1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(LUẬN văn THẠC sĩ) quan hệ thương mại ,đầu tư trung quốc với ASEAN từ năm 2012 đến nay

82 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ thương mại, đầu tư của Trung Quốc với ASEAN từ năm 2012 đến nay
Tác giả Tôn Điện Thanh
Người hướng dẫn PGS.TS. Bùi Thành Nam, PGS.TS. Hoàng Khắc Nam, Thạc sĩ Ngô Tuấn Thắng
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Quốc tế học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng về chủ đề này, tác giả Li Wannan, John Wong, Lye Liang Fook có bài viết: ―Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN: 15 năm nhìn lại‖.[13] Dựa trên cơ sở lí luận của những khu vực mậu

Trang 1

Tôn Điện Thanh

Quan hệ thương mại, đầu tư của Trung Quốc với

ASEAN từ năm 2012 đến nay

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 2

Tôn Điện Thanh

Quan hệ thương mại,đầu tư của Trung Quốc với

ASEAN từ năm 2012 đến nay

Ngành: QUỐC TẾ HỌC Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ

Trang 3

những người đi trước và có sự bổ sung những tư liệu,kết quả nghiên cứu mới.Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cây,được sử dụng trung thực

Tác giả luận văn

Tôn Điện Thanh

Trang 4

Đầu tiên, tôi sẽ không hoàn thiện luận văn này nếu không có những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước đã cung cấp thông tin, các số liệu nghiên cứu về tổ chức ASEAN, kinh tế Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á, kinh tế ASEAN và Trung Quốc v.v Vì thế tôi dành sự cảm ơn sâu sắc nhất đối với tất cả tác giả có tác phẩm hoặc bài viết mà tôi đã trích dẫn trong quá trình hoàn thiện luận văn này Dù tôi không ghi chú toàn bộ tài liệu đã dẫn song các quan điểm hoặc bài viết đã giúp đỡ tôi bổ sung cho các lập luận và minh chứng cho các lập luận của mình

Tất nhiên tôi không thể hoàn thành luận văn của mình nếu không có sự giúp đỡ tận tình và hướng dẫn khoa học của thầy hướng dẫn PGS.TS Bùi Thành Nam Ngay từ khi tôi vào học ở Khoa Quốc tế học PGS.TS Bùi Thành Nam đã giảng dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành một số môn quan trọng trong chương trình đào tạo cao học này Suốt quá trình trao đổi chuyên ngành và sửa chữa luận văn tôi cảm nhận được sự quan tâm và chỉ bảo khoa học tận tình của thầy

Ngoài ra, để đi đến được tới hôm nay, tôi cũng bày tỏ lòng thành kính sâu sắc nhất đến thầy chủ nhiệm khoa Quốc tế học PGS.TS Hoàng Khắc Nam và trợ lý Sau đại học của khoa Thạc sĩ Ngô Tuấn Thắng Các thầy đã tạo điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập cũng như thời gian viết luận văn và giúp đỡ tận tình tôi trong việc giải quyết nhiều thủ tục hành chính khác

Tôi cũng muốn dành lời cảm ơn chân thành nhất gửi tới tất cả anh chị em học viên trong lớp cao học QH-X-14, bạn bè, đồng nghiệp và các bạn sinh

Trang 5

chương trình đào tạo cao học chuyên ngành Quan hệ quốc tế và hoàn thiện luận văn thạc sĩ của mình đúng thời gian quy định

Xin trân trọng cảm ơn !

Tác giả luận văn :

Tôn Điện Thanh

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 9

Chương 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ CỦA TRUNG QUỐC VỚI ASEAN TỪ NĂM 2012 ĐẾN NAY 9

1.1 Xu thế khu vực hóa tăng nhanh quá trình hình thành ASEAN 9

1.2 Kinh tế toàn cầu hóa thúc đẩy quá trình hình thành quan hệ thương mại và đầu tư Trung Quốc với ASEAN 11

1.2.1 Quá trình hình thành quan hệ thương mại và đầu tư Trung Quốc với ASEAN là yêu cầu phát triển kinh tế của hai bên 11

1.2.2 Lợi ích các nước giêng thúc đẩy các hiệp định về thành lập khu vực mậu dịch tự do giữa Trung Quốc và ASEAN được ký kết 14

1.3 Khái quát những việc hợp tác thương mại và đầu tư quan trọng và hiệu quả giữa Trung Quốc với ASEAN trước năm 2012 21

1.4 Cạnh tranh và phát triển là trào lưu chính của Kinh tế thế giới, hơp tác,khu vực hóa càng ngày càng quan trọng trên diễn đàn kinh tế thế giới 27

1.4.1 Bối cảnh kinh tế quốc tế càng ngày càng phức tạp 27

1.4.2 Bối cảnh tổ chức ASEAN và Trung Quốc 29

Tổng kết chương 1 31

Chương 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ CỦA TRUNG QUỐC VỚI ASEAN TỪ NĂM 2012 ĐẾN NAY 33

2.1 Thực trạng quan hệ thương mại và đầu tư giữa Trung Quốc với ASEAN 33

2.2 Hội chợ triển lãm Trung Quốc – ASEAN 36

2.3 Thành lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở ha ̣ tầng Châu Á 40

2.4 Đường tơ lụa lục địa và đường tơ lụa trên biển liên quan đến Đông Nam Á 42

Trang 7

Tổng kết chương 2 45

Chương 3: ĐÁNH GIÁ VÀ TRIỂN VỌNG HỢP TÁC THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ CỦA TRUNG QUỐC – ASEAN 46

3.1 Quan hệ khu vực càng ngày càng chặt chẽ hơn 46

3.1.1.Thương mại hai bên tăng trưởng ổn định 46

3.1.2.Đầu tư của hai bên không ngừng tăng 47

3.1.3.Hiệu quả trong lĩnh vực hợp tác đấu thầu công trình 47

3.3.4 Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc và ASEAN từng bước được hoàn thiện 48

3.2 Đánh giá thương mại và đầu tư giữa Trung Quốc và Asean 50

3.2.1.Tác động chung đối với các quốc gia thành viên ASEAN 50

3.2.2.Tác động tới thương mại đầu tư Trung Quốc 52

3.2.3.Tác động đối với các nền kinh tế ASEAN 56

3.3 Triển vọng hợp tác thương mại và đầu tư của Trung Quốc và Asean 61

3.3.1.Thuận lợi 61

3.3.2.Cơ hội 62

3.3.3.Khó khăn 63

3.2.4 Thách thức 65

Tổng kết chương 3 66

KẾT LUẬN 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

PHỤ LỤC 71

Trang 8

Bảng giải thích các từ viết tắt tiếng Anh và tiếng Việt

ASEAN Free Trade Area ACFTA Khu mậu dịch tự doTrung Quốc và ASEAN

China -ASEAN Free Trade Area

International Monetary Fund

Gross domestic

World Trade Organization

Liên minh Châu Âu

Hiệp hội Đông Nam Á

Hiệp định mậu dịch tự do

Asian Infrastructure Investment Bank

Asian Development Bank NATO Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

North Atlantic Treaty Organization

Foreign direct investment

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Tăng trưởng GDP của kinh tế thế giới giai đoạn 2012 – 2015 (%) 27 Bảng 3.1: Tác động kinh tế đối với các nước thành viên sau khi khu vực mậu dịch

tự do Trung Quốc-ASEAN thành lập 50

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Toàn cầu hoá và khu vực hoá kinh tế thế giới ngày nay đang trở thành trào lưu quốc tế Trung Quốc và ASEAN cũng không nằm ngoài xu thế này, chỉ có hoà nhập mới có thể phát triển được Với vị trí địa lý liền kề, giao thương đã phát triển từ thời

xa xưa, ngày nay, quan hệ kinh tế, chính trị láng giềng hữu nghị tốt đẹp đã tạo cơ sở vững chắc để hai bên hình thành quan hệ thương mại đầu tư giữa Trung Quốc và ASEAN Hai bên đã tăng cường trao đổi văn hóa và giao lưu xã hội, liên hệ chính trị chặt chẽ phục vụ cho xây dựng kinh tế Trong vài năm qua, quan hệ hai bên chặt chẽ hơn, hợp tác rộng lớn hơn, kim ngạch thương mại đầu tư tăng lên nhanh hơn, quan hệ hai bên càng ngày càng quan trọng trong quan hệ hợp tác quốc tế Triển vọng hợp tác giữa các nước Đông Nam Á và Trung Quốc có không gian hợp tác to lớn

Đề tài ―Quan hệ thương mại đầu tư của Trung Quốc với ASEAN từ năm

2012 đến nay‖ được lựa chọn nghiên cứu để đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước nói

chung và doanh nghiệp trong khối ASEAN cũng như Trung Quốc

Luận văn này tập trung thu thập và phân tích quan hệ thương mại, đầu tư Trung Quốc với các nước ASEAN từ sau Đại Hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 18

2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Những năm 80 thế kỷ 20, cùng với sự phát triển nhanh chóng trong quan hệ kinh tế, đề tài nghiên cứu về quan hệ kinh tế Trung Quốc- ASEAN dần trở thành tâm điểm chú ý của giới học giả trong và ngoài nước, tuy nhiên, các công trình trong thời gian này còn ít Đến những năm 90 thế kỷ 20, quan hệ Trung Quốc- ASEAN bước vào giai đoạn phát triển toàn diện và ổn định hơn, các công trình nghiên cứu cũng nhiều hơn về số lượng và đi sâu vào nhiều lĩnh vực Bước vào những năm đầu thế kỷ 21, Trung Quốc- ASEAN ký hiệp định thành lập Khu vực

Trang 11

mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN đã thu hút sự chú ý của đông đảo giới học giả Việt Nam, Trung Quốc, các nước ASEAN cũng như học giả phương Tây Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu đi trước, tôi xin tổng kết một số khuynh hướng nghiên cứu chính như sau:

Sau khi Trung Quốc và ASEAN quyết định thành lập ACFTA, nhiều nghiên cứu đã được công bố, tập trung đánh giá quá trình hình thành ACFTA và ý nghĩa chiến lược cả về mặt kinh tế lẫn chính trị Có thể kể ra những công trình như: ―Bàn

về triển vọng và thách thức của ―Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN‖ của tác giả Triệu Xuân Minh và Lưu Chấn Lâm, ―Hướng tới FTA-Chiến lược và đối sách xây dựng khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN‖ do tác giả Diệp Phổ Thanh chủ biên, ―Trung Quốc-ASEAN, ―China and ASEAN-Renavigating Relations for a 21 st-Century Asia‖ của Alice D.Ba …

Trong đó, điển hình là cuốn sách ―Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN và Quảng Tây‖ do Cổ Tiểu Tùng chủ biên ra đời ngay sau khi Trung Quốc

và ASEAN ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện vào tháng 11 năm

2002 Các tác giả đã khái quát bức tranh toàn cảnh về quá trình hình thành ACFTA, đồng thời, nêu lên ý nghĩa chiến lược của việc thành lập khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN đối với các nước thành viên Theo các tác giả, việc thành lập ACFTA có ý nghĩa kinh tế và chiến lược quan trọng, sẽ tạo ra hiệu quả thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai bên, thúc đẩy có hiệu quả quan hệ kinh tế, thương mại song phương phát triển Thông qua số liệu thống kê tình hình thương mại, đầu tư giữa Trung Quốc- ASEAN ba quý đầu năm 2002, các tác giả đã kết luận, kim ngạch thương mại song phương tăng trưởng nhanh chóng, đạt 38,55 tỉ USD, tăng 27,5% so với cùng kì năm 2001, trong đó xuất khẩu của ASEAN sang Trung Quốc tăng 27%, một số nước tăng 50%, kim ngạch đầu tư song phương cũng tăng lên nhanh chóng Ngoài ra, việc thành lập ACFTA còn có ý nghĩa chiến lược

Trang 12

đặc biệt quan trọng, đó là gắn kết Trung Quốc và ASEAN thành một chỉnh thể, từ

đó nâng cao vị thế kinh tế của Trung Quốc và ASEAN trên trường quốc tế

Tháng 10 năm 2001, Nhóm chuyên gia hợp tác kinh tế Trung Quốc- ASEAN đã đưa ra báo cáo nghiên cứu với tiêu đề:―Thắt chặt quan hệ kinh tế Trung Quốc- ASEAN trong thế kỷ 21‖ (Forging closer ASEAN-China Economic Relations in the Twenty-First Century), đây là văn kiện mang tính lịch sử có ý nghĩa quan trọng và ảnh hưởng lớn tới quan hệ Trung Quốc- ASEAN trong thế kỷ mới Báo cáo chia thành 2 phần, phần báo cáo chính và báo cáo của từng nước thành viên ASEAN, nghiên cứu về ảnh hưởng của việc Trung Quốc gia nhập WTO và tính khả thi của việc xây dựng khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN, Báo cáo cho rằng, việc xây dựng khu vực mậu dịch tự do là kết quả ―hai bên cùng thắng‖ Đồng thời ,báo cáo cũng nêu rõ, sau khi ACFTA thành lập, xuất khẩu của ASEAN sang Trung Quốc sẽ tăng 48%, xuất khẩu của Trung Quốc sang ASEAN sẽ tăng 55%, GDP của ASEAN tăng thêm 0,9%, GDP Trung Quốc sẽ tăng thêm 0,3% Kim ngạch thương mại nội khối sẽ tăng mạnh, gần bằng mức trao đổi thương mại nội khối của EU và khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ Tỉ trọng thương mại nội khối sẽ tăng từ mức 20% hiện nay lên trên 30%, tỉ trọng đầu tư nước ngoài vào khu vực cũng tăng lên rõ rệt Cũng về chủ đề này, tác giả Li Wannan, John Wong, Lye Liang Fook có bài viết: ―Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN: 15 năm nhìn lại‖.[13] Dựa trên cơ sở lí luận của những khu vực mậu dịch tự do trong lịch sử và phân tích thực tiễn khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN, Các tác giả đánh giá một số ảnh hưởng của việc thành lập khu vực mậu dịch tự do tới nền kinh tế các nước thành viên, chủ yếu bao gồm: một là, sau khi thuế quan trong khu vực mậu dịch tự do giảm sẽ tạo ra hiệu quả ―sáng tạo mậu dịch‖, tăng cơ hội thương mại; hai là, do hàng rào thương mại trong khu vực thấp hơn so với ngoài khu vực sẽ tạo ra ―hiệu quả chuyển hoán mậu dịch‖ do các thành viên trong khu vực trước đây trao đổi thương mại với các khu vực bên ngoài nay di chuyển vào trong khu vực; ba là,

Trang 13

―hiệu quả mở rộng thị trường‖ xảy ra sau khi thị trường khu vực nhất thể hoá; bốn

là, ―hiệu quả thúc đẩy cạnh tranh‖ tạo ra do sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong khu vực Bên cạnh tác động tích cực, khu vực mậu dịch tự do cũng có ảnh hưởng tiêu cực đối với các nước thành viên, đó là do ―hiệu quả chuyển hoán mậu dịch‖ dẫn đến thương mại với hiệu quả sản xuất tương đối cao của các quốc gia bên ngoài khu vực bị thay thế bởi thương mại của các nước có sức sản xuất tương đối thấp trong khu vực, từ đó dẫn tới hiệu quả sản xuất giảm, gây ảnh hưởng không có lợi đối với sự phát triển kinh tế của các nước trong khu vực

Trong nghiên cứu về ―Phân tích chỉ số tương quan thương mại Trung Quốc-ASEAN‖,[12] Hầu Thiết San và Tống Nham đã sử dụng 3 chỉ số: chỉ số cường độ thương mại, chỉ số thương mại nội bộ ngành và chỉ số lợi thế so sánh nổi trội của Balassa để phân tích xu hướng quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN giai đoạn 2001-2003 Kết quả nghiên cứu thông qua chỉ số cường độ thương mại cho thấy, chỉ số cường độ thương mại giữa Trung Quốc và các nước ASEAN có xu hướng tăng, đặc biệt sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, chứng tỏ mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc với các nước ASEAN ngày càng chặt chẽ hơn, kim ngạch thương mại không ngừng tăng Phân tích thông qua chỉ số thương mại nội bộ ngành cho thấy, thương mại nội bộ của một số ngành như các sản phẩm của ngành hoá học và thương mại nội bộ trong các ngành có liên quan giữa Trung Quốc và ASEAN rất lớn, trao đổi thương mại trong nội bộ ngành diễn ra sôi động Bằng phương pháp phân tích chỉ số lợi thế so sánh nổi trội do Balassa đưa ra cho thấy, trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN có tính bổ sung lẫn nhau mạnh mẽ, bên cạnh đó cũng có sự cạnh tranh gay gắt Từ những kết quả nghiên cứu nói trên,các tác giả cho rằng: ―Sau khi thành lập ACFTA, đây sẽ là khu vực mậu dịch tự do có dân số đông nhất thế giới, với tổng GDP đạt 2000 tỉ USD, kim ngạch thương mại đạt 1200 tỉ USD Sau khi Trung Quốc gia nhập FTA sẽ nâng cao tiếng nói của khu vực mậu dịch tự do này, dự báo trong khoảng 20 năm tới, thương mại

Trang 14

song phương tăng bình quân 20%/năm.Nhờ ACFTA mà không gian thương mại song phương được mở rộng, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Theo ước tính, kim ngạch xuất khẩu song phương sẽ tăng 50%, tăng trưởng kinh tế của ASEAN sẽ tăng thêm bình quân 1% mỗi năm và con số này của Trung Quốc là 0,3% mỗi năm

Do vậy, việc thành lập ACFTA là cần thiết, có lợi cho cả Trung Quốc lẫn các nước ASEAN trong công cuộc phát triển kinh tế của mỗi bên.‖

2.2 Các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, đáng chú ý là nghiên cứu của Đỗ Tiến Sâm: ―Bước đầu tìm hiểu

về khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc’[3;tr57-70] Trong nghiên cứu này, tác giả đã nêu lên đánh giá bước đầu về tác động của khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc đối với các nước thành viên, tác giả cho rằng,việc ACFTA được thành lập sẽ có ảnh hưởng tới sự phát triển của cả Trung Quốc và ASEAN, thậm chí của toàn thế giới Về kinh tế, ACFTA sẽ đưa lại những cơ hội tốt đẹp cho hợp tác kinh tế thương mại giữa hai bên, cụ thể bao gồm: có lợi cho việc mở rộng kim ngạch thương mại song phương, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, hấp dẫn đầu tư nước ngoài cũng như đầu tư lẫn nhau giữa Trung Quốc và ASEAN, khu vực mậu dịch tự do hình thành sẽ tạo thành một thị trường khổng lồ, thống nhất, giúp các nhà sản xuất mở rộng quy mô sản xuất, có lợi cho việc hình thành hệ thống phân công hợp tác sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, ngoài ra, còn có lợi cho việc điều chỉnh cơ cấu ngành nghề giữa hai bên, thúc đẩy mỗi bên tận dụng lợi thế so sánh của mình để phát triển, hình thành nên hệ thống phân công ngành nghề lấy ưu thế cạnh tranh làm đặc trưng

Về triển vọng của thương mại Trung Quốc – ASEAN: nghiên cứu về ―Phân tích triển vọng khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN‖ của tác giả Trương Hâm

Vĩ Công trình này đã nêu lên các trở ngại và triển vọng phát triển của ACFTA Tác giả nêu lên bảy trở ngại mà các nước sẽ phải đối mặt trong quá trình thành lập

Trang 15

ACFTA, đó là: một là sự lo lắng của các nước ASEAN về ―mối đe doạ từ Trung Quốc‖ hai là tình hình chính trị không ổn định;ba là những xung đột về biên giới lãnh thổ giữa các nước ASEAN;bốn là chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế và

sự trùng lặp trong cơ cấu hàng hoá giữa Trung Quốc và ASEAN;năm là vấn đề về quyền lãnh đạo ACFTA;sáu các nước thành viên ASEAN ký hiệp định thương mại

tự do riêng lẻ với các nước khác Ngoài ra, còn có các nhân tố khách quan tác động gây trở ngại tới hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN, theo tác giả đó là vấn đề Đài Loan và sự can thiệp của các nước Mỹ, Nhật Đồng thời, tác giả cũng nêu lên một

số dự báo về sự phát triển của khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN, cho rằng, trong tương lai, khu mậu dịch tự do sẽ phát triển tốt đẹp hơn với việc mở rộng thương mại song phương, thúc đẩy đầu tư lẫn nhau giữa Trung Quốc với ASEAN, cùng với việc thực hiện Hiệp định về tự do dịch vụ và ký kết Hiệp định về tự do đầu

tư, hai bên sẽ triển khai mở rộng hợp tác trên mọi lĩnh vực Theo tác giả, ―chúng ta

có đủ cơ sở để tin tưởng về xây dựng thành công khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN‖

Về chủ đề này, học giả Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu, điển hình như ―Hợp tác Trung Quốc - ASEAN và tác động của nó tới tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN‖ của Đỗ Tiến Sâm Trong bài viết này, tác giả đã nêu lên những đánh giá về thuận lợi và khó khăn của việc thành lập khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN đồng thời nêu lên những tác động của khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc tới Việt Nam Tác giả cho rằng, trên cả hai lĩnh vực thương mại và đầu tư, khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc tạo ra cho các nước ASEAN cơ hội lớn để mở rộng thị trường trao đổi hàng hoá, thu hút đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ của mình, đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn như cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn trên cả lĩnh vực thương mại và đầu tư.[4;tr.35-40]

Trang 16

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định và nội dung Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN, những nội dung cam kết là thương mại và đầu tư giữa Trung Quốc với ASEAN

Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu quá trình hình thành ACFTA, thời gian từ năm

2002 (bắt đầu ký kết hiệp định thành lập ACFTA) đến năm 2010 (hoàn thành việc xây dựng ACFTA); quan hệ thương mại và đầu tư của Trung Quốc đối với ASEAN

từ trước và sau đại hội 18 Đảng Cộng Sản Trung Quốc

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ thương mại đầu tư của Trung Quốc với ASEAN, chủ yếu liên quan đến sự hình thành Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN

4 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU

Cung cấp cho người đọc một cách hệ thống về mối quan hệ thương mại đầu tư của Trung Quốc và ASEAN

Trình bày những thành tựu và tình trạng về mối quan hệ thương mại đầu tư giữa Trung Quốc với ASEAN từ trước năm 2012 và sau 2012 (mốc thời gian đại hội 18 Đảng Cộng Sản Trung Quốc )

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Các tài liệu sử dụng trong luận văn chủ yếu gồm tư liệu gốc của các hội nghị cấp cao ASEAN+1; các công trình của các tác giả đi trước như: sách đã xuất bản, các bài tạp chí tiếng Việt đăng trên tạp chí chuyên ngành kinh tế, chính trị Đông Nam Á và Trung Quốc như: tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, tạp chí Quốc tế, tạp chí Đông Nam Á, tạp chí Thương mại, tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới…; các

kỷ yếu hội thảo có liên quan; bản tin của Thông Tấn Xã Việt Nam, các bài thông tin

Trang 17

truy cập từ Internet và từ trang web của Ban thư ký ASEAN Ngoài nguồn tư liệu bằng tiếng Việt, luận văn còn sử dụng tư liệu trên các tạp chí chuyên ngành của các học giả Trung Quốc, các nước Đông Nam Á cũng như của các nước phương Tây

Số liệu thống kê chủ yếu lấy từ số liệu thống kê của Hải quan Trung Quốc và thống kê về kinh tế đối ngoại của Trung Quốc Ngoài ra, luận văn còn sử dụng số liệu thống kê của Ban thư ký ASEAN về thương mại và đầu tư giữa Trung Quốc- ASEAN và một số nguồn thống kê có liên quan khác

5.2 Các phương pháp nghiên cứu khác

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp kinh tế-chính trị quốc tế, lịch sử và logic Ngoài ra, do yêu cầu của đề tài cần phải sưu tầm, chọn lọc và sử dụng các loại tư liệu khác nhau nên các phương pháp thống kê,

tổng hợp, phân tích, so sánh cũng được sử dụng

6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Luận văn có cấu trúc gồm 5 phần: mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, trong đó, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương sau:

CHƯƠNG 1 Những yếu tố tác động đến quan hệ thương mại và đầu tư của Trung Quốc với ASEAN từ năm 2012 đến nay

CHƯƠNG 2: Thực trạng quan hệ thương mại và đầu tư của Trung Quốc với ASEAN từ năm 2012 đến nay

CHƯƠNG 3: Đánh giá và triển vọng hợp tác thương mại và đầu tư của Trung Quốc – ASEAN

Trang 18

NỘI DUNG

Chương 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ CỦA TRUNG QUỐC VỚI ASEAN TỪ NĂM 2012 ĐẾN NAY

1.1 Xu thế khu vực hóa tăng nhanh quá trình hình thành ASEAN

Trong bối cảnh phát triển phức tạp của quan hệ quốc tế vào những năm 60-70 của thế kỷ trước, chủ nghĩa khu vực đã hình thành và nhanh chóng phát triển Trong thời kỳ hòa hoãn của Chiến tranh Lạnh (1962-1978), nhiều tổ chức khu vực

đã xuất hiện như Liên đoàn Ả Rập (1950), Tổ chức các nước Trung Mỹ OCAS (1951), Cộng đồng kinh tế châu Âu EEC(1957),Tổ chức thống nhất Châu Phi – OAU (1963).Ở khu vực Đông Nam Á (ĐNA) cũng xuất hiện Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) vào năm 1961 bao gồm Malaysia, Philippine, Thái Lan, Nam Việt Nam, rồi Maphilindo (1963) với Malaysia, Philippine, Indonesia, nhưng các tổ chức này đều không tồn tại lâu dài

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 phản ánh nguyện vọng của 5 nước Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia, Singapore, Thailand và Philippines) với mong muốn hình thành một tổ chức khu vực vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển Mă ̣t khác, đây cũng chính là kết quả của th ời kỳ Chiến tranh La ̣nh Khi trâ ̣t tự hai cực được hình thành, cả Liên Xô và Mỹ đều muốn ảnh hưởng của mình ở khu vực ĐNA hiện diện một cách mạnh mẽ Khu vực này trở thành khu vực hết sức nhạy cảm bởi sự can thiệp từ bên ngoài, sự lôi kéo của các nước lớn vì lợi ích và an ninh của họ và cuộc đấu tranh giữa các tư tưởng dân tộc chủ nghĩa Mỗi quốc gia đều muốn ta ̣o mô ̣t khoảng cách an toàn cho mình để không

bị kéo sâu vào cuộc chiến tranh hai c ực cũng như tránh không đ ể cho phong trào giải phóng dân tộc bùng lên mạnh mẽ ở khu vực này thành các cuộc nội chiến ASEAN ra đời như là mô ̣t xu thế chung – xu thế tất yếu khu vực hóa của thời

đa ̣i Sau khi Chiến tranh La ̣nh kết thúc , các quốc gia ở ĐNA dần nhâ ̣n thấy sự khác

Trang 19

biê ̣t về ý thức hê ̣ và về chế đô ̣ chính tri ̣ không còn là yếu tố gây trở ngại cho tiến trình xây dựng một tổ chức khu vực nữa Kết thúc chiến tranh campuchia lần 3 (chiến tranh Campuchia), tổ chức này bắt tay thực hiện chương trình hợp tác kinh

tế, nhưng gặp phải khó khăn vào giữa thập niên 80 để rồi được hồi sinh vào đầu thập niên 90 với lời đề nghị của Thái Lan về một ― khu vực thương mại tự do‖ Năm 1984 Brunei gia nhập ASEAN, tiếp theo là Việt Nam vào năm 1995, Lào và Myanmar năm 1997, và Campuchia năm 1999 Với chặng đường gần 45 năm xây dựng và phát triển, ASEAN từ Hiệp hội của các nước nghèo, chậm phát triển đã vươn lên thành khu vực phát triển kinh tế năng động với dân số gần 600 triệu người, diện tích 4,5 triệu km2, quy mô GDP đạt gần 900 tỷ USD và tổng giá trị thương mại khoảng 800 tỷ USD

Các nước ASEAN có vị trí chiến lược quan trọng, nằm ở phía Đông Nam lục địa Á-Âu, tiếp giáp giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, nằm trên con đường hàng hải huyết mạch nối liền châu Á với châu Âu bởi eo biển Malacca, do vậy, ASEAN giữ vai trò quan trọng trong quân sự và thương mại cũng như trong phát triển kinh tế, trao đổi và hợp tác thương mại với nhiều nước, đặc biệt với Trung Quốc Theo thống kê, 1/3 khối lượng hàng hoá và 50% dầu thô trên thế giới phải vận chuyển qua eo biển Malắcca, hiện nay trên 80% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc phải vận chuyển qua eo biển này Theo ước tính, có khoảng 60% số tàu của Trung Quốc trong tổng số tàu đi qua eo biển Malacca một ngày

Bên cạnh đó, ASEAN còn là nơi có nguồn năng lượng dồi dào, có thể đáp ứng được nhu cầu của Trung Quốc trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế Nghiên cứu viên Lưu Lập Thọ thuộc Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế, Đại học Nam Kinh cho rằng, với tư cách là những nước láng giềng, do vị trí chiến lược, các nước ASEAN là nơi cung cấp năng lượng quan trọng của Trung Quốc và

là những đối tác hợp tác quan trọng trong thị trường năng lượng quốc tế nên những nước này chiếm vị trí hết sức quan trọng trong chiến lược năng lượng của Trung

Trang 20

Quốc Hiện nay, Việt Nam là nước sản xuất than lớn thứ 3 và là nước xuất khẩu than không khói lớn thứ hai thế giới; Indonesia là nước sản xuất than đá lớn nhất Đông Nam Á, cũng là nước xuất khẩu than đá lớn thứ ba thế giới sau Trung Quốc

và Ôxtrâylia,đồng thời là nước sản xuất khí đốt tự nhiên lớn thứ 6 và là nước xuất khẩu khí đốt hoá lỏng lớn nhất thế giới, Brunei là nước sản xuất khí đốt hoá lỏng lớn thứ tư thế giới Đông Nam Á cũng là nguồn nhập khẩu dầu thô quan trọng của Trung Quốc, hiện Trung Quốc nhập khẩu 15% lượng dầu thô từ các nước Đông Nam Á, trước đây, Trung Quốc nhập khẩu dầu thô nhiều nhất từIndonesianhưng trong những năm gần đây, Việt Nam đã trở thành nhà xuất khẩu dầu thô lớn nhất ở Đông Nam Á cho Trung Quốc và lớn thứ 6 trên thế giới Ngoài dầu thô, Trung Quốc còn tăng cường nhập khẩu khí đốt tự nhiên và than đá của các nước Đông Nam Á Hiện nay, Việt Nam là thị trường nhập khẩu than đá chủ yếu của Trung Quốc ở Đông Nam Á, năm 2005, Việt Nam đã xuất sang Trung Quốc khoảng 9 triệu tấn than Inđônêxia đồng ý trong vòng 25 năm tới sẽ cung cấp cho Trung Quốc 2,6 triệu tấn khí đốt hoá lỏng mỗi năm.[6,tr:3]

Tóm lại, với vị trí địa lý gần gũi với Trung Quốc, lại có vị trí địa chiến lược

biển quan trọng, nguồn tài nguyên năng lượng dồi dào, tài nguyên thiên nhiên phong phú và các chính sách mở cửa rộng rãi, ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển cũng như duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế Trung Quốc nói chung và nền kinh tế đối ngoại nói riêng

1.2 Kinh tế toàn cầu hóa thúc đẩy quá trình hình thành quan hệ thương mại

và đầu tư Trung Quốc với ASEAN

1.2.1 Quá trình hình thành quan hệ thương mại và đầu tư Trung Quốc với ASEAN là yêu cầu phát triển kinh tế của hai bên

Từ những năm 1980 và đặc biệt là sau khi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ra đời năm 1995, làn sóng hội nhập kinh tế khu vực lại bùng phát với nhiều biểu hiện mới về quy mô, mức độ và phạm vi địa lý Riêng khu vực Đông Á (bao

Trang 21

gồm Đông Nam Á và Đông Bắc Á) từ chỗ bị đánh giá là khoảng trống của liên kết khu vực, ―chậm chân‖ trong làn sóng hội nhập kinh tế khu vực so với Tây Âu và Bắc Mỹ vào những năm 1970 - 1980 thì trong những năm đầu của thập kỷ 1990 đã

có những chuyển biến khá mạnh theo hướng tăng cường liên kết kinh tế khu vực với hàng loạt thoả thuận thương mại tự do khu vực và song phương ra đời hoặc đang trong quá trình đàm phán mà đặc biệt chuẩn bị cho việc hình thành cộng đồng kinh tế toàn khu vực - Cộng đồng kinh tế Đông Á (EAEC) Trước cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 - 1998, nhiều quan điểm đã cho rằng ASEAN sẽ thu mình lại và dựng lên ―bức tường‖ bảo hộ mậu dịch Song trái lại, ASEAN không những đẩy mạnh hơn tiến trình tự do hóa thương mại nội khối mà còn tích cực mở rộng liên kết kinh tế - thương mại ở Đông Á với việc hình thành mạng lưới các Khu vực mậu dịch tự do với các đối tác quan trọng ở khu vực (FTA + 1) như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand; đồng thời tích cực thúc đẩy nhiều chương trình hợp tác kinh tế, thương mại đa dạng với các đối tác lớn như Mỹ, Canada, liên minh Châu Âu (EU), Nga.[2]

Trong quan hệ hợp tác của ASEAN với các đối tác trong ASEAN + 3 (ASEAN với Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc) thì quan hệ kinh tế, thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc đã lớn mạnh nhanh chóng, đặc biệt là sau Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế toàn diện được ký vào tháng 11 năm 2002 nhằm thiết lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) Mặc dù, mục tiêu hiện thực hóa ACFTA vào năm 2010 đối với Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Trung Quốc, và vào năm 2015 đối với Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam chưa trở thành hiện thực, nhưng các nội dung hợp tác kinh tế, thương mại giữa các bên liên quan đã và đang được triển khai tích cực Chính vì vậy, giữa những gam màu ảm đạm của bức tranh kinh tế thế giới, ASEAN nổi lên như một điểm sáng, vẫn duy trì mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trung bình là 5% - 6% kể cả trong thời kỳ khó khăn trong những năm 2011 - 2012,

Trang 22

và cũng chính sự đồng thuận cao trong việc kết nối giữa ASEAN với khu vực Đông Bắc Á đã có tác dụng hỗ trợ đắc lực cho tiến trình hội nhập và xây dựng Cộng đồng ASEAN, đồng thời đảm bảo vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực năng động đang hình thành

Hiện Trung Quốc là đối tác thương mại lớn thứ 4 của ASEAN sau Liên minh châu Âu (11,5%), Nhật Bản (13,7%) và Mỹ (14%) Thị phần của Trung Quốc trong giao dịch thương mại với ASEAN tăng từ 2,1% năm 1994 lên 7% năm 2003

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu còn tăng trưởng cao hơn nữa với việc thực hiện Chương trình ―thu hoạch sớm‖ của Khu vực mậu dịch tự do ACFTA trong tháng 1/2004, cũng như thực hiện kế hoạch cắt giảm thuế quan theo hiệp định thương mại hàng hóa được ký kết giữa năm 2005 Tháng 7/2004, tổng giá trị trao đổi mậu dịch các sản phẩm của Chương trình ―thu hoạch sớm‖ giữa ASEAN và Trung Quốc đạt 1,11 tỷ USD, tăng 42,3% so với cùng kỳ năm 2003, các nước ASEAN xuất khẩu sang Trung Quốc là 0,68 tỷ USD, tăng 49,8% so với cùng thời

kỳ ASEAN là bạn hàng lớn thứ năm của Trung Quốc liên tục 12 năm qua

Trung Quốc hiện nhập khẩu từ các nước ASEAN dầu thô, khí đốt, dầu thực vật, thiết bị điện, máy tính/ máy móc, chất bôi trơn/ nhiên liệu/ dầu, hóa chất, nhựa, chất béo dầu và cao su Những mặt hàng có tiếng này của ASEAN xuất sang Trung Quốc được sử dụng để sản xuất các mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang các nước thứ ba Trung Quốc xuất khẩu sang các nước ASEAN các sản phẩm điện tử và máy móc, hàng dệt may, dầu tinh chế và ngũ cốc

Trong quá trình phát triển kinh tế và với việc Khu vực mậu dịch tự do ACFTA, Trung Quốc sẽ nhập khẩu nhiều hơn từ các nước ASEAN nhằm phục vụ nhu cầu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất và cho chính nhu cầu tiêu dùng của Trung Quốc đang ngày một tăng

Lợi ích kinh tế mang lại từ việc thành lập ACFTA là rất lớn cho cả ASEAN

và Trung Quốc,bao gồm:

Trang 23

Việc thành lập ACFTA sẽ mở rộng được thị trường và thúc đẩy thương mại hai chiều Theo tính toán, khu mậu dịch tự do sẽ làm tăng xuất khẩu của các nước ASEAN sang Trung Quốc 48% và xuất khẩu của Trung Quốc sang ASEAN 55,1% Khu mậu dịch tự do sẽ làm tăng GDP của ASEAN lên 0,9% (tương ứng 5,4 tỷ USD), trong khi GDP của Trung Quốc sẽ tăng lên 0,3% (tương ứng 2,2 tỷ USD)

Xóa bỏ các rào cản thương mại, chuyên môn hóa và nâng cao hiệu quả kinh

tế Điểm cốt yếu của Hiệp định thương mại hàng hóa là không quy định giới hạn về

số lượng và loại bỏ các rào cản phi thuế quan, nhờ đó làm giảm chi phí trong giao dịch thương mại Hơn nữa, nó sẽ làm tăng giao dịch thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc, nâng cao hiệu quả kinh tế của các nước, khi mà chi phí nhập khẩu trong khu vực mậu dịch tự do giữa các nước giảm, chuyên môn hóa sản xuất theo

đó mà hình thành và do đó làm tăng thu nhập cho cả các nước ASEAN và Trung Quốc

Cải thiện tình hình đầu tư trong khu vực: Việc hình thành ACFTA sẽ tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động đầu tư giữa các nước ASEAN, giữa ASEAN và Trung Quốc đồng thời giảm thiểu được các rủi ro thị trường Điều này cũng sẽ hấp dẫn các công ty của các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, châu Âu xâm nhập vào thị trường châu Á

1.2.2 Lợi ích các nước giêng thúc đẩy các hiệp định về thành lập khu vực mậu dịch tự

do giữa Trung Quốc và ASEAN được ký kết

Trước khi thành lập ACFTA, Trung Quốc đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc đề xuất ý tưởng này Cuối những năm 90 thế kỷ XX, trước trào lưu toàn cầu hoá và nhất thể hoá kinh tế khu vực diễn ra nhanh chóng, đặc biệt sau khi gia nhập WTO, sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc phải hoà nhập vào quỹ đạo chung của sự phát triển kinh tế thế giới, để thích nghi với xu thế này, Chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu quan tâm tới việc nghiên cứu hợp tác kinh tế khu vực Lúc đó, Ban Hợp tác kinh tế đối ngoại Trung Quốc và Viện Nghiên cứu Hợp tác kinh tế thương

Trang 24

mại quốc tế đã đảm nhiệm nhiệm vụ này, hai cơ quan đã bắt đầu nghiên cứu từ đầu năm 2000 Tháng 3 năm 2001, báo cáo nghiên cứu đã được trình lên Chính phủ và ban lãnh đạo Ban Kinh tế đối ngoại Tháng 4 năm 2001 Nhóm Nghiên cứu liên hợp cấp Chính phủ được thành lập, trình báo cáo nghiên cứu lên Chính phủ vào tháng

10, làm căn cứ để quyết định xây dựng Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN Nội dung bản báo cáo lần đầu tiên đã đề cập tới việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN, đồng thời phân tích những lợi ích và thách thức mà Trung Quốc và các nước ASEAN phải đối mặt khi thành lập ACFTA,.Báo cáo cho rằng, việc thành lập ACFTA có lợi cho cả Trung Quốc và ASEAN, là sự lựa chọn― hai bên cùng thắng‖ Có thể thấy, Trung Quốc đã có sự chuẩn bị tương đối kỹ trước khi đưa ra ý tưởng thành lập ACFTA

Năm 2001, nhóm chuyên gia về hợp tác kinh tế Trung Quốc-ASEAN đã được thành lập, sau một thời gian tiến hành nghiên cứu, đưa ra kết quả cho thấy việc thành lập ACFTA là quyết định― hai bên cùng thắng‖, đề nghị xây dựng Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN trong vòng 10 năm tới Trong báo cáo này đã trình bày rất cụ thể về các vấn đề như sự khác biệt rất lớn về kinh tế giữa các nước ASEAN, vấn đề hạt nhân lãnh đạo như vai trò lãnh đạo của Đức-Pháp trong liên minh EU, vai trò hạt nhân của Mỹ trong khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ Nghiên cứu cũng đưa ra cách thức nhằm thực hiện ACFTA như sau:

Hoà nhập: Trung Quốc hoà nhập vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Thực hiện từng bước: Trung Quốc sẽ mở cửa thị trường trước, sau đó các nước ASEAN đáp lại

Từ dễ đến khó: Trung Quốc ký kết FTA với các nước phát triển hơn như Singapore và Maylaisia, để hình thành hạt nhân mạnh và ổn định trước khi các nước khác tham gia Từ một điểm đến toàn diện: ACFTA cần phải bắt đầu từ những ngành, sản phẩm dễ hơn trước khi bao gồm toàn bộ Từ khu vực nhỏ đến bao trùm

Trang 25

toàn bộ khu vực: ACFTA có thể bắt đầu từ hợp tác trong khu vực nhỏ như hợp tác trong khu vực tiểu vùng sông Mêkông rồi mới triển khai ra toàn bộ khu vực

Ưu tiên vùng duyên hải: ACFTA có thể bắt đầu bằng việc hợp tác giữa vùng duyên hải của Trung Quốc với các nước ASEAN gần biển

Thúc đẩy thương mại qua biên giới: một số học giả ở Nam Ninh và Quảng Tây rất quan tâm tới việc thúc đẩy thương mại qua biên giới giữa Trung Quốc với Việt Nam, Lào và Myanma, lấy đó làm khu vực thử nghiệm của ACFTA

Rút kinh nghiệm từ thực tiễn: ACFTA phải được thực hiện một cách thận trọng, từng bước và rút ra kinh nghiệm từ thực tiễn

Giai đoạn khởi động ACFTA Tháng 11 năm 2001, tại Hội nghị thượng đỉnh

Trung Quốc- ASEAN lần thứ 5 diễn ra ở Brunei, Thủ tướng Chu Dung Cơ chính thức đưa ra ý tưởng xây dựng ACFTA, đồng thời nêu 3 đề xuất: thứ nhất, hai bên dựa trên lợi thế về kinh tế thương mại của mỗi bên, đưa nông nghiệp, thông tin, khai phát nguồn nhân lực, đầu tư lẫn nhau và khai phát lưu vực sông Mêkông thành lĩnh vực hợp tác trọng điểm giữa Trung Quốc và ASEAN đầu thế kỷ mới; thứ hai, xây dựng Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN trong vòng 10 năm; thứ

ba, tăng cường tin cậy và ủng hộ lẫn nhau về chính trị

Trên cơ sở đó, Nhóm chuyên gia hợp tác kinh tế thương mại Trung Quốc- ASEAN nêu ra, ngoài nội dung truyền thống ACFTA còn bao gồm những nội dung sau: các biện pháp thuận lợi hoá thương mại và đầu tư; đối với các thành viên ASEAN, đặc biệt là các thành viên mới, Trung Quốc sẽ kịp thời viện trợ và giúp đỡ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại với Trung Quốc; ưu tiên các thành viên ASEAN không phải là thành viên WTO dựa trên cơ sở phù hợp với quy tắc của

tổ chức này; mở rộng hợp tác kinh tế thương mại song phương sang các lĩnh vực: tiền tệ, du lịch, nông nghiệp, khai thác nguồn tài nguyên, doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác ngành nghề, bản quyền tri thức, bảo vệ môi trường, lâm nghiệp và các sản

Trang 26

phẩm nông nghiệp, năng lượng, dầu mỏ…Cũng tại hội nghị lần này, các nhà lãnh đạo hai bên đã đạt được nhận thức chung về việc xây dựng ACFTA và nhất trí nhanh chóng khởi động đàm phán.[19]

Các hội nghị đánh dấu việc chính thức khởi động vòng đàm phán thành lập ACFTA Ngày 1 tháng 4 năm 2002, Hội nghị lần thứ nhất về việc xây dựng Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN diễn ra tại Côn Minh-Trung Quốc Tiếp

đó, Hội nghị các quan chức cấp cao kinh tế Trung Quốc- ASEAN lần thứ 3 đã được

tổ chức tại Bắc Kinh vào tháng 5, mục đích chính của hội nghị này là thảo luận các vấn đề mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, khung thời gian của Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN Hội nghị kết thúc với việc ra ―Thông cáo báo chí chung‖, trong đó nhắc lại những hoạt động đã diễn ra trong năm lĩnh vực hợp tác trọng điểm giữa Trung Quốc và ASEAN Hội nghị đánh giá cao ―Hiệp định khung về hợp tác kinh tế Trung Quốc- ASEAN‖, cho rằng Hiệp định khung là cơ sở pháp luật để triển khai hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc và ASEAN Hiệp định khung bao gồm sự hợp tác rộng rãi trên các lĩnh vực hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và những lĩnh vực khác có liên quan Hội nghị cũng quyết định thành lập Uỷ ban đàm phán thương mại Trung Quốc-ASEAN, thảo luận sâu về Hiệp định khung Có thể thấy, từ Hội nghị này, công tác chuẩn bị và đàm phán xây dựng ACFTA đã chính thức khởi động Hội nghị đàm phán thành lập ACFTA lần thứ 2 Ngày 27 tháng 6 năm 2002, Hội nghị

Uỷ ban đàm phán Trung Quốc ASEAN diễn ra tại Gia-các-ta (Inđônêxia), Hội nghị hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung bản dự thảo về ―Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc- ASEAN‖[22]

Ngày 13 tháng 9 năm 2002, tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế thương mại Trung Quốc- ASEAN lần thứ nhất tổ chức tại Brunei, hai bên đã đàm phán về vấn

đề có liên quan tới ACFTA, bao gồm quan hệ thương mại đầu tư Trung Quốc- ASEAN, ―Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc ASEAN‖,

―Chương trình thu hoạch sớm‖ tự do hoá thương mại hàng hoá và đạt được nhận

Trang 27

thức chung trong các vấn đề cốt lõi Hai bên đồng ý trước khi ký Hiệp định tự do thương mại, bắt đầu giảm thuế hàng hoá nông sản chậm nhất vào đầu năm 2004, dỡ

bỏ thuế quan trong vòng 3 năm, từ năm 2003 chính thức tiến hành đàm phán việc

ký kết Hiệp định tự do thương mại, về cơ bản, các Bộ trưởng nhất trí với bản dự thảo ―Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc- ASEAN‖, đề nghị ký văn kiện quan trọng này tại Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc-ASEAN (10+1) lần thứ 6 diễn ra vào tháng 11 năm 2002, đồng thời đưa ra thời gian biểu dỡ bỏ thuế quan Từ ngày 3-5 tháng 11 năm 2002, tại Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc- ASEAN tổ chức tại Phnômpênh-Camphuchia, các nhà lãnh đạo Trung Quốc và ASEAN đã ký ―Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc- ASEAN‖ (Gọi tắt là Hiệp định khung) và ―Bị vong lục hợp tác nông nghiệp Trung Quốc- ASEAN‖ ―Hiệp định khung‖ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2003, hai bên đồng ý trước khi ký hiệp định thương mại tự do, điều chỉnh giảm thuế đối với các mặt hàng nông nghiệp trước năm 2004, trong vòng 3 năm dỡ bỏ thuế quan đối với các mặt hàng này, từ năm 2003 chính thức tiến hành đàm phán về Hiệp định tự

do thương mại, mục tiêu xây dựng xong khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN vào năm 2010 Việc ký hết Hiệp định khung ―chính là một kế hoạch toàn diện và đầy đủ để xây dựng ACFTA‖

Ngày 29 tháng 11 năm 2004, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN ở Viêngchăn, Bộ trưởng Kinh tế ASEAN và Trung Quốc đã ký Hiệp định Thương mại hàng hoá ASEAN – Trung Quốc (TIG), có hiệu lực từ ngày 1/7/2005 Đây là bước tiến quan trọng thúc đẩy tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và Trung Quốc, bước đầu hiện thực hoá mục tiêu của các nhà lãnh đạo nêu lên tại Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc – ASEAN năm 2002 Hiệp định này mở đường cho hai bên tiếp tục thảo luận, đi đến nhiều nội dung hợp tác quan trọng khác

về thương mại dịch vụ, khu vực đầu tư ASEAN-Trung Quốc Một khu vực mậu

Trang 28

dịch tự do Trung Quốc-ASEAN toàn diện bao gồm cả hàng hoá, dịch vụ, đầu tư đang dần hình thành.[17]

Việc thành lập ACFTA có ý nghĩa rất quan trọng đối với Trung Quốc, ASEAN và cả Đông Á, là sự lựa chọn ― hai bên cùng thắng‖

Một là, thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị về kinh tế giữa Trung Quốc với ASEAN phát triển Việc thành lập ACFTA chứng tỏ Trung Quốc và ASEAN đã tăng cường niềm tin về chính trị, đồng thời thể hiện nhu cầu thực tế đi sâu hợp tác kinh tế giữa hai bên, là kết quả của mối quan hệ Trung Quốc- ASEAN không ngừng phát triển theo chiều sâu Xây dựng ACFTA là nội dung quan trọng trong nhất thể hoá kinh tế toàn cầu, thúc đẩy hàng hoá lưu thông tự do trong khu vực, nguồn vốn được phân phối có hiệu quả hơn; mở rộng hơn nữa quy mô thị trường, thúc đẩy thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN, có lợi cho việc nâng cao sức sản xuất của doanh nghiệp trong khu vực, tăng cường sức cạnh tranh quốc tế; mở rộng quy mô đầu tư lẫn nhau giữa các nước thành viên Từ đó thúc đẩy sự phát triển sức sản xuất trong khu vực và tăng trưởng kinh tế bền vững cho các nước thành viên Các nhà lãnh đạo các nước ASEAN cũng lần lượt bày tỏ, phương hướng xây dựng ACFTA giữa Trung Quốc và ASEAN là đúng đắn, có ý nghĩa sâu sắc, về mặt chính trị có lợi cho việc thắt chặt hơn nữa quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Trung Quốc và ASEAN, về mặt kinh tế có lợi cho việc nâng cao sức cạnh tranh của khu vực

Hai là, ACFTA làm cho ASEAN và Trung Quốc thành một thể thống nhất, tạo điều kiện quan trọng trong việc ổn định kinh tế Đông Nam Á, đồng thời nâng cao tiếng nói cũng như sức cạnh tranh của ASEAN và Trung Quốc trong các công việc có liên quan tới thương mại quốc tế gắn liền với lợi ích chung của hai bên Trung Quốc hiện là quốc gia thương mại lớn thứ nhất trên thế giới, trong khi đó tổng kim ngạch thương mại của 10 nước ASEAN đứng thứ 5 trên thế giới, hiện nay kim ngạch thương mại của Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN chỉ đứng sau EU, khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ, quy mô lớn thứ nhất trên thế giới Sự hình

Trang 29

thành Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN không chỉ giúp cho các nước ASEAN phục hồi nền kinh tế, hơn nữa còn có lợi cho việc thúc đẩy hoà bình và ổn định ở châu Á, đồng thời có lợi cho Đông Á trong việc hình thành và duy trì sự cân bằng về lực lượng với EU và khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ, đối phó với thách thức kinh tế từ các khu vực khác, chống lại chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch của các nước phát triển Hiện nay, quy mô kinh tế, ngoại thương và sản xuất hàng hoá then chốt của Đông Á đã đạt khoảng 30% mức của thế giới, việc thành lập ACFTA là một bước quan trọng để tiến tới khu vực mậu dịch tự do Đông Á, ASEAN chưa phải là một cộng đồng kinh tế chặt chẽ như EU, vì vậy, ACFTA có ý nghĩa thúc đẩy quan

hệ song phương giữa Trung Quốc với các nước ASEAN

Ba là, việc thành lập ACFTA giúp các thành viên giảm sự phụ thuộc vào thị trường châu Âu và Mỹ Trong quá trình phát triển nền kinh tế, các nước ASEAN phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, trong đó xuất khẩu sang Mỹ chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước này Sau khủng hoảng kinh tế Đông Nam Á năm 1997, các nước ASEAN nhận thức sâu sắc rằng, phụ thuộc quá nhiều vào nền kinh tế ngoài khu vực dẫn tới sự thụ động, mất ổn định kinh tế khu vực Thoát khỏi

sự phụ thuộc vào nền kinh tế phương Tây thông qua tăng cường hợp tác trong khu vực đã trở thành nhận thức chung của các nước ASEAN Trung Quốc là một nước

có nền kinh tế phát triển mạnh ở châu Á, với thị trường rộng lớn và tiềm năng phát triển mạnh mẽ, ACFTA thành lập sẽ ngày càng có nhiều hàng hoá, lao động các nước ASEAN tới Trung Quốc Điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các nước ASEAN trong việc điều chỉnh, giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường châu Âu

và Mỹ Đối với Trung Quốc, việc xây dựng ACFTA có lợi trong việc chống lại sự cạnh tranh ngoài khu vực, chống lại chủ nghĩa bảo hộ của các nước phát triển phương Tây và tác động của sự phát triển các tập đoàn thương mại khác đối với xuất khẩu của Trung Quốc

Trang 30

Bốn là, việc thành lập ACFTA có lợi cho việc thúc đẩy hợp tác và phát triển kinh tế khu vực Đông Á Những năm gần đây, trước sức ép của EU và Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ, các nước Đông Á đã bắt đầu đẩy nhanh tiến trình hợp tác kinh tế khu vực, đồng thời đạt được một số thành quả Từ năm 1999 đến nay, dưới

cơ chế ―10+3‖, các nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã tổ chức nhiều hội nghị các nhà lãnh đạo, đạt được nhận thức chung rộng rãi trên các lĩnh vực hợp tác kinh tế Nhưng, nhìn chung, do sự khác biệt về kinh tế, chính trị, văn hoá…giữa các nước Đông Á tương đối lớn nên tiến trình hợp tác gặp phải rất nhiều khó khăn Trong bối cảnh đó, việc khởi động ACFTA có ý nghĩa quan trọng, thúc đẩy sự phát triển nhất thể hoá kinh tế khu vực, duy trì kinh tế khu vực Đông Á phồn vinh và phát triển

1.3 Khái quát những việc hợp tác thương mại và đầu tư quan trọng và hiệu quả giữa Trung Quốc với ASEAN trước năm 2012

Trước những năm 90 thế kỷ 20, trao đổi thương mại là nòng cốt trong quan

hệ Trung Quốc-ASEAN, hơn nữa, phát triển tương đối chậm, thời kỳ sau những năm 90 quan hệ thương mại song phương phát triển nhanh hơn Đặc biệt, việc ký kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện trong đó đề cập tới vấn đề thành lập khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN vào năm 2010 đã tạo tiền đề thúc đẩy thương mại song phương tăng trưởng nhanh chóng Năm 2001, kim ngạch thương mại song phương đạt 41,6 tỉ USD, tăng 5,3% so với năm 2000 Năm 2002, kim ngạch thương mại Trung Quốc- ASEAN từ chỗ chiếm 8,2% đã tăng lên 8,8% trong tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc, đưa ASEAN trở thành bạn hàng thương mại lớn thứ 5 của Trung Quốc sau Nhật Bản, Mỹ, EU, Hồng Kông trong 3 năm liền

Ngày 1/1/2003 ―Hiệp định khung‖ chính thức có hiệu lực, đến năm 2010 hoàn thành mục tiêu thành lập khu vực mậu dịch tự do đối với Trung Quốc và ASEAN 6, thời gian đối với các nước thành viên ASEAN mới đến năm 2015

Trang 31

Tháng 10 năm 2003, tại Hội nghị các nhà lãnh đạo Trung Quốc-ASEAN lần thứ 7 tạiIndonesiaTrung Quốc đã gia nhập ―Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Đông Nam Á‖, đồng thời ký ―Tuyên bố chung quan hệ đối tác chiến lược hoà bình và phồn thịnh‖, những động thái chính trị này đã tạo điều kiện mở rộng hợp tác kinh tế hơn nữa, đánh dấu quan hệ Trung Quốc-ASEAN đã bước vào giai đoạn phát triển toàn diện

Hiệp định thương mại dịch vụ được ký bên lề Hội nghị thượng đỉnh lần thứ

10 ASEAN -Trung Quốc vào tháng 1 năm 2007 tại Cebu, Phillippines và có hiệu lực từ ngày 1/7/2007

Ủy ban Đàm phán thương mại ASEAN-Trung Quốc (AC-TNC) đã hoàn tất thương lượng về Hiệp định đầu tư ASEAN-Trung Quốc vào tháng 11 năm 2008, và

ký kết hiệp định này trong khuôn khổ Hội nghị các bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 41 vào tháng 8 năm 2009 tại Bangkok, Thái Lan Điều này đồng nghĩa với việc các tiến trình đàm phán giữa ASEAN-Trung Quốc về khu vực mậu dịch tự do đã được hoàn tất theo như Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế toàn diện giữa ASEAN

và Trung Quốc đặt ra

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc là một thỏa thuận thương mại khu vực có ý nghĩa toàn cầu, xét về quy mô thương mại giữa hai bên chiếm 13,7% thương mại toàn cầu và gần một nửa tổng kim ngạch thương mại của châu Á trong năm 2007

Nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng và thúc đẩy gắn kết giữa ASEAN và Trung Quốc, gần đây Trung Quốc đã tuyên bố thành lập Quỹ Hợp tác Đầu tư ASEAN – Trung Quốc chi 10 tỷ USD cho các dự án hợp tác đầu tư lớn của ASEAN và Trung Quốc trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, năng lượng và tài nguyên, công nghệ thông tin

và truyền thông và một số lĩnh vực khác

Tổng kim ngạch thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc đạt 192,5 tỷ USD năm 2008 Sự tăng trưởng này đưa Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn thứ

Trang 32

ba của ASEAN vào năm 2009, chiếm 11,3% tổng kim ngạch thương mại của ASEAN

Khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường các mối quan

hệ kinh tế giữa ASEAN và Trung Quốc Hội chợ Trung Quốc-ASEAN (CAEXPO) nhằm giới thiệu các sản phẩm của hai bên được tổ chức hàng năm tại Nam Ninh, Trung Quốc kể từ năm 2004, với nhiều sản phẩm mới được giới thiệu mỗi năm bởi các doanh nghiệp từ hai bên Ngoài ra, Hội nghị Thương mại và Đầu tư ASEAN-Trung Quốc (CABIS), được tổ chức tiếp nối với hội chợ CAEXPO hàng năm, là một cách thức hiệu quả để chính phủ và khu vực tư nhân xích gần nhau hơn nhằm trao đổi quan điểm về các vấn đề ảnh hưởng đến tình hình kinh tế và kinh doanh của các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc

Biên bản ghi nhớ giữa ASEAN và Trung Quốc về Tăng cường hợp tác trong Các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) được ký kết vào tháng 11 năm

2007 bên lề Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Trung Quốc lần thứ 11 tại Singapore Biên bản này được ký kêt nhằm hỗ trợ cho việc thực thi ACFTA

Quan hệ hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc trong lĩnh vực nông nghiệp đã phát triển sâu rộng đánh dấu bởi biên bản ghi nhớ về hợp tác trong nông nghiệp năm 2002 tại Phnom Penh Biên bản ghi nhớ này thúc đẩy quan hệ hợp tác trực tiếp hơn trong lĩnh vực nông nghiệp giữa các cơ quan có thẩm quyền quản lý nông nghiệp của các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc Một Biên bản ghi nhớ ASEAN-Trung Quốc về hợp tác trong nông nghiệp mở rộng trong giai đoạn 2007-2011 cũng được ký vào tháng 1 năm 2007 tại Cebu

Trong lĩnh vực Công nghệ Thông tin và Truyền thông (ICT), ASEAN và Trung Quốc vẫn liên tục tiến hành xúc tiến quan hệ đối tác chiến lược nhằm tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển đầu tư và nguồn nhân lực ICT cũng như tìm hiểu triển vọng xây dựng xa lộ thông tin tiểu vùng sông Mekong Với mục đích này, hai bên đã hoàn tất hai văn bản quan trọng là Biên bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh

Trang 33

vực Công nghệ Thông tin và Truyền thông tháng 10 năm 2003 tại Bali và Tuyên bố Bắc Kinh về Hợp tác ASEAN-Trung Quốc vì sự phát triển chung lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, được thông qua tháng 5 năm 2005 tại Bắc Kinh Nhằm củng cố quá trình thực hiện tuyên bố Bắc Kinh, hai bên đã thông qua kế hoạch hành động năm 2007-2012 tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12 tổ chức vào tháng 1 năm 2007 tại Cebu

Hợp tác sâu rộng trong lĩnh vực giao thông giữa ASEAN và Trung Quốc được đánh dấu bởi Biên bản ghi nhớ về Hợp tác trong Giao thông vận tải tháng 11 năm

2004 tại Viêng Chăn Qua biên bản ghi nhớ này, hai bên sẽ hỗ trợ hợp tác trung hạn

và dài hạn trong các lĩnh vực sau: i) xây dựng cơ sở hạ tầng cho giao thông; ii) hỗ trợ giao thông; iii) an ninh và an toàn hàng hải; iv) giao thông đường hàng không; v) phát triển nguồn nhân lực; và vi) trao đổi thông tin Thỏa thuận về vận tải biển giữa ASEAN và Trung Quốc (ACMTA) được ký tháng 11 năm 2007 tại Singapore Hội nghị giữa các bộ trưởng giao thông vận tải của ASEAN và Trung Quốc lần thứ

7 được tổ chức vào tháng 11 năm 2008 đã thống nhất về nguyên tắc với Kế hoạch chiến lược hợp tác Giao thông vận tải ASEAN-Trung Quốc, trong đó nêu ra 90 dự

án cơ sở hạ tầng giao thông vận tải nhằm tăng cường và tạo điều kiện cho giao thông quốc tế và xuyên biên giới

Du lịch là một trong những lĩnh vực hợp tác tiềm năng của ASEAN và Trung Quốc Quan hệ hợp tác trong lĩnh vực du lịch giữa ASEAN và Trung Quốc đã được tăng cường và số lượng du khách luôn tăng ổn định ASEAN và Trung Quốc tin tưởng rằng số lượng khách du lịch sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh cùng với mối quan

hệ được mở rộng trong tương lai

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Trung Quốc vào ASEAN trong năm

2011 tăng 117% so với năm 2010, và đạt 5,9 tỷ USD Tuy nhiên, số vốn của ASEAN đổ vào Trung Quốc vẫn nhiều hơn nguồn vốn theo chiều ngược lại [21;15]

Trang 34

Theo thống kê, giá trị trao đổi thương mại ASEAN - Trung Quốc đã tăng từ mức 232 tỷ USD năm 2010 lên 280,4 tỷ USD năm 2011 Năm 2012, các bên đã nhất trí đặt mục tiêu nâng con số này lên 500 tỷ USD vào năm 2015 và 1.000 tỷ USD năm 2020

Ông Michael Yeoh, đồng sáng lập và Giám đốc điều hành Asian Strategy and Leadership Institute, nhận định tầng lớp trung lưu của ASEAN mạnh lên đang đem đến cơ hội kinh doanh khổng lồ cho các doanh nghiệp của Hong Kong và Trung Quốc đại lục

Ảnh hưởng của nền Kinh tế Trung Quốc tới ASEAN

Sức mua của Trung Quốc lớn, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế ASEAN Mậu dịch hai bên đã phát triển nhanh chóng, tổng kim ngạch mậu dịch từ 7,96 tỷ USD vào năm 1991, tăng đến 130,37 tỷ USD vào năm 2005 (tăng gấp 16,3%) Cho đến tháng 3 - 2006, hai bên đã trở thành bạn hàng lớn thứ tư của nhau Trong nhiều năm, Trung Quốc liên tục nhập siêu, trong đó, Phi-líp-pin, Thái Lan và Malaysia là những nước xuất siêu đứng thứ mười ở Trung Quốc Dự kiến vài năm tới, Trung Quốc sẽ nhập khẩu nhiều hơn hàng hóa từ các nước ASEAN như năng lượng, nguyên liệu, bán thành phẩm và thành phẩm Đến cuối năm 2008, kim ngạch mậu dịch hai bên sẽ đạt 200 tỷ USD, trong đó nhập khẩu của Trung Quốc từ ASEAN ước đạt hơn 100 tỷ USD

Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN đã đạt kết quả bước đầu Kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN Trung Quốc ủng hộ ―Chương trình thu hoạch sớm‖ do ASEAN đề xuất, thực hiện giảm thuế nông sản cho các nước ASEAN Ngoài ra, Trung Quốc còn miễn thuế đơn phương cho những nước kém phát triển như Lào, Camphuchia Sau khi thực hiện ―Chương trình thu hoạch sớm‖, trong mậu dịch nông sản với ASEAN, Trung Quốc từ nước xuất siêu trở thành nước nhập siêu Hện nay, hằng năm, Trung Quốc nhập siêu hơn 2 tỷ USD;

Trang 35

trong đó, Indonesia, Malaysia và Thái Lan là những nước Trung Quốc nhập siêu hàng nông sản nhiều nhất.[20]

Trung Quốc tăng cường thực lực kinh tế, đẩy mạnh đầu tư trực tiếp vào các nước ASEAN Đầu năm 2006, các nước ASEAN đã đầu tư vào Trung Quốc 40 tỷ USD, trong khi đó, Trung Quốc mới chỉ đầu tư vào ASEAN khoảng 1,29 tỷ USD Đây là điểm không cân bằng trong hợp tác kinh tế giữa hai bên Hiện nay, chính phủ Trung Quốc hướng tới việc mở rộng quỹ đầu tư, theo đó, các doanh nghiệp Trung Quốc có thêm cơ hội vay vốn để đầu tư vào ASEAN Không những thế, khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN sẽ có nhiều chính sách ưu đãi về thuế quan nhằm khuyến khích đầu tư hơn nữa vào ASEAN.[9]

Trung Quốc thực hiện chính sách trợ giúp các nước kém phát triển trong khu vực ASEAN Trung Quốc tập trung hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực, viện trợ về kinh tế, kỹ thuật Mấy năm qua, Trung Quốc đã đào tạo hơn 6.000 nhân lực trong nhiều lĩnh vực cho các nước ASEAN; viện trợ nhiều dự án cho Camphuchia, Lào, Việt Nam, Malaysia Từ năm 1998-2005, Trung Quốc đã viện trợ cho Lào 1,17 tỷ USD; viện trợ cho Việt Nam 1 tỷ USD trong việc xây dựng hàng loạt dự án như nhà máy điện Trung Quốc dự định dành 1/3 vốn cho vay ưu tiên đối với các nước ASEAN

Trung Quốc góp phần xây dựng khối kinh tế ASEAN Trung Quốc ủng hộ ASEAN trong việc nhất thể hóa khu vực ASEAN với Đông Á cũng như việc xây dựng khối kinh tế ASEAN Trung Quốc tích cực tham gia xây dựng khu kinh tế tiểu vùng sông Mê Kông; khu tam giác kinh tế Indonesia, Malaysia, Thái Lan; hợp tác với các nước Bruney, Indonesia, Malaysia, Philipine; khu kinh tế phát triển Camphuchia - Malaysia - Lào - Việt Nam; hợp tác ―một vành đai, hai hành lang kinh tế‖ giữa Việt Nam và Trung Quốc

Trang 36

1.4 Cạnh tranh và phát triển là trào lưu chính của Kinh tế thế giới, hơp tác,khu vực hóa càng ngày càng quan trọng trên diễn đàn kinh tế thế giới

1.4.1Bối cảnh kinh tế quốc tế càng ngày càng phức tạp

Kinh tế thế giới sau khi bắt đầu lấy lại đà tăng trưởng đạt mức 5,1% trong năm 2010 đã nhanh chóng giảm sâu xuống còn 3,9% vào năm 2011 Đà sụt giảm này tiếp tục kéo dài sang hai năm tiếp theo với mức tăng trưởng rơi xuống còn 3,2% trong 2 năm 2012 – 2013 Và tăng trưởng chỉ bắt đầu có dấu hiệu phục hồi trở lại với mức tăng nhẹ ước đạt khoảng 3,4% năm 2014, và đạt khoảng 3,9% năm 2015 Như vậy, có thể thấy đến thời điểm hiện tại tăng trưởng kinh tế toàn cầu hiện vẫn đang ở mức thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình xấp xỉ 5% giai đoạn trước khủng hoảng tài chính toàn cầu

Bảng 1: Tăng trưởng GDP của kinh tế thế giới giai đoạn 2012 – 2015 (%)

Khu vực Châu Mỹ La tinh Caribe 2,7 2,6 1,3 2,4

Nguồn: World Economic Outlook, IMF

Bức tranh màu xám của tăng trưởng được ghi nhận ở hầu hết các nhóm nước Tại các nền kinh tế phát triển, tăng trưởng chuyển biến hết sức chậm chạp trong hai năm đầu 2011 – 2012, và chỉ bắt đầu có dấu hiệu lấy lại đà phục hồi từ năm 2013, tuy nhiên quá trình phục hồi vẫn còn khá mong manh Đối với các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, tình hình dường như cũng không mấy sáng sủa hơn Nếu như

Trang 37

giai đoạn 2010 trở về trước, tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế này được coi là động lực cho quá trình phục hồi của kinh tế toàn cầu, thì đến giai đoạn này tốc độ tăng trưởng đã bắt đầu chậm lại

Đồng thời, giai đoạn 2012 – 2015 cũng chứng kiến sự tiếp tục đi xuống của dòng vốn đầu tư toàn cầu (thể hiện qua chỉ tiêu tổng lượng vốn xuyên biên giới gộp – gross cross-border capital).[7]

Thâm hụt ngân sách tại các nước đang phát triển ngày càng trầm trọng hơn sau khủng hoảng tài chính toàn cầu khi các nước đồng loạt phải thực hiện các gói kích thích kinh tế để làm gia tăng chi tiêu của chính phủ, cắt giảm thuế hay cứu trợ cho khu vực tài chính Tính đến năm 2012, tỷ lệ nợ công bình quân của các nước đang phát triển đã lớn hơn 100%/GDP, trong đó đặc biệt là các nước tại khu vực Châu Âu

Giai đoạn 2012 – 2015 cũng ghi nhận những xu thế chuyển biến mang tính tích cực Trước hết, trái với những giai đoạn trước đây khi kinh tế thế giới tăng trưởng nóng, lạm phát luôn là một thách thức đối với việc duy trì sự ổn định của kinh tế toàn cầu thì giai đoạn 2012 – 2015 vừa qua, sức ép lạm phát không quá lớn, thậm chí lạm phát có xu hướng giảm ở mức thấp hơn mục tiêu đặt ra ở các nước phát triển, đặt các quốc gia này vào tình trạng phải đối mặt với rủi ro giảm phát trên diện rộng Lạm phát chỉ có xu hướng gia tăng trong năm 2012 với mức tăng đạt đỉnh 5,2% trước các áp lực biến động từ các yếu tố nguồn cung, tuy nhiên lại duy trì

xu hướng giảm liên tục trong suốt những năm còn lại, và hiện chỉ dao động ở mức 3,8%

Lạm phát không có nhiều biến động trong giai đoạn 2012 – 2015 là do các áp lực đối với lạm phát từ phía cung cũng như phía cầu là không quá lớn Về phía cung, giai đoạn 2012 – 2014 giá cả các yếu tố đầu vào không có sự biến động quá mạnh, đặc biệt hình thành xu hướng giảm từ năm 2013 trở lại đây Năm 2014 là năm ghi nhận mức giảm kỷ lục của giá cả các yếu tố đầu vào, theo đó, chỉ số giá

Trang 38

hàng hóa chung giảm xấp xỉ 30%, chỉ số giá lương thực thực phẩm giảm 6,3% trong khi giá năng lượng giảm đến xấp xỉ 39% Đà sụt giảm này tiếp tục kéo dài sang năm

2015 khi chỉ trong vòng 3 tháng đầu năm 2015, giá các mặt hàng hóa chung đã giảm 11,3%; trong đó giá lương thực thực phẩm giảm hơn 9% và giá năng lượng giảm xấp xỉ 14%

1.4.2 Bối cảnh tổ chức ASEAN và Trung Quốc

Tăng trưởng ở các nước đang phát triển khu vực Đông Á-Thái Bình Dương giảm nhẹ từ 7,2% trong năm 2013 xuống còn 6,9% trong năm 2014, phản ánh sự giảm tốc ở Trung Quốc và một số nền kinh tế ASEAN-4 Tuy nhiên, khu vực này vẫn đóng góp hơn một phần ba tăng trưởng toàn cầu, cao gấp hai lần tổng mức đóng góp của tất cả các khu vực đang phát triển khác cộng lại Ở Trung Quốc,tăng trưởng giảm tốc 0,3 điểm phần trăm, bởi những nỗ lực kiềm chế tăng trưởng tín dụng và cắt giảm dư thừa công suất đã phần nào bị triệt tiêu bởi những biện pháp tránh suy giảm mạnh Ở phần còn lại của khu vực, tăng trưởng đã giảm 0,6 điểm phần trăm Trong khối ASEAN-4, tăng trưởng giảm mạnh nhất ở Thái Lan chỉ đạt 0,7% do ảnh hưởng của tình hình bất ổn chính trị kéo dài; nền kinh tế này mới chỉ bắt đầu phục hồi vào cuối năm 2014 Indonesia cũng bị ảnh hưởng bởi sự suy yếu của tỷ giá thương mại và xuất khẩu hàng hóa thô, và bởi tác động kéo dài của việc thắt chặt chính sách nhằm đối phó với những hạn chế về nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài Tăng trưởng nhìn chung vẫn vững mạnh ở các nền kinh tế nhỏ hơn trong khu vực, như Camphuchia, Lào, và Myanma[14]

Phần lớn các nước vẫn tiếp tục tái thiết các vùng đệm tài khóa đã bị xói mòn bởi các khoản chi kích thích kinh tế được tiến hành sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tuy vậy những thách thức vẫn còn đó Số dư tài khóa nhìn chung tiếp tục được cải thiện, đặc biệt ở Malaysia và Philippine Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam tiếp tục điều chỉnh trợ giá nhiên liệu cho hợp lý hơn hoặc tăng thuế nhiên liệu Tuy nhiên, tại Mông Cổ và ở mức độ hạn chế hơn tại

Trang 39

Lào, thâm hụt ngân sách và nợ công vẫn còn cao; tạiMyanma, thâm hụt ngân sách đáng kể đã xuất hiện; tại Việt Nam, nợ công tiếp tục tăng; và tại Malaysia nợ công vẫn ở mức cao.[10;11tr.135-142]

Tại Trung Quốc, tăng trưởng sẽ tiếp tục giảm tốc từ 7,1% trong năm 2015

và dự đoán xuống còn 6,9% trong năm 2017, phản ánh những nỗ lực chính sách được duy trì nhằm khắc phục những điểm dễ tổn thương của hệ thống tài chính và dần chuyển dịch sang định hướng tăng trưởng bền vững hơn Việc tiếp tục áp dụng các biện pháp kiềm chế nợ của chính quyền địa phương, hạn chế hoạt động ngân hàng phi chính thức, cắt giảm công suất dư thừa, giảm nhu cầu năng lượng và kiểm soát ô nhiễm sẽ làm giảm tăng trưởng trong lĩnh vực sản xuất chế tạo và đầu tư Tuy nhiên, dự kiến các biện pháp kích thích có trọng tâm sẽ vẫn được duy trì để giảm thiểu tác động tiêu cực đối với tăng trưởng ngắn hạn, nếu có dấu hiệu cho thấy nền kinh tế tăng trưởng thấp hơn đáng kể so với chỉ tiêu tăng trưởng 7% của chính phủ

Ở những nước đang phát triển còn lại của khu vực Đông Á-Thái Bình Dương, tăng trưởng kinh tế sẽ khởi sắc, phản ánh sự hồi phục trong cả đầu tư lẫn tiêu dùng, một phần nhờ vào giá nhiên liệu giảm, bất chấp việc tăng trưởng xuất khẩu sẽ bị kìm hãm bởi xu hướng tỷ giá thực gia tăng đang diễn ra hiện nay Giá nhiên liệu thấp sẽ đem lại lợi ích cho khu vực Đông Á-Thái Bình Dương nói chung, nhưng tác động của điều này ở mỗi quốc gia là rất khác nhau, tùy thuộc vào quy mô nhập khẩu nhiên liệu ròng, cường độ sử dụng năng lượng trong sản xuất, và tỷ trọng của dầu và khí đốt trong tổng tiêu thụ năng lượng Camphuchia, Lào, Philippine, Thái Lan và các đảo quốc Thái Bình Dương là những nước sẽ hưởng lợi đáng kể Ngược lại, Malaysia và Pa-pua Niu Ghi-nê sẽ gánh chịu những tổn thất nhỏ về GDP ỞIndonesia, tác động ròng sẽ phụ thuộc vào việc giá than và khí đốt xuất khẩu sẽ biến động như thế nào theo giá dầu

Chính sách thương mại và đầu tư của Trung Quốc Về thương mại nội địa,

Bộ trưởng Cao Hổ Thành cho biết, trong năm 2013 - 2016, nhiệm vụ chủ yếu là

Trang 40

thúc đẩy tiêu dùng, giảm bớt chi phí trong các khâu lưu thông hàng hóa Bộ Thương mại Trung Quốc sẽ tập trung hoàn thiện hệ thống lưu thông hàng nông sản, thúc đẩy xây dựng hệ thống tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và lưu thông các loại nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất trong nước, tập trung phát triển thương mại điện tử, đặc biệt là lĩnh vực mua bán hàng hóa qua mạng, thúc đẩy phát triển dịch vụ logistic, ngành dịch vụ ăn uống, nghỉ dưỡng vv[25]

Đồng thời, tăng cường công tác giám sát, dự báo nhằm giải quyết khó khăn trong tiêu thụ các mặt hàng nông sản và sự bất ổn của thị trường Trung Quốc cũng

sẽ tăng cường mức độ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, kiên quyết ngăn chặn, xử lý hành

vi sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng Qua việc triển khai các biện pháp này,

cố gắng hoàn thành mục tiêu tăng trưởng tổng mức bán lẻ sản phẩm tiêu dùng đạt 14,5% trong năm 2013

Về ngoại thương, nhiệm vụ chủ yếu của Bộ Thương mại Trung Quốc là phải ổn định nhu cầu thị trường, đồng thời đẩy nhanh điều chỉnh cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, lấy ngành khoa học kỹ thuật cao, thương hiệu và chất lượng sản phẩm làm trọng tâm, ưu thế mới của lĩnh vực ngoại thương để thực hiện tốc độ tăng trưởng ngoại thương không thấp hơn mức tăng GDP dự kiến

Tổng kết chương 1

Thông quá gần 50 năm xây dựng và phát triển,Tổ chức ASEAN đã là một

tổ chức khu vực to lớn vì mục tiêu hòa bình,hơp tác và phát triển.Sau khi tổ chức ASEAN ra đời là xu thế tất yếu của khu vực hóa,phù hợp lợi ích và yêu cầu phát triển kinh tế của các nước trong tổ chức này.các nước trong tổ chức này được ưu đãi

ưu tiên hợp tác với nhau;đươc xóa bỏ các rào cản thương mại,chuyên môn hóa và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế;nâng cao quyền lời nói trên diễn đàn kinh tế thế giới

Toàn cầu hóa và khu vực hóa kinh tế thế giới ngày nay đang trở thành trào lưu quốc tế Trung Quốc và ASEAN cũng không nằm ngoài xu thế này,chỉ có hòa nhập

Ngày đăng: 17/12/2023, 03:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thu Hạnh (2010), ―Điều chỉnh chính sách thu hút FDI của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO‖, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 12, tr.30 - 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh chính sách thu hút FDI của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
Tác giả: Nguyễn Thu Hạnh
Năm: 2010
2. Phùng Mạnh Hùng (2012), ―Trung Quốc với việc hình thành cộng đồng kinh tế Đông Á‖, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc với việc hình thành cộng đồng kinh tế Đông Á
Tác giả: Phùng Mạnh Hùng
Năm: 2012
3. Phạm Thái Quốc (2010), ―Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc: một số đánh giá bước đầu‖, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 10, tr.57 - 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc: một số đánh giá bước đầu
Tác giả: Phạm Thái Quốc
Năm: 2010
4. Đỗ Tiến Sâm (2007), ―Hợp tác Trung Quốc - ASEAN và tác động của nó tới tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN‖, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 6, tr.35 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác Trung Quốc - ASEAN và tác động của nó tới tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN
Tác giả: Đỗ Tiến Sâm
Năm: 2007
5. Lưu Ngọc Trịnh (2010), Cộng đồng kinh tế Đông Á (EAEC) và những toan tính của các nước lớn, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng kinh tế Đông Á (EAEC) và những toan tính của các nước lớn
Tác giả: Lưu Ngọc Trịnh
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2010
6. ASEAN trong chiến lược an ninh năng lượng của Trung Quốc, Kinh tế quốc tế, số 4+5/2006, tr. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN trong chiến lược an ninh năng lượng của Trung Quốc
7. Báo cáo thường niên về tình hình đầu tư toàn cầu của UNCTAD, 2004 8. Hồ Châu-Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế đồng chủ biên, Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN: quá trình hình thành và triển vọng, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006 (24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên về tình hình đầu tư toàn cầu của UNCTAD", 2004 8. Hồ Châu-Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế đồng chủ biên, "Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN: quá trình hình thành và triển vọng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
9. Công báo thống kê đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc năm 2005, http://mofcom.gov.cn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công báo thống kê đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc năm 2005
13. ASEAN - CHINA dialogue relations, 10/2011, http://www.asean.org/5874.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN - CHINA dialogue relations
14. Li Wannan, John Wong, Lye Liang Fook (2008), Asean - Chinatraderelations: 15 years of development and prospects, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asean - Chinatraderelations: "15 years of development and prospects
Tác giả: Li Wannan, John Wong, Lye Liang Fook
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2008
15. Kỷ yếu hội thảo khoa học: Định hướng phát triển quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc trong bối cảnh mới, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, KX.01/06-10, Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Thương mại, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học: Định hướng phát triển quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc trong bối cảnh mới
16. The Investment Dvision, OECD, Trends and Recent Developments in Foreign Direct Investment, June 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Investment Dvision, OECD, Trends and Recent Developments in Foreign Direct Investment
17. Tài liệu hội thảo ―Diễn đàn hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc và Đông Nam Á‖, 22/11/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn đàn hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc và Đông Nam Á
18. Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), Trung tâm WTO và Hội nhập – VCCI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA)," Trung tâm WTO và Hội nhập – V
19. Sáng kiến thương mại châu Á /UNDP, Chính sách đầu tư và phát triển con người ở Việt Nam, http://www.asiatradeinitiatives.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng kiến thương mại châu Á /UNDP, Chính sách đầu tư và phát triển con người ở Việt Nam
20. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc. (quý 1, 2 năm 2012), ―Báo cáo tình hình thực hiện chính sách tiền tệ‖ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện chính sách tiền tệ
21. Hội thảo: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 60 năm xây dựng và phát triển, Viện Nghiên cứu Trung Quốc tổ chức tại Hà Nội, 9/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 60 năm xây dựng và phát triển
22. ―International Business Cycle Comovement: Trade and Foreign Direct Investment‖ (Jos Jansen and Ad Stokman -2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Business Cycle Comovement: Trade and Foreign Direct Investment
31. 《 中 国 - 东 盟 博 览 会 的 意 义 》 ( 2015 ) 中 国 人 才 网 http://www.cnrencai.com/fangjia/jieri/244058.html Link
32. 东兰(2015.12.1)《关于国家一路一带战略意义的论文》中国论文网 http://m.bylw.yjbys.com/lunwenfanwen/67728_2.html#ContMain Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w