1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(LUẬN văn THẠC sĩ) đổi mới phương thức quản lí tài chính theo hướng tự chủ nhằm khắc phục sự không tương thích giữa cấp phát tài chính và tiến độ thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học

84 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi Mới Phương Thức Quản Lí Tài Chính Theo Hướng Tự Chủ Nhằm Khắc Phục Sự Không Tương Thích Giữa Cấp Phát Tài Chính Và Tiến Độ Thực Hiện Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
Tác giả Kim Thị Diệp Hà
Người hướng dẫn TS Đào Thanh Trường
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản Lý Khoa Học Và Công Nghệ
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 900,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KIM THỊ DIỆP HÀ KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC QUẢN LÍ TÀI CHÍNH THEO HƯỚNG TỰ CHỦ NHẰM KHẮC PHỤC SỰ KHÔNG TƯƠNG THÍCH GIỮA CẤP PHÁT TÀI CHÍNH VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGH

Trang 1

KIM THỊ DIỆP HÀ

KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ

ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC QUẢN LÍ TÀI CHÍNH THEO HƯỚNG TỰ CHỦ NHẰM KHẮC PHỤC SỰ KHÔNG TƯƠNG THÍCH GIỮA CẤP PHÁT TÀI CHÍNH VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI

VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2014

Trang 2

KIM THỊ DIỆP HÀ

KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ

MỚI PHƯƠNG THỨC QUẢN LÍ TÀI CHÍNH THEO HƯỚNG TỰ CHỦ NHẰM KHẮC PHỤC SỰ KHÔNG TƯƠNG THÍCH GIỮA CẤP PHÁT TÀI CHÍNH VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI

VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: TS Đào Thanh Trường

Hà Nội, 2014

Trang 3

DANH MỤC VIẾT TẮT 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do nghiên cứu 6

2 Lịch sử nghiên cứu 7

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Phạm vi nghiên cứu 9

4.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu 9

4.2 Phạm vi thời gian 9

4.3 Phạm vi không gian 9

5 Mẫu khảo sát 9

6 Câu hỏi nghiên cứu 10

7 Giả thuyết nghiên cứu 10

8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 10

9 Luận cứ 11

9.1 Luận cứ lý thuyết 11

9.2 Luận cứ thực tiễn 11

10 Kết cấu luận văn: gồm 3 phần 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MỐI LIÊN HỆ GIỮA CẤP PHÁT TÀI CHÍNH VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 12

1.1 Các khái niệm công cụ 12

1.1.1 Nghiên cứu khoa học 12

1.1.2 NCKH trong lĩnh vực KHXH&NV 19

Trang 4

1.2 Các lý thuyết liên quan vấn đề nghiên cứu 28

1.2.1 Lý thuyết hệ thống 28

1.2.2 Lý thuyết KH&CN đẩy và thị trường kéo 30

CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN SỰ KHÔNG TƯƠNG THÍCH GIỮA VIỆC CẤP PHÁT TÀI CHÍNH VỚI YÊU CẦU THỰC HIỆN ĐỀ TÀI THEO ĐÚNG TIẾN ĐỘ 35

2.1 Khái quát về Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội 35

2.1.1 Bức tranh tổng thể về trường ĐHKHXH&NV 35

2.1.2 Tình hình NCKH của trường ĐHKHXH&NV 37

2.1.3 Các nguồn kinh phí đầu tư cho NCKH 42

2.2 Thực trạng quản lí tài chính cho các đề tài NCKH tại Trường ĐH KHXH&NV 45

2.2.1 Thực trạng của việc cấp phát kinh phí ngân sách nhà nước cho các đề tài NCKH 45

2.2.2 Tình hình thực hiện dự toán chi đề tài, dự án NCKH 47

2.2.3 Thống kê các đề tài hoàn thành đúng hạn, chưa đúng hạn, quá hạn, không hoàn thành 51

2.3 Đánh giá thực trạng việc cấp phát kinh phí và quá trình thực hiện các đề tài NCKH tại Trường ĐH KHXH&NV 52

2.4 Bất cập trong việc cấp phát và quyết toán kinh phí theo dự toán chi ngân sách năm và yêu cầu thực hiện đề tài khoa học theo đúng tiến độ 54 2.4.1 Không đáp ứng được các đặc điểm của NCKH 54

2.4.2 Khó đánh giá được chất lượng các công trình NCKH và không khuyến khích được các nhà khoa học tham gia NCKH 56

2.5 Đánh giá chung 59

Trang 5

3.1.1 Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 63

3.1.2 Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 5 tháng 9 năm 2005 65

3.2 Nhóm giải pháp tăng quyền tự chủ cho các tổ chức, chủ trì đề tài 67

3.2.1 Tự chủ khoa học 67

3.2.2 Tự chủ về tài chính 69

3.3 Nhóm giải pháp tăng cường quyền tự chủ cho cá nhân thực hiện đề tài NCKH 72

3.3.1.Thực hiện cấp kinh phí NCKH theo tiến độ thực hiện đề tài và sản phẩm đầu ra của NCKH 72

3.3.2 Giảm thiểu các thủ tục hành chính trong quyết toán kinh phí NCKH75 KẾT LUẬN 77

KHUYẾN NGHỊ 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 82

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

1 ĐHQGHN: Đại học Quốc gia Hà nội

2 ĐHKHXH&NV: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn

3 KHXH&NV: Khoa học xã hội và nhân văn

4 KH&CN: Khoa học và công nghệ

5 NSNN: Ngân sách nhà nước

6 NCKH: Nghiên cứu khoa học

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Số lượng đề tài khoa học các cấp từ 2009-2014 trang 39 Bảng2.2: Số hội thảo/tọa đàm khoa học từ 2009-2014 trang 40 Bảng 2.3: Giải thưởng khoa học cán bộ từ 2009-2013 trang 41 Bảng 2.4: Các giải thưởng cấp Bộ /ĐHQG về NCKH sinh

viên từ 2009-2014 trang 41 Bảng 2.5: Công bố khoa học từ 2009-2014 trang 42 Bảng 2.6: Dự toán và giao dự toán kinh phí NCKH từ 2009-

2014……… trang 47

Bảng 2.7: Thực hiện dự toán kinh phí NCKH từ 2009-2014 Trang 50 Bảng 2.8: Tỷ lệ đề tài nghiệm thu đúng hạn Trang 51

Bảng 2.9: Thống kê nhiệm vụ NCKH đăng kí và thực tế

được phê duyệt năm 2010 đến 2014 trang 56

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Nghiên cứu khoa học là một trong những chức năng cơ bản của các trường đại học bên cạnh chức năng đào tạo nguồn nhân lực và cung cấp các dịch vụ khác Trong những năm đổi mới, cùng với những thành tựu trong đào tạo, hoạt động NCKH của các trường đại học Việt Nam đã dần được quan tâm

và có những tiến bộ nhất định trên các lĩnh vực NCKH cơ bản, nghiên cứu triển khai, và nghiên cứu ứng dụng

Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động NCKH là tính mới: tri thức mới, giải pháp mới, v.v Do vươn tới cái mới nên tất yếu hoạt động NCKH luôn mang tính rủi ro Vì vậy, NCKH là một hoạt động đặc biệt cần phải có chính sách đặc thù Chính sách tài chính (đầu tư, thanh quyết toán và thậm chí quản

lý rủi ro) là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách phát triển NCKH Tài chính là nguồn lực quan trọng triển khai thành công và ứng dụng kết quả NCKH vào thực tiễn

Thực tế, chính sách tài chính trong hoạt động NCKH ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập, mang nặng tính hành chính, hình thức, thủ tục thanh quyết toán nặng nề Trong đó, việc cấp phát kinh phí và tiến độ thực hiện đề tài hiện nay là không phù tương , không tạo điều kiện, không phát huy được vai trò và kỳ vọng của các nhà khoa học Thông tư 93/2006/TTLB/BTC-BKHCN có qui định: "Kinh phí của đề tài, dự án được phân bổ và giao thực hiện của năm nào phải được quyết toán theo niên độ ngân sách năm đó theo đúng quy định hiện hành" Điều này đi ngược lại với đặc điểm sẵn có của hoạt động NCKH Do đó, hoạt động NCKH nói chung và trong các trường đại học

ở Việt Nam vẫn đang còn nhiều nhiều hạn chế, chưa phát huy hết tiềm lực nghiên cứu của đội ngũ cán bộ NCKH

Vì vậy, tôi chọn đề tài “Đổi mới phương thức quản lí tài chính theo hướng tự chủ nhằm khắc phục sự không tương thích giữa cấp phát tài chính

Trang 9

và tiến độ thực hiện đề tài NCKH (Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội)” cho luận văn thạc

sĩ với hi vọng góp một giải pháp nhỏ nâng cao vai trò và hiệu quả của chính sách tài chính trong phát triển NCKH ở Việt Nam hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu

Ở Việt Nam, những năm gần đây cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề hoạt động NCKH trong các trường đại học như: Có thể nêu lên một số công trình mà ở khía cạnh này hoặc khía cạnh khác đã đề cập đến chính sách đối với các đề tài NCKH

Giải quyết sự không tương thích giữa cấp phát tài chính với tiến độ nghiên cứu bằng giải pháp là thiết lập các quĩ NCKH có luận văn của thạc sĩ Đặng Thị

Hiền với mã số: 60.34.72 " Thiết lập quỹ nghiên cứu để khắc phục sự không tương

thích giữa cấp phát tài chính với tiến độ nghiên cứu" Tuy nhiên việc giải quyết vấn

đề là lấy nguồn vốn từ đâu để thành lập quĩ thì tác giả vẫn còn đang luẩn quẩn với nhiều giả thuyết: vốn ngân sách nhà nước cấp, cho vay không có lãi, nguồn tài trợ không hoàn lại

Luận án tiến sĩ của Hồ Thị Hải Yến mã số: 62.31.03.01:" Hoàn thiện cơ

chế tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học ở Việt Nam" cũng đề cập đến vấn đề đầu tư và sử dụng kinh phí trong

NCKH trong các trường đại học Giải pháp cho vấn đề đầu tư tác giả đề nghị

tăng tỉ lệ chi ngân sách cho NCKH, giải pháp cho việc sử dụng kinh phí NCKH tác giả cho ràng cần phải có cơ chế tự chủ tuyệt đối cho các chủ trì đề tài và đưa ra ý tưởng thành lập các quĩ đầu tư cho NCKH

Luận văn thạc sỹ của Phạm Thị Lan Anh mã số 60.43.72 với đề tài:

“Khắc phục những vướng mắc trong chế độ tài chính với NCKH trong các

trường đại học ở Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Học Viện Tài Chính)”

Tác giả chỉ ra rằng để hoàn thiện ơ chế tài chính trong NCKH cần tăng cường đầu tư tài chính cho NCKH trong đó có nhắc đến việc sử dụng vốn tự có của đơn vị, cải thiện chính sách tài chính một cách chung chung Luận văn chưa

Trang 10

chỉ ra được vấn đề nguyên nhân sâu xa của cơ chế cấp phát và quyết toán ảnh hưởng đến chất lượng NCKH hiện nay

Đổi mới chính sách tài chính đối với KH&CN của Nguyễn Thị Anh

Thu, (Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 3/2006), Chi cho KH&CN: Hiệu

quả khó "đong đếm" của Nguyễn Minh Hòa (Tạp chí Hoạt động khoa học, số

tháng 9/2006), Đề tài cấp Bộ Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính đối với

hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học Việt Nam (Mã số:

B2003.38.76TĐ) của Mai Ngọc Cường

Các công trình này đều dựa trên những bất cập của chính sách tài chính đối với hoạt động KH&CN ở Việt Nam hiện nay để đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm đổi mới chính sách tài chính để “giải phóng”, “cởi trói tài chính” tạo điều kiện phát triển KH&CN

Ngoài những công trình mang tính nghiên cứu trên, các cơ quan quản

lý, các đại học cũng có những nghiên cứu về chính sách tài chính trong hoạt động KH&CN để đề xuất, ban hành những quy định cụ thể như Thông tư 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự

án khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách Nhà nước (ban hành ngày 04/10/2006), Thông tư 44/2007/TTLB/BTC-BKHCN ngày 7 tháng 5 năm

2007 về việc hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với đề tài, dự án KH&CN có sử dụng NCNN, Quyết định số 1895/QĐ-ĐHQGHN ngày 29/6/2010 của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ban hành Hướng dẫn quản lí hoạt động KH&CN ở Đại học quốc gia Hà Nội

Các quy định, hướng dẫn trên chủ yếu nói về phương thức quản lý hoạt động KH&CN, các định mức và thủ tục thanh quyết toán hoạt động NCKH

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm giải pháp khắc phục sự không tương thích giữa cấp phát kinh phí

và thực hiện tiến độ đề tài NCKH nói chung và NCKH thuộc lĩnh vực khoa học xã hội của trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Trang 11

Chứng minh việc đổi mới phương thức quản lí tài chính theo hướng tự chủ sẽ khắc phục sự không tương thích giữa cấp phát tài chính và tiến độ thực hiện đề tài NCKH

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau:

- Phân tích mối quan hệ giữa chế độ chính sách, các quy định về cấp phát kinh phí với quá trình triển khai và thực hiện các đề tài NCKH

- Phân tích thực trạng sự không tương thích giữa việc cấp phát kinh phí

và tiến độ thực hiện đề tài NCKH trong trường đại học, những bất cập và nguyên nhân của nó

- Trưng cầu ý kiến các nhà khoa học đã và đang thực hiện đề tài NCKH

về giải pháp nhằm khắc phục những bất cập giữa việc cấp phát kinh phí và tiến độ thực hiện đề tài NCKH nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học

và công nghệ trong các trường đại học nói chung và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu

Việc cấp phát kinh phí và thực hiện tiến độ đề tài NCKH thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn có sử dụng ngân sách Nhà nước

và Nhân văn

Trang 12

- Nhóm các chủ nhiệm đề tài, các bộ phận quản lý có liên quan, đơn vị, tổ chức thực hiện đề tài NCKH tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

6 Câu hỏi nghiên cứu

1 Thực trạng phương thức cấp phát tài chính cho đề tài NCKH trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hiện nay như thế nào?

2 Đổi mới phương thức quản lí tài chính theo hướng tự chủ như thế nào thì có thể khắc phục sự không tương thích giữa cấp phát tài chính và tiến

độ thực hiện đề tài NCKH?

7 Giả thuyết nghiên cứu

1 Hiện tại trường ĐH KHXH&NV được cấp kinh phí theo dự toán chi ngân sách hàng năm

2 Trường Đại học KHXH&NV được ngân sách nhà nước cấp phát và quyết toán kinh phí NCKH theo sản phẩm đầu ra của sản phẩm NCKH Phương thức quản lí tài chính nên được đổi mới theo hướng giảm thiểu các thủ tục hành chính và trao quyền tự chủ cho tổ chức và cá nhân chủ trì đề tài Dựa vào sản phẩm của từng giai đoạn hoặc sản phẩm cuối cùng của quá trình NCKH (bản báo cáo, bài báo đăng trên tạp chí uy tín, giáo trình, sách) để nhận kinh phí và quyết toán kinh phí NCKH

8 Phương pháp chứng minh giả thuyết

- Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích các đề tài, luận văn, các công trình nghiên cứu có liên quan, phân tích các nguồn tư liệu, số liệu có sẵn trong các báo cáo về đề tài NCKH, việc cấp phát và quyết toán kinh phí của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

- Phương pháp quan sát tham dự các hoạt động về cấp phát và quyết toán kinh phí NCKH tại đơn vị

- Phương pháp phân tích bằng bảng hỏi: Khảo sát bằng bảng hỏi với các chủ nhiệm đề tài, những người tham gia thực hiện đề tài các cấp tại Trường ĐHKHXH&NV

Trang 13

- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn 10 chuyên gia (quản lí tài chính, quản lí NCKH: những rào cản trong việc thực hiện quyết toán tài chính

đề tài NCKH theo năm tài chính, các nhà khoa học: những bất cập, khó khăn trong việc thực hiện thực hiện tiến độ đề tài theo hợp đồng) và các chủ nhiệm

đề tài NCKH trong lĩnh vực xã hội nhân văn tại Trường ĐH KHXH&NV (đã

và đang chủ trì) để tìm hiểu những khó khăn về thủ tục tài chính mà họ gặp phải và trưng cầu ý kiến về giải pháp của tác giả

9.2 Luận cứ thực tiễn

- Những văn bản pháp quy về tài chính trong hoạt động NCKH

- Những trường hợp điển hình về vấn đề thanh lí hợp đồng NCKH không đúng tiến độ

- Những trường hợp đặc biệt khác trong thực hiện hợp đồng nghiên cứu như không đúng tiến độ phải hủy hợp đồng nghiên cứu và thu hồi kinh phí

- Những đề tài NCKH đã thực hiện nhưng không được phê duyệt trong

dự toán thì không được cấp kinh phí

10 Kết cấu luận văn: gồm 3 phần Chương 1: Cơ sở lí luận của sự không tương thích giữa cấp phát tài chính và tiến độ thực hiện đề tài NCKH

Chương 2: Nhận diện sự không tương thích giữa việc cấp phát tài chính với yêu cầu thực hiện đề tài theo đúng tiến độ

Chương 3: Giải pháp khắc phục sự không tương thích giữa việc cấp phát kinh phí và thực hiện tiến độ đề tài trong hợp đồng NCKH

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MỐI LIÊN HỆ GIỮA CẤP PHÁT TÀI CHÍNH

VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Nghiên cứu khoa học

Còn theo Vũ Cao Đàm, hiện nay có rất nhiều cách hiểu về khái niệm khoa học, xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, Chúng ta có thể xem xét 4 định nghĩa từ các góc độ sau:

- Thứ nhất: khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, tư duy

- Thứ hai: khoa học là một hoạt động xã hội Với tư cách là một hoạt động xã hội, khoa học định hướng tới các mục tiêu sau: phát hiện bản chất các

sự vật, phát triển nhận thức về thế giới Dựa vào qui luật đã nhận biết của sự vật mà dự báo quá trình phát triển, lựa chọn hướng đi cho mình để tránh hoặc giảm thiểu các rủi ro Sáng tạo ra các sự vật mới phục vụ các mục tiêu tồn tại

và phát triển bản thân con người và xã hội con người

- Thứ ba: khoa học là một hình thái ý thức xã hội Các hình thái xã hội khác nhau ở đối tượng và hình thức phản ánh Chúng cũng khác nhau về chức năng xã hội và tính độc đáo của các qui luật phát triển

- Thứ tư: khoa học là một thiết chế xã hội Đó là một hệ thống các qui tắc, các giá trị và cấu trúc, là một hệ thống các quan hệ ổn định, tạo nên khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất

Trang 15

Cũng theo Vũ Cao Đàm, NCKH là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kĩ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người NCKH là một hoạt động xã hội nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Nói cách khác NCKH là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần khám phá Luận điểm cần chứng minh được gọi là giả thuyết khoa học Tóm lại NCKH là quá trình xây dựng giả thuyết khoa học và chứng minh giả thuyết khoa học

NCKH là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm Dựa trên những tài liệu, số liệu, kiến thức đạt được từ các hoạt động nghiên cứu

để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, thế giới tự nhiên và xã hội để sáng tạo ra phương pháp và phương tiện kĩ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Con người muốn làm NCKH cần phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu

và phải rèn luyện cách làm việc tự lực và có phương pháp

Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm về NCKH của Vũ Cao Đàm: NCKH là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần khám phá Luận điểm cần chứng minh được gọi là giả thuyết khoa học

1.1.1.2 Đặc điểm NCKH

Đặc điểm chung của NCKH là sự tìm tòi những sự vật, hiện tượng mà khoa học chưa hề biết tới Với đặc điểm cơ bản này là nền tảng dẫn đến nhiều đặc điểm khác nhau nữa của NCKH mà chúng ta cẩn đặc biệt chú ý khi nghiên cứu và giải quyết một vấn đề trong NCKH

- NCKH luôn mang tính mới: NCKH là quá trình khám phá thế giới của những sự vật, hiện tượng mà khoa học chưa biết tới, cho nên quá trình NCKH luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Trong NCKH không có sự lặp lại cái cũ Tính mới là đặc trưng cơ bản của NCKH Nó luôn có khả năng dẫn tới xung đột xã hội với các kết quả NCKH

Trang 16

cũ Đặc biệt trong khoa học xã hội và nhân văn sự xung đột giữa cái mới và cái cũ là vô cùng mạnh mẽ

Với đặc trưng cơ bản này thì việc NCKH không cho phép gò bó người nghiên cứu trong một môi trường cố định với những qui định rằng buộc cứng nhắc theo một khuôn khổ nhất định và những kế hoạch phải thực hiện Một ý tưởng mới có thể lóe lên trong đầu các nhà khoa học ở bất kì đâu và bất kể thời gian nào và cái ý tưởng mới đó sẽ rất có thể là một giả thuyết khoa học Chẳng hạn như nhà bác học Acsimet tìm ra nguyên lí lực đẩy của nước trong khi ông đang tắm trong bồn tắm, hay nhà bác học Newton tìm ra lý thuyết lực hấp dẫn của trái đất khi đang ngồi đọc sách trong vườn táo và trái táo rụng xuống đất Vì vậy đã là điều mới thì bao giờ cũng phải đi tìm kiếm, không thể đặt điều kiện để đi tìm cái điều chưa biết được

- NCKH mang tính tin cậy: một kết quả NCKH đạt được bắt buộc phải

có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và kết quả thu được là một Một kết quả xác suất lấy ngẫu nhiên mặc dù trùng hợp với giả thuyết đã đặt ra thì không thể coi là kết luận về bản chất của sự vật hiện tượng Từ đặc điểm này của NCKH

mà trong phương pháp luận NCKH đặt ra một yêu cầu là: khi trình bày một kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện, những nhân

tố và phương tiện thực hiện

Một kết quả NCKH muốn được công nhận bắt buộc phải được kiểm chứng trong nhiều lần với những điều kiện như nhau, vì vậy việc NCKH có thể đòi hỏi phải có thời gian Với việc lên kế hoạch trước cho một NCKH là điều khó chấp nhận được, việc chạy đua với thời gian theo kế hoạch rất dễ cho một kết quả nghiên cứu chưa đáng tin cậy vì có thể đó chỉ là một kết quả xác suất lấy ngẫu nhiên mà đúng chứ không phải là một kết quả đã qua kiểm chứng một cách khoa học

- NCKH có tính thông tin: sản phẩm của NCKH được thể hiện dưới nhiều dạng, có thể là một bài báo khoa học, một tác phẩm khoa học, song cũng có thể

Trang 17

là một mẫu vật liệu mới, mô hình thí điểm về một phương thức tổ chức sản xuất mới Trong tất cả các trường hợp này, sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin Đó là thông tin về qui luật vận động của sự vật, thông tin về một quá trình công nghệ và các tham số đặc trưng cho qui trình đó

- NCKH mang tính khách quan: đây vừa là đặc điểm của NCKH, vừa

là một tiêu chuẩn về phẩm chất của người NCKH Trong xã hội khoa học người ta xem đó là một chuẩn mực giá trị Để đảm bảo tính khách quan người NCKH luôn phải đặt câu hỏi ngược lại với kết quả đã được tìm thấy như: Kết quả có thể khác không? Nếu kết quả đúng thì đúng trong điều kiện nào? Còn phương pháp nào cho kết quả tốt hơn không? Có trả lời được các câu hỏi này thì mới có thể khẳng định đó kết quả của NCKH

NCKH mang tính khách quan, không thể áp đặt ý chí chủ quan của người nghiên cứu hay bất kể ai vào quá trình NCKH được, vì vậy việc xây dựng một kế hoạch nghiên cứu “hoàn hảo” là một điều không tưởng trong giới NCKH Vì đã là một kế hoạch mà còn là kế hoạch “hoàn hảo” tức là mọi việc sẽ diễn ra theo đúng kế hoạch của người xây dựng nên nó, vậy đâu là tính khách quan trong việc này nữa

- NCKH mang tính rủi ro: quá trình khám phá bản chất sự vật hiện tượng và sáng tạo sự vật mới hoàn toàn có thể gặp thất bại Đó là tính rủi ro của NCKH Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến sự thất bài của NCKH như: thiếu các thông tin cần thiết và đủ độ tin cậy, trình độ của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm thấp, năng lực xử lí thông tin của người NCKH còn hạn chế, giả thuyết NCKH đặt ra sai do những nguyên nhân bất khả kháng Ngay

cả khi kết quả NCKH đã được thử nghiệm thành công cũng vẫn gặp rủi ro trong áp dụng

Không phải bất kì NCKH nào cũng dẫn đến thành công Không có ai đầu tư công sức và tài chính để xây dựng một kế hoạch và đón nhận kết quả cho sự thất bại này cả Nhưng trong hoạt động NCKH việc đón nhận một kết quả không như mong muốn là điều có thể xảy ra và người làm khoa học phải

Trang 18

chấp nhận sự thất bại này Và nhờ vào kết quả thất bại này mà những người NCKH đi sau sẽ không vấp phải sai lầm này nữa

- NCKH mang tính kế thừa: mỗi NCKH luôn kế thừa các kết quả của NCKH đi trước nó không những trong cùng một lĩnh vực mà có thể ở nhiều lĩnh vực NCKH khác nhau Nhất là trong thời đại ngày nay thì hàng loạt hướng nghiên cứu mới, ngành khoa học mới ra đời từ thai nghén của các bộ môn khoa học trước đó

- NCKH luôn mang tính cá nhân: cho dù công trình NCKH của một cá nhân hay của một tập thể thì vai trò sáng tạo của cá nhân cũng mang tính quyết định

Tóm lại với những đặc trưng cơ bản của NCKH như: tính mới, tính khách quan, tính thông tin, tính rủi ro, tính kế thừa, tính cá nhân thì việc xây dựng một kế hoạch cho NCKH về cả nội dung nghiên cứu và kinh phí hoạt động là một điều không mang tính khoa học

1.1.1.3 Đề tài NCKH

- Đề tài NCKH là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học, trong đó

có một nhóm người cùng thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài định hướng vào việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, chưa quan tâm nhiều đến việc hiện thực hóa trong hoạt động thực tế

- Đề tài NCKH là một nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm phát hiện qui luật, mô tả, giải thích nguyên nhân vận động của sự vật, hiện tượng hoặc sáng tạo nguyên lý, những giải pháp, bí quyết, sáng chế,…được thể hiện dưới các hình thức: Đề tài nghiên cứu cơ bản, đề tài nghiên cứu ứng dụng, đề tài triển khai thực nghiệm hoặc kết hợp cả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm

- Đề tài NCKH khác với “dự án”, “đề án”, “chương trình”:

+ Dự án có mục đích ứng dụng xác định Dự án có những đòi hỏi khác với đề tài, nó phải đáp ứng một nhu cầu đã được nêu ra, chịu sự ràng buộc của

kỳ hạn và nguồn lực, thường là ràng buộc về nguồn lực

Trang 19

+ Đề án là một loại văn kiện được xây dựng để trình một cấp quản lý hoặc một cơ quan tài trợ để xin được thực hiện một công việc nào đó, chẳng hạn, xin thành lập một tổ chức, xin cấp tài trợ cho một hoạt động xã hội nào

đó Sau khi một đề án được phê chuẩn, sẽ có có cơ sở để xác lập dự án, chương trình, đề tài hoặc những hoạt động kinh tế, xã hội theo yêu cầu của

Nhiệm vụ nghiên cứu là một chủ đề mà người nghiên cứu (hoặc nhóm nghiên cứu) thực hiện Có nhiều nguồn nhiệm vụ:

Chủ trương phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia được ghi trong các văn kiện chính thức của các cơ quan có thẩm quyền Người nghiên cứu có thể tìm kiếm "thị trường" trong những nhiệm vụ thuộc loại này

Nhiệm vụ được giao từ cơ quan cấp trên của cá nhân hoặc tổ chức nghiên cứu Đối với nguồn nhiệm vụ thuộc loại này người nghiên cứu không

có sự lựa chọn, mà phải làm theo yêu cầu

Nhiệm vụ được nhận từ hợp đồng với đối tác Đối tác có thể là các doanh

Trang 20

nghiệp hoặc tổ chức xã hội hoăc cơ quan chính phủ Nguồn này thường dẫn đến những nguồn thu nhập cao, tạo tiền đề phát triển nguồn lực nghiên cứu

Nhiệm vụ do người nghiên cứu tự đặt cho mình xuất phát từ ý tưởng khoa học của bản thân người nghiên cứu Khi có điều kiện (chẳng hạn về kinh phí) thì người nghiên cứu biến ý tưởng đó thành một đề tài nghiên cứu

Việc lựa chọn đề tài có thể dựa trên những căn cứ sau:

Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không? Ý nghĩa khoa học thể hiện trên những khía cạnh như bổ sung những nội dung lý thuyết của khoa học; làm rõ một số vấn đề lý thuyết vốn tồn tại hoặc xây dựng cơ sở lý thuyết mới

Đề tài có ý nghĩa thực tiễn hay không? Trong khoa học không phải đề tài nào cũng mang ý nghĩa thực tiễn, nhất là trong nghiên cứu cơ bản thuần tuý Tuy nhiên, tiêu chuẩn này phải luôn được xem xét, nhất là trong điều kiện kinh phí eo hẹp Ý nghĩa thực tiễn thể hiện trong việc xây dựng luận cứ cho các chương trình phát triển kinh tế và xã hội; nhu cầu kỹ thuật của sản xuất; nhu cầu về tổ chức, quản lý, thị trường,

Đề tài có cấp thiết phải nghiên cứu hay không? Tính cấp thiết thể hiện

ở mức độ ưu tiên giải đáp những nhu cầu lý thuyết và thực tiễn đã được xem xét Tính cấp thiết là một yêu cầu bổ sung đối với tính khoa học và tính thực tiễn Nếu chưa cấp thiết thì dành kinh phí và quỹ thời gian cho những hướng nghiên cứu cấp thiết hơn

Có đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành đề tài hay không? Đề tài

dù có nhiều ý nghĩa khoa học, thực tiễn, cấp thiết nhưng không có phương tiện thì cũng khó lòng thực hiện Điều kiện nghiên cứu bao gồm nhân lực, cơ

sở thông tin, tư liệu, thiết bị thí nghiệm (nếu cần tiến hành thí nghiệm); quỹ

thời gian

Đề tài có phù hợp sở thích không? Trong khoa học thì câu hỏi này luôn mang một ý nghĩa quan trọng Đương nhiên, bao giờ người nghiên cứu cũng luôn phải đứng trước sự lựa chọn giữa nguyện vọng cá nhân với giải quyết nhu cầu của xã hội và khả năng đáp ứng của các nguồn lực

Trang 21

Căn cứ vào định nghĩa trên thì tác giả có thể đưa ra một định nghĩa về

Hợp đồng NCKH như sau: Hợp đồng NCKH là một văn bản thể hiện sự cam

kết giữa 2 hoặc nhiều bên để thực hiện NCKH trong khuôn khổ pháp luật Về

cơ bản thì trong hợp đồng sẽ có một bên giao nhiệm vụ NCKH cho bên thực hiện nhiệm vụ NCKH và hai bên thỏa thuận quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên và nếu vi phạm hợp đồng thì cũng xử lí theo pháp luật

1.1.1.5 Quản lý NCKH

Quản lý NCKH là hệ thống hoạt động của các chủ thể quản lý trong lĩnh vực khoa học lập kế hoạch, xây dựng định hướng trong nghiên cứu, triển khai kế hoạch NCKH đã đề ra, kiểm tra tiến độ công việc, kết quả nghiên cứu, đánh giá chất lượng, hiệu quả trong NCKH

Quản lý đề tài NCKH trong trường đại học là hệ thống những tác động

có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lư, nhằm làm cho hoạt động NCKH đạt được mục tiêu mong muốn Thực chất của quản lý đề tài NCKH là thực hiện quy trình quản lý chất lượng nghiên cứu, làm cho các NCKH đáp ứng mục tiêu đã định của chủ thể quản lý và chủ trì đề tài

1.1.1.6 Tiến độ thực hiện đề tài NCKH

Tiến độ thực hiện đề tài NCKH là từng khoảng thời gian để thực hiện một hay một số nội dung của hợp đồng NCKH mà các bên thực hiện hợp đồng NCKH đã thỏa thuận trong hợp đồng NCKH

1.1.2 NCKH trong lĩnh vực KHXH&NV

Khoa học xã hội là khoa học nghiên cứu về những qui luật vận động và phát triển của xã hội, phản ánh mối quan hệ giữa người và người, quan hệ

Trang 22

giữa con người và xã hội mà đối tượng của nó là các hiện tượng xã hội nảy sinh từ mối quan hệ giữa người với người

Khoa học nhân văn là khoa học nghiên cứu về con người, nghiên cứu

về đời sống tinh thần của con người Khoa học nhân văn chính là khoa học nghiên cứu việc phát triển nhân cách về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ tư tưởng, tình cảm của con người

Giữa khoa học xã hội và khoa học nhân văn có sự phân biệt với nhau, song lại có quan hệ gần gũi, rất khó phân định một cách rạch ròi, đặc biệt trong xu thế các khoa học thâm nhập, giao thoa, đan xen vào nhau mang tính chất liên ngành như hiện nay Khoa học xã hội bao giờ cũng bao hàm trong nó những nội dung, mục đích nhân văn Bất cứ một vấn đề nào của xã hội cũng đều đụng chạm đến nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng, đạo đức, lối sống, tư tưởng của con người, tức là liên quan đến vấn đề nhân văn Khoa học xã hội bao giờ cũng hướng tới những giá trị nhân văn là con người phát triển tự do toàn diện Còn khoa học nhân văn thì luôn mang bản chất xã hội vì thực tế con người là một thành viên của xã hội Con người vừa là sản phẩm của xã hội vừa là chủ thể của xã hội Nghiên cứu con người không thể tách khỏi xã hội và khi nghiên cứu xã hội không thể tách khỏi con người Vì vậy phân biệt khoa học

xã hội và khoa học nhân văn chỉ là tương đối

Khoa học xã hội và nhân văn là khoa học nghiên cứu về những quan hệ

xã hội và về bản thân con người Khoa học xã hội và nhân văn có liên quan mật thiết đến các lĩnh vực chính trị, xã hội, đạo đức, nhân cách, tư tưởng, văn hóa của dân tộc, cho nên cùng với khoa học tự nhiên là hai lĩnh vực khoa học

cơ bản của con người Khoa học xã hội và nhân văn có chức năng tổng kết và lưu giữ kinh nghiệm, tư vấn và phản biện xã hội, dự báo và định hướng tương lai rất rõ nét Những nghiên cứu ở lĩnh vực xã hội và nhân văn đã đóng góp nhiều cho hoạt động học thuật của con người, góp phần không nhỏ trong quá trình thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại Thế kỷ 21 được nhận định là thế kỷ của các ngành Khoa học xã hội và nhân văn bởi xã hội hiện đại với sự thay

Trang 23

đổi toàn diện về kinh tế, văn hóa, lối sống, môi trường với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây con người chưa gặp, chưa trải nghiệm Chính vì vậy hơn bao giờ hết, xã hội rất cần những lý giải khoa học

để làm cho cuộc sống con người được tốt hơn, tạo động lực cho xã hội phát triển toàn diện

Đặc điểm của NCKH trong lĩnh vực KHXH&NV

- KHXH&NV mang tính chính trị và hệ tư tưởng KHXH&NV nghiên

cứu các hiện tượng xã hội, tức là các hoạt động do con người tạo ra Mỗi con người đều thuộc hệ tư tưởng và hoạt động của họ đều bị chi phối bởi hệ tưởng tưởng đó Các thành tựu của KHXH&NV đều sử dụng để giải quyết các vấn

đề xã hội của một chế độ xã hội nhất định, nó phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, hệ tư tưởng chính trị của người nghiên cứu sáng tạo ra nó Vì vậy

độ rủi ro đối với người nghiên cứu KHXH&NV cao hơn nếu, nếu kết quả nghiên cứu của họ không phù hợp với hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền Chính điều này đã hạn chế khả năng sáng tạo của họ

- Ngoài tính chính trị, KHXH&NV còn mang tính nhân loại, tính phổ quát, nhiều thành tựu trong KHXH&NV, nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật

có giá trị trong mọi thời đại, sống mãi với thời gian, với nhân loại

- KHXH&NV mang tính trìu tượng, khái quát cao, nhiều khi bị coi là chung chung, vô định hình Sản phẩm của KHXH&NV không mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp và nhanh chóng như khoa học tự nhiên Hiệu quả của nó

là hiệu quả kinh tế - xã hội có ý nghĩa rộng lớn Do tính khái quát, trìu tượng cao nên nhiều khi hoạt động nghiên cứu KHXH&NV dễ rơi vào tình trạng cảm tính, chủ quan, duy ý chí, sai lầm khi người nghiên cứu chưa đủ tầm khái quát, chưa có vốn sống và sự trải nghiệm thực tiễn nhất định

- Đối tượng của KHXH&NV là những hiện tượng xã hội Các hiện tượng này không tồn tại độc lập bên ngoài mà bao giờ cũng gắn liền với hoạt động của con người Các qui luật xã hội diễn ra thong qua hoạt động có ý thức của con người Hoạt động của con người lại bị chi phối bởi yếu tố tâm lí

Trang 24

như nhận thức, tính cảm, ý chí, nguyện vọng Các yếu tố đó có thể đúng đắn hoặc sai lầm, có ý thức hoặc không, hay lẫn lộn cả hai Tâm lí của mỗi người lại khác nhau hay trong chính bản thân mỗi người cũng khác nhau theo từng giai đoạn Vì vậy đối tượng nghiên cứu của KHXH&NV biến đổi nhiều hơn

- KHXH&NV có tác động trực tiếp, lâu dài đến hoạt động của toàn xã hội Tri thức KHXH&NV phản ánh qui luật vận động và phát triển của xã hội nên nó có khả năng dự báo tương lai hướng dẫn hành động cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới KHXH&NV còn định hướng cho khoa học và công nghệ phát triển vì mục đích tiến bộ Nó tác động đến hệ tư tưởng, thế giới quan, nhân sinh quan của toàn xã hội, định cho tư duy, lối sống, hành vi của các thành viên trong cộng đồng

Tóm lại KHXH&NV là một ngành khoa học khó, đòi hỏi người làm KHXH&NV vừa phải có sự trải nghiệm thực tế, vừa phải có năng lực tư duy khái quát, tổng hợp cao Đánh giá hiệu quả của KHXH&NV thường không dễ dàng và nhanh chóng Trách nhiệm xã hội trong các kết quả nghiên cứu của

nó đòi hỏi mọi kết luận có liên quan trực tiếp đến việc hoạch định chính sách, chủ trương, chương trình, kế hoạch phát triển xã hội đều phải thận trọng, cân nhắc kĩ lưỡng

1.1.3 Phương thức quản lí tài chính đối với hoạt động NCKH

1.1.3.1 Khái niệm ngân sách nhà nước

Theo Luật Ngân sách nhà nước được Quốc hội Việt Nam thông qua năm 2002, ngân sách nhà nước được định nghĩa như sau: Ngân sách nhà nước

là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Thu chi ngân sách nhà nước hoàn toàn không giống như bất kỳ một hình thức thu chi nào khác Ở đây thu chi của nhà nước luôn được thực hiện bằng luật pháp do luật định, về thu có các luật thuế và các văn bản khác, về chi có các tiêu chuẩn luật định Trên cơ sở đó nhằm đạt mục tiêu

Trang 25

cân đối giữa thu và chi ngân sách nhà nước

Mặt khác Ngân sách nhà nước còn phản ánh các quan hệ kinh tế giữa một bên là nhà nước một bên là các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu Những khoản thu nộp và cấp phát qua quỹ Ngân sách nhà nước là các quan hệ được xác định trước, được định lượng và nhà nước sử dụng chúng để điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế

Ngân sách nhà nước được quản lí thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, phân cấp quản lí, gắn quyền hạn với trách nhiệm Quốc hội quyết định dự toán NSNN, phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán NSNN

Chức năng của NSNN là giám đốc quá trình huy động các khoản thu và thực hiện các khoản chi Thông qua chức năng này, NSNN kiểm tra, giám sát quá trình động viên các nguồn thu, tránh tình trạng trốn lậu thuế, chây ỳ nộp thuế của các đối tượng thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN hoặc bị lạm dụng, làm trái pháp luật, coi thường pháp luật và các chính sách động viên khác Trong khâu cấp phát nếu buông lỏng việc kiểm tra, kiểm soát chi thì dễ dẫn đến tình trạng làm sai luật định và các chế độ chi quy định Đồng thời thông qua kiểm tra, kiểm soát hoạt động thu chi NSNN giúp ta giám sát việc chấp hành các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước Thông qua đó đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của vốn NSNN, hiệu quả của các chủ trương, chính sách, chế độ do Đảng và Nhà nước đề ra

1.1.3.2 Cấp phát ngân sách

Cấp phát ngân sách là một trong những việc của NSNN Cấp phát NSNN là việc giao dự toán chi NSNN theo từng lĩnh vực chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư và phát triển, chi trả nợ Thực hiện việc cấp phát ngân sách chính là thực hiện chức năng phân phối của NSNN Cấp phát các khoản chi cho bộ máy quản lý Nhà nước, cho lực lượng quân đội, cảnh sát, cho nhu cầu văn hoá, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, chi cho đầu tư phát

Trang 26

triển v.v

1.1.3.3 Quản lí tài chính nguồn kinh phí NCKH

Cấp phát cho NCKH là việc phân bổ NSNN cho hoạt động NCKH cho các tổ chức, cá nhân thực hiện các nhiệm vụ NCKH theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp

NSNN đầu tư cho NCKH một mặt cung cấp nguồn lực tài chính để duy trì

và củng cố các hoạt động NCKH, mặt khác còn thể hiện sự điều chỉnh và định hướng các hoạt động NCKH theo đường lối và chủ trương của Nhà nước

Nguồn tài chính từ NSNN đầu tư cho NCKH trong các lĩnh vực luôn được ưu tiên cho các nhiệm vụ trọng điểm, các nhiệm vụ an sinh xã hội, thực hiện nghiên cứu cơ bản có định hướng trong các lĩnh vực khoa học, cấp cho các quĩ phát triển NCKH của Nhà nước, đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật cho các

tổ chức NCKH của nhà nước, hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên trọng điểm

Nguồn tài chính từ NSNN phục vụ cho hoạt động NCKH cấp cho các đơn vị có thể thông qua nhiều kênh khác nhau Kênh thứ nhất là nguồn kinh phí từ NSNN có thể được cấp trực tiếp từ NSNN qua cơ quan chủ quản và các

cơ quản chủ quản cấp cho các đơn vị theo kế hoạch nghiên cứu Kênh thứ hai

là nguồn kinh phí từ NSNN cũng có thể được cấp cho các bộ, ngành địa phương theo yêu cầu phát triển rồi các bộ ngành địa phương thông qua các hợp đồng NCKH cấp cho các đơn vị Kênh thứ ba là có thể thông qua các quĩ đầu tư cho NCKH của nhà nước mà các nhà khoa học có thể trực tiếp kí kết các hợp đồng NCKH, và nguồn kinh phí này cũng sẽ được cấp cho các nhà khoa học thông qua các đơn vị quản lí Thực hiện quản lí tài chính NCKH tức

là thực hiện việc quản lí qua các khâu:

- Xây dựng kế hoạch, dự toán NCKH: công việc này được thực hiện tại các đơn vị cơ sở, cơ quan chủ quản và các bộ ngành Kế hoạch NCKH được xây dựng trên cơ sở nhiệm vụ NCKH của từng đơn vị, bộ, ngành Dự toán các

đề tài dự án NCKH được xây dựng căn cứ vào khối lượng, nhiệm vụ, chế độ

Trang 27

chi tiêu của nhà nước hiện hành

- Phê duyệt kế hoạch, dự toán NCKH: trên cơ sở kế hoạch dự toán của các đơn vị trình lên cơ quan chủ quản, bộ, ngành sẽ tiến hành thẩm định và phê duyệt, phân bổ và cấp phát kinh phí NCKH cho các đơn vị thông qua Kho bạc nhà nước

- Thực hiện NCKH: các đơn vị nhận kinh phí và thực hiện các nhiệm

vụ NCKH thông qua việc kí kết các hợp đồng NCKH trên cơ sở dự toán kinh phí đã được phê duyệt

- Kiểm tra tiến độ thực hiện NCKH : trong quá trình thực hiện các hợp đồng NCKH, theo từng giai đoạn theo như hợp đồng đã kí kết, các đơn vị quản lí sẽ tiến hành kiểm tra tài chính và kiểm tra nội dung, tiến độ thực hiện

đề tài NCKH Việc kiểm tra nhằm đôn đốc, giúp đỡ các chủ trì giải quyết những khó khắn, vướng mắc trong quá trình thực hiện đề tài NCKH

- Nghiệm thu sản phẩm NCKH, thanh lí hợp đồng NCKH và phê duyệt quyết toán đề tài NCKH theo đúng hợp đồng đã kí kết về nội dung, thời hạn

và dự toán được phê duyệt

Trong luận văn này, tác giả đưa ra khái niệm không tương thích là: các hoạt động, sự việc có liên quan đến nhau nhưng lại không phù hợp, thích hợp với nhau

Các hoạt động NCKH được cấp phát kinh phí từ ngân sách nhà nước đòi hỏi phải quyết toán kinh phí theo năm ngân sách, theo hợp đồng thực hiện gắn với nội dung và thời gian theo yêu cầu Việc này không phù hợp với đặc trưng của hoạt động NCKH đó là tính mới, tính sáng tạo, tính khách quan

Trang 28

đó theo cách của mình

Với các khái niệm trên về “ tự chủ” thì chúng ta nên hiểu thế nào về tự chủ trong trường đại học Có nhiều cách hiểu khác nhau về tự chủ đại học, tùy theo nhận thức về vai trò của nhà nước đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng Tự chủ trong các trường đại học có thể hiểu là sự thoát

ra khỏi sự kiểm soát của cơ quan quản lí nhà nước, sự ảnh hưởng của môi trường xung quanh để tự do đưa ra các quyền quyết định về cách thức tổ chức hoạt động cũng như mục tiêu sứ mạng của trường

Tự chủ cũng có thể được thể hiện ở hai cấp: cấp độ giữa trường đại học với nhà nước, và cấp độ giữa trường với các bộ phận trong trường Tự chủ cũng có thể chỉ có tính chất thủ tục, hình thức (quyền quyết định các phương tiện, cách thức để đạt đến mục tiêu đã được xác định trước), hoặc tự chủ có tính thực chất (quyền quyết định các mục tiêu cũng như chương trình hoạt động) Tự chủ cũng có thể được nhìn nhận như là các quyền lực có điều kiện: các trường chỉ có thể có quyền tự chủ khi đã đạt được các chuẩn mực quốc gia hoặc các chuẩn mực đã được định sẵn theo các chính sách công Tuy được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh khác nhau, tự chủ của trường đại học vẫn có thể được khái quát là khả năng của trường được hoạt động theo cách thức mình lựa chọn để đạt được sứ mạng và mục tiêu do trường đặt ra

Các thành tố trong tự chủ đại học bao gồm:

- Tự chủ nguồn nhân lực: Với quyền tự chủ này, trường được quyền quyết định về các vấn đề liên quan đến điều kiện tuyển dụng, lương bổng, sử

Trang 29

dụng nguồn nhân lực, bổ nhiệm, miễn nhiệm các vị trí trong khu vực học thuật và khu vực hành chính

- Tự chủ trong các vấn đề liên quan đến tuyển sinh và quản lý sinh viên

- Tự chủ trong các hoạt động học thuật và chương trình giáo dục như phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên, nội dung chương trình và giáo trình học liệu

- Tự chủ trong các chuẩn mực học thuật, như các tiêu chuẩn của văn bằng, các vấn đề liên quan đến kiểm tra và kiểm định chất lượng

- Tự chủ trong nghiên cứu và xuất bản, giảng dạy và hướng dẫn học viên cao học, các ưu tiên trong nghiên cứu và quyền tự do xuất bản

- Tự chủ trong các vấn đề liên quan đến quản lý hành chính và tài chính, quản lý và sử dụng ngân sách, các nguồn tài chính của trường

Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ qui định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Mục tiêu của nghị định là trao và thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức, sắp xếp lại bộ máy sử dụng lao động và nguồn nhân lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao Việc giao quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lí cấp trên trực tiếp và trước pháp luật về những quyêt định của mình, đồng thời chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trong nghị định 43/2006/NĐ-CP cũng nêu rõ, các tổ chức Khoa học và công nghệ thực hiện theo qui định tại Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 5 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ qui định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhằm tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực chủ động, năng động, sáng tạo của các tổ chức khoa học và công nghệ và thủ trưởng tổ chức khoa học và công nghệ; tạo điều kiện đầu tư có trọng điểm cho các tổ chức khoa học và công nghệ

Trang 30

Trong luận văn này chúng ta quan tâm tới vấn đề tự chủ về tài chính trong trường đại học mà cụ thể là tự chủ về tài chính trong NCKH Tự chủ về

tài chính trong NCKH nó là một phần của tự chủ trường đại học Tác giả đưa

ra một khái quát chung tự chủ về tài chính trong NCKH là việc mà một cá nhân, hay tổ chức NCKH được quyền lựa chọn cách thức thực hiện về tài chính và đạt được mục tiêu cuối cùng là sản phẩm NCKH

1.2 Các lý thuyết liên quan vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết hệ thống

Lý thuyết hệ thống ra đời từ những năm 70 của thế kỉ XX Theo Vũ Cao Đàm, thì hệ thống là tập hợp các phần tử có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại nhau một cách có qui luật để tạo thành một chỉnh thể, từ đó xuất hiện một đặc tính mới gọi là “tính trồi”, đảm bảo thực hiện chức năng nhất định

Quản lí tài chính NCKH đặt trong lý thuyết hệ thống bao gồm từ khâu xây dựng kế hoạch NCKH, phê duyệt kế hoạch NCKH (bao gồm cả dự toán kinh phí NCKH), cấp phát kinh phí, kiểm tra tiến độ thực hiện đề tài NCKH, nghiệm thu công trình NCKH và cuối cùng là phê duyệt quyết toán NCKH Nếu coi quản lí tài chính NCKH là một hệ thống thì mỗi khâu trong qui trình quản lí tài chính NCKH được coi như là một phần tử của hệ thống Đã là một phần tử của hệ thống thì mỗi khâu này đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau Việc xây dựng kế hoạch nghiên cứu đúng nội dung yêu cầu, theo đúng qui định của nhà nước thì việc phê duyệt kế hoạch sẽ được nhanh chóng và như vậy sẽ liên quan đến cấp phát, thực hiện, kiểm tra, nghiệm thu và quyết toán đề tài NCKH

Các đặc trưng, căn cứ để xác định hệ thống:

- Trong hệ thống có nhiều bộ phận và phần tử hợp thành Giữa các bộ phận và phần tử đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau một cách có qui luật

- Bất kể sự thay đổi nào về lượng cũng như sự thay đổi về chất của một

Trang 31

phần tử có thể ảnh hưởng đến phần tử khác và toàn bộ hệ thống và ngược lại, nếu có sự thay đổi về chất của hệ thống đều có thể làm ảnh hưởng đến các phần tử của hệ thống

Các phần tử hợp thành một thể thống nhất, tạo ra tính chất ưu việt hơn hẳn từng phần tử tồn tại riêng lẻ không có, đây là tính trồi của hệ thống nhằm thực hiện chức năng mục tiêu nhất định

Các quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu hệ thống:

- Quan điểm nghiên cứu hệ thống là tổng thể các yếu tố chi phối đến quá trình thông tin, nghiên cứu và đánh giá hệ thống Quan điểm nghiên cứu giúp chúng ta trả lời câu hỏi: trong quá trình nghiên cứu cần đạt được những thông tin nào? Việc đánh giá hệ thống dựa vào những tiêu chí nào

- Các phương pháp nghiên cứu hệ thống: có 4 phương pháp nghiên cứu Phương pháp mô hình hóa: là phương pháp nghiên cứu hệ thống thông qua các mô hình về hệ thống

Phương pháp hộp đen: là phương pháp nghiên cứu hệ thống bằng cách quan sát hay tác động lên hệ thống bởi các hệ đầu vào, đo lường những phản ứng của hệ thống ở đầu ra thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa đầu vào

và đầu ra mà rút ra những kết luận nhất định về bên trong củ hệ thống Phương pháp hộp đen áp dụng cho trường hợp chỉ biết đầu vào và đầu ra của

hệ thống, không bết rõ cơ cấu bên trong hệ thống

Phương pháp tiếp cận hệ thống là phương pháp nghiên cứu hệ thống bằng cách phân tích hệ thống thành nhiều hệ thống con hoặc nhiều phân hệ nhỏ hơn mang tính độc lập tương đối, sau đó tiến hành nghiên cứu phân tích từng phân hệ hoặc hệ thống con để tìm ra đặc trưng riêng và những tính chất chung trong mối rằng buộc của hệ thống

Trong luận văn này tác giả nghiên cứu hệ thống quản lí tài chính NCKH và sử dụng phương pháp hộp đen để làm giải pháp cho hệ thống quản

lí tài chính NCKH Muốn nghiên cứu hệ thống quản lí tài chính NCKH ta phải nghiên cứu từng phần tử của hệ thống tức là nghiên cứu từ khâu lập kế

Trang 32

hoạch NCKH, tiếp đến là phê duyệt kế hoạch, cấp kinh phí, kiểm tra, nghiệm thu kết quả và cuối cùng là phê duyệt quyết toán kinh phí NCKH Thay vào

đó ta chỉ cần đưa ra yêu cầu của đầu vào và kiểm soát đầu ra của sản phẩm NCKH là đủ để quản lí được hệ thống quản lí tài chính NCKH

Sơ đồ dưới đây mô tả hệ thống quản lý NCKH trong đó các nguồn lực KH&CN (cong người, tài chính, hạ tầng kĩ thuật, thông tin) đóng vai trò đầu vào của hệ thống Các phẩm KH&CN (phát minh, sáng chế, giải pháp kĩ thuật…) là đầu ra của hệ thống Ở đây nguồn lực tài chính tham gia vào như một thành tố quan trọng và góp phần quyết định chất lượng sản phẩm đầu ra

Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống điền khiển trong quản lí Khoa học và Công nghệ

1.2.2 Lý thuyết KH&CN đẩy và thị trường kéo

1.2.2.1 Khái niệm “khoa học và công nghệ đẩy”

Thuật ngữ KH&CN đẩy (Science and Technology Push) được hiểu là

kết quả nghiên cứu, công nghệ đưa vào sản xuất và tiêu thụ trên thị trường mà không cần tính đến mục đích tồn tại của doanh nghiệp và nhu cầu của người tiêu dùng

Để làm rõ hơn khái niệm KH&CN đẩy, trước hết cần khảo sát các triết

lý tồn tại quản lý KH&CN, theo Vũ Cao Đàm thì trong lịch sử khoa học của thế giới có 3 triết lý tồn tại của nền khoa học:

- Triết lý 1: Hoạt động KH&CN xuất hiện thuần túy do nhu cầu nội tại

Trang 33

của các cá nhân hoặc các nhóm tư nhân Nhà nước không có bất kỳ mối quan tâm nào đối với hoạt động KH&CN

- Triết lý 2: Hoạt động KH&CN bắt đầu được các nhà nước quan tâm

Có hai hình thức quan tâm: (1) Nhà nước công bố các chính sách vĩ mô tạo thuận lợi cho hoạt động KH&CN, định hướng ưu tiên thông qua các chính sách vĩ mô; (2) Nhà nước tài trợ một cách không vị lợi cho các hoạt động KH&CN của bất kỳ tổ chức nào trong xã hội Trong cả hai hình thức này, nhà nước không can dự dưới bất kỳ hình thức nào vào các hướng nghiên cứu, trừ trường hợp Nhà nước muốn đặt hàng nghiên cứu để giải quyết một vấn đề nào

đó mà Nhà nước quan tâm Người ta gọi đó là mô hình của một “Thiết chế tự

trị trong khoa học” (Autonomous institution of Science) Đây là triết lý tổ chức

KH&CN phổ biến hiện nay trên thế giới

- Triết lý 3: Nhà nước chỉ huy hoạt động KH&CN thông qua các

chương trình, đề tài các cấp của Nhà nước; Nhà nước thành lập các tổ chức KH&CN “của” Nhà nước; Nhà nước đào tạo “đội ngũ” “cán bộ” KH&CN

“của” Nhà nước; Nhà nước phân bổ ngân sách của Nhà nước cho các tổ chức KH&CN “của” Nhà nước để thực hiện các chương trình/đề tài “của” Nhà nước Đây là triết lý tổ chức KH&CN trong tất cả các nước xã hội chủ nghĩa

KH&CN đẩy là chính sách chủ động “đẩy” KH&CN vào sản xuất và đời sống Chính sách này có giá trị nổi bật trong chiến tranh, khi các chính phủ muốn tận dụng mọi thành tựu KH&CN để tạo ra những vũ khí phục vụ chiến tranh Triết lý này kéo dài từ cách mạng công nghiệp (thế kỷ XVII-XVIII), và nổi bật nhất trong thập niên 1950-1960, nhất là trong thời gian phục hồi kinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ hai

Vẫn theo khảo sát của Vũ Cao Đàm, thì:

- Việt Nam hiện vẫn đang đi theo “Chính sách KH&CN đẩy”, với những chương trình/đề tài do Nhà nước chủ trì và do Nhà nước đặt kế hoạch

áp dụng Đó là một chính sách thịnh hành vào những thập niên thuộc nửa đầu thế kỷ XX, nghĩa là về triết lý chính sách KH&CN, Việt Nam đã lạc hậu so

Trang 34

với thế giới trên nửa thế kỷ

- Hệ thống KH&CN nước ta là một hệ thống KH&CN do Nhà nước chỉ huy theo triết lý “KH&CN đẩy” trong một hệ thống kinh tế đang chuyển hướng theo thị trường, nhưng lại thêm “định hướng xã hội chỉ nghĩa”, với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nghĩa là vẫn giữ quyền Nhà nước chỉ huy nghiêm ngặt

Sau khi tham khảo từ tài liệu của Vũ Cao Đàm (6.2012) về chính sách KH&CN đẩy, Luận văn đưa ra nhận định:

- Việc nghiên cứu và triển khai được thực hiện theo “kế hoạch” mà không căn cứ vào nhu cầu thực tiễn của thị trường;

- Đa số kết quả nghiên cứu và triển khai trong trường hợp này không đạt hiệu quả kinh tế, một số trong đó không thể đưa vào áp dụng trong đời sống, sản xuất, mà buộc phải “cất vào ngăn kéo”;

- Việc chủ động “đẩy” KH&CN vào đời sống, sản xuất khi kết quả nghiên cứu và triển khai được thực hiện theo “kế hoạch” có thể dẫn đến tình trạng sản phẩm không được thị trường chấp nhận vì không đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

- Khi tuân theo chính sách KH&CN đẩy có thể dẫn đến nguồn kinh phí

để tái đầu tư cho hoạt động KH&CN bị ảnh hưởng, vòng lẩn quẩn lại tác động đến kết quả thấp cho hoạt động KH&CN

Tóm lại, chính sách KH&CN đẩy là chính sách chỉ có tác dụng trong

một số trường hợp nhất định, đổi mới có thể khởi đầu bằng “lực đẩy” của KH&CN nhưng điều đó chỉ thành công khi nó đáp ứng được nhu cầu rõ ràng của thị trường hoặc giải quyết một số vấn đề kỹ thuật quan trọng

1.2.2.2 Khái niệm “thị trường kéo”

Trong quá trình đổi mới, sức kéo của thị trường có tầm quan trọng đặc biệt Có thể đầu tư nhiều thời gian và tiền của cho công tác nghiên cứu và triển khai để phát triển sản phẩm, nhưng nếu như không nhìn rõ nhu cầu của thị trường thì ngay cả những sáng chế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cũng sẽ

Trang 35

chỉ nằm trong “ngăn kéo”

Để khảo sát thuật ngữ chính sách thị trường kéo, tác giả tham khảo nghiên cứu của Vũ Cao Đàm (6.2012) về các thuật ngữ sau:

Công nghệ kéo một chính sách xuất phát từ nhu cầu công nghệ của sản xuất, và công nghệ sẽ “kéo” khoa học đi theo Chính sách này xuất hiện khi các nhà sản xuất đề xướng triết lý lấy công nghệ để giành thế mạnh cạnh tranh Triết lý này kéo dài suốt nửa cuối thập niên 1960

Sản phẩm kéo, triết lý này là sự kế tiếp triết lý “Công nghệ kéo” Các nhà kinh doanh cho rằng, cái họ cần chính là sản phẩm, chứ không phải là công nghệ Chính từ sản phẩm sẽ kéo công nghệ theo, và đến lượt mình, công nghệ lại kéo khoa học theo Triết lý này diễn ra vào đầu thập niên 1970, và kéo dài đến thập niên 1980

Thị trường kéo là chính sách phát triển trong điều kiện hệ thống kinh tế thế giới thành một thị trường mở Và thị trường sẽ cuốn hút KH&CN đi theo

nó, phục vụ cho các mục tiêu hợp tác và cạnh tranh Chính sách này bắt đầu

từ những thập niên 1980-1990 và kéo dài cho đến ngày nay

Nhu cầu kéo là sự mở rộng của chính sách thị trường kéo trên quy mô không chỉ trên thị trường, mà trên toàn xã hội

Tóm lại, sau khi tham khảo quan niệm của Vũ Cao Đàm (6.2012) về

chính sách thị trường kéo, tác giả đưa ra các nhận định sau đây về chính sách thị trường kéo:

- Đặt nhu cầu của người tiêu dùng, đòi hỏi của thị trường lên trên hết, căn cứ vào đó để “đặt hàng” cho khâu R&D;

- Khâu R&D được tiến hành theo “đơn đặt hàng” của thị trường, bởi vậy sản phẩm của nó có nơi tiêu thụ, không diễn ra tình trạng kết quả nghiên cứu phải “cất vào ngăn kéo”;

- Thị trường tiêu thụ kết quả của khâu R&D, dẫn đến việc mở rộng nguồn kinh phí chi cho tái đầu tư R&D, tác động đến hiệu quả cao cho hoạt động KH&CN

Trang 36

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, tác giả đã đưa ra được các khái niệm và hệ thống lý thuyết mà tác giả sử dụng trong Luận văn

1 Tác giả đã hệ thống hoá các khái niệm khoa học, nghiên cứu khoa học,

đề tài nghiên cứu khoa học, tài chính trong nghiên cứu khoa học cũng như hệ thống lý thuyết về điều khiển học và lý thuyết về khoa học và công nghệ đẩy và thị trường kéo Cũng từ nghiên cứu của các học giả khác, tác giả đã tự đưa ra định nghĩa sử dụng trong Luận văn đối với từng khái niệm riêng biệt

2 Tác giả đã đưa ra được những đặc điểm riêng đối với loại hình đề tài NCKH mà tác giả nghiên cứu đó là trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Nhìn chung những đề tài NCKH này mang những nét chung của đề tài NCKH nhưng đồng thời cũng mang những đặc thù riêng biệt

Trang 37

CHƯƠNG 2 NHẬN DIỆN SỰ KHÔNG TƯƠNG THÍCH GIỮA VIỆC CẤP PHÁT TÀI CHÍNH VỚI YÊU CẦU THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

THEO ĐÚNG TIẾN ĐỘ

2.1 Khái quát về Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

2.1.1 Bức tranh tổng thể về trường ĐHKHXH&NV

Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) được thành lập theo Nghị định số 97/CP ngày 10/12/1993 của Chính phủ Để phù hợp với thực tiễn, nhu cầu phát triển toàn cầu hóa, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 186/2013/NĐ-CP về Đại học quốc gia thay thế cho Nghị định số 07/2001/NĐ-CP ngày 01/02/2001 của Chính phủ về Đại học Quốc gia Để gia tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các cơ sở giáo dục đại học thành viên, ngày 26/3/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 26/2014/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Đại học quốc gia và các cơ sở giáo dục đại học thành viên (Quyết định này thay thế cho Quyết định số 16/2001/QĐ-TTg ngày 12/02/2001 của Thủ tướng Chính phủ)

Về cơ bản ĐHQGHN đã trở thành một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, NCKH và chuyển giao tri thức đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao gồm tổng số 29 đơn vị thành viên trong đó bao gồm: 11 đơn vị đào tạo trình độ ĐH và sau ĐH, gồm: 6 trường ĐH thành viên và 05 Khoa trực thuộc,

02 đơn vị đào tạo các môn chung về quốc phòng - an ninh và thể chất, thể thao ; 7 đơn vị NCKH và công nghệ, gồm: 03 Viện nghiên cứu thành viên, 02 Viện nghiên cứu trực thuộc và 02 Trung tâm nghiên cứu trực thuộc; 9 đơn vị dịch vụ và phục vụ trực thuộc

Một trong 3 sứ mệnh của ĐHQGHN là sáng tạo, NCKH và công nghệ đỉnh cao, chuyển giao tri thức; ĐHQGHN là trung tâm đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với NCKH

Trang 38

và triển khai ứng dụng, giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội - nhân văn, giữa khoa học và công nghệ để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài và thực hiện một số nhiệm vụ nghiên cứu trọng điểm về khoa học cơ bản, công nghệ cao và kinh tế xã hội mũi nhọn

ĐHQGHN là một tổ chức khoa học và công nghệ hàng đầu của cả nước, được Đảng và Chính phủ quan tâm chỉ đạo và đầu tư Với triết lí mỗi giảng viên, nghiên cứu viên là nhà khoa học, đào tạo dựa vào nghiên cứu và nghiên cứu phục vụ nâng cao chất lượng đào tạo, nguồn nhân lực thực hiện các hoạt động nghiên cứu KH&CN ở ĐHQGHN không chỉ có nghiên cứu viên mà bao gồm tất cả các giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên đại học NCKH công nghệ thường xuyên được triển khai ở 6 trường đại học thành viên, 5 khoa trực thuộc, 5 viện nghiên cứu và các trung tâm

Trường ĐHKHXH&NV thuộc ĐHQGHN, là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu KHXH&NV lớn nhất của đất nước, với sứ mệnh đi đầu trong sáng tạo, truyền bá trí thức và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về KHXH&NV, phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Hiện nay trường ĐHKHXH&NV có 15 khoa và 1 bộ môn trực thuộc, 9 phòng chức năng, 15 trung tâm (bao gồm cả bảo tàng), 1 công ty dịch vụ Tổng số cán bộ công nhân viên toàn trường tính đến tháng 7/2014 là 515 người, trong đó có 365 giảng viên, 10 nghiên cứu viên, 6 kế toán viên, 1 kĩ sư,

119 chuyên viên và 14 ngạch khác Về trình độ có 180 tiến sĩ, 200 thạc sĩ, 121

cử nhân, 14 trung cấp Riêng đội ngũ giảng viên có 365 người, trong đó có 6 giáo sư tiến sĩ, 84 phó giáo sư tiến sĩ, 90 tiến sĩ, 151 thạc sĩ và 34 cử nhân Với chức năng là một trung tâm đào tạo về lĩnh vực KHXH&NV lớn của đất nước, trường đang tiến hành các chương trình đào tạo như: đại học chính qui, vừa làm vừa học, sau đại học, ngắn hạn với 18 ngành cử nhân, 26 chuyên ngành thạc sỹ và 28 chuyên ngành tiến sĩ với tổng số khoảng 14.000 sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh

Trang 39

2.1.2 Tình hình NCKH của trường ĐHKHXH&NV

Với định hướng và tầm nhìn của ĐHQGHN nói chung và của trường ĐHKHXH&NV nói riêng đều là: trở thành đại học nghiên cứu, đứng đầu đất nước, ngang tầm với các đại học danh tiếng trong khu vực, thì hoạt động NCKH luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Với đội ngũ giáo sư đầu ngành và chuyên gia về KHXH&NV có trình độ cao, trường ĐHKHXH&NV đã và đang thực hiện hàng trăm đề tài, dự án; phối hợp với các cơ quan trong và ngoài nước chủ trì nhiều chương trình nghiên cứu có qui mô quốc gia, khu vực và quốc tế Những hoạt động nghiên cứu này đã góp phần thiết thực vào công tác đào tạo của nhà trường và phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của đất nước

Trong những năm qua, nhà trường đã đạt được những kết quả nhất định

và hướng tới các mục tiêu trong một số lĩnh vực nghiên cứu sau:

Nghiên cứu các vấn đề lí luận, các học thuyết, quan điểm, phương pháp nghiên cứu thuộc phạm vi khoa học xã hội và nhân văn nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học vững chắc cho việc xây dựng chủ thuyết phát triển Các công trình nghiên cứu là sự vận dụng, ứng dụng các lí thuyết, phương pháp nghiên cứu vào việc triển khai một hoặc một hệ thống các vấn đề khoa học cụ thể phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời tìm ra các đặc tính, quy luật vận động, phát triển của xã hội Việt Nam

Thực hiện các đề tài nghiên cứu lớn mang tính liên ngành, nghiên cứu khu vực, nghiên cứu những vấn đề lớn đòi hỏi sự tham gia đồng thời của nhiều ngành khoa học, từ đó phân tích, xác lập các luận cứ, cơ sở khoa học cho việc xây dựng

cơ chế quản lí, chiến lược phát triển của đất nước trong giai đoạn tới

Đã và đang thực hiện các đề tài nghiên cứu về đặc tính lịch sử, văn hoá, xã hội điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu vùng và liên vùng, tiến trình phát triển, đấu tranh thống nhất, hoà hợp dân tộc Các đề tài nghiên cứu tập trung làm rõ sự hình thành, phát triển cũng như sự suy tàn của các nền văn hoá, các vương quốc cổ, các đế chế; quá trình khai phá, mở rộng lãnh thổ, xác lập chủ quyền của Tổ quốc; chính sách kinh tế – xã hội đối với

Trang 40

vùng đất mới, vai trò tích cực, chủ thể của người Việt cũng như của các dân tộc khác trong cộng đồng các dân tộc Việt nam trong quá trình đấu tranh xác lập chủ quyền, bảo vệ lợi ích kinh tế, bản sắc văn hoá dân tộc

Nghiên cứu và làm sáng tỏ hơn nữa vấn đề giao lưu, tiếp xúc văn hoá của các nền văn hoá, các không gian văn hoá tộc người, các trung tâm văn hoá trên đất nước ta trong lịch sử Mặt khác, xác định rõ khái niệm vùng văn hoá, không gian văn hoá, những ưu thế và đặc thù của mỗi vùng văn hoá gắn liền với ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá; nghiên cứu các dòng di cư, cuộc sống của các dân tộc vùng biên, làm rõ tính thống nhất và đa dạng của văn hoá Việt Nam trong tình hình văn hoá khu vực; nghiên cứu sự thâm nhập, ảnh hưởng của các tôn giáo lớn, quá trình bản địa hoá của các tôn giáo, hệ tư tưởng; sự hình thành, vai trò của các tín ngưỡng, tôn giáo bản địa, vai trò của tôn giáo trong xã hội hiện đại

Nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự biến đổi xã hội, các giai cấp, tầng lớp xã hội, các nhóm lợi ích, hệ giá trị; sự xuất hiện của các tầng lớp xã hội mới, các giá trị, quan niệm xã hội mới cũng như khả năng diễn tiến, hệ quả nhiều mặt của các mối quan hệ xã hội đó; vai trò của gia đình, của trẻ em, phụ nữ; vấn đề giới, người cao tuổi, quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, hệ thống an sinh xã hội; chính sách của chính quyền, vai trò của các tổ chức xã hội; sự giao lưu, tiếp xúc văn hoá, những khác biệt và xung đột văn hoá giữa các dân tộc, cộng đồng người trong thời đại công nghiệp hoá và hội nhập quốc tế hiện nay

Nghiên cứu về tiềm năng, môi trường văn hoá, kinh tế biển, truyền thống khai thác biển và ý thức về biển của dân tộc ta trong lịch sử; quá trình đấu tranh, xác lập chủ quyền lãnh hải; các vùng đặc quyền và không gian biển, sự tranh chấp chủ quyền trên biển, chiến lược biển của các quốc gia; vấn đề dân cư, di dân ra đảo, các dòng giao lưu văn hoá trên biển và ven biển; mỗi liên hệ giữa biển và lục địa; truyền thống và khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo, an ninh khu vực, bảo vệ những nguồn lợi trên biển; nghiên cứu về thương mại biển, luật biển quốc tế, các thách thức của môi trường biển, các tuyến hải thương và bang giao khu vực, quốc

Ngày đăng: 17/12/2023, 03:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận NCKH, NXB. Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận NCKH
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB. Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2005
7. Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập các công trình đã công bố, tập I, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tuyển tập các công trình đã công bố, tập I
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế Giới
Năm: 2009
8. Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập các công trình đã công bố, tập II, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các công trình đã công bố, tập II
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế Giới
Năm: 2009
9. Vũ Cao Đàm (2013), Cải cách căn bản chính sách giáo dục và xây dựng đại học nghiên cứu ở Việt Nam, (chuyên đề thuộc đề tài ĐHQGHN – PGS.TS Phạm Xuân Hằng, chủ nhiệm đề tài) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách căn bản chính sách giáo dục và xây dựng đại học nghiên cứu ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Năm: 2013
10. Vũ Cao Đàm (2002), Đâu là giới hạn của việc xóa bỏ cơ chế “xin – cho” trong hoạt động khoa học, Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số 10/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đâu là giới hạn của việc xóa bỏ cơ chế “xin – cho” trong hoạt động khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Năm: 2002
17. Bùi Loan Thuỳ, “Phác thảo bức tranh tự chủ đại học hiện nay”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, Số 3- tháng 3-4/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo bức tranh tự chủ đại học hiện nay”, "Tạp chí Phát triển và Hội nhập
20. Đổi mới chính sách tài chính đối với KH&CN của Nguyễn Thị Anh Thư, (Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 3/2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách tài chính đối với KH&CN
21. Hiệu quả khó "đong đếm" của Nguyễn Minh Hòa (Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 9/2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: đong đếm
22. Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học Việt Nam (Mã số: B2003.38.76TĐ) của Mai Ngọc Cường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học Việt Nam" (Mã số: B2003.38.76TĐ) của
23. Nghiên cứu mối quan hệ giữa tính tự chủ và tính trách nhiệm trong quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học tại các trường đại học hiện nayNhóm nghiên cứu: CNĐT- TS.Lê Đông Phương; Thành viên- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối quan hệ giữa tính tự chủ và tính trách nhiệm trong quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học tại các trường đại học hiện nay "Nhóm nghiên cứu: "CNĐT"- TS.Lê Đông Phương; "Thành viên
25. “Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đẳng Việt Nam” được đăng tải tạiwww.ier.edu.vn/index2.php/option=com_docman&task Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đẳng Việt Nam
24. Phạm Thị Ly (2012), Tự chủ tài chính ở các trường Đại học công (http://lypham.net/joomla/index.php?option=com_content&task=view&id=280&Itemid=2 Link
1. Chính phủ nước CHXHCNVN: Nghị định số 186/2013/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 17 tháng 11 năm 2013 về Đại học Quốc gia Khác
2. Nghị định số 115/2005/NĐ-CP về Quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệmcủa tổ chức khoa học và công nghệ công lập Khác
3. Nghị định 43/2006/NĐ-CP về quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Khác
6. Vũ Cao Đàm (2007), Một số vấn đề quản lý khoa học và công nghệ ở nước ta Khác
12. Lê Thu Hương (2011), Nhận diện những yếu tố cản trở việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP Khác
13. Đại học Quốc gia Hà Nội: Quyết định số 1895/QĐ-ĐHQGHN của Giám đốc ĐHQG HN ban hành Hướng dẫn quản lý hoạt động Khoa học và Công nghệ ở Đại học Quốc gia Hà nội Khác
14. Đại học Quốc gia Hà Nội: Quyết định số 4096 /QĐ-ĐHQGHN của Giám đốc ĐHQG HN ngày 12 tháng 11 năm 2013 điều chỉnh quy định đánh giá nghiệm thu đề tài, dự án nghiên cứu trong Hướng dẫn quản lý hoạt động Khoa học và Công nghệ ở Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Luật Giáo dục đại học của nước Cộng hóa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Luật số 08/2012/QH13) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w