ở học sinh từ 5-19 tuổi đã tăng từ 8,5% năm 2010 lên 19,0% năm 2020, với tỷ lệ ở khu vực thành thị là 26,8%, nông thôn 18,3% và miền núi 6,9%.

Đặc điểm lứa tuổi vị thành niên

Vị thành niên là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển sự tự lập, khi trẻ bắt đầu tách ra khỏi sự kiểm soát của người lớn Sự thay đổi về mặt sinh học khiến trẻ vị thành niên có nhu cầu khẳng định bản thân, dẫn đến những thay đổi trong tính cách và hành vi Trong giai đoạn này, trẻ thường ít phụ thuộc vào cha mẹ, chuyển từ sinh hoạt gia đình sang các mối quan hệ bạn bè và tín ngưỡng, nhằm đạt được sự độc lập, đôi khi còn thể hiện sự chống đối với cha mẹ.

1.5.2 Vai trò của nhóm bạn đồng trang lứa:

Khi bước vào giai đoạn vị thành niên, trẻ em và cha mẹ thường có sự khác biệt về trang phục, ngoại hình, cách cư xử, sở thích và mối quan tâm Trong thời gian này, trẻ tìm thấy sự đồng điệu với nhóm bạn cùng tuổi, dẫn đến việc hình thành các nhóm bạn đồng trang lứa một cách tự nhiên Những nhóm này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ đưa ra quyết định, lập kế hoạch và hỗ trợ trong những tình huống căng thẳng.

Trẻ vị thành niên không có nhóm bạn bè đồng trang lứa dễ cảm thấy cô lập và khác biệt, dẫn đến nguy cơ cao hơn về hành vi không phù hợp hoặc chống đối xã hội Ngược lại, việc quá phụ thuộc vào nhóm đồng trang lứa cũng có thể kích thích hành vi chống đối xã hội.

1.5.3 Đặc điểm liên quan hành vi nguy cơ tăng thừa cân - béo phì: thói quen vận động và ăn uống

Hiện nay, trẻ vị thành niên đang gặp phải tình trạng giảm sút nghiêm trọng về vận động thể lực và gia tăng hành vi tĩnh tại Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ vị thành niên không đạt được khuyến nghị tối thiểu 60 phút hoạt động thể lực cường độ vừa và mạnh mỗi ngày.

Khoảng 1/3 thời gian thức của trẻ em được dành cho các hoạt động tĩnh tại, trong khi chế độ ăn uống thường chứa nhiều năng lượng từ thực phẩm chế biến sẵn và ít rau củ.

Theo báo cáo của Trung tâm Sức khoẻ Dân số New South Wales, Úc, trong giai đoạn 2017-2018, tỷ lệ trẻ em từ 2-15 tuổi tiêu thụ 1-2 phần trái cây mỗi ngày đã giảm xuống còn 64% Bên cạnh đó, trẻ em từ 5-15 tuổi cũng có xu hướng giảm hoạt động thể lực.

60 phút trở lên mỗi ngày (ngoài giờ học) chỉ còn 24,2% 63

Lứa tuổi vị thành niên thường duy trì thói quen không lành mạnh, dẫn đến lối sống ít vận động khi trưởng thành Điều này có thể gây ra các bệnh lý mãn tính không lây liên quan đến béo phì, như tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, bệnh mạch vành và hội chứng chuyển hóa.

Lứa tuổi vị thành niên cần được ưu tiên cho các can thiệp cộng đồng, đặc biệt là những can thiệp dựa vào bạn bè đồng trang lứa Điều này giúp ngăn ngừa hiệu quả các hành vi lối sống không lành mạnh và tình trạng tăng nhanh của bệnh tật, từ đó giảm thiểu nguy cơ hình thành các bệnh mãn tính không lây khi trưởng thành.

Học thuyết thay đổi hành vi áp dụng cho chương trình can thiệp

Nhiều lý thuyết hành vi được áp dụng trong nâng cao sức khỏe, nhưng thường chỉ chú trọng vào việc khởi đầu hành vi mà không xem xét đến việc duy trì hành vi đó Mục tiêu thực sự của sức khỏe cộng đồng là duy trì hành vi, không chỉ bắt đầu Thuyết nhận thức xã hội của Bandura, được phát triển từ năm 1977 và đổi tên vào năm 1986, nhằm giải thích cách mọi người điều chỉnh hành vi thông qua kiểm soát và củng cố, giúp duy trì hành vi mục tiêu theo thời gian Do đó, thuyết này được chọn làm nền tảng cho chương trình can thiệp nhằm thay đổi hành vi trong cộng đồng thanh thiếu niên, với hiệu quả có thể duy trì lâu dài.

1.6.1 Thuyết nhận thức xã hội

Năm cấu trúc đầu tiên của thuyết nhận thức xã hội được xây dựng dựa trên thuyết học tập xã hội, với việc bổ sung cấu trúc năng lực bản thân khi thuyết này phát triển Các cấu trúc chính của thuyết nhận thức xã hội bao gồm:

1.6.1.1 Sự tương tác qua lại giữa ba yếu tố Đây là khái niệm trung tâm của thuyết nhận thức xã hội Điều này đề cập đến sự tương tác qua lại của các yếu tố cá nhân (tuổi tác, nhận thức, kinh nghiệm trước đây…), yếu tố môi trường (cách tiếp cận các nguồn lực, sự an toàn, sự hỗ trợ từ gia đình/bạn bè,…) và các khía cạnh của hành vi (sức mạnh của hành vi, kết quả đạt được do thực hành hành vi, năng lực thực hiện hành vi…)

1.6.1.2 Năng lực hành vi Điều này đề cập đến khả năng thực tế của một người để thực hiện một hành vi thông qua kiến thức và kỹ năng cần thiết Để thực hiện thành công một hành vi, một người phải biết làm gì và làm như thế nào Mọi người học hỏi từ hậu quả của hành vi của họ

1.6.1.3 Học tập quan sát Điều này khẳng định rằng mọi người có thể chứng kiến và quan sát một hành vi do người khác thực hiện, sau đó tái tạo những hành động đó Điều này thường được thể hiện thông qua "làm mẫu" các hành vi Nếu các cá nhân thấy một hành vi được thể hiện thành công, họ cũng có thể hoàn thành hành vi đó một cách thành công Gồm

Để học một điều gì đó hiệu quả, việc tập trung là rất quan trọng; nếu chúng ta có khả năng tập trung tốt, khả năng tiếp thu sẽ cao hơn, ngược lại, sự phân tán sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập Nhiều yếu tố có thể tác động đến khả năng tập trung, chẳng hạn như khi chúng ta cố gắng bắt chước một mô hình mẫu hấp dẫn, đầy màu sắc hoặc có những hứa hẹn khả thi, điều này sẽ thu hút sự chú ý của chúng ta hơn Đặc biệt, những mô hình mẫu gần gũi với đối tượng sẽ làm tăng mức độ tập trung Những yếu tố này đã dẫn dắt Bandura trong việc nghiên cứu ảnh hưởng của truyền hình đối với trẻ em.

Giữ lại là khả năng lưu giữ trí nhớ về những gì chúng ta đã chú ý Giai đoạn này liên quan đến việc lưu trữ chuỗi hình ảnh và ngôn ngữ, giúp chúng ta nhớ lại những gì đã thấy thông qua các mô hình hình ảnh trong tâm thức hoặc mô tả bằng từ ngữ Khi cần, chúng ta có thể truy cập và tái hiện những dữ kiện đã lưu trữ bằng hành vi của chính mình.

Lúc này, cá nhân chuyển tải hình ảnh từ hệ tâm thức hoặc mô tả ngôn ngữ thành hành vi thực tế Điều này cho phép mỗi người có khả năng lập lại và tái diễn hành vi ban đầu, vốn là mô hình mẫu để chúng ta bắt chước.

➢ Động cơ: Là một bộ phận quan trọng trong quá trình học tập một thao tác mới

Mô hình mẫu hấp dẫn, trí nhớ và khả năng bắt chước là những yếu tố quan trọng trong quá trình học tập Tuy nhiên, nếu không có lý do rõ ràng để bắt chước, việc học tập sẽ không đạt hiệu quả cao.

1.6.1.4 Củng cố Điều này đề cập đến các phản ứng bên trong hoặc bên ngoài đối với hành vi của một người ảnh hưởng đến khả năng tiếp tục hoặc ngừng hành vi Sự củng cố có thể tự bên trong mỗi người hoặc trong môi trường, có thể tích cực hoặc tiêu cực

1.6.1.5 Kỳ vọng Điều này đề cập đến những hậu quả dự kiến của hành vi của một người Mọi người dự đoán hậu quả của hành động của họ trước khi thực hiện hành vi và những hậu quả dự đoán này có thể ảnh hưởng đến việc hoàn thành thành công hành vi Kỳ vọng chủ yếu xuất phát từ kinh nghiệm trước đây, nhưng kỳ vọng tập trung vào giá trị được đặt vào kết quả và mang tính chủ quan đối với cá nhân

1.6.1.6 Tự tin vào năng lực bản thân Điều này đề cập đến mức độ tự tin của một người vào khả năng thực hiện thành công một hành vi của mình Năng lực bản thân là duy nhất có trong thuyết nhận thức xã hội thời điểm đó Sau này, các thuyết khác đã thêm cấu trúc này vào, chẳng hạn như thuyết về hành vi có kế hoạch Sự tự tin vào năng lực bản thân bị ảnh hưởng bởi khả năng cụ thể của một người và các yếu tố cá nhân khác, cũng như bởi các yếu tố môi trường (rào cản và người hỗ trợ)

Mục tiêu chính của thuyết nhận thức xã hội là hiểu và dự đoán hành vi của cá nhân cũng như nhóm, xác định các phương pháp có thể thay đổi hành vi Thuyết này thường được áp dụng trong các can thiệp nhằm phát triển nhân cách, điều trị bệnh lý hành vi và nâng cao sức khỏe.

Hình 1.6 Khái niệm trung tâm của thuyết nhận thức xã hội

Albert Bandura đã phát hiện ra rằng sự nổi loạn ở trẻ em tuổi dậy thì có mối liên hệ chặt chẽ với môi trường sống của chúng Ông kết luận rằng môi trường không chỉ ảnh hưởng đến hành vi của con người, mà hành vi cũng có khả năng tạo ra và thay đổi môi trường Hiện tượng này được Bandura gọi là quyết định hỗ tương hai chiều, nhấn mạnh sự tương tác qua lại giữa thế giới xung quanh và hành vi con người.

Bandura xây dựng học thuyết của mình hiệu quả về hai điểm mà nhiều người cho rằng đấy là hai điểm nổi bật đối với con người:

✓ Học tập thông qua quan sát để tạo ra những củng cố thay thế

Bắt chước hành vi của người khác, bất kể có sự củng cố hay không, là một khía cạnh quan trọng trong nghiên cứu tâm lý học Một trong những nghiên cứu nổi bật của Bandura là thí nghiệm với búp bê bobo, trong đó một nữ sinh viên đã được ghi hình đánh đập một con búp bê Hành động này không chỉ thể hiện sự bắt chước mà còn nhấn mạnh cách mà hành vi bạo lực có thể được truyền đạt và tái hiện trong xã hội.

Các mô hình can thiệp thay đổi hành vi lối sống cho trẻ vị thành niên

1.7.1 Can thiệp dựa trên trường học_ giáo viên

Nghiên cứu của De Villiers năm 2016 đã tiến hành can thiệp chương trình HealthKick trên 998 học sinh lớp 4 tại 16 trường tiểu học ở Nam Phi Chương trình này tập trung vào phát triển chính sách dinh dưỡng học đường lành mạnh, tăng cường sự sẵn có của thực phẩm tốt cho sức khỏe, khởi xướng vườn rau tại trường và giáo dục dinh dưỡng Giáo viên được đào tạo để tổ chức 15 phút vận động mỗi ngày và một hoạt động về ăn uống lành mạnh hàng tháng, kèm theo sổ tay giảng dạy và tài liệu về vận động thể chất Can thiệp kéo dài 3 năm, đánh giá hành vi dinh dưỡng và tình trạng thể chất - huyết áp Kết quả cho thấy nhóm can thiệp có sự cải thiện về kiến thức dinh dưỡng so với nhóm chứng.

Nghiên cứu cho thấy can thiệp giáo dục dinh dưỡng tích hợp trong chương trình giảng dạy có tác động tích cực đến sự tự tin bản thân (p = 0,039) và một số yếu tố khác (p = 0,011), nhưng không cải thiện hành vi dinh dưỡng hay tình trạng cân nặng của trẻ Thời gian can thiệp và theo dõi dài hạn là điểm mạnh của nghiên cứu, củng cố hiệu quả của mô hình HealthKick đã được chuẩn hóa Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng can thiệp vận động với cường độ và tần suất thấp không đủ mạnh để ảnh hưởng đến chỉ số BMI của trẻ.

Năm 2020, Buru K đã tiến hành một nghiên cứu tổng quan hệ thống nhằm đánh giá hiệu quả của các can thiệp dựa vào trường học trong việc phòng ngừa béo phì ở thanh thiếu niên tại Úc.

Có ba kết quả chính từ can thiệp được xác định: hoạt động thể lực, hoạt động tĩnh tại và chế độ dinh dưỡng Hoạt động thể lực được nghiên cứu trong 11 nghiên cứu, hoạt động tĩnh tại trong 9 nghiên cứu, và 6 nghiên cứu kết hợp cả ba kết quả Trong 12 nghiên cứu về BMI, chỉ 4 nghiên cứu cho thấy giảm đáng kể BMI ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng, trong khi 8 nghiên cứu còn lại không ghi nhận thay đổi đáng kể nào Đối với BMIz, trong 5 nghiên cứu, có 3 nghiên cứu ghi nhận mức giảm đáng kể ở nhóm can thiệp Ngoài ra, trong 9 nghiên cứu về tác động của can thiệp đối với chất béo cơ thể, 3 nghiên cứu báo cáo giảm lượng mỡ cơ thể đáng kể so với nhóm chứng.

Dự án dinh dưỡng được phối hợp thực hiện bởi Viện dinh dưỡng Quốc gia và

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai một dự án nhằm chuẩn hóa thực đơn dinh dưỡng cho học sinh tiểu học bán trú, với mục tiêu cung cấp thực đơn cân bằng, đa dạng và ngon miệng Dự án cung cấp phần mềm thân thiện giúp nhà trường dễ dàng xây dựng thực đơn phù hợp với văn hóa ẩm thực địa phương và tiết kiệm thời gian quản lý bữa ăn Phần mềm được phát triển với sự tư vấn của Viện Dinh dưỡng quốc gia và đã nhận được phản hồi tích cực từ phụ huynh và nhà trường, giúp học sinh thay đổi thói quen ăn uống theo hướng khoa học và lành mạnh hơn Từ tháng 1/2017, các trường tiểu học bán trú trên toàn quốc sẽ được tiếp cận phần mềm miễn phí với 120 thực đơn và 360 món ăn cân bằng dinh dưỡng Tính đến tháng 3/2022, đã có hơn 4.200 trường áp dụng phần mềm này, đồng thời giáo dục kiến thức dinh dưỡng cho học sinh thông qua các tài liệu trực quan Kết quả khảo sát cho thấy 97% học sinh đã ăn đa dạng thực phẩm và 59% hình thành thói quen ăn nhiều rau củ Tuy nhiên, dự án chỉ tập trung vào dinh dưỡng trong bữa trưa và chưa ghi nhận tác động đến BMI hay thói quen ăn uống tại nhà.

Các mô hình can thiệp dựa vào trường học hoặc giáo viên vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc cải thiện chỉ số BMI của trẻ vị thành niên.

1.7.2 Can thiệp dựa trên gia đình - cộng đồng

Các can thiệp chống béo phì dựa trên nền tảng gia đình có thể hiệu quả đối với thanh thiếu niên, đặc biệt là ở nhóm trẻ em gái người Mỹ gốc Phi từ 5–18 tuổi, nơi có tỷ lệ béo phì cao Nghiên cứu tổng quan đã xem xét 27 nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của gia đình trong việc cải thiện tình trạng béo phì Các can thiệp này khác nhau về hình thức, mức độ tham gia và chiến lược can thiệp hành vi, thường nhắm đến cả cha mẹ và con cái Mặc dù nhiều chiến lược có tiềm năng lý thuyết, nhưng tác động thực tế lên hành vi liên quan đến cân nặng thường không đáng kể Dữ liệu hiện có không đủ để xác định phương pháp tối ưu cho sự tham gia của gia đình trong các can thiệp ngăn ngừa và điều trị béo phì So với các can thiệp trong trường học, các can thiệp gia đình có mức bằng chứng thấp hơn về hiệu quả.

Nghiên cứu của Xu, F và các cộng sự năm 2017 đã thực hiện can thiệp dinh dưỡng và hoạt động thể lực cho trẻ em thừa cân hoặc béo phì cùng với người chăm sóc Tổng cộng 146 trẻ và gia đình được tham gia chương trình can thiệp miễn phí tại cộng đồng Chương trình nhằm khuyến khích hành vi lành mạnh của trẻ thông qua sự tương tác tích cực với gia đình, kéo dài suốt quá trình can thiệp.

Trong 16 tuần, chương trình can thiệp bao gồm các buổi sinh hoạt về vận động thể lực và dinh dưỡng theo nhóm hàng tuần Sau 2 năm, những người tham gia đã giảm đáng kể năng lượng, chất béo, carbohydrate, chất béo bão hòa và natri Mặc dù chỉ số BMI z-score của những người hoàn thành chương trình giảm từ 2,06 ± 0,42 xuống còn 1,95 ± 0,57, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.

Hai nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng nhằm phòng ngừa tăng cân cho trẻ em đều không đạt kết quả mong muốn Fulkerson và cộng sự đã phân bổ ngẫu nhiên 160 gia đình vào nhóm can thiệp và nhóm chứng, tập trung vào việc thay đổi chế độ ăn uống lành mạnh và giảm thời gian xem TV trong bữa ăn Mặc dù có sự can thiệp qua 10 buổi họp nhóm và các cuộc gọi động viên, nhưng không có sự khác biệt đáng kể về chỉ số BMI-z giữa hai nhóm sau 12 và 21 tháng Nghiên cứu của Hull và cộng sự cũng cho thấy kết quả tương tự khi can thiệp cho 136 gia đình gốc Tây Ban Nha thông qua chương trình Familias Saludables Activas, với mục tiêu tăng cường hoạt động thể chất và cải thiện hành vi ăn uống Tuy nhiên, tỷ lệ tăng BMI-z của nhóm can thiệp không khác biệt so với nhóm chứng sau cả theo dõi ngắn hạn và dài hạn Mặc dù có sự gia tăng hoạt động thể lực và giảm thời gian sử dụng thiết bị điện tử ở một số trẻ em tham gia, kết quả tổng thể vẫn không khả quan.

Các nghiên cứu can thiệp dựa trên gia đình và cộng đồng đã chỉ ra những hiệu quả tích cực trong việc thay đổi lối sống cho trẻ vị thành niên Mặc dù vậy, các kết quả vẫn chưa đồng nhất về các chỉ số như giảm tình trạng thai nghén.

BP, tăng thói quen ăn uống lành mạnh và vận động thể lực

1.7.3 Can thiệp dựa vào trường học kết hợp gia đình

Nghiên cứu bán thực nghiệm của Maatoug và cộng sự năm 2015 trên 585 trẻ béo phì và thừa cân tại Tunisia đã can thiệp chế độ ăn uống và vận động thể lực Giáo viên và phụ huynh được đào tạo về quản lý béo phì, trong khi trường học cung cấp thiết bị thể dục Trẻ em tham gia các buổi vận động thể lực và tuân theo chế độ ăn uống lành mạnh hai lần mỗi tuần Can thiệp kéo dài một năm, đánh giá hiệu quả qua thay đổi BMI Kết quả cho thấy giảm BMI đáng kể sau can thiệp, kéo dài 4 tháng sau khi ngừng can thiệp Nhóm chứng cũng ghi nhận giảm BMI nhưng không duy trì được sau 4 tháng Nghiên cứu nhấn mạnh sự kết hợp giữa trường học và gia đình trong can thiệp dinh dưỡng và vận động Tuy nhiên, việc chỉ dựa vào chỉ số BMI để đánh giá có hạn chế trong việc phát hiện thay đổi hành vi vận động và dinh dưỡng.

Nghiên cứu của Ghamman và cộng sự (2017) trên 4.003 học sinh lớp 7 và 9 tại 17 trường trung học ở Tunisia cho thấy can thiệp thay đổi chế độ ăn uống và vận động thể lực thông qua các sự kiện thể dục định kỳ đã mang lại hiệu quả tích cực Các buổi học tương tác do giáo viên tổ chức giúp nâng cao nhận thức về ăn uống lành mạnh và lợi ích của vận động thể lực Kết quả cho thấy nhóm can thiệp có thời gian vận động cao hơn nhóm chứng (p < 0,05) và nhiều trẻ em trong nhóm này đã tăng lượng tiêu thụ trái cây và rau củ đạt ≥ 5 suất mỗi ngày (p = 0,02) Ngoài ra, tỷ lệ tăng cường thể chất - huyết áp (TC – BP) cũng giảm ở nhóm can thiệp (p = 0,036), cho thấy sự hiệu quả của các chỉ số đánh giá khách quan về vận động và dinh dưỡng trong nghiên cứu.

Nghiên cứu của Ngô Thị Xuân năm 2020 tại Bắc Ninh cho thấy can thiệp dinh dưỡng tại trường học trong 30 tuần đã mang lại kết quả tích cực Nhóm can thiệp có thời gian chạy 50m giảm từ 18,3 ± 1,8 giây xuống còn 17 ± 1,8 giây, khoảng cách nhảy xa tăng từ 91,3 ± 6,6 cm lên 97 ± 7 cm, và số lần ngồi xuống – đứng lên trong vòng cũng được cải thiện.

Nghiên cứu cho thấy trong 30 giây, chỉ số tăng từ 21,2 ± 3,8 lần lên 23,8 ± 2,9 lần Nhóm can thiệp có chỉ số BMI giảm từ 23,7 ± 2,7 xuống còn 22,1 ± 2,7 Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc phân tích trước và sau trong từng nhóm mà chưa so sánh sự khác biệt giữa hai nhóm chứng và can thiệp sau khi thực hiện, cũng như không xem xét sự tương tác với yếu tố thay đổi theo thời gian giữa các lần đo.

Vài nét về địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019-2021

Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, giải trí và giáo dục hàng đầu tại Việt Nam Là đô thị đặc biệt trực thuộc trung ương, TP HCM có vai trò quan trọng tương tự như thủ đô Hà Nội trong việc phát triển đất nước.

Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, TP HCM có toạ độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông

• Phía bắc giáp tỉnh Bình Dương

• Phía tây giáp tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An

• Phía đông giáp tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu

• Phía nam giáp Biển Đông và tỉnh Tiền Giang

Vào năm 2021, TP HCM gồm 16 quận, 1 thành phố và 5 huyện, với tổng diện tích 2.095,39 km² Dân số TP HCM đạt 9.166.800 người, chiếm 9,3% tổng dân số Việt Nam, với mật độ dân số trung bình 4.375 người/km², cao nhất cả nước.

Trong năm, TP HCM có hai mùa chính: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 với khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao và lượng mưa nhiều Ngược lại, mùa khô diễn ra từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, đặc trưng bởi khí hậu khô, nhiệt độ cao và ít mưa.

Tp HCM có nhiệt độ trung bình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C

Sự phân bố dân cư tại TP HCM rất không đồng đều, với một số quận như 4, 5, 10 và 11 có mật độ dân số vượt quá 40.000 người/km², trong khi huyện Cần Giờ chỉ có 102 người/km² Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là khoảng 1,07%, nhưng tỷ lệ tăng cơ học lên tới 2,5% Gần đây, dân số ở các quận trung tâm có xu hướng giảm, trong khi các quận vùng ven mới lại chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng do người dân từ trung tâm chuyển ra và người nhập cư từ các tỉnh khác đến sinh sống.

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh

Dân số (người) Hành chính

Gò Vấp 19,73 676.899 16 phường Phú Nhuận 4,88 163.961 13 phường

Bình Chánh 252,56 705.508 1 thị trấn, 15 xã Cần Giờ 704,45 71.526 1 thị trấn, 6 xã

Củ Chi 434,77 462.047 1 thị trấn, 20 xã Hóc Môn 109,17 542.243 1 thị trấn, 11 xã Nhà Bè 100,43 206.837 1 thị trấn, 6 xã

Về hệ thống giáo dục

Tính đến năm học 2021-2022, Thành phố Hồ Chí Minh có tổng cộng 2.355 trường học, bao gồm 1.347 trường công lập và 1.008 trường ngoài công lập, phục vụ hơn 1,6 triệu học sinh Trong đó, có 1,39 triệu học sinh theo học tại các trường công lập và 226.309 học sinh tại các trường ngoài công lập Cụ thể, thành phố có khoảng 1.346 trường mầm non, 500 trường tiểu học, 280 trường THCS, 199 trường THPT và 28 trung tâm giáo dục thường xuyên Đặc biệt, năm học 2020-2021 ghi nhận sự gia tăng đáng kể số học sinh ở cấp THCS, chủ yếu tập trung tại các quận 9, 12, Gò Vấp, Thủ Đức, Bình Tân và các huyện ngoại thành như Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi, do quá trình đô thị hóa nhanh và sự gia tăng dân số cơ học.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Đề tài được thực hiện với 02 thiết kế nghiên cứu:

❖ Nghiên cứu can thiệp: Can thiệp cộng đồng theo cụm ngẫu nhiên có nhóm chứng (cluster RCT)

Nghiên cứu bao gồm 2 nhóm: o Nhóm chứng: học theo chương trình kỹ năng sống cho HS khối lớp 6 của Sở

Giáo Dục và Đào Tạo TP HCM đã triển khai một bài học quan trọng về kiến thức và kỹ năng lựa chọn sản phẩm sạch, nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho cá nhân và gia đình Nhóm can thiệp cũng bao gồm chương trình kỹ năng sống dành cho học sinh lớp 6 của Sở, giúp nâng cao nhận thức và thực hành an toàn thực phẩm trong cộng đồng.

Giáo dục và Đào tạo TP HCM đã triển khai các chương trình can thiệp nhằm hỗ trợ học sinh thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ Các trường học áp dụng những can thiệp này để nâng cao hiệu quả giáo dục, tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện hơn.

Đối tượng nghiên cứu

Dân số mục tiêu: Học sinh lớp 6 các trường THCS của TP HCM

Dân số chọn mẫu: Học sinh lớp 6 các trường THCS công lập và bán công của TP HCM

Học sinh lớp 6 các trường THCS công lập và bán công của TP HCM được PHHS đồng ý cho tham gia nghiên cứu

Học sinh lớp 6 tại các trường THCS công lập và bán công ở TP HCM đang gặp phải nhiều vấn đề sức khỏe, bao gồm dị tật bẩm sinh, các bệnh lý về thận như hội chứng thận hư và viêm cầu thận, cùng với các bệnh lý về gan Những vấn đề này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bình thường của cơ thể trẻ.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang: từ tháng 09/2018 đến tháng 12/2020

Nghiên cứu can thiệp: từ tháng 09/2018 đến tháng 04/2021

Tại các trường THCS nội và ngoại thành của TP HCM

Cỡ mẫu của nghiên cứu

Công thức tính cỡ mẫu áp dụng cho thiết kế nghiên cứu nhằm khảo sát một tỉ lệ (mục tiêu chính 1): n =

❖ p: tỷ lệ học sinh THCS thừa cân – béo phì ước lượng trong dân số

Kết quả điều tra năm 2014 của Trung tâm Dinh dưỡng TP HCM cho thấy tỷ lệ thừa cân - béo phì (TC – BP) ở học sinh lớp 6 tại các trường quận nội thành là 40%, trong khi ở các trường huyện ngoại thành chỉ đạt 24%.

Trong nghiên cứu này, sai số ước lượng được xác định là d = 0,05 Áp dụng công thức tính cỡ mẫu để khảo sát tỷ lệ TC – BP ở các vùng nội và ngoại thành, cỡ mẫu tối thiểu cho học sinh THCS ở các quận nội thành là n1 = 368 học sinh, trong khi đó, cỡ mẫu tối thiểu cho học sinh THCS ở các huyện ngoại thành là n2 = 280 học sinh.

Phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn yêu cầu tăng cỡ mẫu để giảm thiểu ảnh hưởng của thiết kế cụm Công thức tính hiệu ứng thiết kế được áp dụng trong trường hợp này.

Hiệu ứng thiết kế được tính theo công thức: 1 + (k – 1) x icc, trong đó k là số học sinh trung bình trong một cụm trường, với khoảng 85 học sinh/trường (tương đương 2 lớp 6/trường) Hệ số tương quan nội cụm (icc) được xác định là 0,0104, dựa trên báo cáo từ nghiên cứu hiệu ứng cụm theo trường học và tương quan cụm cho trẻ em và vị thành niên đã được điều chỉnh theo tuổi và giới.

Như vậy, cỡ mẫu là o Vùng quận nội thành n’1 = 368 x 1,8736 = 689 học sinh o Vùng huyện ngoại thành n’2 = 280 x 1,8736 = 525 học sinh

Dự trù tỷ lệ không phản hồi 10%,

Tổng số học sinh cần = 689

Mỗi cụm trường, chúng tôi chọn lấy khoảng 85 học sinh lớp 6 mỗi trường (trung bình 40 – 50 học sinh/ lớp, chọn 2 lớp/ trường) nên số trường nội thành cần là 766 :

85 = 9 trường, và số trường ngoại thành cần là 583 : 85 = 7 trường

Vậy tổng cần điều tra trên 16 trường THCS, trong đó 9 trường nội thành và 7 trường ngoại thành

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu cụm, 2 giai đoạn kết hợp phân tầng

Phân tầng: TP HCM được chia thành 2 tầng:

Tầng thứ 1 của thành phố bao gồm 19 quận nội thành, cụ thể là Quận 1, Quận 2, Quận 3, Quận 4, Quận 5, Quận 6, Quận 7, Quận 8, Quận 9, Quận 10, Quận 11, Quận 12, Quận Tân Bình, Quận Tân Phú, Quận Phú Nhuận, Quận Bình Thạnh, Quận Gò Vấp, Quận Bình Tân và Quận Thủ Đức.

• Tầng thứ 2: gồm 5 huyện ngoại thành: Cần Giờ, Củ Chi, Hóc môn, Nhà Bè, Bình Chánh

Giai đoạn 1 của quá trình nghiên cứu bao gồm việc lựa chọn cụm trường, trong đó có 9 trường THCS nằm trong các quận nội thành và 7 trường THCS thuộc các huyện ngoại thành Phương pháp được áp dụng là PPS, tức là "xác suất tỷ lệ với độ lớn dân số", nhằm đảm bảo tính đại diện và chính xác cho mẫu nghiên cứu.

Danh sách các trường học tại TP HCM được lập theo tổng số học sinh của mỗi trường, phân loại theo từng tầng Dữ liệu này được căn cứ vào số liệu thống kê của Sở Giáo dục TP HCM trong năm học 2018.

+ Tính số học sinh lớp 6 THCS công lập cộng dồn của từng tầng:

+ Tính k (khoảng cách cụm) = Tổng số học sinh cộng dồn / Số cụm

+ Chọn số ngẫu nhiên đầu tiên là X nội thành = 251, và chọn ra các trường có số học sinh cộng dồn chứa các số X, X + k, X + 2k, X + 3k…

+ Vậy chọn ra 9 trường thuộc quận nội thành gồm:

Tên trường Quận/ Huyện Đức Trí 1

Ngô Sĩ Liên Tân Bình

Trần Quang Khải Tân Phú

Lý Tự Trọng Gò Vấp Đống Đa Bình Thạnh

+ Chọn số ngẫu nhiên đầu tiên là X ngoại thành = 680, và chọn ra các trường có số học sinh cộng dồn chứa các số X, X + k, X + 2k, X + 3k…

+ Vậy 7 trường thuộc huyện ngoại thành bao gồm:

Nguyễn Bỉnh Khiêm Nhà Bè

Tân Quý Tây Bình Chánh

Lý Chính Thắng Hóc Môn

Nguyễn An Khương Hóc Môn

An Thới Đông Cần Giờ

Giai đoạn 2: Chọn lớp: trong mỗi trường, chọn ra 2 lớp 6 (85 HS) bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

+ Tại mỗi trường đã chọn, lập danh sách các lớp 6, và bốc thăm chọn ra ngẫu nhiên

2 lớp 6 (tổng khoảng 85 học sinh)

Sơ đồ 2.1 Qui trình nghiên cứu giai đoạn cắt ngang 2.4.2 Nghiên cứu can thiệp:

Với trung bình mỗi lớp có 40 – 45 học sinh, cần lấy khoảng 85 học sinh/ trường, m = 85 (tương đương 2 lớp 6) Độ mạnh là 80% và sai lầm alpha tối đa 5% (phép kiểm 2 đuôi)

❖ Mục tiêu chính 2: sự thay đổi hành vi ăn uống sau can thiệp

Chúng tôi ước tính cỡ mẫu can thiệp dựa trên hệ số tương quan nội cụm (icc) cho kết cục số phần trái cây tiêu thụ/ngày của người Việt Nam là 0,444 Sau can thiệp, dự kiến số phần trái cây tiêu thụ/ngày của nhóm can thiệp sẽ tăng lên 0,7 phần, trong khi trước can thiệp, số phần tiêu thụ/ngày của nhóm này khoảng 2,2 phần.

Trong nghiên cứu cắt ngang giai đoạn 1 trước can thiệp, nhóm chứng tiêu thụ khoảng 2,3 phần trái cây mỗi ngày với độ lệch chuẩn là 0,45 phần/ngày, trong khi lượng trái cây tiêu thụ ở nhóm can thiệp tăng lên 0,45 phần/ngày Để tính cỡ mẫu cho nghiên cứu RCT cụm, áp dụng lệnh clustersampsi với các tham số mu1 (0.7), mu2 (0), sd1 (0.45), sd2 (0.45), m (85), rho (0.444) và beta (0.8).

➔ Cần 340 học sinh mỗi nhóm, và cần 4 cụm trường cho mỗi nhóm

❖ Mục tiêu chính 3: sự thay đổi hành vi vận động sau can thiệp

Trong đó: o Hệ số tương quan nội cụm icc của MET cho người Việt Nam = 0,351 105 o Theo qui ước từ nghiên cứu của Regina trên 51 quốc gia 107 :

• 8 MET: HĐTL mạnh o Thời gian HĐTL từ vừa – mạnh của nhóm can thiệp được kỳ vọng tăng lên

Theo nghiên cứu cắt ngang giai đoạn 1, thời gian hoạt động thể lực (HĐTL) trung bình là 41 phút ± 9 phút/ngày, tương đương với 90 MET-phút/ngày khi áp dụng công thức MET Đối với nhóm chứng, thời gian HĐTL từ mức vừa đến mạnh dự đoán không thay đổi, với kết quả là 61 phút ± 9 phút/ngày, dẫn đến 0 MET-phút/ngày Độ lệch chuẩn được tính là 54 MET-phút/ngày Sử dụng lệnh tính cỡ mẫu cho nghiên cứu RCT cụm, các tham số được áp dụng là mu1(90), mu2(0), sd1(54), sd2(54), m(85), rho(0.351), beta(0.8).

➔ Cần 340 học sinh cho mỗi nhóm, 4 trường cho mỗi nhóm

➔ Vậy cần 680 học sinh cho cả 2 nhóm, bao gồm 4 trường can thiệp và 4 trường chứng

Chúng tôi ước tính tỷ lệ mất dấu sẽ khoảng 5%, dựa trên dữ liệu từ các nghiên cứu can thiệp TC – BP cho trẻ vị thành niên tại trường học, cho thấy tỷ lệ mất dấu thường dưới 3%.

Vậy, tổng mẫu cần khoảng 680

100%−5% = 716 học sinh cho 8 trường, bao gồm 4 trường nhóm can thiệp và 4 trường nhóm chứng

Trong nghiên cứu cắt ngang với 9 trường THCS nội thành, nhóm nghiên cứu đã ngẫu nhiên chọn 4 trường vào nhóm can thiệp và 4 trường vào nhóm chứng.

Định nghĩa biến số

Bảng 2.1 Định nghĩa các biến số

Tên biến số Phân loại Định nghĩa

Biến số phụ thuộc về tình trạng thừa cân-béo phì

Chiều cao (cm) Định lượng Đo bằng thước đo Seca

Cân nặng (kg) Định lượng Đo bằng cân Tanita

Vòng eo (cm) Định lượng Đo bằng thước dây

Vòng mông (cm) Định lượng Đo bằng thước dây

BMI Định lượng = cân nặng (kg)/[chiều cao

(m)] 2 Phân nhóm thừa cân – béo phì Thứ tự Dựa vào BMI theo tiêu chuẩn của IOTF hoặc WHO

Tỷ lệ thừa cân – béo phì (%)

(mục tiêu chính 1) Định tính 0 BMI thuộc phân loại nhẹ cân và bình thường

1 BMI thuộc phân loại thừa cân và béo phì

Biến số độc lập (các yếu tố liên quan): nghiên cứu cắt ngang

Thói quen vận động BCH PAQ

Số lần chơi 1 môn thể thao / tuần

(nêu rõ tên môn thể thao) Định lượng Số lần/ tuần

Tên biến số Phân loại Định nghĩa

Thời gian trung bình mỗi lần chơi môn thể thao đó Định lượng Số phút/ lần

Số lần thực hiện các hoạt động sinh hoạt thường ngày đó/ tuần (nêu rõ tên hoạt động thường ngày đó) Định lượng Số lần/ tuần

Thời gian trung bình mỗi lần thực hiện các sinh hoạt thường ngày đó Định lượng Số phút/ lần

Để tính tổng thời gian chơi thể thao vừa – mạnh mỗi ngày, bạn có thể sử dụng công thức: Thời gian trung bình chơi các môn thể thao mỗi lần nhân với số lần chơi trong tuần Kết quả sẽ cho bạn thời gian chơi môn thể thao mỗi tuần, từ đó dễ dàng xác định thời gian chơi thể thao hàng ngày.

- Thời gian chơi môn thể thao mỗi tuần / 7 = thời gian chơi môn thể thao mỗi ngày

- Theo bảng Compendium, phân loại môn thể thao đó thuộc loại nhẹ - vừa – nặng Tổng thời gian hoạt động sinh hoạt thường ngày vừa – mạnh mỗi ngày

Định lượng thời gian trung bình cho các hoạt động sinh hoạt hàng ngày được tính bằng cách nhân số phút mỗi lần hoạt động với số lần thực hiện trong tuần Việc này giúp xác định tổng thời gian dành cho các hoạt động sinh hoạt thường xuyên trong suốt một tuần.

-Thời gian hoạt động sinh hoạt thường ngày mỗi tuần / 7 thời gian hoạt động sinh hoạt thường ngày mỗi ngày

-Theo bảng Compendium, phân loại hoạt động sinh hoạt thường ngày đó thuộc loại nhẹ

Tổng thời gian hoạt động thể lực vừa – mạnh mỗi ngày

(phút/ ngày) Định lượng = Tổng thời gian chơi thể thao vừa – mạnh mỗi ngày + Tổng thời gian hoạt động sinh hoạt thường ngày vừa – mạnh mỗi ngày

Tên biến số Phân loại Định nghĩa

Tỷ lệ hoạt động thể lực vừa – mạnh mỗi ngày đủ theo khuyến cáo (%) Định tính Phân nhóm tổng thời gian hoạt động thể lực vừa – mạnh mỗi ngày

Thói quen tĩnh tại: BCH PAQ

Số lần thực hiện hoạt động tĩnh tại/ tuần (nêu rõ từng loại hoạt động tĩnh tại) Định lượng Số lần/ tuần

Thời gian trung bình mỗi lần dành cho hoạt động tĩnh tại đó Định lượng Số phút/ lần

Tổng thời gian ngồi trước màn hình trung bình/ ngày Định lượng = thời gian xem TV/ ngày + thời gian chơi vi tính / ngày (Số phút/ ngày)

Tỷ lệ thời gian ngồi trước màn hình đạt khuyến nghị (%) Định tính Thời gian ngồi trước màn hình/ngày

1 Đạt < 120 phút/ ngày Tổng thời gian tĩnh tại trung bình/ ngày trong tuần hoặc cuối tuần Định lượng = thời gian ngồi trước màn hình + thời gian học thêm + ngồi nói chuyện chơi (Số phút/ ngày trong tuần hoặc cuối tuần)

Tỷ lệ hoạt động tĩnh tại mỗi ngày đạt khuyến nghị (%) Định tính Phân nhóm tổng thời gian tĩnh tại trung bình/ ngày trong tuần hoặc cuối tuần

Thói quen ăn uống: BCH FFQ

Tần suất ăn/ uống một loại thực phẩm trong vòng 6 tháng qua

Thứ tự 0 Không bao giờ

4 2-6 lần/tuần Lượng thực phẩm trung bình mỗi lần ăn/ uống

Thứ tự 0 1/4 đơn vị ăn/ uống

Tên biến số Phân loại Định nghĩa

3 1 đơn vị ăn/ uống Đơn vị ăn/ uống: thay đổi tuỳ theo loại thực phẩm (1 ly, 1 dĩa, 1 tô, 1 ổ…)

Tần suất ăn sáng thường xuyên/tuần (%) Định tính 0 Không thường xuyên (< 5 lần/ tuần)

Tần suất uống nước ngọt thường xuyên/tuần (%) Định tính 0 Không thường xuyên (< 5 lần/ tuần)

Tổng năng lượng vào mỗi ngày

Để tính toán năng lượng tiêu thụ hàng ngày (kcal/ngày), bạn cần nhân tần suất tiêu thụ (số lần/ngày) với số đơn vị ăn tiêu thụ mỗi lần (đơn vị ăn), sau đó nhân với số lượng được chuẩn hóa theo một đơn vị ăn (gam) và cuối cùng là năng lượng trong 100 gam (kcal).

Năng lượng tổng cộng hàng ngày được xác định bằng cách tổng hợp năng lượng từ tất cả các loại thực phẩm Những đối tượng có mức năng lượng hàng ngày vượt quá 5000 Kcal hoặc thấp hơn 500 Kcal sẽ bị loại khỏi nghiên cứu do không phù hợp với độ tuổi và sự phát triển của thanh thiếu niên.

Lượng chất dinh dưỡng đa lượng hàng ngày bao gồm chất đạm, chất bột đường và chất béo được tính toán bằng công thức: Định lượng = Tần suất tiêu thụ (số lần/ngày) x Số đơn vị ăn tiêu thụ mỗi lần (đơn vị ăn) x Số lượng chuẩn hóa theo 1 đơn vị ăn (gam).

Trong đó, số liệu về số lượng được chuẩn hoá theo

Tên biến số phân loại và định nghĩa gam cùng năng lượng dinh dưỡng trong 100 gam thực phẩm được trích từ Bảng Thành Phần Thực Phẩm Việt Nam và phần mềm dữ liệu của Trung Tâm Dinh Dưỡng TP HCM Eiyokun.

Biến phụ thuộc (nghiên cứu can thiệp) sự khác biệt giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp về sự thay đổi của các biến số sau:

+ Lượng rau ăn vào/ngày (gam) Định lượng từ BCH FFQ

+ Lượng trái cây ăn vào/ngày (gam) Định lượng từ BCH FFQ

+ Lượng đồ ăn ngọt ăn vào/ngày

(gam) Định lượng từ BCH FFQ

+ Tần suất ăn sáng thường xuyên

(%) ≥ 5 lần/tuần Định tính từ BCH FFQ:

0 Không thường xuyên (< 5 lần/ tuần)

+ Tần suất uống nước ngọt thường xuyên (%) ≥ 5 lần/tuần Định tính từ BCH FFQ:

0 Không thường xuyên (< 5 lần/ tuần)

Hành vi vận động và tĩnh tại

Tên biến số Phân loại Định nghĩa

+ Thời gian trung bình dành cho hoạt động thể lực cường độ từ vừa đến mạnh mỗi ngày (phút/ngày) Định lượng từ BCH PAQ

+ Tổng thời gian trung bình dành cho hoạt động tĩnh tại/ngày

(phút/ngày) trong tuần và vào cuối tuần Định lượng từ BCH PAQ

+ Thời gian trung bình ngồi trước màn hình/ngày (phút/ngày) Định lượng từ BCH PAQ

Phân nhóm thừa cân – béo phì

Thứ tự Dựa vào BMI theo tiêu chuẩn của WHO

Biến số về đặc điểm thông tin chung

Tuổi Định lượng Tính = ngày cân đo – ngày tháng năm sinh (lẻ 1 số thập phân)

Giới tính Định tính 0 Nữ

1 Nam Tình trạng dậy thì Thứ tự Theo hình vẽ (phân độ theo

Bảng câu hỏi về hoạt động tĩnh và thể lực (PAQ) đã được chuẩn hóa và kiểm định độ tin cậy trong cộng đồng trẻ vị thành niên tại Việt Nam.

Một MET tương ứng với tốc độ chuyển hóa ở trạng thái nghỉ, tương đương với tiêu hao 3,5ml oxy /kg trọng lượng cơ thể/phút

Các hoạt động thể lực được phân loại dựa trên điểm số chuyển hóa tương đương (METs) theo "Bảng liệt kê các hoạt động thể lực", bao gồm cả các hành vi tĩnh tại như xem ti-vi, chơi game, sử dụng máy tính và làm bài tập Hoạt động thể lực được chia thành ba loại: nặng, vừa và nhẹ, dựa trên chỉ số chuyển hóa cơ bản của cơ thể khi ở trạng thái nghỉ (MET - Multiple of Resting Metabolic Rate).

Phân loại dựa vào Bảng Compendium 110 :

• Các hoạt động nặng có MET ≥ 6

• Các hoạt động vừa có MET 3,5 đến 5,9

• Các hoạt động nhẹ có MET < 3,5

Chúng tôi phân loại hoạt động thể lực thành hai mức độ: đủ và không đủ Hoạt động thể lực đủ được xác định là hoạt động từ vừa đến nặng trong thời gian ≥ 60 phút mỗi ngày, trong khi hoạt động thể lực không đủ là hoạt động từ vừa đến nặng dưới 60 phút mỗi ngày, dựa trên khuyến cáo của WHO.

Hoạt động tĩnh tại bao gồm thời gian ngồi trước màn hình, như xem TV và sử dụng máy tính, được phân loại thành hai nhóm: dưới 120 phút/ngày và từ 120 phút/ngày Phân loại này dựa trên nghiên cứu của Janssen và cộng sự thực hiện trên 34 quốc gia, cũng như khuyến cáo của Bộ Y tế quốc gia Úc.

Thói quen ăn uống của thanh thiếu niên tại TP HCM được đánh giá thông qua bảng hỏi tần suất thực phẩm (FFQ) đã được chuẩn hóa, cho phép phỏng vấn hoặc tự điền trong 20 phút, ghi nhận khoảng 100 loại thực phẩm phổ biến trong 6 tháng qua Thực phẩm được phân loại thành 8 nhóm chính: thực phẩm chế biến/đóng hộp, gạo và ngũ cốc, thịt cá và hải sản, trái cây và rau củ, kẹo và đồ ăn vặt, sữa và sản phẩm từ sữa, đồ uống, và các loại khác Bảng hỏi cũng thu thập thông tin về tần suất ăn sáng và uống nước ngọt hàng tuần, với một phần rau- trái cây tương đương 80 gam theo tháp dinh dưỡng cho trẻ 12-14 tuổi Tần suất uống nước ngọt thường xuyên được ghi nhận là ≥ 5 lần/tuần và tần suất ăn sáng thường xuyên cũng được chú trọng.

Giai đoạn dậy thì được chia thành hai giai đoạn: tiền dậy thì và đã/đang dậy thì, theo định nghĩa của WHO Đối với trẻ gái, giai đoạn dậy thì được xác định dựa trên kết quả tự đánh giá sự phát triển của ngực theo hình vẽ của Tanner 117 và việc trẻ đã có kinh nguyệt hay chưa.

- Một bé gái được gọi là chưa dậy thì (tiền dậy thì) khi ngực phát triển ở giai đoạn

1 và chưa có kinh nguyệt

Một bé gái được xem là đã hoặc đang dậy thì khi phát triển ngực ở giai đoạn 2 trở lên và/hoặc đã có kỳ kinh đầu tiên Đối với bé trai, giai đoạn dậy thì được xác định dựa trên kết quả tự đánh giá sự phát triển của bộ phận sinh dục ngoài theo hình vẽ của Tanner 117.

- Một bé trai gọi là chưa dậy thì (tiền dậy thì) khi sự phát triển của bộ phận sinh dục ngoài ở giai đoạn 2 hoặc thấp hơn

Một bé trai được coi là đã hoặc đang trong giai đoạn dậy thì khi sự phát triển của bộ phận sinh dục ngoài đạt từ giai đoạn 3 trở lên Để đánh giá hiệu quả của chương trình can thiệp, cần theo dõi sự tiến triển này một cách chặt chẽ.

Phương pháp và công cụ đo lường, thu thập số liệu

Được trình bày chi tiết trong phụ lục 6C

2.6.1 Phương pháp đo lường và thu thập số liệu

2.6.1.1 Phương pháp đo cân nặng

2.6.1.2 Phương pháp đo chiều cao

2.6.1.3 Phương pháp đo vòng eo

2.6.1.4 Phương pháp đo vòng mông

2.6.1.5 Phương pháp đánh giá dậy thì = bảng Tanner

2.6.2 Công cụ đo lường và thu thập thông tin:

2.6.2.1 Thước đo chiều cao SECA 213

2.6.2.2 Cân điện tử TANITA HD – 381

2.6.2.3 Thước dây đo vòng eo- vòng mông:

2.6.2.4 Bảng đánh giá dậy thì Tanner (phụ lục 4 và 5)

2.6.2.5 Bảng thu thập các thông tin về trẻ (phụ lục 3)

2.6.2.6 Bảng câu hỏi về tần suất tiêu thụ các loại thực phẩm (FFQ) (phụ lục 1) trên tính năng REDCap

Học sinh được khảo sát để đánh giá thói quen tiêu thụ thực phẩm và đồ uống trong 6 tháng qua, bao gồm tần suất và khối lượng tiêu thụ Bảng câu hỏi tần suất thực phẩm (FFQ) đã được phát triển và chuẩn hóa cho trẻ em tại TP HCM, có thể hoàn tất trong 40 phút FFQ ghi nhận khoảng 100 loại thực phẩm phổ biến, được phân chia thành 8 nhóm: thực phẩm chế biến/đóng hộp, gạo và ngũ cốc, thịt cá và hải sản, trái cây và rau củ, kẹo và đồ ăn vặt, sữa và sản phẩm từ sữa, đồ uống, và các loại khác Bảng hỏi cũng bao gồm thông tin về bữa sáng và tần suất ăn ngoài, cũng như tiêu thụ nước ngọt.

2.6.2.7 Bảng câu hỏi về tần suất hoạt động thể lực và tĩnh tại (PAQ) (phụ lục 2) trên tính năng REDCap

Học sinh sẽ được yêu cầu liệt kê các hoạt động thể lực đã thực hiện trong một tuần bình thường, bao gồm tần suất và thời gian cho mỗi hoạt động trong thời gian đi học và nghỉ hè Bảng câu hỏi chuẩn hoá cũng khảo sát tần suất và thời gian tham gia các hoạt động tĩnh tại như chơi game, xem tivi, sử dụng máy vi tính và ngồi nói chuyện.

Chúng tôi đã áp dụng tính năng Thu thập dữ liệu điện tử trong nghiên cứu REDCap để xây dựng Bảng câu hỏi tần suất thực phẩm (FFQ) và tần suất hoạt động thể chất (PAQ) trên trang web Thời gian hoàn thành cả hai bảng câu hỏi này trên REDCap khoảng 20 phút Sử dụng công nghệ máy tính, FFQ và PAQ giúp khắc phục những hạn chế của bảng câu hỏi giấy bằng cách cho phép người tham gia bỏ qua các phần không liên quan và ước lượng khẩu phần ăn chính xác hơn nhờ vào hình ảnh thực phẩm sinh động.

2.6.3 Nhân sự tham gia thu thập số liệu:

Nhóm sinh viên khoa YTCC Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch gồm khoảng 20 sinh viên đã tham gia hai buổi tập huấn về kỹ thuật cân đo và phỏng vấn BCH FFQ, PAQ Tài liệu tập huấn được biên soạn bởi Bộ môn Dịch tễ học – Khoa Y Tế Công Cộng, dựa trên Anthropometric Standardization Reference Manual 118, nhằm hỗ trợ thu thập dữ liệu nhân trắc trên thực địa.

Nhóm sinh viên của khoa Y và khoa YTCC TĐH YK PNT, gồm khoảng 30 sinh viên, đã được tập huấn theo tài liệu “Hướng dẫn dành cho Thủ lĩnh” để trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết Mục tiêu của chương trình là đào tạo các sinh viên trở thành nhà huấn luyện (Peer Educators – PE) cho các thủ lĩnh học sinh lớp 8.

Qui trình nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu cần xin công văn từ Sở Giáo Dục TP HCM để được phép triển khai đề tài tại các trường THCS Sau đó, nhóm sẽ liên hệ với Ban Giám Hiệu của các trường THCS đã được chọn để thực hiện đề tài.

Nhóm nghiên cứu sẽ tổ chức cuộc họp với Ban Giám Hiệu nhà trường để thống nhất thời gian tiến hành việc cân đo học sinh và phỏng vấn Ban Chấp hành Đồng thời, nhóm cũng sẽ gửi thư ngỏ nhằm xin ý kiến đồng thuận từ phụ huynh học sinh.

Bước 3: Ngày khảo sát được chia thành hai nhóm, bao gồm nhóm thực hiện cân đo nhân trắc và nhóm phỏng vấn Ban Chấp hành Cộng tác viên nam sẽ thực hiện việc cân đo cho học sinh nam, trong khi cộng tác viên nữ sẽ đảm nhiệm việc cân đo cho học sinh nữ.

Bước 4: Sau khi thực hiện khảo sát, cần tổng kết số lượng học sinh tham gia, số lượng Ban Chấp hành đã phản hồi, và số lượng phiếu nhân trắc còn thiếu để kịp thời bổ sung thông tin ngay tại chỗ nếu có thể.

2.7.2.1 Xây dựng mô hình can thiệp

Nhóm nghiên cứu đã tổ chức hội thảo với các chuyên gia dinh dưỡng và giáo dục để đề xuất mô hình can thiệp nhằm ngăn ngừa tình trạng thừa cân - béo phì (TC – BP) ở trẻ vị thành niên Sau khi phân tích ưu nhược điểm của các nghiên cứu trước đây và tình hình thực tế tại TP HCM, mô hình can thiệp dựa vào trường học thông qua nhóm bạn đồng trang lứa đã được chọn Mô hình này hiệu quả hơn so với các phương pháp giáo dục sức khỏe truyền thống do giáo viên thực hiện, vì nó không làm tăng gánh nặng công việc cho giáo viên Sự dẫn dắt từ bạn bè đồng trang lứa đã chứng minh là phương pháp hiệu quả hơn trong việc phổ biến kiến thức và thay đổi hành vi của giới trẻ Trẻ em thường tìm đến bạn bè để được tư vấn, và hành vi của họ có khả năng thay đổi cao hơn khi nhận được sự khuyến khích từ bạn bè Mô hình can thiệp này dựa trên Học thuyết Học tập xã hội của Bandura, đảm bảo có cơ sở khoa học vững chắc.

❖ Mô hình can thiệp có tính khả thi vì đảm bảo được các yêu cầu như: o Nhân sự: đảm bảo được sự tham gia của các thành phần sau:

+ Nghiên cứu viên + chuyên gia về giáo dục + chuyên gia về dinh dưỡng cộng đồng và vận động

Sinh viên Trường ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch đóng vai trò quan trọng là Peer Educator (PE), giúp tạo ra môi trường học tập tích cực Để chọn ra nhóm học sinh thủ lĩnh lớp 8, các thầy cô chủ nhiệm và thầy cô Tổng phụ trách Đội đã lựa chọn những học sinh nổi bật, là tấm gương cho các em học sinh lớp 6, những người xem họ như “thần tượng” và có sức ảnh hưởng lớn đến các bạn cùng trang lứa.

+ Học sinh lớp 6 (toàn trường)

+ BGH nhà trường + thầy cô chủ nhiệm + thầy cô Tổng phụ trách Đội, thầy cô thể dục

Gia đình của phụ huynh học sinh lớp 8 và lớp 6 cần chú ý đến cơ sở vật chất tại các trường THCS, nơi diễn ra các buổi tập huấn và hoạt động ngoại khoá Các trường này có khả năng đáp ứng nhu cầu về dụng cụ, thiết bị và tư liệu cần thiết cho các hoạt động này, bao gồm giấy, bút, dụng cụ thể thao, sổ tay nhật ký, máy tính laptop và máy chiếu.

2.7.2.2 Lập kế hoạch can thiệp

Sau khi xây dựng mô hình can thiệp, nhóm nghiên cứu tiến hành lập kế hoạch can thiệp bao gồm:

+ Các bước triển khai chương trình can thiệp

+ Phân công nhiệm vụ thực hiện

+ Nội dung chương trình can thiệp bao gồm 4 bài học, được biên soạn dựa trên cuốn tài liệu tập huấn cho thủ lĩnh học sinh của chương trình SALSA 15

Nội dung 4 bài tập huấn trong chương trình can thiệp Bài 1: Cách lựa chọn thực phẩm lành mạnh

Tự giới thiệu bản thân

Nguyên tắc khi làm việc nhóm

Video clip “Sự thay đổi của cô bé Lọ Lem”

Trò chơi lô tô cùng món ăn

Bài 2: Vận động rất quan trọng

Trò chơi “Nào ta cùng vận động”

Trò chơi gắn thẻ hoạt động thể lực Định vị các địa điểm có thể vận động tại nhà trên bản đồ

Khẩu hiệu hành động: 60 phút vận động mỗi ngày

Bài 3: Lối sống khỏe mạnh

Năng lượng hấp thu và Năng lượng tiêu hao là gì

5 cách sống khỏe mạnh mỗi ngày

Vào bếp cùng gia đình: chia sẻ mẹo nấu ăn lành mạnh cho ba mẹ

Nào ta cùng hoạt động: Trò chơi giải ô chữ

Bài 4: Cùng PEPS hành động Ôn lại 3 bài cũ – Trò chơi đáp nhanh nhắc lại 1 kiến thức đã học

Kế hoạch hành động: tự đặt mục tiêu cho 1 tuần tới

Hình 2.1 Mô hình can thiệp thay đổi lối sống học sinh lớp 6 thông qua bạn bè đồng trang lứa

Hình 2.2 Các thành phần tham gia mô hình can thiệp

Sơ đồ 2.3 Qui trình triển khai chương trình can thiệp

Bảng 2.2 Hoạt động trong chương trình can thiệp

Nội dung Thành phần tham gia

Bước 0: Tập huấn cho SV thành Nhà huấn luyện (PE = Peer Educators)

+ Phỏng vấn tuyển chọn 30 SV đủ tiêu chuẩn trở thành PE

+ 30 SV ĐH YK PNT 4/2018 4 buổi

+ Buổi workshop: Chuyên gia giáo dục tập huấn cho SV về kỹ năng thuyết trình

+ Chuyên gia giáo dục + Nghiên cứu viên + 30 SV ĐH YK PNT

+ Buổi workshop: Nhóm nghiên cứu tập huấn cho

SV về nội dung chương trình can thiệp về dinh dưỡng và vận động (theo tài liệu giáo trình đã soạn sẵn)

+ Họp với BGH 4 trường nhóm can thiệp để xin phép triển khai chương trình can thiệp tại trường trong suốt năm học

+ Liên hệ BGH 4 trường nhóm chứng xin phép cân đo và phỏng vấn học sinh đầu năm học và khi kết

+ Nghiên cứu viên + BGH 8 trường

8/2018: Họp BGH trường Giồng Ông Tố + Trần Bội Cơ + Lữ Gia + Ngô Sĩ Liên

8/2019: Họp BGH Trần Quang Khải

Nội dung Thành phần tham gia

Thời gian Số lượng thúc năm học 8/2020: Họp BGH Bình Tân

Họp phụ huynh học sinh (PHHS) với giáo viên phụ trách lớp nhằm xin phép và thông báo về nghiên cứu Tại buổi họp, sẽ cung cấp thông tin chi tiết về mục đích nghiên cứu, cũng như lợi ích và nguy cơ có thể xảy ra cho học sinh khi tham gia Nếu phụ huynh đồng ý, con em họ sẽ được phép tham gia nghiên cứu.

PHHS sẽ ký bản đồng thuận tham gia nghiên cứu

+ GV phụ trách 2 lớp 6 của 4 trường chứng

+ GV phụ trách các lớp

8 và 6 của 4 trường can thiệp

+ PHHS lớp 8 và lớp 6 của 4 trường can thiệp

9/2018: Họp tại trường Giồng Ông Tố + Trần Bội Cơ + Lữ Gia + Ngô Sĩ Liên

9/2019: Họp tại trường Trần Quang Khải + Đức Trí + Lý

9/2020: Họp tại trường BGH Bình Tân

+ Thu thập dữ liệu ban đầu tại 8 trường:

Cân đo: cân nặng, chiều cao, vòng eo, vòng mông

Phỏng vấn BCH FFQ, PAQ, đánh giá dậy thì

- Giám sát bởi nhóm nghiên cứu

- 12 Điều tra viên (ĐTV)/ lần

Tố + Trần Bội Cơ + Ngô Sĩ Liên + Lữ Gia

9/2019: trường Trần Quang Khải + Đức Trí + Lý Tự Trọng

Nội dung Thành phần tham gia

Bước 1: SV tập huấn cho nhóm thủ lĩnh 30 HS lớp 8

+ Tuyển chọn 30 HS lớp 8 thủ lĩnh

- Nhờ GV chủ nhiệm và GV phụ trách đội phối hợp trong việc tuyển chọn ra khoảng 30 học sinh lớp 8 thỏa tiêu chuẩn Thủ lĩnh học sinh (Peer

Nhóm này cần đáp ứng các tiêu chuẩn nổi bật, trở thành "thần tượng" cho học sinh lớp 6, bao gồm: học giỏi, năng động và tích cực tham gia các phong trào đoàn đội, đồng thời là thành viên của Ban chỉ huy liên đội của trường.

+ SV tập huấn cho HS lớp 8

- Nhóm SV huấn luyện cho nhóm HS thủ lĩnh này

4 bài học bao gồm phần kiến thức kết hợp phần thực hành về:

1 Chế độ ăn uống và lựa chọn thực phẩm lành mạnh

2 Vận động thể lực thường xuyên

+ Giám sát bởi nhóm nghiên cứu

+ 10 SV ĐH YK PNT/ trường

Nội dung Thành phần tham gia

4 Tự lên kế hoạch hành động

- Nội dung bám sát theo cuốn tài liệu soạn sẵn

“Hướng dẫn dành cho Thủ lĩnh” (Peer Leader’s

+ 30 HS thủ lĩnh lớp 8/ trường can thiệp

30 HS lớp 8 chia thành 5 - 6 nhóm nhỏ, sắm vai có sự giám sát, hướng dẫn của SV + nhóm nghiên cứu

Tố + Trần Bội Cơ 10/2019: trường Trần Quang Khải

Bước 2: Nhóm HS lớp 8 tập huấn cho HS lớp 6 toàn trường can thiệp

+ HS lớp 8 (theo từng nhóm nhỏ) truyền tải 4 bài về dinh dưỡng và vận động (theo tài liệu giáo trình đã soạn sẵn) cho các lớp 6 của toàn trường

+ 30 HS lớp 8/ trường can thiệp

+ Toàn bộ HS lớp 6 của trường can thiệp

+ Dưới sự giám sát hướng dẫn của 10 SV/

10/2018 – 11/2018: trường Giồng Ông Tố + Trần Bội Cơ

Nội dung Thành phần tham gia

Thời gian Số lượng trường + nhóm nghiên cứu

Bước 3: HS lớp 6 tự thay đổi hành vi, có sự hỗ trợ của hệ thống trợ giúp

Kế hoạch hành động cho bản thân

Mỗi học sinh cần tự xây dựng kế hoạch hành động cho bản thân trong vòng một tuần, sau đó dán vào sổ báo bài để ba mẹ có thể xem Kế hoạch này bao gồm cam kết thực hiện các hành vi lành mạnh và từ bỏ dần những thói quen xấu.

+ HS các lớp 6 của 4 trường can thiệp

+ nhóm HS thủ lĩnh lớp

+ Nhóm SV + thầy cô, BGH nhà trường + cha mẹ HS

+ Giám sát bởi nhóm nghiên cứu

HỆ THỐNG HỖ TRỢ SAU CAN THIỆP

Phát các tài liệu thực hành về gia đình

Gia đình có thể tham khảo các tài liệu thực hành để lựa chọn thực phẩm hợp lý, học cách nấu nướng hiệu quả và tìm kiếm những cách vận động linh hoạt tại nhà.

Tố + Trần Bội Cơ 11/2019: trường Trần Quang Khải

Phiếu nhật ký ăn uống 11/2018: trường Giồng Ông

Nội dung Thành phần tham gia

+ Phát phiếu nhật ký ăn uống cho HS lớp 6 toàn trường can thiệp

+ Thu về chấm điểm, trả kết quả cho HS lớp 6

Chúng tôi sẽ tiến hành phát thưởng cho cá nhân và tập thể lớp hoàn thành tốt theo hướng dẫn của chương trình can thiệp Cụ thể, mỗi lớp 6 sẽ chọn ra 5 học sinh xuất sắc, và mỗi trường can thiệp sẽ chọn 1 lớp 6 tiêu biểu để vinh danh.

Phiếu nhật ký vận động

+ Phát phiếu nhật ký vận động cho HS lớp 6 toàn trường can thiệp

+ Thu về chấm điểm, trả kết quả cho HS lớp 6

+ Phát thưởng cá nhân hoàn thành tốt theo hướng dẫn của chương trình can thiệp: chọn 5 HS mỗi lớp

6, và chọn 1 lớp 6 tại mỗi trường can thiệp

Tố + Trần Bội Cơ 12/2019: trường Trần Quang Khải

+Tổ chức buổi nhảy flashmob (nhảy theo điệu nhạc) cho HS các lớp 6 toàn trường (45 phút)

Tố + Trần Bội Cơ 1/2020: trường Trần Quang Khải

+ Tổ chức buổi vận động trường cho HS lớp 6 tham gia (45 phút)

Tố + Trần Bội Cơ 1 buổi/ trường x 3

Nội dung Thành phần tham gia

1/2020: trường Trần Quang Khải trường = 3 buổi

Dán slogan bậc thang trường

+ Tổ chức buổi dán slogan vào các bậc thang của trường (do các em học sinh lớp 6 tự nghĩ ra) về thói quen ăn uống lành mạnh + vận động

Tố + Trần Bội Cơ 2/2020: trường Trần Quang Khải

Các hình ảnh và video về hoạt động tập huấn, ngoại khóa, cùng với các hành vi lối sống lành mạnh sẽ được đăng tải trên fanpage của dự án, nhằm truyền tải thông tin và khuyến khích các em tham gia.

HS theo dõi (trong khung giờ nhất định và với sự cho phép, thống nhất của PHHS) và khuyến khích bạn bè, gia đình cùng thực hiện

Suốt thời gian 1 năm học từ lúc bắt đầu chương trình can thiệp tại 4 trường

+ Thu thập dữ liệu cuối tại 8 trường:

- Cân đo: cân nặng, chiều cao, vòng eo, vòng mông

- Phỏng vấn BCH FFQ, PAQ, đánh giá dậy thì

- Giám sát bởi nghiên cứu viên

- 12 Điều tra viên (ĐTV)/ lần

Tố + Trần Bội Cơ + Ngô Sĩ Liên + Lữ Gia

4/2020: trường Trần Quang Khải + Đức Trí + Lý Tự Trọng

Chương trình can thiệp hỗ trợ học sinh trong 6 tháng qua việc xây dựng trang fanpage để giao lưu, lưu trữ tài liệu và chia sẻ kinh nghiệm cho học sinh lớp 6 và lớp 8 Nhóm sinh viên TĐH YK PNT là các Peer Educator quản lý fanpage, nơi học sinh có thể chia sẻ hoạt động thể thao và ăn uống lành mạnh Học sinh lớp 8 phát và thu phiếu nhật ký ăn uống và vận động cho lớp 6, với những học sinh có thành tích tốt được vinh danh hàng tháng Phụ huynh có thể theo dõi chế độ ăn và vận động của con em qua fanpage Chương trình cũng khuyến khích phụ huynh tham gia bằng cách cung cấp tài liệu về chế độ ăn uống và thói quen vận động tại nhà Sự hỗ trợ từ giáo viên và nhà trường được kêu gọi để duy trì lối sống khỏe mạnh cho học sinh Hệ thống hỗ trợ được giám sát liên tục từ khi triển khai chương trình.

- SV định kỳ họp với các thủ lĩnh HS 02 lần/tháng trong suốt quá trình triển khai thực hiện

Nhóm nghiên cứu và sinh viên giám sát nội dung cho fanpage của đề tài trong suốt quá trình triển khai, chỉ cho phép học sinh hoặc các đối tượng liên quan đăng ký tham gia Nhóm quản lý fanpage sẽ lọc và loại bỏ thông tin không lành mạnh, không phù hợp với mục đích chương trình Các hoạt động bao gồm tổ chức buổi vận động trường cho học sinh lớp 6 với các trò chơi tập thể dưới sự hướng dẫn của sinh viên và học sinh lớp 8, cùng với buổi nhảy flashmob cũng dành cho học sinh lớp 6 Ngoài ra, nhóm còn tổ chức dán slogan kêu gọi hành vi sức khỏe lành mạnh trên các bậc thang trường học, do học sinh lớp 6 tự nghĩ ra Mỗi học sinh sẽ tự đề ra kế hoạch hành động cá nhân, cam kết thực hiện các hành vi lành mạnh và từ bỏ thói quen không tốt.

Sơ đồ 2.4 Quy trình nghiên cứu 2 giai đoạn

Mô hình can thiệp thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hê thống hỗ trợ

NGHIÊN CỨU CAN THIỆP NHÓM CAN THIỆP (4 THCS) NHÓM CHỨNG (4 THCS)

Chọn mẫu PPS: 9 THCS nội thành + 7 THCS ngoại thành: khảo sát toàn bộ HS của 2 lớp 6 mỗi trường (85hs/trường):

+ Cân đo nhân trắc + Phỏng vấn BCH hành vi ăn uống FFQ + Phỏng vấn BCH vận động PAQ

Chương trình thường quy Chương trình thường quy

Trước can thiệp: Khảo sát

1 Hành vi ăn uống: bằng BCH FFQ

2 Hành vi vận động: bằng BCH PAQ

3 % thừa cân – béo phì theo WHO

Sau can thiệp: Khảo sát

1 Hành vi ăn uống: bằng BCH FFQ

2 Hành vi vận động: bằng BCH PAQ

Phương pháp phân tích dữ liệu

Tất cả các phân tích được thực hiện với Stata 15.0

Trong nghiên cứu về giá trị outlier của các biến số, chúng ta xác định các tiêu chí cụ thể như sau: chỉ số BMI dưới 15 kg/m² và trên 40 kg/m² được coi là outlier Bên cạnh đó, thời gian hoạt động từ mức vừa đến mạnh vượt quá 360 phút mỗi ngày cũng được xem là một yếu tố quan trọng Cuối cùng, thời gian tĩnh tại trong tuần trên 480 phút mỗi ngày và thời gian tĩnh tại vào cuối tuần cũng cần được lưu ý.

Mỗi ngày, tổng thời gian hoạt động nên đạt 900 phút, với tổng năng lượng tiêu thụ vượt quá 5000 kcal hoặc dưới 500 kcal Cần loại bỏ các giá trị thuộc nhóm biến số của chất dinh dưỡng đa lượng, bao gồm đạm, đường và béo.

Khi xử lý dữ liệu thiếu trong nghiên cứu, chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn loại bỏ các trường hợp có tỷ lệ trả lời thiếu trên 80% câu hỏi của một bộ câu hỏi (BCH) hoặc các giá trị ngoài giới hạn quy định (outliers) Để tối ưu hóa số lượng mẫu, phương pháp xử lý pairwise deletion được lựa chọn, cho phép phân tích các cột dữ liệu còn lại mà không loại bỏ toàn bộ dòng dữ liệu chỉ vì một số giá trị trống.

2.8.2.1 Nghiên cứu cắt ngang: phân tích điều tra theo cụm + trọng số lấy mẫu (pweight)

❖ Thống kê mô tả cho các đặc điểm đặc trưng của mẫu:

Phương pháp chọn mẫu cụm 2 giai đoạn kết hợp phân tầng và trọng số được áp dụng để giải thích xác suất lựa chọn không đồng đều và tỷ lệ không phản hồi của đối tượng.

Tần số, tỷ lệ và KTC 95% đã được điều chỉnh theo cụm và tính trọng số lấy mẫu, được sử dụng để trình bày các số liệu thống kê mô tả cho biến định tính.

▪ Tỷ lệ hoạt động thể lực vừa – mạnh mỗi ngày đủ theo khuyến cáo,

▪ Tỷ lệ thời gian ngồi trước màn hình đạt khuyến nghị,

▪ Tỷ lệ hoạt động tĩnh tại mỗi ngày đạt khuyến nghị,

▪ Tần suất ăn sáng thường xuyên/tuần,

▪ Tần suất uống nước ngọt thường xuyên/tuần,

Trung bình và KTC 95% đã được điều chỉnh theo cụm và tính trọng số lấy mẫu, nhằm trình bày các số liệu thống kê mô tả cho biến định lượng.

▪ Chiều cao, cân nặng, vòng eo, vòng mông, BMI, tuổi

▪ Tổng thời gian chơi thể thao vừa – mạnh/ngày

▪ Tổng thời gian hoạt động sinh hoạt thường ngày vừa – mạnh/ngày

▪ Tổng thời gian hoạt động thể lực vừa – mạnh/ngày

▪ Tổng thời gian ngồi trước màn hình trung bình/ngày

▪ Tổng thời gian tĩnh tại trung bình/ngày trong tuần hoặc cuối tuần

▪ Tổng năng lượng trung bình/ngày

▪ Lượng chất dinh dưỡng đa lượng /ngày (chất đạm, chất bột đường, chất béo)

▪ Lượng rau ăn vào trung bình/ngày

▪ Lượng trái cây ăn vào trung bình/ngày

▪ Lượng đồ ăn ngọt ăn vào trung bình/ngày

Để kiểm định sự khác biệt giữa hai trung bình của các biến số liên tục, chúng tôi sử dụng phân tích t-test có hiệu chỉnh theo cụm Đối với việc kiểm định sự khác biệt giữa hai tỷ lệ và mối liên quan đơn biến với các yếu tố như giới tính, dậy thì, khu vực sống, thời gian vận động thể lực, tổng năng lượng, lượng chất dinh dưỡng đa lượng và tần suất ăn sáng, chúng tôi áp dụng phân tích chi bình phương có hiệu chỉnh theo cụm Để đánh giá các mối liên quan một cách chính xác hơn, phân tích hồi quy logistic có hiệu chỉnh theo cụm và có tính trọng số được sử dụng để xác định tỷ số số chênh (Odds Ratio - OR) cùng với khoảng tin cậy 95% Các biến số có p < 0,25 sẽ được đưa vào mô hình hồi quy đa biến thứ bậc, kết hợp với khung khái niệm của tình trạng dinh dưỡng.

Sau khi phân tích đa cộng tuyến giữa biến số tình trạng tài chính (TC) - BP và các biến số liên quan, chúng tôi nhận thấy biến số tuổi có mối tương quan với biến số dậy thì trong mô hình hồi quy đa biến Do tuổi là yếu tố khó thay đổi, chúng tôi quyết định loại biến số này ra khỏi mô hình Các biến số còn lại không có tương quan đa cộng tuyến trong mô hình hồi quy Cuối cùng, những biến số có kết quả p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê và sẽ được giữ lại trong mô hình đa biến thứ bậc tiếp theo.

2.8.2.2 Nghiên cứu can thiệp: Phân tích dữ liệu theo thời gian (longitudinal) và Phân tích can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng theo cụm

Phân tích dựa trên phân bổ ngẫu nhiên ban đầu (Intention-to-treat analysis - ITT) được áp dụng để đảm bảo tính ngẫu nhiên trong việc phân chia can thiệp cho hai nhóm Dữ liệu thiếu được xử lý bằng phương pháp "multiple imputation" Tiếp theo, chúng tôi thực hiện phân tích sensitivity để so sánh giữa bộ số liệu gốc và bộ số liệu đã được "điền".

Thống kê mô tả các đặc điểm của mẫu được phân chia theo nhóm can thiệp và nhóm chứng, trong đó các biến số định lượng được trình bày với giá trị trung bình và khoảng tin cậy 95%.

▪ Chiều cao, cân nặng, vòng eo, vòng mông, BMI, tuổi

▪ Tổng thời gian chơi thể thao vừa – mạnh/ngày

▪ Tổng thời gian hoạt động sinh hoạt thường ngày vừa – mạnh/ngày

▪ Tổng thời gian hoạt động thể lực vừa – mạnh/ngày

▪ Tổng thời gian ngồi trước màn hình trung bình/ ngày

▪ Tổng thời gian tĩnh tại trung bình/ngày trong tuần hoặc cuối tuần

▪ Lượng rau ăn vào trung bình/ngày

▪ Lượng trái cây ăn vào trung bình/ngày

▪ Lượng đồ ăn ngọt ăn vào trung bình/ngày o Các biến số định tính được trình bày dưới dạng tỷ lệ và KTC 95% bao gồm:

▪ Phân nhóm thừa cân – béo phì

▪ Tỷ lệ hoạt động thể lực vừa – mạnh mỗi ngày đủ theo khuyến cáo

▪ Tỷ lệ thời gian ngồi trước màn hình đạt khuyến nghị

▪ Tỷ lệ hoạt động tĩnh tại mỗi ngày đạt khuyến nghị < 2 giờ/ngày

▪ Tần suất ăn sáng thường xuyên ≥ 5 lần/tuần

▪ Tần suất uống nước ngọt thường xuyên ≥ 5 lần/tuần

Bài viết trình bày các phương pháp thống kê phân tích nhằm kiểm định sự khác biệt giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp Sử dụng kiểm định t-test và kiểm định chi bình phương để so sánh các đặc điểm ban đầu và kết cục chính như hành vi ăn uống, vận động, tĩnh tại và phân nhóm BMI Phân tích hồi quy tuyến tính hỗn hợp đa tầng được áp dụng để điều chỉnh các yếu tố cố định như giới tính, tuổi, BMI ban đầu và tình trạng dậy thì, đồng thời kiểm định sự khác biệt giữa sự thay đổi của nhóm can thiệp và nhóm chứng về các biến số định lượng như lượng rau quả tiêu thụ, thời gian vận động và thời gian ngồi trước màn hình Ngoài ra, phân tích hồi quy Poisson đa tầng cũng được sử dụng để kiểm định sự khác biệt về các biến số định tính như tần suất ăn sáng và tần suất uống nước ngọt.

2.8.3 Các sai lệch và cách khắc phục

Chúng tôi áp dụng các phương pháp nhằm giảm thiểu sai lệch do chọn mẫu, bao gồm phương pháp cụm nhiều giai đoạn kết hợp phân tầng để tăng tính đại diện Chúng tôi chọn ngẫu nhiên 2 lớp 6 trong từng trường, và nhờ sự cho phép của Ban Giám Hiệu cùng với ý kiến đồng thuận của phụ huynh học sinh, hầu hết học sinh lớp 6 tại các trường đều tham gia Chỉ có một số ít trường hợp học sinh vắng mặt do nghỉ học đột xuất.

➢ Sai lệch do công cụ o Bộ BCH về FFQ 113 và PAQ 109 đã được chuẩn hóa o Cân Tanita và thước đo chiều cao Seca: khách quan, độ chính xác cao

➢ Sai lệch do điều tra viên

Đội ngũ điều tra viên SV khoa YTCC Trường Đại Học Y khoa Phạm Ngọc Thạch đã được tập huấn kỹ càng để thực hiện các thao tác thu thập số đo nhân trắc Họ đã cố định 1-2 nhóm điều tra viên để tiến hành cân đo cho 16 trường.

Phân tích độ tin cậy giữa 2 CTV cân đo trên 5 HS mỗi trường, inter-raters test (Phụ lục 7c)

➢ Sai lệch do BCH tự điền

BCH FFQ tự điền có thể gặp sai lệch do học sinh phải nhớ lại các món ăn đã tiêu thụ và ước lượng khẩu phần ăn trung bình Để khắc phục điều này, chúng tôi đã cung cấp hình ảnh thực tế của các món ăn, được tham khảo từ chuyên môn của Bộ môn dinh dưỡng Trường ĐH YK Phạm Ngọc Thạch, thông qua tính năng REDCap Điều này giúp học sinh hình dung khẩu phần ăn một cách chính xác hơn.

➢ Sai lệch do báo cáo

Học sinh nên giảm thiểu việc tiêu thụ các thực phẩm không tốt cho sức khỏe như đồ chiên, nhiều dầu mỡ và nước ngọt Để đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu, chúng tôi sẽ giải thích rõ ràng mục đích của nghiên cứu trước khi các em tham gia trả lời BCH Chúng tôi cam kết không phê phán hay chỉ trích những thói quen tiêu cực (nếu có) của các em, và mọi thông tin sẽ được giữ bí mật, không công bố tên tuổi của học sinh.

Chúng tôi chọn ngẫu nhiên 2 lớp 6 trong từng trường để đánh giá hiệu quả sau can thiệp nhằm giảm thiểu sai lệch do chọn mẫu

Đạo đức trong nghiên cứu

Trước khi thực hiện đề tài cắt ngang, nhóm nghiên cứu đã gửi thư ngỏ đến phụ huynh học sinh để cung cấp thông tin và xin sự đồng thuận tham gia Nhóm cũng đã tổ chức buổi trao đổi với nhà trường và phụ huynh để giải thích về lý do, mục đích, quyền lợi, bất lợi tiềm ẩn, và các bước cần thực hiện trước khi ký vào bản đồng thuận Chương trình can thiệp không có bất lợi đáng kể cho học sinh, ngoại trừ việc mất thời gian cho một số tiết sinh hoạt chủ nhiệm và các buổi tập huấn Fanpage tương tác với học sinh được giám sát bởi sinh viên Trường ĐH YK Phạm Ngọc Thạch, với quy định thời gian sử dụng công nghệ dưới 2 giờ/ngày để hạn chế việc sử dụng mạng xã hội Những học sinh từ chối hoặc ngưng tham gia không gặp khó khăn hay áp lực từ nhà trường, và không phải chi trả bất kỳ chi phí nào trong quá trình tham gia Thông tin cá nhân của học sinh được mã hóa, chỉ nghiên cứu viên chính mới có quyền truy cập Đề tài đã được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh của Trường Đại Học phê duyệt.

Y khoa Phạm Ngọc Thạch đã nhận được sự phê duyệt qua công văn số 468/HĐĐĐ-TĐHYKPNT và sự cho phép triển khai từ Sở Giáo Dục và Đào Tạo theo công văn số 3849/GDĐT-CTTT trước khi tiến hành các hoạt động.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tình trạng thừa cân – béo phì học sinh lớp 6 Thành phố Hồ Chí Minh

Biểu đồ 3.1 Tình trạng dinh dưỡng (n = 1279) theo IOTF

Theo phân loại của IOTF, tỷ lệ béo phì là 13% [11% - 15%], tỷ lệ thừa cân là 32% [29% - 35%]

THIẾU CÂN BÌNH THƯỜNG THỪA CÂN BÉO PHÌ

Thiếu cânBình thườngThừa cânBéo phì

Biểu đồ 3.2 Tình trạng dinh dưỡng (n = 1279) theo WHO

Theo tiêu chuẩn của WHO, tỷ lệ béo phì là 25% [22% - 28%], tỷ lệ thừa cân là 31% [28% - 34%]

Theo tiêu chuẩn của IOTF, có 1% là thiếu cân, tuy nhiên, theo tiêu chuẩn của WHO, không có trường hợp nào được xếp loại là thiếu cân

Chúng tôi đã quyết định sử dụng phân loại tình trạng TC – BP theo tiêu chuẩn WHO để đánh giá mối liên quan của TC – BP với các yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ Các nghiên cứu toàn cầu cho thấy tỷ lệ TC – BP theo tiêu chuẩn IOTF thường thấp hơn so với WHO Do đó, chúng tôi chọn ngưỡng thấp hơn (theo tiêu chuẩn WHO) nhằm thu hút tối đa số lượng đối tượng có nguy cơ TC – BP.

THIẾU CÂN BÌNH THƯỜNG THỪA CÂN BÉO PHÌ

Thiếu cânBình thườngThừa cânBéo phì

Bảng 3.4 Phân bố tình trạng thừa cân – béo phì theo tuổi, giới tính, khu vực sống, tình trạng dậy thì

Thừa cân – béo phì Bình thường OR p n + %, KTC 95 % n + %, KTC 95 % KTC 95% +

+ hiệu ứng cụm và tính trọng số p: hồi qui logisic, có xét hiệu ứng cụm

Có sự khác biệt thống kê đáng kể về tuổi giữa nhóm TC – BP và nhóm cân nặng bình thường (p < 0,05) Cụ thể, khi tuổi tác tăng thêm 1 năm, tỷ lệ TC – BP giảm 0,64 lần.

Tỷ lệ TC – BP trong nhóm học sinh nam cao hơn 2,78 lần so với nhóm học sinh nữ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)

Tỷ lệ TC – BP trong nhóm học sinh nội thành cao hơn 1,47 lần so với nhóm học sinh ngoại thành, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Tỷ lệ TC – BP ở nhóm học sinh đã dậy thì Tanner độ 2 cao hơn 1,61 lần so với nhóm học sinh chưa dậy thì, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Mối liên quan giữa các yếu tố với tình trạng thừa cân – béo phì ở học sinh lớp 6 TP HCM

Bảng 3.5 Phân tích mối liên quan đơn biến giữa tình trạng thừa cân - béo phì theo WHO và thời gian hoạt động thể lực

TB [KTC 95%] + TB [KTC 95%] + [KTC 95%] +

+ hiệu ứng cụm và tính trọng số p a : hồi qui logistic có xét hiệu ứng cụm

Khi thời gian trung bình dành cho các hoạt động sinh hoạt thường ngày tăng thêm

1 giờ thì tỷ lệ TC – BP giảm xuống 0,71 lần, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian trung bình dành cho các hoạt động thể thao và thể lực từ mức độ vừa đến mạnh giữa nhóm tập luyện thể dục - thể thao (TC – BP) và nhóm không tập luyện (p > 0,05).

Bảng 3.6 Phân tích mối liên quan đơn biến giữa tình trạng thừa cân – béo phì theo WHO và nhóm hoạt động thể lực

Có Không OR p b n + %, KTC 95% + n + %, KTC 95% + KTC 95% +

Phân nhóm tổng HĐTL vừa – mạnh 0,360

Phân nhóm HĐTL dành cho thể thao 0,485

Phân nhóm HĐTL dành cho sinh hoạt thường ngày 0,002

+ hiệu ứng cụm và tính trọng số p b hồi qui logistic, có xét hiệu ứng cụm

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa phân nhóm hoạt động thể lực đủ và phân nhóm hoạt động thể thao giữa nhóm tập luyện có bài bản (TC – BP) và nhóm không tập luyện có bài bản (không TC – BP) với giá trị p > 0,05.

Có sự khác biệt thống kê đáng kể về hoạt động thể lực (HĐTL) trong sinh hoạt hàng ngày giữa nhóm có tập thể dục (TC – BP) và nhóm không có tập thể dục (p < 0,05) Cụ thể, tỷ lệ TC – BP của nhóm thực hiện HĐTL ≥ 60 phút/ngày chỉ bằng 0,51 lần so với nhóm có HĐTL < 60 phút/ngày.

Bảng 3.7 Phân tích mối liên quan đơn biến giữa tình trạng thừa cân – béo phì và thời gian hoạt động tĩnh tại

TB [KTC 95%] + TB [KTC 95%] + TB [KTC 95%]

Tổng thời gian tĩnh tại 3,26 [3,03 – 3,49] 3,53 [3,27 – 3,79] 0,95

▪ Thời gian ngồi trước màn hình

Tổng thời gian tĩnh tại 4,36 [4,05 – 4,69] 4,33 [4,00 – 4,66] 1,00

▪ Thời gian ngồi trước màn hình

+ hiệu ứng cụm và tính trọng số p a : hồi qui logistic có xét hiệu ứng cụm

Học thêm: thời gian học tập ngoài giờ học ở trường

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian tĩnh tại trung bình giữa nhóm có tập luyện thể chất (TC – BP) và nhóm không tập luyện (không TC – BP) trong cả tuần và cuối tuần (p > 0,05).

Bảng 3.8 Phân tích mối liên quan đơn biến giữa tình trạng thừa cân - béo phì và phân nhóm hoạt động tĩnh tại

Có Không OR p b n + %, KTC 95% + n + %, KTC 95% + KTC 95% +

Phân nhóm thời gian ngồi trước màn hình trong tuần 0,094

Phân nhóm thời gian ngồi trước màn hình cuối tuần 0,754

+ hiệu ứng cụm và tính trọng số p b hồi qui logisic, hiệu ứng cụm

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian ngồi trước màn hình trong tuần đạt khuyến nghị dưới 120 phút mỗi ngày giữa nhóm tập thể dục và nhóm không tập thể dục (p > 0,05).

Bảng 3.9 Tổng năng lượng và các thành phần dinh dưỡng đa lượng trung bình mỗi ngày theo giới tính

TB [KTC 95%] + TB [KTC 95%] + TB [KTC 95%] +

Lượng chất dinh dưỡng đa lượng (gam/ngày) Đạm 102 [98 – 106] 109 [103 – 115] 95 [89 – 102] 0,006

+ hiệu ứng cụm và tính trọng số p a : t-test có xét hiệu ứng cụm

Có sự khác biệt thống kê đáng kể về tổng năng lượng và lượng chất dinh dưỡng đa lượng tiêu thụ hàng ngày giữa nam và nữ, với nam giới tiêu thụ nhiều hơn nữ giới (p < 0,05).

Bảng 3.10 Lượng trái cây, rau quả và đồ ăn ngọt trung bình ăn vào mỗi ngày theo giới tính

TB [KTC 95%] + TB [KTC 95%] + TB [KTC 95%] +

Lượng trái cây ăn vào 157 [143 – 170] 154 [137 – 172] 159 [140 – 178] 0,675

Lượng đồ ngọt* ăn vào 73 [67 – 80] 71 [63 – 79] 75 [65 – 85] 0,530

+ hiệu ứng cụm và tính trọng số p a : t-test có xét hiệu ứng cụm

*đồ ngọt: bánh kẹo có đường

Không có sự khác biệt về lượng rau, trái cây, và đồ ngọt tiêu thụ mỗi ngày giữa nam và nữ

Bảng 3.11 Mối liên quan đơn biến giữa tình trạng thừa cân – béo phì theo WHO và tổng năng lượng, và các dinh dưỡng đa lượng mỗi ngày

TB [KTC 95%] + TB [KTC 95%] + TB [KTC 95%] +

Chất dinh dưỡng đa lượng

+ hiệu ứng cụm và tính trọng số p a : hồi qui logistic có xét hiệu ứng cụm

Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tổng năng lượng trung bình hàng ngày giữa nhóm có tình trạng thừa cân - béo phì (TC – BP) và nhóm không có tình trạng này Cụ thể, khi năng lượng tăng thêm 1 kcal/1000/ngày, tỷ lệ TC – BP giảm xuống 0,84 lần (p < 0,05).

Không có sự khác biệt về lượng chất dinh dưỡng đa lượng: béo, chất đường bột trung bình mỗi ngày giữa nhóm TC – BP và nhóm không TC – BP

Mối liên quan giữa tình trạng thừa cân và béo phì theo tiêu chuẩn của WHO với lượng trái cây, rau quả và đồ ăn ngọt trung bình tiêu thụ hàng ngày được thể hiện rõ trong bảng 3.12 Nghiên cứu cho thấy rằng việc tăng cường tiêu thụ trái cây và rau quả có thể giúp giảm nguy cơ thừa cân và béo phì, trong khi lượng đồ ăn ngọt cao lại có mối liên hệ tích cực với tình trạng này Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của chế độ ăn uống cân bằng trong việc duy trì sức khỏe và phòng ngừa các bệnh liên quan đến béo phì.

TB [KTC 95%] + TB [KTC 95%] + TB [KTC 95%] + n = 702 n = 570

Lượng trái cây ăn vào 0,179

Lượng đồ ngọt* ăn vào 0,065

+ hiệu ứng cụm và tính trọng số p a : hồi qui logistic có xét hiệu ứng cụm

*đồ ngọt: bánh kẹo có đường

Lượng đồ ngọt tiêu thụ trung bình mỗi ngày tăng thêm 1 kg thì tỷ lệ TC – BP giảm xuống 0,19 lần, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05

Không có sự khác biệt về lượng rau và trái cây ăn mỗi ngày giữa nhóm TC – BP và nhóm không TC – BP

Bảng 3.13 Mối liên quan đơn biến giữa tình trạng thừa cân – béo phì theo

WHO và phân nhóm về chế độ ăn uống

Có Không OR p b n + %, KTC 95% + n + %, KTC 95% + KTC 95% +

Phân nhóm chất đường bột 0,026

Không vượt KNDD 693 56 [53 – 59] 561 44 [41 – 47] 1 0,736 Vượt KNDD 14 54 [34 – 73] 11 46 [27 – 66] 0,85

Phân nhóm lượng rau ăn vào

Phân nhóm lượng trái cây ăn vào

Phân nhóm đồ ngọt ăn vào

Tần suất ăn sáng thường xuyên 0,167

Tần suất uống nước ngọt thường xuyên 0,062

+ hiệu ứng cụm và tính trọng số p b hồi qui logistic, hiệu ứng cụm

Phân nhóm chất đường bột: theo KNDD 2016: nam > 340 gam/ngày; nữ > 300 gam/ ngày

Phân nhóm chất béo: theo KNDD 2016: nam > 83 gam/ ngày; nữ > 77 gam/ ngày

Phân nhóm rau và trái cây, nhóm đồ ngọt theo khoảng tứ vị

Có sự khác biệt rõ rệt trong việc tiêu thụ chất đường bột hàng ngày, mức độ tiêu thụ đồ ngọt, tần suất ăn sáng và tần suất uống nước ngọt giữa các nhóm.

Tỷ lệ TC – BP trong nhóm tiêu thụ chất đường bột vượt KNDD chỉ bằng 0,72 lần so với nhóm không vượt mức KNDD (p < 0,05) Đồng thời, tỷ lệ TC – BP trong nhóm tiêu thụ đồ ngọt hàng ngày từ 41,1 – 80 gam chỉ bằng 0,50 lần so với nhóm tiêu thụ đồ ngọt hàng ngày.

< 23 gam, tỷ lệ TC – BP trong nhóm tiêu thụ đồ ngọt mỗi ngày > 80 gam chỉ bằng 0,53 lần so với nhóm tiêu thụ đồ ngọt mỗi ngày < 23 gam (p < 0,05).

❖ Mối liên quan đa biến giữa tình trạng thừa cân – béo phì và các yếu tố liên quan độc lập:

Sau khi phân tích đơn biến, các yếu tố liên quan đến TC – BP có giá trị p < 0,25 hoặc các yếu tố liên quan quan trọng bao gồm:

 Phân nhóm thời gian dành cho hoạt động sinh hoạt thường ngày

 Phân nhóm thời gian dành cho hoạt động tĩnh tại trong tuần và cuối tuần

 Phân nhóm chất đường bột mỗi ngày: theo KNDD 2016

 Phân nhóm rau tiêu thụ mỗi ngày: theo khoảng tứ vị

 Phân nhóm trái cây tiêu thụ mỗi ngày: theo khoảng tứ vị

 Phân nhóm đồ ăn ngọt tiêu thụ mỗi ngày: theo khoảng tứ vị

 Tần suất ăn sáng thường xuyên ≥ 5 ngày/tuần

 Tần suất uống nước ngọt thường xuyên ≥ 5 ngày/tuần

Sự tương tác giữa biến số giới tính và tình trạng dậy thì là một yếu tố quan trọng cần xem xét Tuy nhiên, biến số tuổi có hiện tượng đa cộng tuyến, do đó không được đưa vào mô hình hồi quy đa biến.

Các yếu tố được đưa vào mô hình hồi quy logistic đa biến theo thứ bậc, dựa trên khung khái niệm mô hình sinh thái – xã hội của Davison (2001), nhằm khảo sát mối liên hệ với tình trạng TC – BP.

Cấp 1: yếu tố khu vực sống được đưa vào mô hình

➔ Kết quả biến số này có p < 0,05 được giữ lại trong các mô hình tiếp theo

Cấp 2: Tiến hành phân nhóm thời gian cho các hoạt động sinh hoạt thường ngày, bao gồm cả thời gian dành cho hoạt động tĩnh tại trong tuần và vào cuối tuần.

➔ Kết quả: biến số phân nhóm thời gian dành cho hoạt động sinh hoạt thường ngày có p < 0,05, sẽ được giữ lại trong các mô hình tiếp theo

Cấp 3: đưa tiếp vào mô hình nhóm các biến số về phân nhóm hành vi ăn uống: phân nhóm chất đường bột tiêu thụ/ngày, phân nhóm rau tiêu thụ/ngày, phân nhóm trái cây tiêu thụ/ngày, phân nhóm đồ ăn ngọt tiêu thụ/ngày, tần suất ăn sáng thường xuyên/tuần, tần suất uống nước ngọt thường xuyên/tuần

➔ Kết quả: biến số phân nhóm đồ ăn ngọt/ngày có p < 0,05 được giữ lại trong các mô hình tiếp theo

Cấp 4: đưa tiếp vào mô hình biến số tương tác giữa giới tính và tình trạng dậy thì

➔ Kết quả biến số tương tác giữa giới tính và tình trạng dậy thì có ảnh hưởng đến biến kết cục, với p < 0,05 và được giữ lại trong mô hình

Kết quả phân tích đa biến thứ bậc cho thấy bốn yếu tố chính liên quan đến tình trạng thể chất bao gồm: khu vực sống, thời gian dành cho hoạt động sinh hoạt hàng ngày, lượng đồ ngọt tiêu thụ mỗi ngày, và sự tương tác giữa giới tính và tình trạng dậy thì.

Bảng 3.14 Phân tích đa biến thứ bậc các yếu tố liên quan độc lập với tình trạng thừa cân – béo phì

Yếu tố liên quan OR hc ,

Nhóm HĐTL sinh hoạt thường ngày 0,012

Tương tác giới tính và dậy thì

Nữ dậy thì 2,87 [1,72 – 4,82] 0,001 Nam chưa dậy thì 6,84 [3,89 – 12,05] < 0,001 Nam dậy thì 7,02 [4,13 – 11,94] < 0,001 p b : hồi qui logistic, hiệu ứng cụm

Sự thay đổi về hành vi ăn uống sau 6 tháng theo dõi, giữa 2 nhóm học sinh lớp 6 được can thiệp và không được can thiệp

Bảng 3.20 Mức tiêu thụ lương thực thực phẩm của nhóm chứng và nhóm can thiệp trước can thiệp

TB [KTC 95%] TB [KTC 95%] p* Lượng rau ăn vào mỗi ngày 29 [24 – 33] 26 [23 – 30] 0,750

Lượng trái cây ăn vào mỗi ngày 175 [152 – 198] 187 [164 – 209] 0,823

Lượng đồ ngọt ăn vào mỗi ngày 72 [60 – 84] 66 [56 – 75] 0,650

Kiểm định t-test cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về lượng rau, trái cây và đồ ngọt tiêu thụ trung bình mỗi ngày giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp trước can thiệp (p > 0,05).

Bảng 3.21 Sự thay đổi mức tiêu thụ lương thực thực phẩm của nhóm chứng và nhóm can thiệp sau khi hiệu chỉnh

Lượng rau ăn vào mỗi ngày

Lượng trái cây ăn vào mỗi ngày

Lượng đồ ngọt ăn vào mỗi ngày

+: số liệu đã được MI (multiple imputation)

Phân tích mô hình hiệu ứng hỗn hợp đa cấp bao gồm việc điều chỉnh các yếu tố như giới tính, tuổi tác, chỉ số khối cơ thể (BMI) ban đầu, tình trạng dậy thì, và sự tương tác giữa nhóm can thiệp và thời điểm đo lường Mô hình này cũng xem xét tác động cố định và tác động ngẫu nhiên từ cụm trường Kết quả p* được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa sự thay đổi trước và sau của nhóm chứng với sự thay đổi của nhóm can thiệp.

Sau khi điều chỉnh các yếu tố như tuổi tác, giới tính, chỉ số BMI ban đầu, tình trạng dậy thì, cụm trường và mức tiêu thụ thực phẩm ban đầu, chúng ta có thể có cái nhìn rõ ràng hơn về ảnh hưởng của những yếu tố này đối với sức khỏe và dinh dưỡng.

Sau can thiệp, nhóm can thiệp đã tăng cường tiêu thụ trái cây lên 44 gam mỗi ngày so với nhóm chứng, với sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0,002) Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nào được ghi nhận ở các mức tiêu thụ lương thực thực phẩm khác giữa hai nhóm.

Bảng 3.22 Thói quen ăn uống của nhóm chứng và nhóm can thiệp trước can thiệp

Tần suất uống nước ngọt có ga thường xuyên (≥ 5 lần/tuần) 0,630

Tần suất ăn sáng thường xuyên (≥ 5 lần/tuần) 0,402

Trước khi can thiệp, tần suất uống nước ngọt ≥ 5 lần/tuần giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Tuy nhiên, tần suất ăn sáng ≥ 5 lần/tuần giữa hai nhóm lại có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), với nhóm can thiệp có tần suất ăn sáng thường xuyên cao hơn nhóm chứng.

Bảng 3.23 Sự thay đổi thói quen ăn uống của nhóm chứng và nhóm can thiệp sau khi hiệu chỉnh

Khác biệt giữa can thiệp và chứng p *

Tần suất uống nước ngọt có ga thường xuyên (≥ 5 lần/ tuần)

Tần suất ăn sáng thường xuyên (≥ 5 lần/ tuần)

+: số liệu đã được MI (multiple imputation)

Phân tích mô hình hồi quy Poisson đa cấp đã được thực hiện, điều chỉnh cho các yếu tố như giới tính, tuổi tác, chỉ số BMI ban đầu, tình trạng dậy thì, và sự tương tác giữa nhóm can thiệp và thời điểm đo lường Kết quả cho thấy tác động cố định và tác động ngẫu nhiên từ cụm trường, với p * được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa sự thay đổi trước và sau () của nhóm chứng và nhóm can thiệp, thông qua phương pháp so sánh khác biệt ( diff – diff).

Sau khi điều chỉnh theo tuổi, giới tính, chỉ số BMI ban đầu, tình trạng dậy thì, cụm trường và các yếu tố kết cục ban đầu như tần suất uống nước ngọt và tần suất ăn sáng, kết quả cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa những yếu tố này và sức khỏe tổng thể.

So sánh tần suất uống nước ngọt và ăn sáng giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) giữa thời điểm trước và sau can thiệp.

Sự thay đổi thời gian hoạt động thể lực và tĩnh tại sau 6 tháng theo dõi, giữa 2 nhóm học sinh lớp 6 được can thiệp và không được can thiệp

Bảng 3.24 Thời gian trung bình mỗi ngày hoạt động thể lực vừa – mạnh và hoạt động tĩnh tại của nhóm chứng và nhóm can thiệp trước can thiệp

Thời gian tĩnh tại trong tuần

Thời gian ngồi trước màn hình trong tuần

Thời gian tĩnh tại cuối tuần

Thời gian ngồi trước màn hình cuối tuần

Kiểm định t-test cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp về thời gian trung bình hoạt động thể lực, thời gian hoạt động tĩnh tại và thời gian ngồi trước màn hình trong tuần cũng như cuối tuần trước khi can thiệp (p > 0,05).

Phương pháp "multiple imputation" được áp dụng để "điền" các dữ liệu bị thiếu, đảm bảo tính ngẫu nhiên trong phân phối can thiệp ban đầu Để đánh giá hiệu quả của can thiệp, sự khác biệt giữa thay đổi các kết cục chính của nhóm can thiệp và nhóm chứng ( diff – diff) được trình bày qua kết quả phân tích bộ dữ liệu đã được "điền" bằng phương pháp này.

Bảng 3.25 trình bày sự thay đổi thời gian hoạt động thể lực và hoạt động tĩnh của nhóm chứng và nhóm can thiệp, so sánh trước và sau khi can thiệp đã được hiệu chỉnh Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm, nhấn mạnh tác động của can thiệp đến thói quen hoạt động thể chất.

(phút/ngày) trước – sau trong từng nhóm

Khác biệt giữa can thiệp và chứng

TB [KTC 95%] * TB [KTC 95%] * p * HĐTL vừa – mạnh

Thời gian tĩnh tại trong tuần

Thời gian ngồi trước màn hình trong tuần

Thời gian tĩnh tại cuối tuần

Thời gian ngồi trước màn hình cuối tuần

+: số liệu đã được MI (multiple imputation)

Phân tích mô hình tác động hỗn hợp đa cấp đã được thực hiện, điều chỉnh cho các yếu tố như giới tính, tuổi tác, chỉ số BMI ban đầu, tình trạng dậy thì, và sự tương tác giữa nhóm can thiệp và thời điểm đo lường Kết quả cho thấy sự khác biệt giữa sự thay đổi trước và sau can thiệp ở nhóm chứng so với nhóm can thiệp, với các tác động cố định được xác định và cụm trường được coi là tác động ngẫu nhiên.

Sau khi điều chỉnh các yếu tố như tuổi, giới tính, chỉ số BMI ban đầu, tình trạng dậy thì, cụm trường học và các yếu tố kết cục ban đầu, bao gồm thời gian hoạt động thể lực trung bình và thời gian tĩnh tại trong tuần hoặc cuối tuần ban đầu, chúng tôi đã thu được kết quả đáng chú ý.

Sự thay đổi về thời gian trung bình hoạt động thể lực giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng sau can thiệp cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Cụ thể, thời gian trung bình hoạt động thể lực của nhóm can thiệp tăng lên khoảng 8 phút mỗi ngày so với thời điểm trước can thiệp, nhiều hơn đáng kể so với nhóm chứng.

Sự thay đổi về thời gian hoạt động tĩnh tại giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) sau can thiệp Tuy nhiên, nhóm can thiệp đã giảm thời gian ngồi trước màn hình trong tuần, với mức giảm trung bình 11 phút/ngày so với nhóm chứng (p = 0,020).

Sự thay đổi về tình trạng thừa cân – béo phì

Bảng 3.26 Sự thay đổi tình trạng thừa cân/ béo phì của nhóm chứng và nhóm can thiệp sau khi hiệu chỉnh

Khác biệt giữa can thiệp và chứng p *

+: số liệu đã được MI (multiple imputation)

Mô hình hồi quy Poisson đa cấp được phân tích, điều chỉnh cho các yếu tố như giới tính, tuổi tác, chỉ số BMI ban đầu, tình trạng dậy thì, và sự tương tác giữa nhóm can thiệp và thời điểm đo lường Kết quả được đánh giá tại thời điểm ban đầu với tác động cố định, cùng với tác động ngẫu nhiên từ cụm trường Thực hiện so sánh sự khác biệt giữa thay đổi trước và sau () của nhóm chứng và nhóm can thiệp để đưa ra kết luận chính xác.

Sau khi điều chỉnh các yếu tố như tuổi tác, phân nhóm thừa cân/béo phì ban đầu, giai đoạn dậy thì, giới tính và cụm trường, tỷ lệ TC – BP của nhóm can thiệp không có sự khác biệt đáng kể so với nhóm chứng khi so sánh thời điểm sau can thiệp với trước can thiệp.

BÀN LUẬN

Tình trạng thừa cân – béo phì học sinh lớp 6 Thành phố Hồ Chí Minh

Theo phân loại của IOTF, tỷ lệ béo phì trong nghiên cứu của chúng tôi đạt 13%, trong khi tỷ lệ thừa cân là 32%, dẫn đến tỷ lệ chung có tình trạng thừa cân - béo phì là 45% Ngược lại, theo phân loại của WHO, các tỷ lệ tương ứng là 25% cho béo phì, 31% cho thừa cân, và 56% cho tổng số trẻ em có tình trạng này Điều này cho thấy có tới 11% trẻ em trong nghiên cứu không thuộc vào các nhóm này.

Tỷ lệ thừa cân theo tiêu chuẩn IOTF thường thấp hơn so với WHO, như được chỉ ra trong nhiều nghiên cứu Nghiên cứu của Tăng Kim Hồng năm 2004 trên 2.660 học sinh THCS tại TP HCM cho thấy việc áp dụng điểm cắt BMI theo IOTF giúp ước lượng mức độ thừa cân ở trẻ em và thanh thiếu niên một cách chính xác hơn Một nghiên cứu năm 2018 trên 2.788 trẻ từ 11-14 tuổi tại ba miền Việt Nam cũng xác nhận tỷ lệ thừa cân theo IOTF là 17,1% và 5,4%, trong khi theo WHO là 17,4% và 8,6% Các nghiên cứu quốc tế khác trên đối tượng từ 5-19 tuổi cũng ghi nhận tỷ lệ thừa cân theo IOTF thấp hơn so với WHO.

Phát hiện này của chúng tôi tiếp tục củng cố xu hướng tăng mạnh của tình trạng

TC – BP tại TP HCM Năm 2007, một nghiên cứu trên các trường cấp 2 nội thành

Tại TP HCM, nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Hạnh Đoan Trang và cộng sự cho thấy tỷ lệ thừa cân – béo phì ở trẻ vị thành niên đã tăng lên 15,5% theo tiêu chuẩn IOTF.

2010, nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Vân Phương ghi nhận tỷ lệ TC – BP ở trẻ từ 11-

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ 14 tuổi là 27,5%, trong khi theo tiêu chuẩn IOTF là 21% Năm 2016, Tô Gia Quyền ghi nhận tỷ lệ thừa cân - béo phì chung ở học sinh lớp 5 tại nội thành TP HCM là 52,7% Đến năm 2018-2020, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ thừa cân - béo phì ở trẻ 11-12 tuổi rất cao, với 56% theo tiêu chuẩn WHO và 45% theo tiêu chuẩn IOTF Điều này cũng tương đồng với báo cáo của Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật TP HCM vào năm 2019-2020, cho thấy tỷ lệ thừa cân đạt 41,9% và tỷ lệ béo phì là 16% trong nhóm học sinh trung học cơ sở.

Đường cong phân vị BMI theo IOTF cao hơn so với đường cong của WHO ở cả hai giới tính, cho cả thừa cân và béo phì Do đó, tỷ lệ TC – BP theo tiêu chuẩn IOTF luôn thấp hơn so với định nghĩa của WHO.

Bảng 4.1 Tỷ lệ thừa cân – béo phì qua các nghiên cứu trên trẻ vị thành niên tại TP HCM

Tác giả, năm xuất bản

Năm NC Đối tượng NC Chuẩn Thừa cân

Trung tâm kiểm soát bệnh tật TP HCM 66

Thừa cân và béo phì đang trở thành vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Tại TP HCM, thành phố có mức độ đô thị hóa cao nhất miền Nam, tỷ lệ thừa cân và béo phì cũng cao hơn so với các khu vực khác Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra mối liên hệ giữa sự phát triển kinh tế xã hội và tình trạng thừa cân, béo phì trong cộng đồng.

Năm 2018, tỷ lệ thừa cân - béo phì ở trẻ em trong độ tuổi từ 11-14 tại Việt Nam đạt 26%, trong khi tại miền Nam con số này lên tới 35,2% theo tiêu chuẩn của WHO Đặc biệt, tại khu vực thành phố, thống kê cho thấy tỷ lệ này có xu hướng cao hơn so với các vùng nông thôn.

Hà Nội ghi nhận tỷ lệ tăng trưởng tín dụng - bảo hiểm là 36,2%, thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi Điều này cho thấy vấn đề tín dụng - bảo hiểm tại TP HCM vẫn đang gia tăng và nghiêm trọng nhất so với toàn quốc.

Bảng 4.2 Tỷ lệ thừa cân – béo phì trong các nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu, năm xuất bản

Mô tả Tiêu chuẩn Chung

Tổng điều tra dinh dưỡng

Tổng điều tra dinh dưỡng

Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ thừa cân - béo phì (TC - BP) đang gia tăng đáng kể theo thời gian Cụ thể, theo tổng điều tra dinh dưỡng, tỷ lệ TC - BP theo tiêu chuẩn WHO đã tăng từ 8,5% trong giai đoạn 2009-2010 lên 19% vào năm 2019-2020 Đặc biệt, dữ liệu năm 2020 cho thấy tỷ lệ TC - BP ở trẻ em 11-14 tuổi đạt 26%, với miền Nam có tỷ lệ cao nhất là 35% Tình trạng TC - BP hiện nay được coi là một "dịch bệnh" hiện đại, ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển thể chất và sức khỏe của trẻ em khi trưởng thành Điều này càng trở nên nghiêm trọng hơn khi tỷ lệ này tăng không kiểm soát, đặc biệt trong bối cảnh xã hội đang phát triển theo xu hướng "Tây hóa".

Bảng 4.3 Thừa cân-béo phì ở VN, Đông Nam Á và thế giới từ 2006 – 2016

Tuổi Năm Tỷ lệ thừa cân – béo phì theo WHO (%)

Việt Nam Đông Nam Á Thế giới

Nguồn: The Global Health Observatory, 2016 140

Xu hướng gia tăng tỷ lệ tiêm chủng - bảo vệ tại TP HCM phản ánh sự phát triển chung của Việt Nam và thế giới Theo thống kê toàn cầu từ năm 2006 đến 2016, tỷ lệ tiêm chủng - bảo vệ ở độ tuổi từ 5-19 tuổi đã tăng từ 12,8% vào năm 2006 lên 18,4% vào năm 2016.

2016 Xu hướng tương tự cũng ghi nhận tại khu vực Đông Nam Á và tại Việt Nam

Từ năm 2006 đến 2016, Đông Nam Á ghi nhận tỷ lệ tăng từ 4,6% đến 8,9%, trong khi Việt Nam có mức tăng từ 3,7% đến 9,7% Mặc dù tỷ lệ TC – BP của Việt Nam và Đông Nam Á thấp hơn so với mức trung bình toàn cầu, xu hướng tăng trưởng của Việt Nam lại cao hơn 140 so với Đông Nam Á.

Tình trạng sức khỏe của trẻ em phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa và địa lý của quốc gia Để cải thiện tình hình, cần triển khai các chương trình can thiệp mạnh mẽ, không chỉ tập trung vào cá nhân mà còn xây dựng một môi trường xã hội lành mạnh xung quanh trẻ Nhận thức, thái độ và hành vi ăn uống cùng với vận động của mỗi người đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự thay đổi tích cực.

Các yếu tố liên quan đến tình trạng thừa cân – béo phì học sinh lớp 6 Thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu ghi nhận mối liên quan giữa TC – BP và giới tính Cụ thể, tổng tỷ lệ

Theo định nghĩa của WHO, tỷ lệ tăng huyết áp (TC – BP) ở nam giới cao hơn 70% so với nữ giới (45%, p < 0,05) Nghiên cứu trên 1626 trẻ em từ 7-16 tuổi tại 4 thành phố lớn ở Trung Quốc năm 2017 cho thấy trẻ trai có tỷ lệ béo phì cao hơn trẻ gái (15,2% so với 6,9% và 27,4% so với 11,7%), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Tương tự, một cuộc điều tra dân số lớn tại 4 thành phố ở Hà Lan năm 2015 cũng ghi nhận trẻ trai có tỷ lệ béo phì cao hơn trẻ gái với các con số tương tự và sự khác biệt này cũng có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).

Theo số liệu từ Điều tra dinh dưỡng và sức khoẻ quốc gia tại Mỹ (NHANES) III trong giai đoạn 1988 – 1994 và 1999-2004, chỉ số BMI, chu vi vòng eo và độ dày nếp gấp da tam đầu của trẻ em Mỹ từ 12-19 tuổi đã tăng đáng kể theo từng năm Cụ thể, chỉ số BMI trung bình điều chỉnh hàng năm tăng 0,60 ở trẻ gái và 0,64 ở trẻ trai.

Tại Việt Nam, nghiên cứu về thừa cân và béo phì cho thấy tỷ lệ tăng cholesterol toàn phần (TC) và huyết áp (BP) ở nam giới cao hơn nữ giới từ 2,04 đến 2,66 lần, với sự chênh lệch tỷ lệ dao động từ 4,8% đến 34,2%.

Sự chênh lệch trong nghiên cứu của chúng tôi đạt mức 25%, cao hơn so với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và chỉ thấp hơn nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Diệp.

Bảng 4.4 Thừa cân – béo phì ở trẻ vị thành niên Việt Nam theo giới tính

(%) Nguyễn Hoàng Hạnh Đoan Trang, 2010 65 19,3 8,2 11,1

Võ Thị Diệu Hiền, 2008 145 10,6 5,8 4,8 Đỗ Thị Ngọc Diệp, 2011 144 67,1 32,9 34,2

Thừa cân 21,14 4,13 7,01 Béo phì 12,41 3,19 9,22 Phan Huong Duong, 2020 50

Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trầm cảm và rối loạn hành vi ăn uống (TC – BP) ở nam giới cao hơn Trẻ trai trong độ tuổi dậy thì thường thích chơi game và dành nhiều thời gian không hoạt động Ngược lại, trẻ gái phát triển nhận thức về vóc dáng và nhu cầu hình thể đẹp sớm hơn, dẫn đến việc họ cẩn thận hơn trong việc kiểm soát ngoại hình và hạn chế TC – BP hiệu quả hơn Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng các can thiệp nên tập trung vào nam giới - nhóm có nguy cơ cao, với những biện pháp đặc thù nhằm cải thiện tuân thủ về chế độ ăn uống và vận động cho nhóm đối tượng này.

Tỷ lệ TC – BP trong nhóm học sinh nội thành nhiều hơn 10% so với nhóm học sinh ngoại thành, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Theo kết quả khảo sát dinh dưỡng năm 2002 của Tăng Kim Hồng và cộng sự tại TP HCM, tỷ lệ thừa cân - béo phì ở học sinh trung học cơ sở tại các trường quận nội thành (8,2% và 0,6%) cao hơn so với các trường huyện ngoại thành (1,6% và 0,2%) Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Hạnh Đoan Trang năm 2004 cũng cho thấy trẻ em từ 11-14 tuổi sống tại quận nội thành TP HCM có tỷ lệ thừa cân - béo phì cao hơn với tỷ lệ odds ratio là 1,8 (KTC 95%).

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Vân Phương (2013) cho thấy tỷ lệ TC - BP ở các quận nội thành có điều kiện kinh tế tốt đạt 24,4%, trong khi ở các quận kinh tế kém hơn chỉ là 14,2% Tương tự, nghiên cứu của Lưu Phương Dung (2017) tại Hà Nội ghi nhận tỷ lệ TC - BP ở các quận nội thành lần lượt là 25,15% và 13,38%, trong khi các quận ngoại thành chỉ đạt 11,39% và 3,33% Nghiên cứu của Phan Huong Duong trên ba miền Bắc, Trung, Nam cũng chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ TC - BP giữa khu vực nội thành và ngoại thành, với tỷ lệ TC - BP ở nội thành lần lượt là 38%, 49%, và 53%, so với các tỷ lệ tương ứng ở ngoại thành là 61%, 50%, và 46%.

Trẻ em sống tại khu vực nội thành hoặc các quận kinh tế phát triển thường tiếp xúc với nhiều loại thực phẩm, nhưng có xu hướng chọn thức ăn nhanh và nhiều năng lượng, dẫn đến nguy cơ béo phì cao hơn Hơn nữa, không gian vui chơi hạn chế ở TP HCM cũng làm giảm tần suất vận động của trẻ Bên cạnh đó, nhịp sống nhanh của thành phố khiến phụ huynh bận rộn, ít thời gian để chuẩn bị bữa ăn dinh dưỡng và tạo điều kiện cho trẻ vận động Vì vậy, việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng và béo phì ở trẻ em nội thành phụ thuộc vào sự quan tâm và hợp tác của gia đình.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tình trạng dậy thì có mối liên quan với tình trạng tăng huyết áp (TC – BP), trong đó nguy cơ mắc TC – BP ở nhóm học sinh đã dậy thì cao hơn 1,22 lần so với nhóm chưa dậy thì, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp 45 thực hiện trên 11 nghiên cứu đoàn hệ với 4.841 trẻ đáp ứng tiêu chuẩn nhận vào cho thấy nhóm trẻ gái béo phì có tỷ lệ dậy thì sớm cao hơn so với nhóm có cân nặng bình thường Cụ thể, nhóm béo phì có nhiều trẻ gái đã có kinh nguyệt hơn với tỷ lệ RR= 1,87 (KTC 95% = 1,59 – 2,19) từ 2 nghiên cứu Tỷ lệ trẻ em gái dậy thì sớm trong nhóm béo phì cũng cao hơn đáng kể với RR= 2,44.

Nghiên cứu cho thấy rằng trong giai đoạn dậy thì, chỉ số BMI có xu hướng gia tăng đáng kể, điều này có thể được giải thích bởi tác động của các nội tiết và sự thay đổi trong hành vi ăn uống của trẻ Trẻ em bắt đầu có sự độc lập cao hơn và tiếp xúc với các lựa chọn thực phẩm đa dạng, đặc biệt là thực phẩm nhanh, giàu năng lượng Những thay đổi trong môi trường như trường học dẫn đến việc trẻ hạn chế hoạt động thể chất và tăng cường các hành vi tĩnh tại Đồng thời, nhu cầu tăng trưởng thể chất cũng khiến trẻ có xu hướng ăn uống nhiều hơn Tình trạng thừa cân, béo phì hiện nay cũng góp phần vào hiện tượng dậy thì sớm trong xã hội.

4.2.4 Vận động thể lực: Ít vận động thể lực và nhiều hoạt động tĩnh tại được xác định là yếu tố nguy cơ của

TC – BP 34 Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chúng tôi chỉ tìm thấy mối liên quan với

1 yếu tố: nhóm học sinh có hoạt động sinh hoạt thường ngày ≥ 60 phút/ngày có tỷ lệ

Nghiên cứu cho thấy nhóm học sinh có hoạt động thể chất hàng ngày dưới 60 phút có tỷ lệ TC – BP thấp hơn đáng kể so với nhóm có hoạt động nhiều hơn (p < 0,05) Ngoài ra, không phát hiện mối liên quan rõ ràng với các hành vi vận động khác sau khi thực hiện phân tích đa biến Trong phân tích đơn biến, nhóm học sinh dành thời gian ngồi trước màn hình từ 120 phút trở lên mỗi tuần có tỷ lệ TC – BP chỉ bằng 0,89 lần so với nhóm ngồi dưới 120 phút (p < 0,05), nhưng sự khác biệt này không còn ý nghĩa thống kê trong phân tích đa biến.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa tình trạng thừa cân - béo phì (TC - BP) và hoạt động thể lực ở trẻ vị thành niên Một nghiên cứu cắt ngang tại Ethiopia vào năm 2015 cho thấy tỷ lệ TC - BP ở trẻ ít vận động cao gấp 3,7 lần so với trẻ hoạt động nhiều Tương tự, nghiên cứu tại TP HCM năm 2016 ghi nhận trẻ 11-12 tuổi xem vi tính ≥ 2 giờ có tỷ lệ TC - BP cao hơn 1,48 lần so với nhóm bình thường Nghiên cứu trên toàn quốc năm 2020 cũng cho thấy sự khác biệt về thời gian vận động giữa các nhóm học sinh với tình trạng cân nặng khác nhau Các kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khuyến khích trẻ em tham gia hoạt động thể chất để giảm nguy cơ thừa cân - béo phì.

Một nghiên cứu tại 5 trong 8 trường tiểu học ở TP HCM cho thấy nhóm học sinh thừa cân – béo phì (TC – BP) dành thêm khoảng 1,5 giờ mỗi tuần để học thêm so với nhóm học sinh có cân nặng bình thường vào các ngày trong tuần, với mức độ ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Sự không đồng nhất giữa nghiên cứu của chúng tôi và các nghiên cứu khác về một số biến số kết cục có thể được giải thích bởi một số yếu tố Thứ nhất, có sự sai lệch do báo cáo theo khuynh hướng xã hội từ nhóm học sinh TC – BP, khi họ có xu hướng giảm bớt thời gian cho các hoạt động tĩnh tại như xem tivi và chơi game, trong khi lại tăng thời gian cho các hoạt động thể lực, dẫn đến việc mất đi mối liên hệ giữa hành vi vận động và tĩnh tại với TC – BP Thứ hai, sự khác biệt trong công cụ đo lường khách quan về vận động và tĩnh tại (như máy gia tốc hoặc máy đếm bước chân) và chủ quan (BCH tự điền), cùng với độ tuổi của đối tượng mẫu khác nhau giữa các nghiên cứu, hạn chế khả năng so sánh kết quả Thứ ba, kết quả về thời gian vận động cường độ vừa và mạnh ở nhóm

Sự thay đổi sau can thiệp về hành vi ăn uống mỗi ngày giữa nhóm chứng so với nhóm can thiệp

so với nhóm can thiệp

4.3.1 Sự thay đổi sau can thiệp về lượng rau, trái cây tiêu thụ mỗi ngày giữa nhóm chứng so với nhóm can thiệp

Sau can thiệp, nhóm can thiệp đã ghi nhận sự tăng trưởng lượng trái cây tiêu thụ hàng ngày cao hơn 44 gam so với nhóm chứng, với sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, không có sự thay đổi đáng kể nào về lượng rau tiêu thụ.

Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy hiệu quả của mô hình can thiệp trong việc thay đổi thói quen ăn rau củ quả lành mạnh hơn

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Trần Thị Xuân Ngọc cho thấy lượng tiêu thụ rau xanh ở nhóm can thiệp tăng từ 73,7 gam lên 119,5 gam, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01), trong khi tiêu thụ quả chín giảm từ 300 gam xuống 250 gam (p < 0,01) Nghiên cứu này chỉ tập trung vào trẻ em trong nhóm can thiệp, khác với nghiên cứu của chúng tôi, áp dụng cho toàn bộ học sinh lớp 6 mà không phân biệt Nghiên cứu không đánh giá sự khác biệt giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp, chỉ so sánh sự thay đổi trước-sau trong từng nhóm Ngoài ra, phương pháp phân tích chưa điều chỉnh cho các yếu tố như thời gian đo, hiệu ứng cụm và các yếu tố cá nhân như tuổi, giới tính, BMI Nghiên cứu năm 2011 của Jemmott chỉ ra rằng trẻ em trong nhóm can thiệp tiêu thụ rau củ quả cao hơn 1,3 lần so với nhóm chứng (KTC 95% = 1,07 - 1,58), với tỷ lệ tiêu thụ trái cây và rau ≥ 5 phần/ngày tăng 2,83% và khẩu phần trái cây trung bình tăng 0,49 phần ăn ở nhóm can thiệp so với 0,33 phần ở nhóm chứng Sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), nhưng lượng trái cây sau can thiệp trong nghiên cứu của chúng tôi tăng ít hơn so với Jemmott, với hiệu quả can thiệp mạnh nhất ở lần theo dõi ngắn hạn.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, việc giao bài tập về nhà cho trẻ cần có sự tham gia tích cực của cha mẹ để đạt được hiệu quả tốt nhất Sự hợp tác của cha mẹ là yếu tố quan trọng trong việc thay đổi chế độ ăn uống tại nhà của trẻ Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đủ điều kiện để đánh giá hiệu quả ngắn hạn sau 3 tháng can thiệp và chưa yêu cầu sự hỗ trợ từ cha mẹ, dẫn đến hiệu quả can thiệp bị hạn chế hơn so với mong đợi.

Nghiên cứu thí điểm mô hình bạn đồng trang lứa trong vai trò thủ lĩnh học sinh tại khu vực Tây Sydney, Úc (2014-2015) đã ghi nhận sự gia tăng đáng kể trong tiêu thụ trái cây và rau xanh của học sinh lớp 10, với tỷ lệ tiêu thụ ≥ 2 phần trái cây/ngày tăng từ 54% lên 63% (p < 0,01) và tiêu thụ ≥ 5 phần rau xanh/ngày từ 8% lên 12% (p < 0,01) Đối với học sinh lớp 8, tỷ lệ tiêu thụ trái cây (≥ 2 phần/ngày) và rau củ (≥ 4 phần/ngày) cũng tăng lần lượt 5% và 3% (p < 0,001) Mặc dù nghiên cứu chưa xem xét đầy đủ các yếu tố tương tác và điều chỉnh, nhưng những kết quả tích cực này đã đóng góp quan trọng cho các dự án và nghiên cứu tiếp theo về can thiệp dinh dưỡng cho thanh thiếu niên thông qua mô hình bạn đồng trang lứa.

Nghiên cứu năm 2017 của Ghamman cho thấy trẻ em trong nhóm can thiệp tăng 3,2% tiêu thụ rau và trái cây ≥ 5 lần/ngày, trong khi nhóm chứng giảm 5,2% sau 3 năm (p < 0,05) Thời gian can thiệp kéo dài 3 năm với tỷ lệ mất dấu dưới 10% và sự thay đổi tích cực duy trì qua 3 lần đánh giá là một thành công đáng ghi nhận Tuy nhiên, hiệu quả can thiệp trên dinh dưỡng chỉ được đánh giá bán định lượng, khiến việc so sánh với nghiên cứu khác còn hạn chế Nghiên cứu của Bere cho thấy can thiệp dài hạn có tác động nhất định đến lượng trái cây và rau quả tiêu thụ Để các chương trình can thiệp có ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe trẻ em, cần thực hiện liên tục và không chỉ coi là giải pháp tạm thời Các nghiên cứu của Evans và Knai cũng chứng minh rằng các chương trình can thiệp đa thành phần hiệu quả hơn trong việc thay đổi chế độ ăn uống của trẻ em và gia đình.

Các khuyến nghị y tế hiện nay đã chuyển từ việc giảm khẩu phần ăn sang việc thay đổi khẩu phần, nhấn mạnh vào việc tăng kích thước khẩu phần và lựa chọn thực phẩm có đậm độ năng lượng thấp Cảm giác no chủ yếu phụ thuộc vào thể tích thức ăn trong mỗi bữa ăn, và việc tăng tỉ trọng rau, quả trong khẩu phần có thể giúp giảm lượng calo tiêu thụ Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kết quả tích cực trong việc gia tăng lượng trái cây tiêu thụ, với nhóm can thiệp đạt khoảng 195 gam trái cây/ngày, tăng 15 gam/ngày so với trước can thiệp, mặc dù vẫn thấp hơn so với khuyến cáo tối thiểu.

Theo khuyến cáo của WHO, người tiêu dùng nên ăn 400 gam rau quả mỗi ngày, trong khi khuyến nghị dinh dưỡng dành cho người Việt Nam năm 2016 chỉ là 160 đến 300 gam Tuy nhiên, mức tiêu thụ rau củ hiện tại vẫn chưa thay đổi đáng kể sau can thiệp, chỉ đạt khoảng 1/10 so với khuyến cáo Nguyên nhân có thể là do cách chế biến rau củ tại Việt Nam thường đơn giản như luộc, hấp, xào, khiến món ăn không đủ hấp dẫn và không thu hút trẻ em, ảnh hưởng đến chế độ ăn uống.

Nhiều đạm và ít rau là thói quen ăn uống phổ biến của người Việt Nam Để cải thiện tình trạng này, cần sự hỗ trợ từ các chuyên gia dinh dưỡng trong việc can thiệp và thay đổi cách chế biến thực phẩm tại gia đình Các món rau củ và trái cây nên được chế biến sao cho hấp dẫn hơn về mặt vị giác và thị giác của trẻ, chẳng hạn như rau trộn với sốt hoặc ya-ua trái cây.

4.3.2 Sự thay đổi sau can thiệp về lượng đồ ăn ngọt tiêu thụ mỗi ngày, tần suất ăn sáng thường xuyên mỗi tuần và tần suất uống nước ngọt thường xuyên mỗi tuần giữa nhóm chứng so với nhóm can thiệp Ở thời điểm sau can thiệp, trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm can thiệp không có sự thay đổi so với nhóm chứng về lượng thức ăn ngọt tiêu thụ mỗi ngày, về tần suất ăn sáng thường xuyên và tần suất uống nước ngọt thường xuyên ≥ 5 lần mỗi tuần

❖ Một số nghiên cứu cho kết quả cải thiện tích cực, khác với nghiên cứu của chúng tôi

Nghiên cứu của Trần Thị Xuân Ngọc cho thấy sau can thiệp tại hai trường học ở Hà Nội, tỷ lệ học sinh uống nước ngọt có ga giảm từ 70,8% xuống 48,7%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) Tương tự, nghiên cứu SALSA tại Sydney (2014-2015) ghi nhận sự thay đổi trong thói quen ăn sáng của học sinh lớp 10, với trẻ nam tăng 13% và trẻ nữ giảm 0,4%, cùng với việc giảm 5% tiêu thụ nước ngọt Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa so sánh được sự khác biệt giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp, cũng như không xem xét các yếu tố thay đổi theo thời gian, hiệu ứng cụm và mối tương quan giữa các cá thể Do đó, thông tin hiện tại vẫn chưa đủ để đánh giá hiệu quả can thiệp của chúng tôi.

Nghiên cứu của Lucia Tarro năm 2014 cho thấy kết quả tương tự với nghiên cứu của chúng tôi, khi chương trình can thiệp khuyến khích lối sống lành mạnh được thực hiện tại 24 trường can thiệp và 14 trường chứng, với sự tham gia của sinh viên đại học đóng vai trò là "tác nhân thúc đẩy sức khỏe" Nghiên cứu kéo dài 28 tháng đã sử dụng mô hình hỗn hợp tuyến tính tổng quát (GLMM) để phân tích sự khác biệt về kết quả giữa hai nhóm Kết quả cho thấy, tần suất ăn và uống nước ngọt vào buổi sáng hàng tuần không có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng sau can thiệp.

Nghiên cứu can thiệp của Elizabeth Waters trên 1426 học sinh từ 12 trường tại Victoria, Úc, cho thấy sau can thiệp, nhóm học sinh can thiệp tăng cường tiêu thụ trái cây lên 19% (p = 0,05), nhưng không ghi nhận sự thay đổi trong tần suất uống nước ngọt có ga (OR hc = 0,13, p = 0,55) và ăn rau (OR hc = 0,89, p = 0,10) Nguyên nhân cho thực trạng này có thể liên quan đến sự phát triển mạnh mẽ của các tập đoàn nước giải khát và lối sống phương Tây đang thâm nhập vào giới trẻ Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng nước ngọt có liên quan chặt chẽ đến tình trạng béo phì ở trẻ vị thành niên Theo khảo sát Global School-based Student Health Survey (GSHS), khoảng 60% trẻ vị thành niên ở các nước đang phát triển có từ 2 thói quen không tốt như tiêu thụ thực phẩm nhanh, uống nước ngọt nhiều và ăn ít rau quả.

Tỷ lệ trẻ vị thành niên Việt Nam mắc phải ba thói quen không tốt ước tính khoảng 40%, cao trong khu vực Xu hướng này phát triển mạnh mẽ khiến cho các biện pháp can thiệp ngắn hạn chưa tạo ra sự thay đổi đáng kể, trong khi môi trường xung quanh vẫn duy trì những thói quen xấu Theo mô hình Davison, can thiệp không chỉ nên tập trung vào trẻ mà còn cần chú trọng đến cộng đồng xung quanh như thói quen ăn uống của bạn bè, gia đình và chế độ ăn trong trường học Do đó, để thay đổi thói quen sức khỏe, cần có sự hỗ trợ từ các Ban ngành và lãnh đạo để triển khai các chiến dịch can thiệp có tác động mạnh mẽ và bền vững, nhằm cải thiện môi trường nguy cơ xung quanh trẻ, từ đó tạo điều kiện cho sự thay đổi hành vi.

Sự thay đổi sau can thiệp về thời gian hoạt động thể lực và hoạt động tĩnh tại

Sau can thiệp, thời gian trung bình hoạt động thể lực của nhóm can thiệp tăng khoảng 9 phút/ngày so với nhóm chứng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) sau khi đã điều chỉnh các yếu tố giới tính, cụm trường và thời gian hoạt động thể lực ban đầu.

Mặc dù không có sự khác biệt đáng kể về tổng thời gian trung bình hoạt động tĩnh tại giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng trước và sau can thiệp (p > 0,05), nhưng nhóm can thiệp đã giảm thời gian ngồi trước màn hình (bao gồm xem ti vi, xem phim, chơi game vi tính và sử dụng điện thoại) trong tuần, ít hơn 10 phút mỗi ngày so với nhóm chứng (p = 0,028).

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện đáng kể trong việc tăng cường hoạt động thể lực và giảm thiểu hoạt động tĩnh tại ở nhóm can thiệp Chúng tôi đã phân loại hoạt động tĩnh tại theo tuần và cuối tuần để nhận diện sự khác biệt trong thói quen này, vì vào cuối tuần, trẻ không đến trường, dẫn đến khả năng trẻ tham gia vào các hoạt động tĩnh tại tại nhà cao hơn nhiều so với các ngày trong tuần.

Một nghiên cứu can thiệp kéo dài 3 năm nhằm đánh giá sự thay đổi kiến thức, thái độ và hành vi liên quan đến vận động cho thấy không có sự cải thiện về hành vi vận động ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng Nghiên cứu này dựa trên chương trình can thiệp HealthKick đã được chuẩn hóa, nhưng thời gian can thiệp và theo dõi dài hạn vừa là ưu điểm, vừa là hạn chế Tỷ lệ mất mẫu theo dõi cao hơn đáng kể so với các nghiên cứu dưới 1 năm, và mức độ tuân thủ các bài tập can thiệp trong 3 năm là một thách thức lớn Chỉ có 25,9% các hoạt động được thực hiện theo kế hoạch, cho thấy mô hình can thiệp vận động chưa đạt hiệu quả mặc dù quy mô nghiên cứu lớn Tần suất các hoạt động can thiệp thấp cũng cần được lưu ý trong việc xây dựng mô hình can thiệp vận động.

Các nghiên cứu can thiệp dựa vào nền tảng trường học và gia đình đã cho thấy kết quả khả quan tương tự như nghiên cứu của chúng tôi Theo Rowena Naidoo (2009), tỷ lệ học sinh lớp 6 tham gia hoạt động thể lực ≥ 5 lần/tuần đã tăng từ 35% lên 55% sau can thiệp (p < 0,05), và sự tham gia của học sinh vào các hoạt động thể thao cũng tăng, đặc biệt là trong việc thực hiện các công việc nhà Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ được thực hiện trên 4 trường mà không có nhóm chứng, hạn chế khả năng giải thích hiệu quả thật sự của can thiệp Tương tự, nghiên cứu của Tian (2017) tại Nam Phi cũng không ghi nhận hiệu quả can thiệp giữa 2 nhóm Nghiên cứu này sử dụng thiết kế có nhóm chứng với 110 học sinh lớp 7 từ 12-13 tuổi (nhóm can thiệp n = 40; nhóm đối chứng n = 70) từ 2 trường ở Potchefstroom, trong đó nhóm can thiệp tham gia vào chương trình can thiệp thể dục thể thao kéo dài.

Nghiên cứu kéo dài 12 tuần khuyến cáo dành một giờ mỗi tuần cho hoạt động thể dục tại trường học đã cho thấy sự gia tăng đáng kể trong hoạt động thể lực cường độ vừa (ES = 0,47; p = 0,014), cường độ mạnh (ES = 0,48; p = 0,012) và tổng hoạt động thể lực (ES = 0,51; p = 0,008), cùng với sự giảm các hành vi ít vận động (ES = 0,39; p = 0,041) sau chương trình can thiệp Trong khi đó, nhóm chứng không ghi nhận thay đổi đáng kể nào Tuy nhiên, nghiên cứu chưa phân tích được sự khác biệt giữa hai nhóm can thiệp và chứng do cỡ mẫu nhỏ (40 học sinh nhóm chứng, 70 học sinh nhóm can thiệp) làm giảm sức mạnh thống kê của các phân tích.

Một tổng quan hệ thống về các nghiên cứu can thiệp nhằm tăng cường thói quen vận động ở trẻ vị thành niên Châu Âu, được thực hiện bởi Rik Crutzen vào năm 2010, cho thấy hiệu quả can thiệp có sự biến động lớn, từ rất nhỏ (ES = 0,08) đến rất lớn (ES = 3,53) Mặc dù vậy, hầu hết các nghiên cứu đều ghi nhận sự tiến bộ đáng kể trong vận động thể lực sau can thiệp Kết luận của tổng quan chỉ ra rằng: (1) Các biện pháp can thiệp tại trường học thường cải thiện thời gian hoạt động thể chất, tuy nhiên có sự khác biệt lớn về hiệu quả giữa các biện pháp, và (2) Phương pháp tiếp cận đa thành phần, bao gồm môi trường xung quanh trẻ như gia đình và trường học, thường mang lại hiệu quả rõ rệt hơn.

Tổng quan đã chỉ ra rằng phương pháp tiếp cận đa thành phần có khả năng tạo ra tác động hiệp đồng hiệu quả cao.

Nghiên cứu tại Tây Sydney, Úc nhằm đánh giá tính khả thi của chương trình SALSA đã triển khai tại 88 trường học trong giai đoạn 2014 – 2015 Sau can thiệp, tỷ lệ hoạt động thể lực vừa - mạnh (MVPA) của các học sinh lớp 10 (n = 415) thay đổi rõ rệt, với trẻ nam tăng 14% và trẻ nữ giảm 2% (p < 0,01) Nhóm học sinh can thiệp cũng giảm 10 phút/ngày cho các hoạt động tĩnh tại trong thời gian rảnh (p = 0,001) Tuy nhiên, nghiên cứu không có nhóm chứng, dẫn đến việc so sánh chỉ diễn ra giữa các thời điểm trước và sau can thiệp trong cùng một nhóm, làm giảm khả năng giải thích hiệu quả thực sự của biện pháp này.

Một nghiên cứu ngẫu nhiên theo cụm của Rachel Sutherland đã được thực hiện tại 10 trường trung học cơ sở ở vùng khó khăn New South Wales, Úc, với sự tham gia của học sinh lớp 7 và theo dõi vào năm lớp 8 Kết quả cho thấy nhóm can thiệp có sự gia tăng đáng kể về thời gian hoạt động thể lực MVPA trung bình hàng ngày, với mức tăng 3,85 phút so với nhóm chứng (KTC 95% = 0,79 - 6,91, p ≤ 0,01) Nghiên cứu có thiết kế ngẫu nhiên và sử dụng máy gia tốc Actigraph GT3X để đo lường hoạt động thể chất, nhưng việc thu thập dữ liệu chỉ tập trung vào nhóm dân cư khó khăn làm giảm khả năng khái quát cho dân số chung Thêm vào đó, việc sử dụng gia tốc kế ở nhóm tuổi này cũng gặp nhiều thách thức và đã được thảo luận trong nhiều nghiên cứu khác.

Tại Việt Nam, nghiên cứu can thiệp trong trường học đã chỉ ra sự cải thiện đáng kể về kết quả vận động và tĩnh tại Một nghiên cứu năm 2012 của Trần Thị Xuân Ngọc tại Hà Nội cho thấy sau khi can thiệp, tỷ lệ học sinh tham gia chơi game giảm từ 26,6%.

Tỷ lệ xem tivi giảm từ 97,2% xuống 90,0% nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Đánh giá sự thay đổi về sức nhanh, sức mạnh và sức bền của nhóm trẻ TC – BP thông qua các hoạt động thể dục như nhảy dây, nhảy xa, và chạy ngắn cho thấy tỷ lệ học sinh đạt yêu cầu về số lần nhảy dây/phút tăng 5% sau can thiệp Nghiên cứu của Ngô Thị Xuân (2020) tại Bắc Ninh cho thấy sau 30 tuần can thiệp dựa vào trường học, thời gian chạy khoảng cách 50m của nhóm can thiệp giảm từ 18,3 ± 1,8 giây.

Nghiên cứu cho thấy thời gian thực hiện một bài kiểm tra giảm xuống còn 17 ± 1,8 giây, khoảng cách nhảy xa tăng từ 91,3 ± 6,6 cm lên 97 ± 7 cm, và số lần ngồi xuống – đứng lên trong 30 giây tăng từ 21,2 ± 3,8 lần lên 23,8 ± 2,9 lần Tuy nhiên, các nghiên cứu trước chỉ phân tích đơn biến mà chưa so sánh sự khác biệt giữa hai nhóm chứng và can thiệp trước và sau can thiệp, cũng như chưa xem xét sự tương tác theo thời gian và hiệu ứng cụm Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là nhóm trẻ có tình trạng đặc biệt, không phải cộng đồng dân số chung, nhưng các can thiệp tại miền Bắc Việt Nam đã ghi nhận sự thay đổi tích cực trong kết quả vận động thông qua mô hình can thiệp dựa trên trường học kết hợp với gia đình và bạn bè Điểm nổi bật trong nghiên cứu của chúng tôi là nhấn mạnh vai trò của nhóm bạn cùng trang lứa, đặc biệt là nhóm thủ lĩnh học sinh lớp 8, trong tất cả các hoạt động can thiệp, nhằm xây dựng sự tự tin cho cộng đồng trẻ vị thành niên Việt Nam.

Nghiên cứu cho thấy mặc dù có cải thiện về hành vi vận động ở trẻ, cả nhóm can thiệp và nhóm chứng vẫn chỉ đạt thời gian hoạt động thể lực dưới mức khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới, với 61 phút/ngày và 59 phút/ngày tương ứng Thời gian tĩnh tại cuối tuần của cả hai nhóm vượt quá mức khuyến nghị, cho thấy thói quen ngồi nhiều của trẻ vị thành niên đang gia tăng, đặc biệt ở TP HCM và trên toàn thế giới Các rào cản như giá trị vận động thấp, thiếu hỗ trợ cho giáo viên thể dục, và sự chú trọng vào thành tích thể thao cần được xem xét nghiêm túc Để đạt hiệu quả cao và bền vững trong can thiệp, cần có sự phối hợp từ gia đình, bạn bè và cộng đồng để thay đổi lối sống không lành mạnh này.

Sự thay đổi sau can thiệp về tình trạng thừa cân – béo phì giữa nhóm chứng so với nhóm can thiệp

so với nhóm can thiệp

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có sự khác biệt về tình trạng TC – BP giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng khi so sánh trước và sau can thiệp.

Nghiên cứu toàn cầu đã chỉ ra rằng các can thiệp có thể cải thiện chỉ số BMI, tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu của chúng tôi lại không đồng nhất với nhận định này.

Năm 2013, Almas và cộng sự đã thực hiện một chương trình can thiệp vận động cho các bé gái từ 9-11 tuổi, với hoạt động thể chất kéo dài 30 phút, 4 lần mỗi tuần Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá tính khả thi của chương trình, trong khi kết cục phụ là thay đổi chỉ số BMI Kết quả cho thấy sau 5 tháng can thiệp, BMI giảm 0,55 kg/m² giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng (p < 0,05) Chương trình can thiệp được thiết kế với tần suất thường xuyên, mỗi buổi.

30 phút, 4 buổi/ tuần, trong 20 tuần liên tục, góp phần quan trọng thay đổi được chỉ số BMI

Nghiên cứu YOG 2014 108 là một chương trình can thiệp cộng đồng ngẫu nhiên, áp dụng cho học sinh lớp 4 tại 16 trường tiểu học và học sinh lớp 7 tại 8 trường THCS ở 8 quận nội thành Nam Kinh, Trung Quốc, nhằm thúc đẩy hoạt động thể lực Chương trình can thiệp kéo dài một năm học (từ tháng 9/2013 đến tháng 6/2014) và đã được thiết kế chất lượng với tác động đa thành phần, bao gồm thay đổi trong chương trình giảng dạy, môi trường trường học, sự tham gia của gia đình và tổ chức các sự kiện vui nhộn Kết quả cho thấy nhóm trường can thiệp có nguy cơ béo phì thấp hơn đáng kể so với nhóm chứng (OR hc = 0,7, KTC 95% = 0,6 - 0,9) sau khi điều chỉnh các yếu tố nhiễu tiềm ẩn bằng mô hình hỗn hợp.

Sự hợp tác của gia đình và nhà trường đã đóng góp phần lớn vào thành công của can thiệp trên thay đổi BMI

Nghiên cứu của Maatoug năm 2015 tại Tunisia đã tiến hành can thiệp chế độ ăn uống và vận động cho 585 trẻ béo phì và thừa cân lớp 7 và 8 Giáo viên và phụ huynh được đào tạo về quản lý béo phì, trong khi các trường học được trang bị thiết bị thể dục Can thiệp kéo dài 1 năm và đánh giá hiệu quả dựa trên thay đổi BMI Kết quả cho thấy trẻ giảm BMI đáng kể sau can thiệp và duy trì hiệu quả trong 4 tháng sau khi ngừng Mặc dù nhóm chứng cũng ghi nhận giảm BMI, nhưng không duy trì được hiệu quả sau 4 tháng Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa trường học và gia đình trong can thiệp dinh dưỡng và vận động thể lực.

BMI cần thời gian dài để điều chỉnh, vì vậy nghiên cứu của Maatoug kéo dài 1 năm với theo dõi 4 tháng sau can thiệp cho thấy khả năng phát hiện sự thay đổi BMI cao hơn Trong khi đó, nghiên cứu của chúng tôi chỉ theo dõi trong 6 tháng sau can thiệp.

Nghiên cứu của Ngô Thị Xuân vào năm 2016 cho thấy, sau 30 tuần can thiệp tại TP Huế, nhóm học sinh tiểu học can thiệp có vòng bụng giảm trung bình 2,9 cm, cân nặng giảm 1,64 kg và chỉ số BMI giảm từ 23,7 ± 2,7 xuống 22,1 ± 2,7, trong khi nhóm chứng lại không chỉ không giảm mà còn tăng Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện tại chỉ dừng lại ở việc so sánh sự khác biệt tuyệt đối mà chưa phân tích hiệu chỉnh với các yếu tố liên quan cũng như sự thay đổi trước – sau giữa hai nhóm can thiệp và chứng.

❖ Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng đã cho kết quả không có sự thay đổi tình trạng TC – BP tương tự như kết quả của chúng tôi

Nghiên cứu RCT của Bogart LM và cộng sự năm 2016 đã đánh giá can thiệp phòng ngừa béo phì ở 4.002 học sinh lớp 7 tại Los Angeles, Mỹ, thông qua việc thay đổi môi trường trường học bằng cách đa dạng hóa thức ăn và nước uống trong bữa trưa Sau hai năm can thiệp, kết quả cho thấy không có sự thay đổi đáng kể về BMI trong toàn bộ học sinh, nhưng nhóm học sinh béo phì đã giảm BMI trung bình -2,33 bách phân vị Tương tự, nghiên cứu bán thử nghiệm lâm sàng của Ghamman và cộng sự năm 2017 trên 4.003 học sinh lớp 7 và 9 ở Tunisia đã thực hiện các hoạt động thể dục và giáo dục dinh dưỡng trong ba năm, nhưng không ghi nhận sự thay đổi về tỷ lệ thừa cân-béo phì Cả hai nghiên cứu đều có hạn chế là chưa điều chỉnh cho các đặc điểm liên quan đến BMI và chưa xem xét sự khác biệt giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp.

Nghiên cứu của De Villiers và cộng sự năm 2016 tại Nam Phi đã thực hiện thử nghiệm lâm sàng can thiệp chế độ ăn uống và vận động thể lực dựa vào HealthKick trên 998 học sinh lớp 4 từ 16 trường tiểu học Chương trình HealthKick tập trung vào việc phát triển chính sách dinh dưỡng học đường lành mạnh, thúc đẩy sự sẵn có của thực phẩm lành mạnh, khởi xướng vườn rau tại trường và hỗ trợ giáo dục dinh dưỡng Mặc dù can thiệp kéo dài 3 năm đã cải thiện kiến thức và thái độ về dinh dưỡng của trẻ, nhưng không giúp cải thiện hành vi dinh dưỡng và tình trạng cân nặng Nghiên cứu có ưu điểm về thời gian can thiệp và theo dõi, nhưng thiếu sự hợp tác từ nhà trường và gia đình, đây là hạn chế lớn nhất của nhiều chương trình can thiệp phòng ngừa tình trạng thừa cân - béo phì ở trẻ.

Nghiên cứu của Elizabeth Waters trên 1.426 học sinh từ 12 trường can thiệp và 1.539 học sinh từ 10 trường chứng tại thành phố Victoria, Úc, cho thấy kết quả tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi Sau 3,5 năm theo dõi, nhóm can thiệp không ghi nhận sự thay đổi về chỉ số BMI so với nhóm chứng, mặc dù đã thực hiện đầy đủ các chiến lược can thiệp trong thời gian này Mặc dù khả năng thay đổi môi trường rất cao, giả thuyết cho rằng việc thu thập dữ liệu cuối cùng diễn ra quá sớm để phát hiện ảnh hưởng của các yếu tố điều hoà lên sự thay đổi ở trẻ em Điều này cho thấy cần có khoảng thời gian đủ dài để các thay đổi trong hệ thống can thiệp phức tạp xuất hiện.

Nghiên cứu của Xu, F (2017) đã thực hiện can thiệp dinh dưỡng và hoạt động thể chất cho 146 trẻ TC – BP và gia đình tại cộng đồng, kéo dài 16 tuần với các buổi nhóm hàng tuần Sau một năm, BMI z-score giảm từ 2,04 ± 0,44 xuống 2,01 ± 0,47, nhưng không đáng kể (p = 0,216) Tuy nhiên, sau hai năm theo dõi, sự giảm này trở nên có ý nghĩa thống kê (p = 0,007) Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường để duy trì hiệu quả can thiệp trong thời gian dài hơn một năm Tương tự, nghiên cứu của Trần Thị Xuân Ngọc (2010) tại Hà Nội đã xây dựng mô hình can thiệp giáo dục dinh dưỡng cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở, với học sinh là trung tâm, nhằm nâng cao kiến thức và thực hành ăn uống, hoạt động thể lực Kết quả cho thấy có sự cải thiện về TC – BP, nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, với tỷ lệ TC – BP ở học sinh tiểu học giảm từ 19,0% xuống 13,7% sau can thiệp.

Sau khi can thiệp, huyết áp (BP) của học sinh tại trường trung học cơ sở giảm xuống 25,9%, thấp hơn so với mức 26,9% trước can thiệp và cũng thấp hơn so với trường đối chứng là 28,2% (p > 0,05) Nghiên cứu có một số hạn chế, bao gồm việc chưa phân tích điều chỉnh cho các đặc điểm liên quan đến chỉ số khối cơ thể (BMI) và chưa xem xét sự khác biệt giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng Hơn nữa, vai trò của gia đình chưa được chú trọng, trong khi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào ảnh hưởng từ nhà trường và bạn bè đồng trang lứa.

Nghiên cứu của chúng tôi không tập trung vào việc thay đổi chỉ số BMI do thời gian theo dõi ngắn (6 tháng) và mục tiêu chính là cải thiện lối sống thông qua việc nâng cao thói quen ăn uống lành mạnh và tăng cường vận động Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 6, trong giai đoạn dậy thì với nhu cầu dinh dưỡng cao, nên chỉ số BMI có thể tăng Tuy nhiên, chúng tôi hướng tới việc đảm bảo trẻ em trong nhóm cân nặng bình thường không chuyển sang nhóm thừa cân - béo phì, và trẻ em đang thừa cân - béo phì không tăng mức độ nghiêm trọng hơn.

Nhiều yếu tố tương tác tạo ra mối liên quan phi tuyến tính, dẫn đến việc không thể nhận diện các kiểu đáp ứng liều lượng truyền thống Cần chấp nhận rằng có thể trải qua giai đoạn trơ dài mà không có sự thay đổi, sau đó sẽ xuất hiện nhiều biến đổi trong giai đoạn chuyển pha Việc chuẩn hoá các can thiệp tại các địa điểm nghiên cứu khác nhau là cần thiết để phù hợp với từng hoàn cảnh, đồng thời vẫn giữ được các thành phần chính của chương trình can thiệp Điều này cho phép nghiên cứu thực nghiệm có khả năng thích nghi linh động nhưng vẫn đảm bảo tính trung thực của can thiệp Các can thiệp dựa vào trường học cũng có thể gặp phải những hạn chế nhất định.

Đại dịch béo phì đang tạo ra những thay đổi đáng kể trong cung cấp, tiếp thị và phân phối thực phẩm, điều này thường không được chú ý bởi các trường học.

Qua các nghiên cứu đã cho thấy, để giảm được chỉ số BMI, cũng như tình trạng

Ngày đăng: 17/12/2023, 12:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bibiloni MdM, Pons A, Tur JA. Prevalence of Overweight and Obesity in Adolescents: A Systematic Review. ISRN Obesity. 2013;2013:392747.doi:10.1155/2013/392747 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ISRN Obesity
2. Morrison KM, Shin S, Tarnopolsky M, Taylor VH. Association of depression &amp; health related quality of life with body composition in children and youth with obesity. Journal of affective disorders. Feb 1 2015;172:18-23.doi:10.1016/j.jad.2014.09.014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of affective disorders
3. Lloyd LJ, Langley-Evans SC, McMullen S. Childhood obesity and risk of the adult metabolic syndrome: a systematic review. Int J Obes (Lond). Jan 2012;36(1):1- 11. doi:10.1038/ijo.2011.186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int J Obes (Lond)
4. Gordon-Larsen P, The NS, Adair LS. Longitudinal trends in obesity in the US from adolescence to the third decade of life. Obesity (Silver Spring, Md). 12/24 2010;18(9):1801-1804. doi:10.1038/oby.2009.451 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Obesity (Silver Spring, Md)
5. Cote AT, Harris KC, Panagiotopoulos C, Sandor GG, Devlin AM. Childhood obesity and cardiovascular dysfunction. Journal of the American College of Cardiology. Oct 8 2013;62(15):1309-19. doi:10.1016/j.jacc.2013.07.042 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of the American College of Cardiology
6. Narang I, Mathew JL. Childhood Obesity and Obstructive Sleep Apnea. Journal of Nutrition and Metabolism. 2012;2012:8. 134202.doi:10.1155/2012/134202 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Nutrition and Metabolism
8. Do LM, Tran TK, Eriksson B, Petzold M, Nguyen CT, Ascher H. Preschool overweight and obesity in urban and rural Vietnam: differences in prevalence and associated factors. Glob Health Action. 2015;8:28615. doi:10.3402/gha.v8.28615 9. Trung tâm dinh dưỡng Tp HCM. Báo cáo tóm tắt điều tra dinh dưỡng năm 2014 của Trung tâm dinh dưỡng Tp HCM. 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Glob Health Action". 2015;8:28615. doi:10.3402/gha.v8.28615 9. Trung tâm dinh dưỡng Tp HCM. "Báo cáo tóm tắt điều tra dinh dưỡng năm 2014 của Trung tâm dinh dưỡng Tp HCM
10. Hong TK, Dibley MJ, Sibbritt D, Binh PNT, Trang NHHD, Hanh TTM. Overweight and obesity are rapidly emerging among adolescents in Ho Chi Minh City, Vietnam, 2002–2004. International Journal of Pediatric Obesity. 2007/01/01 2007;2(4):194-201. doi:10.1080/17477160701520165 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Pediatric Obesity
11. Nguyen PVN, Hong TK, Hoang T, Nguyen DT, Robert AR. High prevalence of overweight among adolescents in Ho Chi Minh City, Vietnam. BMC Public Health. 2013;13:141-141. doi:10.1186/1471-2458-13-141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BMC Public Health
12. Berberoğlu M. Precocious puberty and normal variant puberty: definition, etiology, diagnosis and current management. J Clin Res Pediatr Endocrinol.2009;1(4):164-174. doi:10.4274/jcrpe.v1i4.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Clin Res Pediatr Endocrinol
13. Barlow SE. Expert committee recommendations regarding the prevention, assessment, and treatment of child and adolescent overweight and obesity: summary report. Pediatrics. Dec 2007;120 Suppl 4:S164-92. doi:10.1542/peds.2007-2329C 14. Wang Y, Cai L, Wu Y, et al. What childhood obesity prevention programmes work? A systematic review and meta-analysis. Obes Rev. 2015;16(7):547-565.doi:10.1111/obr.12277 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pediatrics". Dec 2007;120 Suppl 4:S164-92. doi:10.1542/peds.2007-2329C 14. Wang Y, Cai L, Wu Y, et al. What childhood obesity prevention programmes work? A systematic review and meta-analysis. "Obes Rev
15. Shrewsbury VA, Venchiarutti RL, Hardy LL, et al. Impact and cost of the peer-led Students As LifeStyle Activists programme in high schools. Health Education Journal. 2020;79(1):3-20. doi:10.1177/0017896919856050 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health Education Journal
16. Bogart LM, Elliott MN, Cowgill BO, et al. Two-Year BMI Outcomes From a School-Based Intervention for Nutrition and Exercise: A Randomized Trial.Pediatrics. May 2016;137(5)doi:10.1542/peds.2015-2493 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pediatrics
17. Smith JJ, Morgan PJ, Plotnikoff RC, et al. Smart-phone obesity prevention trial for adolescent boys in low-income communities: the ATLAS RCT. Pediatrics.Sep 2014;134(3):e723-31. doi:10.1542/peds.2014-1012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pediatrics
18. Shah S, Peat JK, Mazurski EJ, et al. Effect of peer led programme for asthma education in adolescents: cluster randomised controlled trial. BMJ (Clinical research ed). Mar 10 2001;322(7286):583-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BMJ (Clinical research ed)
19. Klepp KI, Halper A, Perry CL. The efficacy of peer leaders in drug abuse prevention. The Journal of school health. Nov 1986;56(9):407-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of school health
20. Jenkinson KA, Naughton G, Benson AC. Peer-assisted learning in school physical education, sport and physical activity programmes: a systematic review.Physical Education and Sport Pedagogy. 2014/05/27 2014;19(3):253-277.doi:10.1080/17408989.2012.754004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Physical Education and Sport Pedagogy
7. World Health Organization. Obesity and overweight. Updated 9 June 2021. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/obesity-and-overweight Link
140. Organization WH. Global Health Observatory data repository. Updated 29 Sep 2017. https://apps.who.int/gho/data/node.main.BMIPLUS1C?lang=en Link
160. WHO. Healthy diet. Accessed April 15th, 2021. https://www.who.int/news- room/fact-sheets/detail/healthy-diet Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Lý thuyết hệ thống sinh thái tình trạng thừa cân ở trẻ em theo - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
Hình 1.1. Lý thuyết hệ thống sinh thái tình trạng thừa cân ở trẻ em theo (Trang 20)
Hình 1.2. Xu hướng thừa cân, và béo phì của trẻ vị thành niên 7–18 tuổi từ - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
Hình 1.2. Xu hướng thừa cân, và béo phì của trẻ vị thành niên 7–18 tuổi từ (Trang 21)
Hình 1.3. Xu hướng thừa cân – béo phì ở trẻ em và vị thành niên 5 – 16 tuổi ở - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
Hình 1.3. Xu hướng thừa cân – béo phì ở trẻ em và vị thành niên 5 – 16 tuổi ở (Trang 28)
Hình 1.5.  Tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ em và vị thành niên 5 – 16 tuổi ở - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
Hình 1.5. Tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ em và vị thành niên 5 – 16 tuổi ở (Trang 29)
Hình 1.6. Khái niệm trung tâm của thuyết nhận thức xã hội - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
Hình 1.6. Khái niệm trung tâm của thuyết nhận thức xã hội (Trang 35)
Hình 1.7. Mô hình can thiệp thông qua bạn đồng trang lứa áp dụng học thuyết Nhận thức xã hội - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
Hình 1.7. Mô hình can thiệp thông qua bạn đồng trang lứa áp dụng học thuyết Nhận thức xã hội (Trang 38)
Sơ đồ 2.1. Qui trình nghiên cứu giai đoạn cắt ngang  2.4.2. Nghiên cứu can thiệp: - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
Sơ đồ 2.1. Qui trình nghiên cứu giai đoạn cắt ngang 2.4.2. Nghiên cứu can thiệp: (Trang 57)
Sơ đồ 2.2. Tình trạng thừa cân – béo phì và các yếu tố liên quan - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
Sơ đồ 2.2. Tình trạng thừa cân – béo phì và các yếu tố liên quan (Trang 67)
Hình 2.1. Mô hình can thiệp thay đổi lối sống học sinh lớp 6 thông qua bạn bè - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
Hình 2.1. Mô hình can thiệp thay đổi lối sống học sinh lớp 6 thông qua bạn bè (Trang 73)
Hình 2.2. Các thành phần tham gia mô hình can thiệp - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
Hình 2.2. Các thành phần tham gia mô hình can thiệp (Trang 73)
Sơ đồ 2.3. Qui trình triển khai chương trình can thiệp - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
Sơ đồ 2.3. Qui trình triển khai chương trình can thiệp (Trang 74)
Sơ đồ 2.4. Quy trình nghiên cứu 2 giai đoạn - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
Sơ đồ 2.4. Quy trình nghiên cứu 2 giai đoạn (Trang 84)
Sơ đồ 3.1. Lưu đồ nghiên cứu can thiệp - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
Sơ đồ 3.1. Lưu đồ nghiên cứu can thiệp (Trang 111)
Bảng PL 7A.2. So sánh 2 bộ dữ liệu gốc và bộ dữ liệu được xử lý multiple - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
ng PL 7A.2. So sánh 2 bộ dữ liệu gốc và bộ dữ liệu được xử lý multiple (Trang 206)
Bảng PL 7c. Tính tin cậy inter-raters giữa 2 cộng tác viên phụ trách cân đo học sinh - Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh lớp 6 thành phố hồ chí minh và hiệu quả của can thiệp thay đổi lối sống thông qua nhóm bạn đồng trang lứa và hệ thống hỗ trợ
ng PL 7c. Tính tin cậy inter-raters giữa 2 cộng tác viên phụ trách cân đo học sinh (Trang 210)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w