Học viện Phụ nữ Việt Nam là cơ sở giáo dục đại học công lập, là nơi tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp Phụ nữ HLHPN các cấp, cán bộ nữ cho hệ thống chình trị; Tham g
Trang 1NGÔ THỊ HỒNG NHUNG
THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TẠI HỌC VIỆN PHỤ NỮ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 8 31 03 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG THỊ NGA
HÀ NỘI, NĂM 2022
Trang 2lập do tác giả thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hoàng Thị Nga Luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào Các số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Tôi xin chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung của luận văn thạc sĩ
Tác giả luận văn
Ngô Thị Hồng Nhung
Trang 3Em xin được bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Hoàng Thị Nga, người đã truyền cảm hứng và hướng dẫn chỉ bảo em trong suốt quá trình nghiên cứu và viết Luận văn tốt nghiệp này Đồng thời, xin được gửi lời cảm
ơn đến các thầy cô tại trường Đại học Công đoàn đã nhiệt tính giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn TS Dương Kim Anh – Phó Giám đốc Học viện Phụ nữ Việt Nam cùng với các thầy cô tại Học viện đã tận tâm giúp đỡ rất nhiều trong quá trình nghiên cứu Đề tài tại Học viện
Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này, sự giúp đỡ từ gia đính, bạn bè
là không thể thiếu Sự giúp đỡ từ gia đính, bạn bè là nhân tố quan trọng giúp
em có thể yên tâm học tập và nghiên cứu Luận văn ngày hôm nay
Sau hai năm học tập và nghiên cứu, em đã học hỏi được nhiều kiến thức
bổ ích, kinh nghiệm quý giá và kỹ năng nghề nghiệp cần thiết cho bản thân, là điều kiện để em có thể tự tin hoàn thành Luận văn của mính Hai năm học cũng
đã trang bị cho em vốn hành trang quý báu để em có thể tiếp bước vào cuộc sống được thuận lợi hơn Bài Luận văn của em còn những hạn chế, thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự chỉ bảo của quý thầy (cô) và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 3
3 Mục đìch, mục tiêu nghiên cứu 13
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 14
5 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 17
7 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 17
8 Khung lý thuyết 18
9 Kết cấu của luận văn 18
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ 19
1.1 Các khái niệm công cụ liên quan đến đề tài 19
1.1.1 Khái niệm lãnh đạo 19
1.1.2 Khái niệm quản lý 21
1.1.3 Khái niệm tham gia 24
1.1.4 Khái niệm lãnh đạo, quản lý 25
1.1.5 Khái niệm vai trò 29
1.2 Lý thuyết vận dụng 29
1.2.1 Lý thuyết vai trò 29
1.2.2 Học thuyết Mác Lenin về giải phóng nữ quyền 32
1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và xã hội về sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý 42
Trang 5Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG
LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TẠI HỌC VIỆN PHỤ NỮ VIỆT NAM 48
2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 48
2.2 Thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam 53
2.2.1 Sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý công tác đào tạo chuyên môn 54
2.2.2 Sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý công tác nghiên cứu khoa học 58
2.2.3 Sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý công tác tổ chức Đoàn thể, quần chúng 61
2.3 Một số đánh giá về sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý 65 2.3.1 Về thuận lợi 66
2.3.2 Về khó khăn 70
Tiểu kết chương 2 80
Chương 3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TẠI HỌC VIỆN PHỤ NỮ VIỆT NAM 81
3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam 81
3.1.1 Chính sách xã hội hiện hành 81
3.1.2 Sự khác biệt giới 85
3.1.3 Định kiến của xã hội 96
3.1.4 Về phìa gia đính 101
3.2 Giải pháp nâng cao sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý 104
Trang 63.2.3 Thay đổi những quan điểm, tư tưởng lạc hậu lỗi thời về phụ nữ khi
tham gia lãnh đạo, quản lý 114
Tiểu kết chương 3 117
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC
Trang 7CBNV Cán bộ nhân viên
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXHKH Chủ nghĩa xã hội Khoa học GV,NCV Giảng viên, nghiên cứu viên HVPNVN Học viện Phụ nữ Việt Nam PGS.TS Phó giáo sư, Tiến sĩ
TTXVN Thông tấn xã Việt Nam
Trang 8giảng viên, nghiên cứu viên tại Học viện Phụ nữ Việt Nam 50 Bảng 2.2: Thống kê đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ trong 5 năm từ
2015-2019 của cán bộ giáo viên tại Học viện Phụ nữ Việt Nam 52 Bảng 2.3: Đánh giá của cán bộ nhân viên về sự tham gia của phụ nữ lãnh đạo,
quản lý trong công tác đào tạo khoa, bộ môn tại Học viện Phụ nữ Việt Nam 55 Bảng 2.4: Đánh giá của cán bộ nhân viên về sự tham gia của phụ nữ lãnh đạo,
quản lý trong nghiên cứu khoa học tại Học viện Phụ nữ Việt Nam 59 Bảng 2.5: Đánh giá của cán bộ nhân viên về sự tham gia của phụ nữ lãnh
đạo, quản lý trong tổ chức đoàn thể, quần chúng tại Học viện Phụ
nữ Việt Nam 62 Bảng 2.6: Quan điểm của cán bộ nhân viên về thuận lợi của phụ nữ trong
lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam 67 Bảng 2.7: Quan điểm của cán bộ nhân viên về khó khăn của phụ nữ trong
lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam 71 Bảng 2.8: Quan điểm của cán bộ nhân viên về nguyên nhân gây rào cản của
phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam 76 Bảng 3.1 Đánh giá của cán bộ nhân viên về các yếu tố ảnh hưởng đến sự
tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý về chủ trương Nhà nước81 Bảng 3.2 Quan điểm của cán bộ nhân viên về tầm quan trọng của chính sách
hỗ trợ phụ nữ tại Học viện Phụ nữ Việt Nam 83 Bảng 3.3: Ý kiến của cán bộ nhân viên về các yếu tố tác động đến cơ hội đào
tạo, bồi dưỡng của cán bộ nữ tại Học viện Phụ nữ Việt Nam 89 Bảng 3.4: Quan điểm của cán bộ nhân viên tại Học viện Phụ nữ Việt Nam về
các nhận định liên quan đến việc bổ nhiệm, quy hoạch giữa nam và
nữ 92
Trang 9Bảng 3.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo,
quản lý về nhận thức xã hội 95 Bảng 3.6: Đánh giá của cán bộ nhân viên về các yếu tố ảnh hưởng đến sự
tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý về phìa gia đính 102 Bảng 3.7: Đánh giá của cán bộ nhân viên về những quan điểm nên làm và
không nên làm về giải pháp nâng cao sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý 107
Biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện sự đánh giá của cán bộ nhân viên về sự tham
gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam 53 Biểu đồ 3.1: Biểu đồ thể hiện những yếu tố giới chịu ảnh hưởng khó khăn
nhiều hơn trong công việc 87 Biểu đồ 3.2: Suy nghĩ của cán bộ nhân viên về việc nâng cao hơn nữa sự tham
gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý 92
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang ngày càng phát triển Vấn đề bính đẳng giới đã được xã hội quan tâm nhiều hơn Theo đó, nữ giới có cơ hội được học tập, ngày càng tham gia và phát huy vai trò trong nhiều lĩnh vực xã hội, đặc biệt là những ngành nghề, những vị trí xã hội mà trước đây chỉ dành cho nam giới Vai trò của phụ nữ ngày càng được khẳng định nâng cao trong công việc xã hội Đặc biệt phụ nữ không chỉ đơn thuần tham gia vào quản lý nhà nước mà ngày càng có nhiều người trở thành chính trị gia, nhà khoa học, nhà quản lý năng động Vị thế của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý ngày càng được nâng cao Nữ giới làm lãnh đạo quản lý có nhiều cơ hội phát triển, nhiều thế mạnh hơn trong công việc như: trính độ học vấn, năng lực làm việc, tác phong trong công việc, sự hỗ trợ từ gia đính, sự quan tâm của xã hội
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang có mục tiêu nâng cao tỉ lệ nữ giới lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước để đảm bảo sự bính đẳng về giới, đồng thời phát huy các tố chất thế mạnh của nữ giới trong lãnh đạo quản lý Chiến lược Quốc gia về bính đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đã chỉ ra mục tiêu cần đạt được: “Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2016 - 2020
từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 - 2020 trên 35%; phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chình trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức có tỷ lệ
30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động” (Chiến lược
quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ)
Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chình trị nêu rõ: “Thực hiện nguyên tắc bính đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, đề bạt và
bổ nhiệm; phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ
Trang 1135% đến 40% Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có
cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ” (Trích Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày
27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước)
Ở vào thời điểm lịch sử đất nước ta đang dần khẳng định vị thế của mình trên trường hội nhập quốc tế Đảng và nhà nước rất quan tâm tới việc nâng cao năng lực giới nữ, đặc biệt coi trọng công tác phát triển nữ lãnh đạo quản
lý Nhận thức xã hội về vấn đề nữ làm công tác lãnh đạo, quản lý ngày càng được cải thiện theo chiều hướng tiến bộ, đã tạo điều kiện tốt hơn cho phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo quản lý có nhiều cơ hội phát triển Tuy nhiên, khác với nam giới, phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn cản trở đến công việc Nữ lãnh đạo quản lý vẫn bị hạn chế bởi nguyên nhân từ gia đính và phần nào đó vẫn còn bị ảnh hưởng bởi rào cản từ cái nhìn của xã hội Tư tưởng phụ nữ không nên làm cao còn tồn tại ở nhiều nơi, trên mọi đối tượng khác nhau Ngay cả trong chính bản thân người phụ
nữ lãnh đạo, quản lý không phải đã thực sự giải phóng cho mính, mà trong tư tưởng vẫn còn mặc định khoảng cách bất bính đẳng so với nam giới Khi tham gia lãnh đạo quản lý, họ vẫn vướng bận nhiều đến con cái và công việc
tề gia nội trợ trong gia đính Họ vẫn xác định đó là công việc của mính trước khi nghĩ đến một ai khác Gánh nặng hai vai giữa công việc đảm nhiệm ở cơ quan và gia đính đối với người nữ lãnh đạo quản lý thực tế vẫn còn là nguyên nhân bất lợi cho nữ giới so với nam giới
Để đảm nhận và hoàn thành tốt vai trò lãnh đạo, quản lý người phụ nữ lãnh đạo, quản lý phải vượt qua định kiến xã hội, phải giải thoát bớt sự vướng bận bởi công việc gia đính, việc chăm sóc con cái, dần tiến tới bính đẳng với nam giới Họ cần phải có thời gian nhiều hơn dành cho công việc Họ phải cảm thấy yên tâm hơn khi công việc gia đính, chăm sóc con cái được san sẻ bởi nam giới hoặc người khác là tất yếu
Trang 12Tuy nhiên, để thực hiện tốt các mục tiêu này không phải là điều dễ dàng khi phụ nữ hiện nay vẫn còn rất nhiều khó khăn trên con đường sự nghiệp Học viện Phụ nữ Việt Nam là cơ sở giáo dục đại học công lập, là nơi tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp Phụ nữ (HLHPN) các cấp, cán bộ nữ cho hệ thống chình trị; Tham gia đào tạo nguồn nhân lực có trính độ cao (đại học, sau đại học), có chất lượng đáp ứng nhu cầu xã hội; Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để tham mưu cho Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội LHPN Việt Nam trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác Hội và phong trào phụ nữ; Đề xuất với Đảng, Nhà nước những vấn đề liên quan đến phụ nữ, công tác phụ nữ, bính đẳng giới và nghiên cứu phục vụ đào tạo, bồi dưỡng của Học viện
Tôi đã lựa chọn tiến hành nghiên cứu đề tài “Tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam” để tìm hiểu rõ hơn
về những khó khăn mà người phụ nữ đang gặp phải trong công việc cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến công việc của phụ nữ Từ đó giúp nâng cao chất lượng công tác của nữ giới trong lãnh đạo, quản lý hiện nay và tầm nhìn xa tiến tới sự bính đẳng giới trong công việc giữa nam và nữ Vì vậy, đề tài này cần phải được tiến hành nghiên cứu
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Có rất nhiều đề tài nghiên cứu, các bài viết, các hội thảo về “Tham gia
của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý” Việc nghiên cứu các tác phẩm liên quan
đến vấn đề trên và các đề tài, bài viết từ các diễn đàn hội nghị, hội thảo khoa học tại Học viện Phụ nữ Việt Nam sẽ làm tiền đề, cơ sở cho việc nghiên cứu
đề tài này
Trần Thị Vân Anh (2010), “Những trở ngại đối với sự phấn đấu của nữ
lãnh đạo” Nghiên cứu này tập trung nhiều vào các bằng chứng gây ra trở
ngại cho nữ giới khi làm lãnh đạo Qua đó có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến
nữ giới khi tham gia làm lãnh đạo, quản lý từ phìa gia đính, xã hội và cơ quan
Trang 13làm việc Tác giả cũng nêu rõ những chuẩn mực đạo đức xưa cũng ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng làm lãnh đạo của người phụ nữ
Nam giới được coi trọng hơn nữ giới Nếu được yêu cầu bỏ phiếu giữa nam và nữ có chuyên môn trính độ như nhau thí nam giới sẽ được lựa chọn nhiều hơn Nam giới thường không bị ảnh hưởng nhiều bởi gia đính vào công việc nên quan niệm trọng nam giới làm lãnh đạo vẫn đang chiếm ưu thế Mặt khác, nhiều người không muốn nữ giới làm cấp trên của mính ví đặc điểm giới Có thể nói, nữ giới trên con đường làm lãnh đạo, quản lý gặp nhiều khó khăn hơn nam giới
Jean Muro (2012), báo cáo (UNDP) “Sự tham gia của phụ nữ trong vai
trò lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam” Báo cáo đã đưa ra được những khó khăn
và nguyên nhân của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo Mặc dù Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực tham chình về sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo nhưng vẫn còn chưa đạt được mức mong muốn như trong các văn bản của Đảng, Nhà nước
Đồng thời, đưa ra một số kết quả nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực chình sách, mục tiêu về phụ nữ và lãnh đạo Báo cáo đã nhấn mạnh:
“Mặc dù Việt Nam đạt nhiều tiến bộ đáng kể trong thúc đẩy bính đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, vẫn còn khoảng cách giữa mục tiêu và kỳ vọng được
đề cập trong các văn bản của chình phủ với con số thực tế về sự tham gia của phụ nữ” Báo cáo thiếu những phân tìch theo chiều sâu đối với phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chình trị ở Việt Nam
Đặng Thị Ánh Tuyết (2014) “Phụ nữ trong lãnh đạo chính trị ở Việt
Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Nghiên cứu Gia đính và giới Số 5 –
2014 qua nghiên cứu về quan điểm của Đảng và Nhà nước, đề tài đã đưa ra được tính trạng bất bính đẳng giới hiện nay và đề xuất được những biện pháp khắc phục nhằm giảm tính trạng bất bính đẳng giới
Báo cáo Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tháng 2 năm
2014, Nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam: từ tham gia đến đại diện Công trình
Trang 14đã đi sâu nghiên cứu về trính trạng bất bính đẳng giới ở Việt Nam trước thế kỉ
21 và đưa ra phương hướng tiến tới Việt Nam hiện nay xóa bỏ được tính trạng bất bính đẳng giới
Đinh Thị Thúy Lan (2015) “Tháo gỡ những nguyên nhân trong công tác
lãnh đạo, quản lý của cán bộ nữ (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Phú Thọ)”,
luận văn thạc sĩ chuyên ngành: khoa học quản lý Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân Văn Bài viết nêu lên được thực trạng nguyên nhân trong công tác lãnh đạo, quản lý cán bộ nữ về số lượng, trính độ, cơ cấu độ tuổi,
Từ đó đưa ra giải pháp phù hợp để tháo gỡ những nguyên nhân trong công tác lãnh đạo, quản lý cán bộ nữ
Vũ Tiến Hồng; Dương Trọng Huế, Barbara Barnett và Tien-Tsung Lee cùng nhóm nghiên cứu thực hiện bằng ngân sách của tổ chức Oxfam tại Việt
Nam (12/2016) “Báo chí và định kiến giới đối với lãnh đạo nữ”, báo cáo
Oxfam Bài viết nêu ra những thách thức của phụ nữ đối với báo chí truyền thông Nguyên nhân đối với phụ nữ trong việc phấn đấu vào các vị trí lãnh đạo rất nhiều Song, một trong số đó là những định kiến của cử tri đối với khả năng lãnh đạo của nữ giới Phát hiện chính của bài viết: “Tần suất xuất hiện của nữ lãnh đạo trong các bài báo và bản tin là rất thấp so với nam lãnh đạo, đặc biệt trong khối các cơ quan nhà nước Điều này cho thấy hình ảnh lãnh đạo nữ đã không được phản ánh một cách đầy đủ trong tin tức dù sự tham gia
và cống hiến của họ vào lực lượng lao động rất quan trọng Sự thiếu vắng hình ảnh lãnh đạo nữ trong tin tức không những là minh chứng cho việc tiếng nói và ý kiến của nữ giới không được thể hiện đầy đủ, mà còn gửi một thông điệp ngầm tới công chúng rằng lãnh đạo nữ không có quyền lực, hoặc không
có phẩm chất lãnh đạo để xứng đáng đưa vào các bản tin Ngoài việc phản ánh không đầy đủ trong các tin tức, hình ảnh người phụ nữ trong tin tức cũng hết sức nhiều định kiến, do cách báo chì đặt ra giới hạn về những lĩnh vực/ công việc “phù hợp với giới tình” của phụ nữ và nam giới Nữ lãnh đạo xuất hiện với tỷ lệ cao hơn trong các bài báo và bản tin về những vấn đề vốn được
Trang 15coi là phù hợp với nữ giới (female-identified issues) như: Trẻ em/gia đính; Quyền phụ nữ; Y tế; Xoá đói giảm nghèo; hay Người cao tuổi Nữ lãnh đạo gần như “vắng bóng” trong các bài báo về Khoa học kĩ thuật; Quốc phòng/An ninh trật tự; Bất động sản; Kinh tế vĩ mô; Quan hệ đối ngoại, vấn đề quốc tế v.v Báo chì đã góp phần tạo nên khuôn mẫu định kiến đối với những người phụ nữ thành đạt trong xã hội Việt Nam đương đại: Đó là những nữ lãnh đạo hoàn thành được vai trò kép là trách nhiệm trong gia đính của người phụ nữ truyền thống và công việc lãnh đạo của một phụ nữ hiện đại mới là những phụ
nữ lý tưởng Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thiếu nhất quán trong đánh giá
về bính đẳng giới nói chung và thái độ đối với nữ lãnh đạo của các nhà báo Phần lớn các nhà báo thừa nhận nam và nữ cần được đối xử công bằng ở nơi làm việc cũng như trong gia đính Đồng thời các nhà báo cũng cho rằng bình đẳng giới vẫn còn tồn tại ở một mức độ nhất định và Việt Nam cần tiếp tục cải thiện tính hính để tạo cơ hội công bằng cho mọi giới Tuy nhiên, các nhà báo nhìn nhận nam giới có nhiều phẩm chất phù hợp với việc làm lãnh đạo hơn nữ giới Ba yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến quá trình sản xuất nội dung tin tức thiếu nhạy cảm giới về nữ lãnh đạo là độc/khán/thính giả, môi trường sống và làm việc của các nhà báo và các thói quen trong quá trình tác nghiệp” Qua những nghiên cứu trên, báo cáo đưa ra những khuyến nghị nhằm bảo vệ quyền bính đẳng giới trong báo chí giữa nam và nữ
Trìch đoạn từ bài viết của Hà Thị Thanh Vân, PGĐ Học viện Phụ nữ
Việt Nam tại hội thảo “Những vấn đề lý luận về công tác phụ nữ ở Việt Nam
trong tình hình mới” ngày 16/01/2017 điều tra xã hội học của ISDS: Đối với
công tác phụ nữ cần tiếp tục bảo đảm 03 điều kiện:
- Đặc biệt là sự chỉ đạo, định hướng của Đảng với tư cách là hạt nhân lãnh đạo và các chình sách, quy định pháp luật của Nhà nước tiếp tục hoàn thiện không chỉ trên văn bản mà còn hiện thực hóa các hoạt động, các chương trính cụ thể từ các cơ quan quản lý nhà nước các cấp với tư cách là nhóm cơ quan có trách nhiệm trực tiếp và chủ yếu của công tác phụ nữ theo tinh thần
Trang 16Nghị quyết số 11- NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chình trị về công tác phụ
nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Cần nỗ lực hành động nhiều mặt của toàn hệ thống chình trị, của toàn
xã hội, của mỗi gia đính, mỗi người, nhất là nam giới để biết, để hiểu, để nhận thức đúng, đầy đủ về sự “đa và động” của phụ nữ trong mối tương quan với các khìa cạnh của bản thân, các mối quan hệ xã hội, gia đính và sự tác động, ảnh hưởng đến thế hệ tương lai, đến sự đóng góp thực tế cho đất nước, địa phương, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và gia đính Trên cơ sở đó, để tôn trọng những khác biệt xã hội xuất phát từ giới tình thực tế, để đồng cảm, sẻ chia về vị trì, vai trò của phụ nữ và quan tâm đúng mức đến phụ nữ và trẻ em gái theo nguyên tắc bính đẳng có tình đến đặc thù giới tình nữ
- Đủ nỗ lực và sự quyết tâm tự đổi mới, sáng tạo và hài hòa bản thân - gia đính - công việc của phụ nữ với tư cách chủ thể Đồng thời, không thể thiếu sự đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam theo hướng kiên định mục tiêu, giá trị cốt lõi, ngày càng khoa học
và chuyên nghiệp với tư cách là nòng cốt trong vai trò chủ thể phụ nữ của công tác phụ nữ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ìch hợp pháp, chình đáng của phụ nữ theo định hướng của Đảng, quy định của pháp luật và sự ủy quyền của các tầng lớp phụ nữ
Lăm Phun Đuôn Sụ Văn do Đỗ Thị Thạch hướng dẫn (2017) “Phụ nữ
tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện nay”, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành
CNXHKH – Học viện Chính trị Quốc gia HCM Từ các lý thuyết, quan điểm của Đảng Nhà nước Lào, chủ nghĩa Mác Lênin đề tài đã nghiên cứu các yếu
tố tác động đến phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Nghiên cứu thực trạng, một
số vấn đề đặt ra với phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Qua nghiên cứu, tác giả đã đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của
Trang 17phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp trung ương ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện nay
Lương Thu Hiền - Trung tâm Nghiên cứu giới và lãnh đạo nữ, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (6/2018) “Tầm quan trọng của lãnh đạo nữ
nhìn từ các lý luận hiện đại”, tạp chí tổ chức Nhà nước Dựa vào các lý luận,
bài viết chỉ ra Lý luận về tăng số lượng phụ nữ vào các vị trì lãnh đạo, quản lý dựa trên quan niệm về đại diện chính thức và đại diện mô tả Các lập luận chính bao gồm: Phụ nữ trong các vị trì lãnh đạo chính thức đại diện cho nhu cầu, lợi ích, các mối quan tâm của những người phụ nữ khác trong xã hội, Có nhiều phụ nữ hơn trong các vị trì lãnh đạo, quản lý chính thức trong hệ thống chính trị sẽ bảo đảm luật pháp, chính sách công có chất lượng tốt hơn, giúp giải quyết các vấn đề đặt ra trong lãnh đạo, quản lý Ngoài ra bài viết còn lập luận về các lý luận khác như: Lý luận về tăng cường số lượng phụ nữ vào các
vị trì lãnh đạo, quản lý chính thức dựa trên quan niệm về đại diện thực chất,
Lý luận về tăng số lượng phụ nữ vào các vị trì lãnh đạo, quản lý chính thức dựa trên quan niệm về đại diện biểu tượng, Lý luận về tăng số lượng phụ nữ vào các vị trì lãnh đạo, quản lý chính thức dựa trên tính hiệu quả kinh tế, Lý luận về tăng số lượng phụ nữ vào các vị trì lãnh đạo, quản lý chính thức dựa trên đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam Từ
đó nâng cao vai trò của lãnh đạo nữ trong xã hội hiện đại
Thu Hòa (2019) “Tăng cường sự tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ
Việt Nam trong hội nhập”, Trang “Con số sự kiện” Cơ quan ngôn luận Tổng
cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư – ISSN 2734 -9144 Bài viết nêu lên được thực trạng tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ Việt Nam đưa ra được con số thống kê cụ thể về vấn đề này Từ đó đề xuất ra những giải pháp hợp
lý để hỗ trợ nâng cao vai trò quản lý, lãnh đạo của cán bộ nữ
Nguyễn Thị Thu Hòa - Học viện Hành chình Quốc gia (2019) “Phụ nữ
tham gia lãnh đạo, quản lý nhà nước – Góc nhìn từ một số quốc gia trên thế giới”, Quản lý Nhà nước – Cơ quan nghiên cứu và Ngôn luận của Học viện
Trang 18Hành chình Quốc gia Bài viết chỉ ra vị trì của Việt Nam so với thế giới về số lượng phụ nữ tham chình, theo bài viết Việt Nam đứng thứ 3 về tỷ lệ phụ nữ tham chình cấp quốc gia Ngoài ra, tác giả còn chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến nữ giới trong việc tham chình tại các quốc gia khác bằng các con số cụ thể Các luận điểm tác giả đưa ra như: cam kết chình trị và thể chế phù hợp; phong trào phụ nữ và phong trào nhân quyền, truyền thông; các yếu tố văn hóa và tôn giáo Từ bài học ở các nước trên thế giới, tác giả đã đưa ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam qua các con số cụ thể Tuy nhiên Việt Nam cũng có những hạn chế nhất định của nữ khi tham chình Những lý do mà tác
giả đưa ra như: “Một là, so sánh với kinh nghiệm của một số nước có tỷ lệ
cao phụ nữ giữ chức vụ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ, cho thấy các công cụ về thể chế, chình sách ở Việt Nam chưa đủ cụ thể và mạnh mẽ trong thể hiện cam kết chình trị của Đảng và Nhà nước thúc đẩy quyền tham gia quản lý nhà
nước của phụ nữ Hai là, phụ nữ phải được xã hội và đặc biệt là nam giới tôn
trọng, ủng hộ thí vai trò của họ trong xã hội mới được phát huy Do đó, việc thực hiện bính đẳng giới nói chung, bính đẳng giới trong chình trị nói riêng là nhiệm vụ chung của toàn xã hội Đặc biệt, thực hiện bính đẳng giới ngay từ trong gia đính Sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau của cả vợ và chồng sẽ giúp cho sự phát triển của gia đính được ổn định và bền vững, tạo điều kiện tốt hơn cho người phụ nữ tham gia các công việc xã hội, LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ Tăng cường tuyên truyền Luật Bính đẳng giới để nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm trong thực hiện bính đẳng giới cho cán bộ, công
chức, viên chức, người lao động Ba là, cần nhận thức rõ những biểu hiện của
sự bất bính đẳng giới trong lĩnh vực lãnh đạo và quản lý nhà nước là những nguyên nhân do các chuẩn mực văn hóa, thói quen còn mang định kiến giới
Để xóa bỏ một tâm lý, tư tưởng đã ăn sâu trong nếp nghĩ của nhiều thế hệ người Việt Nam không phải là việc dễ dàng, nó đòi hỏi sự nỗ lực cao trong công tác giáo dục về bính đẳng giới, trong việc vận động người dân thay đổi
tư duy văn hóa theo hướng tìch cực” Từ những bài học thực tế của các quốc
Trang 19gia khác, tác giả đã khéo léo mang vào thực tiễn Việt Nam để nâng vai trò của phụ nữ trong tham chình
Lê Thị Anh Trâm (3/2019) “Xã hội hiện đại cần nhiều phụ nữ tham gia
lãnh đạo và quản lý đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh”, (bản tin
đhqg-hcm số 193) Bài viết chỉ ra sự khác biệt giữa nam và nữ trong lãnh đạo Qua đó, nữ giới có xu hướng làm lãnh đạo thấp hơn nam giới, bên cạnh đó nữ giới cũng có thu nhập ìt hơn nam giới Trên thế giới thu nhập của nữ giới có mức thu nhập chỉ từ 2% đến 50% so với nam, tùy từng nước khác nhau Ở Việt Nam, mức thu nhập của nữ thấp hơn nam trung bính khoảng 10% Tác giả chỉ ra được nguyên nhân của sự thiếu hụt nữ lãnh đạo và quản lý là do :
“sự hạn chế trong nhận thức của xã hội về tầm quan trọng của việc phụ nữ tham gia đời sống chính trị, làm lãnh đạo và quản lý; thiếu các cơ chế và điều kiện thuận lợi để phụ nữ thực hiện đầy đủ quyền công dân của mình; bản thân phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ tại các nước nghèo hoặc đang phát triển, thường thiếu tự tin và ìt được sự ủng hộ từ các bên để tham gia công tác quản lý” Trong thời kì hiện nay, ưu thế của nữ giới ngày càng được tăng lên, bài viết
đã đưa ra những con số cụ thể về giáo dục, sự khác biệt giữa nam và nữ trong giải quyết vấn đề Từ đó đưa ra những thay đổi để phát triển bền vững vai trò của nữ giới trong lãnh đạo, quản lý
Nguyễn Ngọc Hương - Trường Chính trị tỉnh Tiền Giang (7/2019) “Một
số nguyên nhân trong quá trình thăng tiến của phụ nữ việt nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng
7/2019, tr 316-320 Bài viết nói về Công tác bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ ở Việt Nam đang có rất nhiều cơ sở để phát triển Các chủ trương, chính sách pháp luật ngày càng hoàn thiện về bính đẳng giới Các cuộc vận động hướng đến nâng cao vai trò của phụ nữ trong mọi mặt của xã hội Bên cạnh đó bài viết cho rằng, nhận thức về địa vị phụ nữ trong xã hội, gia đính,
cơ quan và nhà trường còn chuyển biến chậm Những định kiến xã hội truyền thống như đề cao vai trò của nam giới và tâm lí e ngại, tự ti của phụ nữ vẫn
Trang 20khiến họ chịu nhiều thiệt thòi, những vấn nạn bạo lực giới, đặc biệt là hạn chế
cơ hội bính đẳng cho phụ nữ tham gia lãnh đạo
Bài viết cũng đã trính bày một số khái niệm công cụ về: Phụ nữ, công nghiệp hóa, sự thăng tiến vị trí chính trị của phụ nữ Từ đó đưa ra một số nguyên nhân trong quá trính thăng tiến của phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)
Hà Thị Khiết - Nguyên Bì thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Dân vận Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam (2020) “Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính
trị các cấp ở nước ta trong thời gian tới”, Tạp chí Cộng sản Bài viết đề cao
việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong chính trị Tác giả cho rằng “Nâng cao
vị thế của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng, nhằm bảo đảm mục tiêu bính đẳng giới và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, hội nhập quốc tế của đất nước Để phụ nữ có quyền bính đẳng thật sự trong lĩnh vực chính trị, trong thời gian tới, các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị cần phối hợp chặt chẽ thực hiện các giải pháp đồng bộ, phù hợp”
Bài viết từ câu nói của chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, từ những quan điểm của Đảng và Nhà nước từ khi thành lập đến nay đều nâng cao vai trò của Phụ nữ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Bài viết cũng đưa ra các số liệu về nữ giới tham chính qua các thời kì ở Việt Nam Ngoài ra, tác giả cũng có cái nhín rất chân thực về hạn chế của nữ giới khi tham chính
và từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục hạn chế đó
Thu Hằng (2020) “Xây dựng và phát triển đội ngũ nữ lãnh đạo, quản lý
trong giai đoạn hiện nay”, tạp chì Lao động và xã hội Tác giả nói lên quan
điểm của Đảng và Nhà nước trong việc nâng cao vai trò của nữ giới trong lãnh đạo, quản lý Ngoài ra, bài viết còn nêu ra thực trạng của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý trong bộ máy chình trị Việt Nam Tuy nhiên, tỉ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý còn thấp Tác giả đã đưa ra được các nguyên nhân như:
“Nguyên nhân của tính trạng trên là do các chủ trương, nghị quyết của Đảng
Trang 21và các Luật liên quan đến công tác cán bộ nữ chậm được cụ thể hóa, chưa thống nhất, thiếu đồng bộ Một số cấp ủy, chình quyền, người đứng đầu chưa thực sự quan tâm đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ, thiếu sự ủng hộ, tạo điều kiện, động viên, khuyến khìch để cán bộ nữ mạnh dạn, tự tin đảm đương vị trì; một số nơi tuy đã xây dựng được các chỉ tiêu, tỷ lệ, cơ cấu cán bộ nữ nhưng còn thiếu quyết liệt hoặc chưa có giải pháp khả thi để lãnh đạo đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra việc ban hành và thực hiện chình sách về công tác cán bộ nữ còn tùy thuộc vào sự quan tâm của lãnh đạo từng địa phương, đơn vị” Từ đó đưa ra được các giải pháp phù hợp để nâng cao tỉ lệ phụ nữ trong tham chình tại Việt Nam hiện nay
Nguyễn Hữu Minh - Viện Nghiên cứu Gia đính và Giới - Viện Hàn lâm
khoa học xã hội Việt Nam (2020) “Phụ nữ tham gia chính trị ở Việt Nam:
Thành tựu, thách thức và một số giải pháp trong giai đoạn mới”, Lý luận
Chình trị - Cơ quan nghiên cứu và lý luận khoa học của Học viện Chình trị Quốc gia Hồ Chì Minh Qua bài viết, tác giả đã nêu được sự tham gia chình trị của phụ nữ Việt Nam, những nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc nâng cao vai trò của nữ giới trong tham chình Tác giả đã đưa ra các nghị quyết, quyết định của Đảng và nhà nước trong chủ trương nâng cao vai trò của nữ giới trong tham chình Ngoài ra, bài viết cũng đưa ra được những thành tựu của Việt Nam trong việc đưa phụ nữ vào tham chình Những hạn chế được tác giả nêu ra và chỉ ra các nguyên nhân gây ra những hạn chế đó như: “ Sự bảo lưu định kiến giới về vai trò của phụ nữ; Việc triển khai thực hiện chình sách đối với cán bộ nữ trong thực tế chưa quyết liệt và cụ thể; Chưa quán triệt đầy đủ quan điểm bính đẳng giới trong công tác quy hoạch, đào tạo, và sử dụng cán bộ nữ; Công tác quy hoạch, Công tác đào tạo và sử dụng cán bộ nữ” Theo đó, tác giả đưa ra những giải pháp phù hợp để khắc phục những hạn chế đó nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong tham chình
Theo TTXVN (2021) “Khơi dậy tiềm năng, vai trò lãnh đạo của phụ nữ
trong thời kỳ mới”, Trang tin điện tử - Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh Bài
Trang 22viết đã khẳng định được vai trò của phụ nữ qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, Luật Bính đẳng giới ở Việt Nam Bài viết cho rằng: “Tỷ lệ nữ giới đại diện trong cơ quan lập pháp của Việt Nam luôn thuộc nhóm có thứ hạng cao nhất trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung và tỷ lệ này ngày càng tăng Điển hình, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội luôn duy trì ở mức cao và có
xu hướng ngày càng tăng lên Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới, Việt Nam đã có bước tiến về tăng tỷ lệ phụ nữ tham chình; đứng thứ ba trong khu vực ASEAN và thứ 47 trong 187 quốc gia trên thế giới tham gia xếp hạng
về bính đẳng giới trong tham chình” Ngoài ra, bài viết nêu lên quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc nâng cao vai trò nữ giới trong lãnh đạo tham chính hiện nay
Tú Giang (2019) “Giải pháp nào để đạt mục tiêu tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản
lý?”, báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam Bài viết đưa ra thực trạng nữ giới
trong cơ cấu lao động việc làm, giáo dục và tham chính Nêu ra một số quan điểm của các đại biểu Quốc hội về việc tham chính của nữ giới và đưa ra các giải pháp để hoàn thiện tỷ lệ nữ giới trong tham chình như mục tiêu đã đề ra
Phạm Đông (2021) “Năm 2030 phấn đấu 75% cơ quan nhà nước, chính
quyền các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ”, Báo Lao động Bài viết nêu lên
được các con số cụ thể về tỷ lệ cán bộ nữ theo kỳ vọng của Nhà nước trong những năm tới Qua đó đưa ra khuyến nghị để hỗ trợ đạt được mục tiêu đó
Từ các công trính nghiên cứu này, phần nào hiểu rõ hơn về sự bính đẳng giới đặc biệt các vấn đề hiện nay đang còn là rào cản ảnh hưởng hạn chế trong công việc đối với phụ nữ tham gia vào lãnh đạo, quản lý Từ đó, làm tiền đề để nghiên cứu đề tài sâu hơn
3 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
- Mục đìch nghiên cứu: Tìm hiểu sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam
- Mục tiêu nghiên cứu:
+ Tìm hiểu về thực trạng cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý
Trang 23+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý
+ Nêu những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng công tác của phụ
nữ trong lãnh đạo, quản lý
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam
- Khách thể: Cán bộ nhân viên, cán bộ, giảng viên tại Học viện Phụ nữ Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu + Thời gian: Tháng 3/2021 – 9/2021 + Không gian: Học viện Phụ nữ Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu xã hội học, có rất nhiều phương pháp nghiên cứu phục
vụ cho nghiên cứu khoa học Việc áp dụng các phương pháp giúp ta có cách tiếp cận tốt hơn với vấn đề nghiên cứu để tạo ra một công trình nghiên cứu chất lượng Với đề tài “Tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam” tôi sử dụng các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê Nin về giải phóng nữ quyền làm nền tảng chung, đồng thời sử dụng lý thuyết vai trò làm cơ sở nhận thức luận Trong đề tài nghiên cứu, tác giả dựa trên cơ
sở một số quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê Nin để làm tiền đề phương pháp luận trong nghiên cứu
5.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Phân tìch định tính: Là rút ra những nội dung tư tưởng cơ bản của tài liệu để tìm ra những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu và xác định xem những vấn đề gí được giải quyết và những vấn đề gí chưa được giải quyết
Trang 24Phân tìch định lượng: Là cách thức phân nhóm các dấu hiệu và tìm ra những mối quan hệ nhân quả giữa các nhóm chỉ báo Phương pháp này được sử dụng trong những trường hợp phải xử lý một lượng thông tin lớn, phong phú
Trong đề tài này, sử dụng tài liệu từ các công trình nghiên cứu, báo cáo, bài báo , tạp chì,… được công nhận có liên quan đến đề tài nghiên cứu Mục đìch của phương pháp phân tìch tài liệu nhằm tìm hiểu phương pháp, nội dung, kết quả đạt được của các tài liệu, công trình nghiên khoa học đi trước Từ đó sẽ nhận biết được những đóng góp và hạn chế của các nghiên cứu đi trước, học hỏi về nội dung và phương pháp nghiên cứu của các đề tài đó Qua việc phân tích tài liệu, giúp cho đề tài xác định được hướng nghiên cứu thích hợp
5.3 Phương pháp điều tra bảng hỏi
Xây dựng bảng hỏi, liên hệ với cơ quan HVPNVN Tiến hành điều tra 55 mẫu ngẫu nhiên tại HVPNVN Xây dựng bảng hỏi, trước tình hình của dịch COVID 19, tiến hành phỏng vấn online các cán bộ đang làm việc tại Học viện Phụ nữ Việt Nam
+ Cách lấy mẫu
Đề tài lấy mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên đơn giản, tác giả trực tiếp đến HVPNVN để xin khảo sát, trước tình hình của dịch Covid–19 phỏng vấn online qua google form để thu thập thông tin
+ Mô tả cơ cấu mẫu
Đề tài đã thực hiện điều tra 55 CBNV tại HVPNVN, mẫu nghiên cứu được phỏng vấn tại các phòng, ban tại HVPNVN; ngoài ra phỏng vấn sâu 03 CBGV tại ĐHKHXH NV
5.4 Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích thông tin
Nguồn số liệu trong đề tài nghiên cứu được sử dụng từ những đề tài nghiên cứu đi trước của HVPNVN và qua số liệu thu thập được của tác giả bằng phương pháp điều tra bảng hỏi được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0
Trang 255.5 Phương pháp quan sát, phỏng vấn sâu
Quan sát khoa học là phương pháp thu nhận thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng tri giác trực tiếp đối tượng và các nhân tố khác có liên quan đến đối tượng
Quan sát với tư cách là PP nghiên cứu khoa học là một hoạt động có mục đìch, có kế hoạch đợc tiến hành một cách có hệ thống Đây là một trong những hình thức chủ yếu của nhận thức kinh nghiệm, để tạo ra thông tin ban đầu, nhờ nó mà sau này xây dựng lý thuyết và kiểm tra lý thuyết bằng thực nghiệm và như vậy nó là con đường để gắn nghiên cứu lý thuyết với nghiên cứu hoạt động thực tiễn
Quan sát khoa học được tiến hành trong thời gian dài hay ngắn, không gian rộng hay hẹp, mẫu quan sát nhiều hay ít
Quan sát sư phạm là phương pháp để thu thập thông tin về quá trình giáo dục và dạy học trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sư phạm, cho ta những tài liệu sống và thực tiễn giáo dục để có thể khái quát rút ra những quy luật nhằm chỉ đạo quá trình tổ chức giáo dục thế hệ trẻ tốt hơn
Quan sát trong nghiên cứu khoa học thực hiện ba chức năng:
Chức năng thu thập thông tin thực tiễn, đây là chức năng quan trọng nhất Chức năng kiểm chứng các lý thuyết, các giả thuyết đã có
Chức năng so sánh đối chiếu các kết quả trong nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn.(Đối chiếu lý thuyết với thực tế)
Đến địa bàn nghiên cứu HVPNVN, quan sát hoạt động của nữ lãnh đạo quản lý tại nơi làm việc Trò chuyện, trao đổi để từ đó có thể hiểu biết rõ hơn
về công việc của người phụ nữ quản lý lãnh đạo nhằm thu thập thông tin phục
vụ cho việc nghiên cứu đề tài
Các công việc quan sát tại HVPNVN
- Xác định đối tượng quan sát, mục đìch quan sát
- Xác định nội dung quan sát và phương pháp quan sát
- Lập phiếu quan sát và kế hoạch quan sát
Trang 26- Tiến hành quan sát
Xử lí
Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 3 mẫu nghiên cứu để tìm hiểu rõ hơn về
sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý Hình thức phỏng vấn qua điện thoại
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia người phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý Qua đó có khuyến nghị về chình sách để hỗ trợ, nâng cao sự tham gia của người phụ nữ trong trong lãnh đạo, quản lý Góp phần bổ sung, xây dựng, phát triển các vấn đề lý luận về khoa học xã hội, tổ chức xã hội, …trở thành tài liệu cho những đề tài nghiên cứu cùng vấn đề tương đương về sau
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp thông tin, số liệu về sự tham gia của người phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý Nâng cao hơn nữa sự tham gia của người phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý Đề xuất các giải pháp hỗ trợ phù hợp để hỗ trợ người phụ nữ trong
lãnh đạo, quản lý tham gia vào công việc hiệu quả hơn
7 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
7.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam diễn ra như thế nào?
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong việc tham gia vào quá trính lãnh đạo, quản lý?
- Cần phải có giải pháp gí để nâng cao sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý?
7.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý làm tốt công tác đào tạo chuyên môn
- Yếu tố gia đính ảnh hưởng nhiều đến sự tham gia tham gia lãnh đạo, quản lý của nữ giới
Trang 27- Cần đề xuất giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng nữ giới trong lãnh đạo, quản lý về chính sách
8 Khung lý thuyết
9 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý
Chương 2: Thực trạng về sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam
Chương 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam
Đặc điểm KT-XH
Sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý
Chính sách XH
Gia đính
Xã hội
Chuyên môn
Nghiên cứu khoa học
Tổ chức Đoàn thể, quần chúng
Bản thân phụ nữ
Trang 28Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ
TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ 1.1 Các khái niệm công cụ liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm lãnh đạo
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều định nghĩa về lãnh đạo:
Theo trang anklincovey.vn (the ultimate competitive advantage) định nghĩa
của các nhân vật có tầm ảnh hưởng trên thế giới về lãnh đạo như sau [42]:
Peter Drucker: "Định nghĩa duy nhất của một nhà lãnh đạo là một người
có nhiều cấp dưới đi theo" [42]
Định nghĩa của Drucker đơn giản đến mức nguy hiểm Đội trưởng mới của một quân đội chỉ huy 200 quân sĩ Anh ta không bao giờ rời khỏi phòng của mình và không bao giờ nói một lời với bất kỳ ai trong đơn vị mình Có thể các quân lệnh được đưa ra thông qua một cấp dưới Theo mặc định, quân đội của anh ta phải "làm theo" mệnh lệnh Tuy nhiên vị đội trưởng này có thật
sự là một "Lãnh đạo”? Chỉ huy có nhưng lãnh đạo thì không Drucker tất nhiên là một nhà tư tưởng kinh doanh hiện đại xuất sắc, nhưng định nghĩa của ông về người lãnh đạo là quá đơn giản [42]
Warren Bennis: "Lãnh đạo là khả năng biến tầm nhìn thành hiện thực"
Mỗi mùa xuân, chúng ta có một tầm nhìn cho một khu vườn Và trải qua nhiều giai đoạn và công việc, chúng ta thu hoạch được cà rốt và cà chua Điều
đó trở thành “hiện thực” Tuy nhiên chúng ta có phải là người lãnh đạo? Không, chúng ta chỉ là một người làm vườn Định nghĩa của Bennis dường như đã quên mất "những người khác" [42]
Bill Gates: "Vào đầu thế kỷ tới, các nhà lãnh đạo sẽ là người sẽ trao quyền cho những người khác" [42]
Trong định nghĩa này, chúng ta thấy có “những người khác” và trao quyền Trao quyền là một điều tốt, nhưng với mục đìch gí? Nếu chúng ta trao quyền cho người không phù hợp, họ sẽ không thể phát huy được năng lực và
Trang 29không thể đóng góp cho tổ chức Định nghĩa của Gates đã thiếu mục đìch hoặc tầm nhìn
John Maxwell: "Lãnh đạo là sự ảnh hưởng, không hơn, không kém."
Tôi thích sự tối giản, nhưng định nghĩa này lại quá rút gọn Một tên cướp với
vũ khì có "sự ảnh hưởng" đến nạn nhân của mình Một người quản lý có quyền sa thải các thành viên trong nhóm, điều này mang lại cho anh ta rất nhiều ảnh hưởng Nhưng liệu ảnh hưởng này có làm cho tên cướp hay người quản lý trở thành một nhà lãnh đạo? Định nghĩa của Maxwell đã bỏ qua nguyên nhân ảnh hưởng [42]
Từ những định nghĩa trên có thể hiểu rằng, lãnh đạo là người đưa ra những đường lối, chủ trương cho tập thể đó, là người gây ra sức ảnh hưởng đến cá nhân, tập thể trong nhóm và dẫn dắt nhóm hướng tới mục tiêu của tổ chức
Người lãnh đạo phải tập hợp được những cán bộ dưới quyền, tạo điều kiện để họ tham gia tích cực vào mọi hoạt động của tổ chức.Trong một tổ chức người lãnh đạo là người có vai trò quan trọng quyết định sự thành bại của tổ chức Vai trò đó được thể hiện trong các nhiệm vụ chính của người lãnh đạo như sau: Xác định phương hướng, mục đìch của cơ quan tổ chức và thiết lập chiến lược hoạt động để đạt được mục đìch Huy động và sử dụng tối
ưu các nguồn tài nguyên để thực hiện mục đìch Dự báo những thay đổi, quá trình phát triển và vạch ra các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn Xây dựng hệ thống thông tin báo cáo hợp lý Xây dựng các quy định, luật lệ và điều kiện làm việc tạo môi trường thuận lợi cho các thành viên trong tổ chức hoàn thành nhiệm vụ và đáp ứng nhu cầu của họ Xây dựng chế độ động viên khen thưởng kịp thời Đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ từng giai đoạn cụ thể Để hoàn thành nhiệm vụ trên đòi hỏi người lãnh đạo cần có trính độ và kỹ năng nhất định trong công tác quản lý lãnh đạo Người lãnh đạo phải tập hợp được những cán bộ dưới quyền, tạo điều kiện để họ tham gia tích cực vào mọi hoạt động của tổ chức [7]
Trang 30Như vậy, có thể cho rằng lãnh đạo là những người tạo ra sự phát triển
và xác định tương lai cho tổ chức Những người lãnh đạo tạo ra sự thay đổi của tổ chức thông qua mục tiêu, định hướng của họ Từ đó, họ thiết lập phương hướng hoạt động, tạo nên động cơ và gây cảm hứng cho con người Người lãnh đạo còn liên kết các thành viên trong tổ chức và tạo ra văn hoá
Trong đề tài nghiên cứu này, nghiên cứu tiến hành sự lãnh đạo của phụ
nữ trong các tiêu chì: Lập kế hoạch; Truyền đạt ý tưởng; Năng lực đổi mới và sáng tạo; Đưa ra phản hồi kịp thời và cụ thể về hiệu suất công việc, nuôi dưỡng tinh thần trách nhiệm của cấp dưới; Xác định rõ ràng đìch đến của đội ngũ và cách đi đến đó
1.1.2 Khái niệm quản lý
Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau Chính vì sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến
sự phong phú về quan niệm
Theo Luật sư Hoàng Kim Oanh (2021) “Quản lý là gì? Chức năng cơ
bản của quản lý”, công ty Luật Hoàng phi Quản lý là sự tác động liên tục có
tổ chức, có định hướng, có mục đìch, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường [27]
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa động từ quản lý, theo đó, quản
lý gồm hai yếu tố “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định và “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định [14]
Như vậy, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau là “quản” và “lý”[13]
Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất
cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu
Trang 31hỏi; Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); Quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý) người quản lý là gì? Người quản lý là những người làm việc trong tổ chức, điều khiển công việc của người khác và chịu trách nhiệm trước kết quả hoạt động của họ, người quản lý còn là người là người lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát con người, tài chính, vật chất và thông tin một cách có hiệu quả để đạt được mục tiêu
Vai trò của quản lý:
– Quản lý nhằm tạo ra sự thống nhất ý chí trong tổ chức giữa những người quản lý và người bị quản lý; giữa những người bị quản lý với nhau – Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung và hướng mọi nỗ lực của các đối tượng quản lý vào mục tiêu đó
– Tổ chức, điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân,
tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt được mục tiêu quản lý
– Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích, động viên; uốn nắn lệch lạc, sai sót nhằm giảm bớt thất thoát, sai lệch trong quá trình quản lý
– Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển của mọi cá nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả
Chức năng cơ bản của quản lý?
Một số chức năng quản lý như sau[13]:
Chức năng dự đoán: Dự đoán là phán đoán trước toàn bộ quá trình và các hiện tượng mà trong tương lai có thể xảy ra trong sự phát triển của một hệ thống quản lý Dự đoán bao gồm cả các yếu tố thuận lợi, khó khăn, cả các yếu
tố tác động của môi trường bên ngoài tới hệ thống các yếu tố tác động của chình môi trường bên trong và đưa ra chiến lược quản lý phù hợp
Chức năng lên kế hoạch: Kế hoạch hoá là chức năng cơ bản nhất trong
số các chức năng quản lý, nhằm xây dựng quyết định về mục tiêu, chương
Trang 32trính hành động và bước đi cụ thể trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý
Chức năng tổ chức: là để xác định vai trò nhiệm vụ hay chức vụ của từng
cá nhân, bộ phận.Tổ chức chính là sự kết hợp, liên kết những bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống, hoạt động nhịp nhàng như một cơ thể thống nhất trong đó mỗi bộ phận, mỗi cá nhân đều góp phần công sức vào các mục tiêu chung của
hệ thống Một tổ chức cũng được coi là hiệu quả khi nó được áp dụng để thực hiện các mục tiêu của hệ thống với mức tối thiểu về chi phí cho bộ máy Chức năng khìch lệ, động viên: nhằm phát huy khả năng vô tận của con người vào quá trình thực hiện mục tiêu của hệ thống Chức năng này được đặc biệt áp dụng trong quản lý nhân sự, trong đó cần phải xác định những yếu
tố tạo thành động cơ thúc đẩy mọi người đóng góp có kết quả và hiệu quả tới mức có thể được cho hệ thống Động cơ thúc đấy nói lên các xu hướng, ước
mơ, nhu cầu, nguyện vọng và những thôi thúc đối với con người
Chức năng điều chỉnh: là nhằm sửa chữa các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động của hệ thống để duy trì các mối quan hệ bính thường giữa bộ phận điều khiển và bộ phận chấp hành; giữa bộ máy quản lý với hoạt động của hàng trăm, hàng nghín người sao cho nhịp nhàng, ăn khớp với nhau Trong hệ thống khi có bất cập nào đó thí cần phải được điều chỉnh ngay lập tức để ổn định lại hệ thống
Chức năng kiểm tra là để đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống, bao gồm cả việc đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động, là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý căn cứ vào mục tiêu và kế hoạch đã định Kế hoạch hướng dẫn việc sử dụng các nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu, còn kiểm tra xác định xem chúng hoạt động có phù hợp với mục tiêu và kế hoạch hay không
Chức năng đánh giá và hoạch toán là nhằm cung cấp cho cơ quan quản
lý các thông tin cần thiết để đánh giá đúng tính hính của đối tượng quản lý và
dự kiến quyết định bước phát triển mới
Trang 33Tóm lại, quản lý thường do cán bộ quản lý thực hiện theo từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể Mỗi lĩnh vực quản lý đòi hỏi các yêu cầu đặc thù về phương pháp, cách thức, quy trính, nguyên tắc, phương tiện, nguồn lực quản
lý riêng [7]
Quản lý là giữ cho hệ thống tổ chức hoạt động trơn tru, dự báo và ra lệnh cho nhân sự cấp dưới hoạt động theo đúng quy trính đã được định ra Lập kế hoạch và dự trù ngân sách, kiểm soát và giải quyết vấn đề Tổ chức và
bố trì nhân sự phù hợp với mục tiêu đề ra Dẫn dắt nhân sự hòa nhập vào văn hóa của tổ chức
Trong đề tài này, sự quản lý của phụ nữ được thể hiện qua những tiêu chí: Khai phá khả năng của mỗi người trong khoa để nâng cao hiệu quả, giải quyết vấn đề, và sắp xếp công việc hợp lí; Liên kết mọi người để hoàn thành các mục tiêu; Thu thập các thông tin từ cấp dưới, phổ biến các thông tin của cấp trên; Đưa ra các quyết định, chịu trách nhiệm về những quyết định đó trước cấp trên và các cộng sự, nhân viên
1.1.3 Khái niệm tham gia
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tham gia là góp phần của mình vào một hoạt động chung nào đó” [14]
Tuy nhiên, sự tham gia xã hội và sự tham gia kinh tế không phải lúc nào cũng liên hệ với nhau một cách tích cực Trong một vài trường hợp, sự tham gia kinh tế đi kèm với chi phí bỏ ra trong các hoạt động tham gia xã hội Theo Hough và cộng sự, khi những tình nguyện viên chuyển sang làm việc được trả công do kỹ năng của họ được nâng cao thì có thể làm giảm số lượng người sẵn sàng cho công việc tình nguyện không được trả lương Đối với các gia đính có con nhỏ còn phụ thuộc và những người có trách nhiệm chăm sóc người khác thì sự căng thẳng giữa việc tham gia xã hội và kinh tế lại càng rõ ràng trong vấn đề cân bằng giữa công việc và gia đính [43] (Hough, Kaye Stevens and Gary (2008), Economic and Social Participation, RMIT University Circle.)
Trang 34Piskur và cộng sự cho rằng, sự tham gia xã hội được đề cập trong ba cách: (1) sự tham gia của người tiêu dùng (consumer participation), trong đó bao gồm quyền tự quyết định tham gia của họ trong xã hội; (2) hoạt động xã hội, khái niệm này giới hạn sự tham gia xã hội đối với sự tương tác giữa con người với môi trường trong những hoạt động xã hội với người khác; (3) mức
độ tham gia trong xã hội, trong đó nhấn mạnh rằng sự tham gia xã hội có thể
là cả một mục tiêu và một kết quả chủ quan trên một chuỗi hành động liên tục
từ tương đối thụ động đến rất tích cực[41]
Tổng hợp nhiều định nghĩa của các tác giả trong nước cũng như trên thế giới về sự tham gia xã hội, có thể nhận thấy rằng, tùy thuộc vào cách tiếp cận từng lĩnh vực nghiên cứu, sự tham gia xã hội sẽ có các chỉ báo ở mức độ cụ thể
và chi tiết hơn, phù hợp hơn với đặc điểm và nhu cầu của từng cá nhân, nhóm Như vậy, có thể nói tham gia là một phạm vi rất lớn Theo đó, tham gia được hiểu như là góp phần của người tham gia vào một hoạt động nào đó trên nhiều lĩnh vực
Đề tài này sẽ tiến hành nghiên cứu sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý trong các lĩnh vực: Chuyên môn, đào tạo; Nghiên cứu khoa học;
Tổ chức đoàn thể, quần chúng để làm rõ hơn về sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý tại HVPNVN
1.1.4 Khái niệm lãnh đạo, quản lý
Trong đời sống xã hội, tồn tại đồng thời hai khái niệm Quản lý và Lãnh đạo Có không ìt người và một số nhà nghiên cứu đã đồng nhất hai khái niệm này với nhau Ví họ cho rằng, nội hàm của hai khái niệm này giống nhau và khó phân biệt rạch ròi ranh giới của chúng Có một số nhà nghiên cứu lại cho rằng, không nên tách chúng thành hai khái niệm riêng biệt mà nên xếp chúng bên cạnh nhau, dường như thành một khái niệm lãnh đạo, quản lý Vấn đề cần được đây là hai khái niệm khác nhau song chúng lại có những điểm giống nhau rất cơ bản
Trang 35Tham gia lãnh đạo, quản lý là một hoạt động phản ánh mối quan hệ giữa người đảm nhiệm vai trò lãnh đạo, quản lý (chủ thể) với người bị lãnh đạo, quản lý (đối tượng) Trong quá trính lãnh đạo, quản lý các hiện tượng tâm lý được hính thành trong mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng lãnh đạo, quản
lý đó Hiện tượng tâm lý bao giờ cũng gắn với một chủ thể nhất định phản ánh tâm lý của người lãnh đạo, quản lý và đối tượng [7]
Lãnh đạo và quản lý có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau Điểm chung của hai loại hoạt động này là đều đạt đến mục đìch mong muốn thông qua hành động của người khác Nói cách khác, hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý là hoạt động điều khiển con người
“Có một sự khác biệt rất rõ nét giữa quản lý và lãnh đạo, và cả hai đều quan trọng Quản lý nghĩa là dẫn dắt, hoàn thành công việc, chịu trách nhiệm
và tiến hành Lãnh đạo là tạo ảnh hưởng, là dẫn dắt định hướng về cách thức, tiến trình, hành động và quan điểm Sự khác biệt này rất quan trọng” – Theo Warren Bennis [45]
Trong cuốn sách “Chân dung nhà lãnh đạo” (On becoming a Leader), ông mô tả cách nhín nhận của mính về sự khác biệt giữa quản lý và lãnh đạo
như sau: Quản lý điều hành, lãnh đạo đổi mới; Quản lý là bản sao, lãnh đạo
là bản gốc; Quản lý duy trì, lãnh đạo phát triển; Quản lý tập trung vào hệ
thống và cấu trúc, lãnh đạo tập trung vào con người; Quản lý dựa vào sự kiểm soát, lãnh đạo khơi gợi sự tin tưởng; Quản lý chấp nhận thực tế, lãnh đạo điều tra thực tế; Quản lý có tầm nhìn hẹp, lãnh đạo có tầm nhìn rộng; Quản lý
hỏi như thế nào và khi nào, lãnh đạo hỏi cái gì và tại sao; Quản lý tập trung kết quả cuối cùng, lãnh đạo quan tâm tới phạm vi rộng lớn bên ngoài; Quản lý làm theo, lãnh đạo khởi nguồn; Quản lý chấp nhận hiện trạng, lãnh đạo thách thức nó; Quản lý là một chiến sĩ giỏi, lãnh đạo là người của chính
họ; Quản lý làm đúng việc, lãnh đạo làm việc đúng[45]
Trang 36Đây là một danh sách khá tuyệt và luôn khiến ta luôn phải dừng lại suy
ngẫm cách hành xử của mính và tự hỏi “Tôi đang dùng hầu hết thời gian của
mình ở đâu? Làm công việc tay trái hay công việc tay phải?”
Một chuyên gia khác cũng có tầm ảnh hưởng lớn về sự khác biệt giữa quản lý và lãnh đạo là của John Kotter, tác giả của cuốn sách “John P Kotter
về những gí lãnh đạo thực sự làm” (John P Kotter on What Leaders Really Do) Trong cuốn sách này, John đã đưa ra các nhận xét saub [44]:
Nhận xét của John Kotter nhận định“Lãnh đạo và quản lý là hai hệ
thống hành động khác biệt và tương hỗ… Cả hai đều cần thiết cho sự thành công trong môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp và không ổn định” Sự
thật là cả lãnh đạo và quản lý đều quan trọng, chúng là hai hệ thống hành
động khác biệt, đều cần thiết, mỗi bên thực hiện những công việc khác nhau
Về chủ đề này, Jim Estill cũng đưa một câu trìch dẫn hay trên blog của ông - “CEO Blog - Time Leadership”, trìch dẫn từ một bài báo cũ của Abraham Zaleznik trên Harvard Business Review năm 1977, với tên Lãnh đạo – Quản lý [40]:
“Sự khác biệt giữa quản lý và lãnh đạo nằm ở các khái niệm mà họ nắm giữ, sâu trong tinh thần, về sự lộn xộn và tình trật tự Quản lý nắm giữ quy trính, tím kiếm sự ổn định và kiểm soát, và theo bản năng cố gắng giải quyết các vấn đề một cách nhanh chóng – đôi khi trước khi họ hiểu rõ ý nghĩa của một vấn đề Lãnh đạo thí ngược lại, chịu đựng sự lộn xộn và thiếu cấu trúc và sẵn sàng trí hoãn việc kết thúc để thực sự hiểu các vấn đề một cách đầy đủ hơn Lãnh đạo doanh nghiệp có nhiều việc để làm như các nghệ sĩ, nhà khoa học và những người có tư duy sáng tạo khác, hơn cả những gí họ làm với các quản lý Các tổ chức cần cả quản lý và lãnh đạo để thành công, nhưng để doanh nghiệp phát triển thí đòi hỏi cần giảm sự tập trung vào chiến lược, lý luận đồng thời nuôi dưỡng một môi trường cho phép sự sáng tạo và trì tưởng tượng có thể bung nở” [40]
Trang 37Nói tóm lại, có thể hiểu: lãnh đạo là chỉ đường, vạch lối, nhín xa trông rộng, hướng tới mục tiêu cuối cùng, còn quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu đó Lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối, nguyên lý, sách lược, còn quản lý là tổ chức thực hiện Lãnh đạo quan tâm đến những vấn đề chiến lược, những mục tiêu lâu dài, còn quản lý chú trọng những yêu cầu có tình chiến thuật, mục tiêu cụ thể và thường là ngắn hạn Lãnh đạo có thể gắn với các khìa cạnh trừu tượng của cuộc sống, còn quản lý thường phải xử lý những vấn đề rất thực tế Lãnh đạo thuộc lĩnh vực chình trị, người lãnh đạo là nhà chình trị, còn quản lý thuộc lĩnh vực hành chình, người làm quản lý là những “nhà hành chình”
Lãnh đạo dùng biện pháp động viên, thuyết phục, gây ảnh hưởng dựa vào đạo lý là chình, trái lại quản lý phải sử dụng các biện pháp tổ chức chặt chẽ, dựa vào ràng buộc của pháp chế, thể chế Lãnh đạo tác động đến ý thức của con người, còn quản lý sử dụng con người như một nguồn lực, nguồn nhân lực bên cạnh nguồn tài lực và vật lực Lãnh đạo thuộc về phạm trù tư tưởng, lý luận và đạo đức, không có tình cưỡng chế, còn quản lý lại thuộc phạm trù pháp luật, pháp quy, có suy nghĩ cưỡng chế rõ rệt
Trong thực tế, nhất là ở cấp cơ sở, khó tách bạch hai hoạt động này trong con người cán bộ Cán bộ nào cũng đồng thời thực hiện cả vai trò lãnh đạo và vai trò quản lý Ví thế người ta thường gọi chung là hoạt động lãnh đạo, quản lý Tại HVPNVN, sự tham gia lãnh đạo, quản lý được thể hiện qua nhiều khìa cạnh Đối với lãnh đạo được thể hiện qua các yếu tố: Đưa ra phương hướng, kế hoạch lãnh đạo; Truyền đạt ý tưởng về các hoạt động mới; Năng lực đổi mới và sáng tạo trong hoạt động tổ chức; Đưa ra phản hồi kịp thời và
cụ thể về hiệu suất công việc của tổ chức, đảm bảo tổ chức hoạt động đúng kế hoạch đề ra; Xác định rõ ràng đìch đến của đội ngũ và cách đi đến đó; Đối với quản lý được thể hiện qua các yếu tố: Khai phá khả năng của mỗi người
để nâng cao hiệu quả, giải quyết vấn đề, và sắp xếp công việc hợp lì; Liên kết nhân sự để hoàn thành các mục tiêu chung; Thu thập các thông tin từ cấp
Trang 38dưới Phổ biến các thông tin của cấp trên; Đưa ra các quyết định, chịu trách nhiệm về những quyết định đó trước cấp trên và các cộng sự, nhân viên Trong đề này nghiên cứu này, tôi sẽ nghiên cứu về “Sự tham gia của phụ
nữ trong lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam” qua các khìa cạnh được nêu như trên theo các lĩnh vực: công tác chuyên môn; nghiên cứu khoa học; tổ chức đoàn thể, quần chúng Từ đó, nêu lên được những ưu điểm, hạn chế và những yếu tố ảnh hưởng của phụ nữ khi tham gia vào lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam
1.1.5 Khái niệm vai trò
Theo định nghĩa của Dahrendof người ta có thể hiểu vai trò là một tập hợp những kì vọng ở trong một xã hội gắn với hành vi của những người mang các địa vị… Ở mức độ này thì mỗi vai trò riêng là một tổ hợp hoặc nhóm các
kì vọng hành vi (Từ điển Xã hội học, Nhà xuất bản thế giới, 2002)
Cuốn “Xã hội học” (1997) của tác giả Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng
đã đưa ra một đinh nghĩa về vai trò: “Vai trò là tập hợp các mong đợi, các quyền và nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể Những sự mong đợi này xác định các hành vi của con người được xem như là phù hợp, không phù hợp đối với người chiếm giữ một địa vị
Nguyễn Đính Tấn (2000) “Xã hội học trong quản lý” Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Một vai trò nghĩa là tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ và quyền lợi gắn với một vị thế nhất định”
Lý thuyết vai trò nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những vị thế
xã hội hay vị trí xã hội nhất định của cá nhân hay tổ chức trong xã hội và
Trang 39phân tích sự vận hành của những kỳ vọng ấy Như vậy có thể phân ra các loại vai trò (i) vai trò cá nhân, (ii) vai trò tổ chức Trong xã hội mỗi một cá nhân,
tổ chức đều tham gia vào rất nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau tương ứng với mỗi một mối quan hệ đó mỗi cá nhân đều có những vị trí, vị thế xã hội nhất định và sẽ đáp ứng những kỳ vọng của xã hội đối với từng vị trí, vị thế
đó Theo đó lý thuyết vai trò có hai phương diện tiếp cận là bộ phận của một tiếp cận “lý thuyết hành động – tương tác” (thực hiện để đáp ứng các kỳ vọng của xã hội –Linton và Merton) và của một tiếp cận “lý thuyết hệ thống chức năng” (nhu cầu cần thực hiện trong xã hội-Parson) Trong giao diện của cả hai tiếp cận lý thuyết (hay đúng hơn là các phương diện) lý thuyết vai trò có nhiệm vụ như là một quan niệm trung gian” như là lý thuyết tầm trung bình”có chủ đề là các cơ chế trung chuyển giữa các thể và hệ thống [18] Tác giả Ralph Linton định nghĩa vị thế là vị trì đối cực trong khuôn mẫu của hành vi tương tác Mỗi cá nhân có vị thế cụ thể trong từng khuôn mẫu hành vi nhất định (vị thế trừu tượng) và tập hợp các vị thế mà cá nhân nắm giữ trong các mối tương tác xã hội sẽ tạo nên vị thế của họ trong hệ thống xã hội đó (vị thế cụ thể) Vai trò luôn gắn liền với vị trí, vị thế của cá nhân trong đời sống xã hội do vậy các cá nhân sẽ phải thực hiện nhiều vai trò cụ thể tương ứng với những vị thế cụ thể mà người đó chiếm giữ và theo một cách khác vai trò của một người là tổng hợp các vai trò mà người đó thực hiện, nhờ vậy mà vai trò của một người sẽ xác định người đó làm gí cho xã hội và có thể mong chờ gì ở xã hội Đồng thời trong sự vận động biến đổi của xã hội theo Linton có hai loại vị thế đó là vị thế gán cho là những vị thế được giao cho các cá nhân mà không phụ thuộc vào sự nỗ lực của họ và vị thế giành được là những vị thế đòi hỏi những năng lực, phẩm chất và nỗ lực nhất định
để giành lấy trong quá trính tương tác xã hội Tuy nhiên, Linton chưa nhấn mạnh đến khả năng cá nhân nỗ lực giành lấy những vị thế xã hội trong xã hội hơn nữa họ có khả năng sáng tạo ra những vị thế mới, vai trò mới cho xã hội, bằng cách đó con người có thể biến đổi các mối tương tác xã hội và toàn bộ
Trang 40cấu trúc xã hội mà họ là thành viên Tiếp sau Linton lý thuyết vai trò được R.Merton bổ sung với quan điểm về tập hợp vai trò và vai trò đa dạng Theo R.Merton một cá nhân trong xã hội tất yếu nắm giữ nhiều vị thế và mỗi một
vị thế không chỉ có có một vai trò kèm theo, mà mỗi một vị thế đòi hỏi không chỉ một vai trò mà hàng loạt vai trò mà ông gọi là vai trò-tập hợp (role-set) R.Merton phân biệt vai trò-tập hợp với các vai trò đa dạng: một loạt các vai trò của các vị thế xã hội khác nhau là các vai trò đa dạng vai trò
đa dạng tương ứng với từng vị thế Trong khi đó, vai trò-tập hợp là tập hợp các vai trò gắn với một vị thế xã hội nhất định chứ không phải với nhiều vị thế xã hội [18]
Talcott Parsons đã phác hoạ và kiểm chứng về cấu trúc vai trò qua phân tìch trường hợp thực hành y tế Parson cho rằng vị trí, vị thế và vai trò như hai thành tố trong hệ thống xã hội Vị trí, vị thế là phương diện “tĩnh” mà mỗi cá nhân xác định vị trí của mình trong mối liên hệ với các nhân vật khác trong hệ thống xã hội Vai trò xã hội là phương diện “động” khi đó các cá nhân, tổ chức thực hiện những kỳ vọng xã hội đòi hỏi trong mối liên hệ với các hệ thống khác trong xã hội Khi các tiểu hệ thống thực hiện các chức năng của mình sẽ tạo nên sự ổn định trong toàn bộ hệ thống xã hội Như vậy theo Parsons vị thế và vai trò là hai mặt của một quá trình luôn luôn gắn chặt với nhau Trong hệ thống các cá nhân vừa là chủ thể của sự định hướng (vị thế - thực hiện vai trò) vừa là đối tượng được định hướng (sự mong đợi đối với vị thế) từ người khác trong hệ thống các mối quan hệ xã hội Như vậy vị thế thế
và vai trò không phải là thuộc tính của hệ thống xã hội mà là hai mặt của mỗi một đơn vị của hệ thống xã hội (units of social system) [18]
Như vậy cách giải thích cấu trúc về vai trò nhóm tím cách xác định một
vị thế của các nhân trong xã hội và những khuôn mẫu hành vi gắn với vị thế
đó Mỗi một vai trò lại gắn với một nhóm đối tác khác nhau, và mỗi nhóm đó lại có một hệ các kỳ vọng riêng của họ Tổng các kỳ vọng của những đối tác