Vài nét khái quát về Tạp chí Lịch sử Đảng
Sơ lược quá trình phát triển
Năm 1983, ngành Khoa học Lịch sử ĐCSVN đã đạt được những thành tựu đáng kể sau hơn 20 năm phát triển, từ việc chỉ có một Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương với số lượng cán bộ ít ỏi, đến việc thành lập các Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tại các tỉnh, thành phố và đặc khu, với hàng trăm cán bộ nghiên cứu Nhiều tác phẩm giá trị đã được xuất bản, giới thiệu lịch sử Đảng, lịch sử các đảng bộ, các ngành, cũng như tiểu sử Hồ Chí Minh và các lãnh đạo tiền bối Những thay đổi này thể hiện sự phát triển mạnh mẽ của ngành Khoa học Lịch sử Đảng theo đúng quỹ đạo của nó.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã chỉ rõ
Tăng cường công tác lý luận và nâng cao chất lượng nghiên cứu Khoa học xã hội là cần thiết để gắn chặt công tác lý luận với việc nghiên cứu và phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Điều này sẽ phát huy vai trò và tiềm lực của Khoa học xã hội trong giáo dục hệ tư tưởng CNXH cho nhân dân lao động, đồng thời hỗ trợ hiệu quả trong quản lý kinh tế và xã hội.
Ngày 9 tháng 2 năm 1982, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định số 102-QD/TW về chức năng và cơ cấu của Viện Mac- Lenin Nhằm góp phần vào việc tổng kết kinh nghiệm Lịch sử Đảng do Đảng ta lãnh đạo, hướng dẫn việc nghiên cứu và biên soạn Lịch sử các đảng bộ địa phương và các đảng bộ trực thuộc Trung ương, Viện Lịch sử Đảng thuộc Viện Mac- Lenin được giao cho trách nhiệm nghiên cứu và biên soạn Lịch sử ĐCSVN
Ngày 14 tháng 10 năm 1982, Thông tri số 18-TT/TW của Ban Bí thư giao cho Viện Lịch sử Đảng trách nhiệm hướng dẫn các Ban Nghiên cứu Lịch sử đảng bộ địa phương về bố trí bộ máy và cán bộ lãnh đạo nhằm giúp các ban địa phương
Ngày 26 tháng 10 năm 1982, trong thư gửi Hội nghị Khoa học toàn quốc về viết Sơ thảo Lịch sử Đảng, đồng chí Trường Chinh đã chỉ rõ nhiệm vụ của ngành Lịch sử Đảng trong đó có nhiệm vụ hoàn thành việc biên soạn phần còn lại của bộ Lịch sử ĐCSVN từ năm 1954 đến 1982, dành thời gian thích đáng chuẩn bị cho bộ Lịch sử ĐCSVN và hoàn thành tiểu sử Hồ Chí Minh nhiều tập, cùng với đó là tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng Theo đó, tại các địa phương, các Ban nghiên cứu Lịch sử đảng bộ cũng phải hoàn thành việc biên soạn Lịch sử Đảng bộ của địa phương mình Đó là những nhiệm vụ hết sức nặng nề mà Đảng và nhân dân đã giao cho ngành Lịch sử Đảng Trong khi đó, ngành Lịch sử Đảng còn không ít những tồn tại, khó khăn, đặc biệt tại các Ban địa phương, tổ chức chưa được kiện toàn, bộ máy lãnh đạo chưa ổn định, đội ngũ nghiên cứu ít chưa được đào tạo chính quy theo tiêu chuẩn của Trung ương quy định, trình độ nhận thức và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế, một số vấn đề phương pháp luận chưa được vận dụng đúng đắn và thống nhất trong ngành… Để khắc phục những khó khăn, tồn tại của mình, tiến tới hoàn thành nhiệm vụ nặng nề do Đảng và nhân dân giao cho nhằm tiếp tục tiến những bước mạnh mẽ, tương xứng với vị trí của mình, ngành Lịch sử Đảng cần làm rất nhiều việc như tổ chức bộ máy khoa học, xây dựng chế độ làm việc khoa học, xây dựng kế hoạch và chương trình công tác cụ thể, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, thường xuyên trao đổi, tổng kết kinh nghiệm… Trong số những việc cần phải làm ngay để đáp ứng yêu cầu cấp thiết ấy của ngành, việc xuất bản tạp chí là một việc làm quan trọng và cần thiết
Để nâng cao hiệu quả tuyên truyền và giáo dục về Lịch sử Đảng, tạp chí Lịch sử Đảng đã ra mắt số đầu tiên vào quý I năm 1983, tiếp nối nhiệm vụ của Nội san nghiên cứu Lịch sử Đảng Sự ra đời của tạp chí nhằm đáp ứng yêu cầu của ngành Khoa học Lịch sử ĐCSVN và công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, dựa trên nền tảng vững chắc từ những thành tựu đạt được trong 20 năm (1962-1982) Tạp chí đã được phát hành rộng rãi trên toàn quốc, chính thức gia nhập làng báo chí Cách mạng Việt Nam.
Tạp chí Lịch sử Đảng đã trải qua nhiều thăng trầm và thay đổi cơ quan chủ quản trong suốt quá trình phát triển, nhưng vẫn giữ nguyên tên gọi và đạt được những bước tiến vượt bậc Sự phát triển này được thể hiện qua số lượng tạp chí xuất bản hàng năm Dù gặp nhiều khó khăn, Tạp chí Lịch sử Đảng đã khẳng định được vị thế riêng trong dòng báo chí Cách mạng Việt Nam, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả.
Lịch sử phát triển của tạp chí Lịch sử Đảng được chia thành ba thời kỳ, mỗi thời kỳ có tính độc lập tương đối Tuy nhiên, khi nhìn nhận trong một quá trình tổng thể, thời kỳ đầu đã tạo tiền đề cho các thời kỳ sau, và các thời kỳ tiếp theo đã kế thừa những kết quả đạt được từ thời kỳ trước.
Thời kỳ đầu phát triển của Tạp chí Lịch sử Đảng diễn ra từ năm 1983 đến 1989, dưới sự quản lý của Viện Lịch sử Đảng Trong giai đoạn này, tạp chí phát hành 4 số mỗi năm, tổng cộng ra mắt 27 số trong gần 7 năm, mặc dù thực tế chỉ có 25 số do hai số 11 và 12 được phát hành trùng lặp.
Vào năm 1985 và các năm 18, 19 năm 1987, tạp chí đã được định hình với các chuyên mục nổi bật như Nghiên cứu và Gương chiến đấu của người Cộng.
Từ số 7 năm 1884, tạp chí bắt đầu có chuyên mục Trao đổi kinh nghiệm, thảo luận về các vấn đề phương pháp luận Lịch sử Đảng như đối tượng, phân kỳ và các phương pháp tiếp cận, sưu tầm, xử lý tài liệu Các bài viết trong giai đoạn đầu chủ yếu tập trung vào ba chủ đề lớn: Đảng lãnh đạo Cách mạng Giải phóng Dân tộc, Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, và Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhằm giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước Bên cạnh đó, tạp chí cũng đăng tải các bài viết phản ánh nhịp sống của thời đại và sự hợp tác với các đảng anh em như Đảng Cộng sản Liên Xô và các đảng trên bán đảo Đông Dương.
Tạp chí đã vượt qua nhiều khó khăn để thiết lập một không gian nghiên cứu rộng lớn và kéo dài cho các đề tài nghiên cứu, với những khởi đầu đa dạng về nội dung và hình thức, để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho các giai đoạn tiếp theo Bảy năm đầu tiên được coi là nền tảng cho sự phát triển sau này Từ năm 1989 đến 1997, tạp chí trở thành đơn vị trực thuộc viện Mac-Lenin, và vào đầu năm 1994, tách ra để trở thành đơn vị độc lập Sự kiện này có tác động lớn đến hoạt động của tạp chí, với 48 số được phát hành trong giai đoạn này, và từ năm 1990, tạp chí phát hành 6 số mỗi năm, sau đó chuyển sang định kỳ hàng tháng vào giữa năm 1996 Quyết định này thể hiện niềm tin của Ban biên tập vào đội ngũ viết và độc giả rộng rãi Cấu trúc các chuyên mục cũng đã được điều chỉnh từ năm 1993, phản ánh sự phát triển và thay đổi của tạp chí.
Tạp chí Lịch sử Đảng đã trải qua nhiều thay đổi quan trọng từ khi ra mắt, đặc biệt là vào năm 1994 khi bổ sung chuyên mục Đảng trong sự nghiệp đổi mới và Dạy và học Lịch sử Đảng Sự thay đổi này không phải ngẫu nhiên, mà là kết quả của những trăn trở nhằm phản ánh thành tựu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và công cuộc đổi mới đất nước Điều này không chỉ làm mới diện mạo của tạp chí mà còn thu hút nhiều cây bút mới từ các lĩnh vực khác nhau trong xã hội Mặc dù có thể khiến một số người ngỡ ngàng về sự thay đổi tôn chỉ, nhưng thực tế, đây là thời điểm mà tạp chí Lịch sử Đảng tìm thấy cách biểu hiện phù hợp, duyên dáng và hấp dẫn nhất.
Tạp chí Lịch sử Đảng đã đạt được nhiều thành tựu ấn tượng trong thời gian qua, khẳng định sự vững mạnh và phát triển vượt bậc Đến cuối thời kỳ, tạp chí đã chuyển sang phát hành hàng tháng, đánh dấu một bước tiến chưa từng có trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
Từ năm 1997 đến nay, Tạp chí Lịch sử Đảng trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, một trong những trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn hàng đầu Việt Nam, đã gánh vác vinh dự và trách nhiệm lớn lao trong việc phát triển nội dung và nghiên cứu lịch sử Đảng.
Chức năng nhiệm vụ của tạp chí Lịch sử Đảng
Tạp chí Lịch sử Đảng có nhiệm vụ công bố các nghiên cứu và tài liệu mới về lịch sử Đảng trong hơn 70 năm qua, bao gồm các giai đoạn quan trọng như đấu tranh giành độc lập, kháng chiến chống Pháp và Mỹ, cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tạp chí không chỉ tập trung vào tư tưởng Hồ Chí Minh và các lãnh tụ Đảng, mà còn giới thiệu kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng Qua đó, Tạp chí sẽ nâng cao trình độ cán bộ nghiên cứu trong ngành, phổ biến kiến thức về đường lối, chính sách của Đảng, và thông báo các quyết định mới từ Trung ương Tạp chí cũng tăng cường mối quan hệ giữa Viện Lịch sử Đảng và các địa phương, góp phần phát triển ngành Khoa học Lịch sử Việt Nam.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Hồ Chí Minh trên tạp chí
Khái quát tình hình nghiên cứu Hồ Chí Minh
Việt Nam, với bề dày văn hóa hàng nghìn năm, đã chứng kiến sự xuất hiện của nhiều anh hùng và danh nhân văn hóa Trong số đó, Hồ Chí Minh nổi bật như một nhân vật đặc biệt, không chỉ là một anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là một nhà văn hóa kiệt xuất.
Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự kết hợp giữa yếu tố dân tộc và tinh hoa quốc tế, mang trong mình giá trị truyền thống và tính hiện đại Ông không chỉ là một nhà tư tưởng cách mạng mà còn là một lãnh tụ vĩ đại, được kính yêu bởi toàn thể dân tộc Việt Nam Dưới ánh sáng tư tưởng của Hồ Chí Minh, một kỷ nguyên mới của độc lập và tự do đã được mở ra trong lịch sử dân tộc Chính vì vậy, cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu từ toàn thế giới.
Hồ Chí Minh là biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn mới tại Việt Nam, để lại di sản quý báu cho dân tộc và toàn nhân loại Ông trở thành nguồn cảm hứng cho các dân tộc bị áp bức và những người tiến bộ trên thế giới, mang đến sức mạnh tinh thần để chiến thắng kẻ thù xâm lược và xây dựng xã hội công bằng, văn minh và tiến bộ.
Năm 1969, sau khi Hồ Chí Minh qua đời, Đảng và nhân dân Việt Nam đã tổ chức nghiên cứu sâu rộng về cuộc đời và sự nghiệp của Người Mặc dù đất nước đang trong tình trạng chiến tranh khó khăn, việc này nhằm tôn vinh tình cảm, đạo đức và tác phong của Hồ Chí Minh để nhân dân noi gương và học tập.
Dự thảo phương hướng nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn giai đoạn 1970-1975 nhấn mạnh nhiệm vụ nghiên cứu lý luận phục vụ Cách mạng Việt Nam, áp dụng lý luận Mac-Lenin vào thực tiễn và xây dựng cơ sở khoa học cho đường lối Cách mạng của Đảng Hồ Chí Minh là người đầu tiên vận dụng lý luận này một cách sáng tạo và thiên tài trong thực tiễn Cách mạng Việt Nam Do đó, cần khai thác triệt để di sản của Hồ Chí Minh trong vai trò nhà tư tưởng, nhà hoạt động Cách mạng và biểu tượng cho đạo đức Cách mạng.
Sau Nghị quyết Đại hội Đảng VII, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là nền tảng và kim chỉ nam cho hành động, bên cạnh Chủ nghĩa Mác-Lênin Điều này đã dẫn đến việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh trở thành một chủ đề quan trọng và sâu rộng, không chỉ trong nước mà còn trên toàn thế giới.
Vào năm 1980, nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh Hồ Chí Minh, Hội nghị Khoa học nghiên cứu Hồ Chí Minh đã quy tụ hơn 300 cán bộ nghiên cứu từ các cơ quan lý luận, trường Đảng và học viện quân đội Hội nghị đã chỉ ra rằng công tác nghiên cứu về Hồ Chí Minh, với tư cách là một nhà lãnh đạo và tổ chức phong trào Cách mạng, đã được quan tâm nhưng vẫn còn hạn chế Mặc dù đã có những vấn đề được đặt ra và phương hướng nghiên cứu được thảo luận, nhưng khoảng cách giữa trình độ và chất lượng nghiên cứu so với yêu cầu vẫn còn lớn Điều này đặt ra trách nhiệm nặng nề cho các cán bộ nghiên cứu và nhà khoa học trong nước.
Năm 1990, Hội thảo Quốc tế về Hồ Chí Minh tại Hà Nội đã thu hút sự chú ý của Tổng giám đốc UNESCO, người đã ca ngợi Hồ Chí Minh như một nhân vật vĩ đại cống hiến cho tự do và độc lập Sự kiện này không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác như Đức và Ấn Độ, cho thấy công tác nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu đáng kể Đặc biệt, sau năm 1991, Nghị quyết Đại hội Đảng VII đã thúc đẩy nghiên cứu về Hồ Chí Minh một cách hệ thống và có sự đầu tư từ Đảng và Nhà nước Kể từ đó, nhiều công trình nghiên cứu và sách về Hồ Chí Minh, như "Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử" và "Hồ Chí Minh tiểu sử", đã được xuất bản, cùng với hàng trăm luận văn và hàng nghìn bài nghiên cứu được công bố trên các phương tiện truyền thông.
NỘI DUNG NGHIÊN VỀ CỨU HỒ CHÍ MINH TRONG CÁC BÀI BÁO TRÊN TẠP CHÍ LỊCH SỬ ĐẢNG TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000
Về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự trong sáng và cao đẹp, thể hiện hình ảnh của một người Cộng sản vĩ đại và anh hùng dân tộc kiệt xuất Ông đã không ngừng đấu tranh và cống hiến cả đời mình cho Tổ quốc và nhân dân, vì lý tưởng Cộng sản, độc lập và tự do cho các dân tộc bị áp bức, đồng thời hướng tới hòa bình và công lý trên toàn thế giới.
Tạp chí Lịch sử Đảng đã đăng hơn 20 bài viết về cuộc đời Hồ Chí Minh, nhấn mạnh sự gắn bó của ông với các địa phương Đặc biệt, nhiều bài viết tập trung vào mối quan hệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đảng bộ và nhân dân Hải Phòng, thể hiện tầm quan trọng của các địa phương trong cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Bác Hồ với đồng bào các dân tộc ở Bắc Cạn của Nguyễn Xuân Thông, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng Đảng bộ Hà Nội, như được thể hiện qua tác phẩm của Vũ Tiến Tuynh Những bài viết như "Bác Hồ với Đại Từ" của Chu Hồng Việt và "Tấm lòng những người thợ đúc đồng Hải Phòng đối với Bác Hồ" của Huy Liệu đã phản ánh cảm xúc chân thành của người lao động khi tiếp xúc với Bác Cao Pha cũng chia sẻ những kỷ niệm đáng nhớ về Bác trong Chiến dịch biên giới 1950, cho thấy tình cảm và sự kính trọng mà mọi người dành cho vị lãnh tụ vĩ đại này.
Một thiếu sót trong các nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh là chưa chú trọng đến những năm tháng trước khi Người rời cảng Nhà Rồng để tìm đường cứu nước Mặc dù vậy, trong khoảng thời gian từ 1991 đến 2000, các bài viết trên tạp chí Lịch sử Đảng đã giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về cuộc đời của Hồ Chí Minh, khẳng định Người là một vĩ nhân.
Hồ Chí Minh đã bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước qua một chuyến đi lịch sử, nhằm làm rõ những vấn đề lớn trong cuộc đời và sự nghiệp của ông Chuyến đi này không chỉ phản ánh khát vọng tự do và độc lập của dân tộc mà còn đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc hình thành tư tưởng và chiến lược cách mạng của Hồ Chí Minh.
Một số chi tiết về hoạt động của đồng chí
Trong những năm 20-30 của thế kỷ XX, tác giả Trần Văn Hùng đã nêu bật những hoạt động quan trọng của Hồ Chí Minh, hay còn gọi là Nguyễn Ái Quốc, trong giai đoạn đầu của thế kỷ XX Những chi tiết này phản ánh sự nỗ lực và đóng góp của ông cho phong trào cách mạng, nhằm tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc.
Theo Trần Văn Hùng, hoạt động của Hồ Chí Minh được chia thành ba giai đoạn chính: giai đoạn đầu từ năm 1922 đến 1924, giai đoạn thứ hai từ giữa năm 1927 đến 1930, và giai đoạn cuối từ năm 1931 đến 1938.
- Những năm 1922- 1924, Trần Văn Hùng có nhắc đến nhiều chi tiết trong đó đặc biệt chú ý đến 3 chi tiết chính:
Năm 1923, Hồ Chí Minh tham dự Đại hội Nông dân quốc tế, nơi ông được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng Ông viết bài cho chuyên mục “Nông dân các nước thuộc địa” và đảm nhận trách nhiệm chính về công tác thực tế trong các thuộc địa Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng thiết lập quan hệ và thảo luận với Ban chấp hành Quốc dân Đảng Trung Quốc về các vấn đề liên quan đến nông dân, cũng như tổ chức các hoạt động cổ động quần chúng nông dân.
Năm 1924, Hồ Chí Minh tham dự Đại hội V của Quốc tế Cộng Sản, nơi diễn văn của ông đã thu hút sự ủng hộ mạnh mẽ từ các đại biểu quốc tế tham gia hội nghị.
Từ cuối năm 1927 đến 1930, Hồ Chí Minh rời Liên Xô sang Trung Quốc và hoạt động tại nhiều quốc gia như Liên Xô, Pháp, Đức nhằm chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Vào đầu năm 1930, ông triệu tập Hội nghị hợp nhất để thành lập ĐCSVN và gửi thư báo cáo tình hình cho Quốc tế Cộng sản.
Từ năm 1931 đến 1938, tác giả Trần Văn Hùng tập trung vào việc Nguyễn Ái Quốc bị giam giữ tại Hồng Kông và những nỗ lực của Quốc tế Cộng Sản trong việc can thiệp Sau khi được thả, Hồ Chí Minh được cử đi học tại trường Quốc tế Lenin và trở thành nghiên cứu sinh tại Viện nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa từ năm 1936, đồng thời là giáo viên của phân ban Đông Dương Trong giai đoạn này, Hồ Chí Minh cũng được chỉ định làm đại diện chính thức của Đảng tại Quốc tế Cộng Sản và tham dự Đại hội VII của tổ chức này Cuối năm 1938, Hồ Chí Minh trở về nước.
Trong bài viết "Những hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh trước năm 1930" trên tạp chí số 6 năm 1993, tác giả Phan Ngọc Liên đã làm rõ những hoạt động của Hồ Chí Minh trong phong trào giải phóng dân tộc, phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế Hồ Chí Minh luôn hướng về Tổ quốc và thực hiện nhiệm vụ giành độc lập dân tộc trong bối cảnh cách mạng thế giới Ông kiên quyết lên án "Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi" và "Chủ nghĩa quốc tế quá khích", đồng thời chống lại chủ nghĩa giáo điều và bệnh công thức Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh nỗ lực giúp nhân dân thế giới hiểu về Việt Nam và chia sẻ kinh nghiệm đấu tranh của dân tộc, góp phần vào kho tàng quý giá của nhân loại Những hoạt động quốc tế của ông không chỉ là một phần quan trọng trong sự nghiệp cách mạng mà còn gắn kết cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, thúc đẩy cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại.
Liên quan đến hoạt động của Hồ Chí Minh ở Trung Quốc từ cuối năm 1929 đến đầu năm 1930, khi ông trở về Hồng Kông đại diện cho Quốc tế Cộng sản chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản Việt Nam, ông đã bị nhà đương cục Anh bắt giam Nguyễn Huy Hoan đã viết về vấn đề này trong bài viết "Một số tên phố ở Hồng Kông có liên quan đến hoạt động của Nguyễn Ái Quốc" trên tạp chí số 11 năm 1998, nhắc đến ba tên phố gắn liền với các hoạt động của Hồ Chí Minh Phố Uynhêm (Vân Hàm) là nơi Hồ Chí Minh đã gửi bức thư ngày 27/2/1930 đến đại diện Tổng Liên đoàn lao động thống nhất Pháp tại Quốc tế công hội Phố Loan Tử được nhắc đến trong thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Đức tại Quốc tế Cộng sản cùng ngày Cuối cùng, phố Tang Lưng (Đăng Long) là nơi Hồ Chí Minh bị bắt tại số nhà 186.
Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, năm 1941 Hồ Chí Minh về nước Tháng
Vào tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị toàn quốc và chủ trì Đại hội Quốc dân tại Tân Trào, phát động tổng khởi nghĩa nhằm giành chính quyền trên toàn quốc.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc Việt Nam đã đoàn kết đứng lên thực hiện tổng khởi nghĩa vũ trang, giành lại chính quyền cho nhân dân lao động và đạt được thắng lợi vĩ đại.
MỘT VÀI NHẬN XÉT
2.1 Về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự trong sáng và cao đẹp, thể hiện hình ảnh một người Cộng sản vĩ đại và anh hùng dân tộc kiệt xuất Ông đã không ngừng đấu tranh và cống hiến cả cuộc đời cho Tổ quốc và nhân dân, vì lý tưởng Cộng sản, độc lập và tự do cho các dân tộc bị áp bức, cũng như vì hòa bình và công lý trên toàn thế giới.
Tạp chí Lịch sử Đảng đã đăng hơn 20 bài viết về cuộc đời Hồ Chí Minh, nhấn mạnh ý nghĩa lớn lao của người Đặc biệt, nhiều bài viết tập trung vào sự gắn bó giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với các địa phương, chẳng hạn như mối quan hệ với đảng bộ và nhân dân Hải Phòng của Đoàn Trường Sơn.
Bác Hồ với đồng bào các dân tộc ở Bắc Cạn của Nguyễn Xuân Thông, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người dân Hà Nội qua các tác phẩm như "Đảng bộ Hà Nội" của Vũ Tiến Tuynh và "Đại Từ" của Chu Hồng Việt Nhiều bài viết cũng phản ánh cảm xúc của người lao động khi tiếp xúc với Bác, chẳng hạn như "Tấm lòng những người thợ đúc đồng Hải Phòng đối với Bác Hồ" của Huy Liệu và "Những lần tôi được gặp Bác Hồ ở Chiến dịch biên giới 1950" của Cao Pha Những tác phẩm này không chỉ ghi lại những kỷ niệm đáng nhớ mà còn thể hiện tình cảm sâu sắc của nhân dân dành cho vị lãnh tụ vĩ đại.
Một thiếu sót trong nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh là chưa chú ý đến giai đoạn trước khi Người rời bến cảng Nhà Rồng để tìm đường cứu nước Trong suốt 10 năm (1991-2000), các bài viết trên tạp chí Lịch sử Đảng đã giúp độc giả hiểu rõ hơn về cuộc đời của Hồ Chí Minh như một vĩ nhân, nhưng vẫn còn thiếu những tài liệu đề cập đến những năm tháng đầu đời của Người.
Bài viết này nhằm làm nổi bật những vấn đề quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, đặc biệt là trong hành trình tìm kiếm con đường cứu nước, bắt đầu từ chuyến đi lịch sử của ông vào thế kỷ trước.
Một số chi tiết về hoạt động của đồng chí
Trong những năm 20-30 của thế kỷ XX, tác giả Trần Văn Hùng đã nêu bật những hoạt động quan trọng của Hồ Chí Minh, hay còn gọi là Nguyễn Ái Quốc, thể hiện những đóng góp đáng kể của ông trong giai đoạn đầu thế kỷ XX Những chi tiết này không chỉ phản ánh tầm nhìn và quyết tâm của Hồ Chí Minh mà còn góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành tư tưởng cách mạng của ông.
Theo tác giả Trần Văn Hùng, hoạt động của Hồ Chí Minh có thể được chia thành ba giai đoạn chính: giai đoạn từ năm 1922 đến 1924, giai đoạn từ giữa năm 1927 đến 1930, và giai đoạn từ năm 1931 đến 1938.
- Những năm 1922- 1924, Trần Văn Hùng có nhắc đến nhiều chi tiết trong đó đặc biệt chú ý đến 3 chi tiết chính:
Năm 1923, Hồ Chí Minh tham dự Đại hội Nông dân quốc tế, nơi ông đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng Ông viết bài cho chuyên mục “Nông dân các nước thuộc địa” và chịu trách nhiệm chính về công tác thực tế tại các thuộc địa Bên cạnh đó, ông còn có quan hệ và thảo luận với Ban chấp hành Quốc dân Đảng Trung Quốc về vấn đề nông dân, đồng thời thực hiện các hoạt động cổ động quần chúng nông dân.
Năm 1924, Hồ Chí Minh tham gia Đại hội V của Quốc tế Cộng Sản, nơi diễn văn của ông nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ đông đảo đại biểu các nước tham dự.
Từ cuối năm 1927 đến 1930, Hồ Chí Minh đã rời Liên Xô sang Trung Quốc và thực hiện nhiều hoạt động ở các nước như Liên Xô, Pháp, Đức nhằm chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Vào đầu năm 1930, ông triệu tập Hội nghị hợp nhất để thành lập ĐCSVN và gửi thư báo cáo tình hình cho Quốc tế Cộng sản.
Từ năm 1931 đến 1938, tác giả Trần Văn Hùng tập trung vào việc Nguyễn Ái Quốc bị giam giữ tại Hồng Kông và những nỗ lực của Quốc tế Cộng Sản can thiệp Sau khi được thả, Hồ Chí Minh được cử đi học tại trường Quốc tế Lenin và trở thành nghiên cứu sinh tại Viện nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa từ năm 1936, đồng thời là giáo viên của phân ban Đông Dương Trong giai đoạn này, Hồ Chí Minh vinh dự đại diện cho Đảng tại Quốc tế Cộng sản và tham dự Đại hội VII của tổ chức này Cuối năm 1938, Hồ Chí Minh trở về nước.
Trong bài viết "Những hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh trước năm 1930" trên tạp chí số 6 năm 1993, tác giả Phan Ngọc Liên đã làm sáng tỏ những hoạt động của Hồ Chí Minh trong phong trào giải phóng dân tộc và phong trào cộng sản quốc tế trước năm 1930 Hồ Chí Minh luôn hướng về Tổ quốc, thực hiện nhiệm vụ giành độc lập dân tộc trong bối cảnh cách mạng thế giới Ông kịch liệt lên án chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa quốc tế quá khích, đồng thời kiên quyết chống lại chủ nghĩa giáo điều Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh còn nỗ lực giúp nhân dân thế giới hiểu về Việt Nam và chia sẻ kinh nghiệm đấu tranh của dân tộc, từ đó đóng góp vào kho tàng quý giá của nhân loại Những hoạt động quốc tế của ông không chỉ là một phần quan trọng trong sự nghiệp cách mạng mà còn góp phần gắn kết cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại.
Liên quan đến hoạt động của Hồ Chí Minh ở Trung Quốc từ cuối năm 1929 đến đầu năm 1930, khi trở về Hồng Kông, ông đã đại diện cho Quốc tế Cộng sản chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản Việt Nam và bị nhà cầm quyền Anh bắt giam Trong bài viết của Nguyễn Huy Hoan trên tạp chí năm 1998, đã đề cập đến ba con phố ở Hồng Kông gắn liền với các hoạt động của Hồ Chí Minh Đầu tiên là phố Uynhêm (phố Vân Hàm), nơi ông ghi trong bức thư gửi đại diện Tổng Liên đoàn lao động thống nhất Pháp vào ngày 27/2/1930 Tiếp theo là phố Loan Tử, được nhắc đến trong thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Đức cùng ngày Cuối cùng, phố Tang Lưng (phố Đăng Long) là nơi Hồ Chí Minh bị bắt tại số nhà 186.
Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, năm 1941 Hồ Chí Minh về nước Tháng
Vào tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị toàn quốc và chủ trì Đại hội Quốc dân tại Tân Trào, nơi phát lệnh tổng khởi nghĩa để giành chính quyền trên toàn quốc.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc Việt Nam đã đồng lòng đứng lên thực hiện Tổng khởi nghĩa vũ trang, giành lại chính quyền cho nhân dân lao động và đạt được thắng lợi lịch sử.