ĐNA không chỉ là nơi Mỹ có quan hệ đồng minh truyền thống với nhiều nước ASEAN như Philippines và Thái Lan, có quan hệ khá tin cậy và chặt chẽ với Singapore và quan hệ toàn diện với Mala
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM HOÀNG TÚ LINH
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á CỦA CHÍNH QUYỀN TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (2009 - 2016)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐÔNG NAM Á HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM HOÀNG TÚ LINH
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á CỦA CHÍNH QUYỀN TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (2009 - 2016)
Chuyên ngành: Đông Nam Á học
Mã số: 62 31 50 10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐÔNG NAM Á HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS TS Phạm Quang Minh
Hà Nội - 2016
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận án là trung thực, khách quan Những kết quả nghiên cứu của Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong Luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ, hướng dẫn thực nghiệm khoa học của Luận
án đã được các tác giả và các cơ sở giáo dục đồng ý cho phép
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2016 Tác giả Luận án
Phạm Hoàng Tú Linh
Trang 4Để hoàn thành được Luận án “Chính sách đối với Đông Nam Á của Chính quyền Tổng thống Barack Obama”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rất
nhiều Thầy/Cô Những dòng đầu của Luận án, tôi xin dành để bày tỏ lòng biết
ơn của mình
Lời đầu tiên tôi xin chân thành cám ơn Thầy giáo, PGS TS Phạm Quang Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học KHXH & NV - ĐHQGHN đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành Luận án này
Xin được gửi lời cám ơn đến Thầy giáo, TS Đỗ Sơn Hải, Trưởng Khoa chính trị quốc tế, Học viện Ngoại giao; Cô giáo PGS TS Nguyễn Thu Mỹ, Nguyên Viện phó Viện nghiên cứu Đông Nam Á và tất các các thầy cô giáo trong Khoa Đông Phương học, Trường Đại học KHXH&NV - ĐHQGHN đã giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức nền tảng cơ bản cũng như nâng cao cho tôi trong suốt ba năm học vừa qua, giúp tôi có cơ sở vững chắc để thực hiện Luận án này
Xin gửi lời cảm ơn đến các cô thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Thư viện Học viện Ngoại giao đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc tìm kiếm nguồn tài liệu quý giá Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện Luận án của mình
Tác giả Luận án
Phạm Hoàng Tú Linh
Trang 5TRANG BÌA…….……… ……… … ……….………… 1
LỜI CAM ĐOAN……… ……….……… 3
LỜI CẢM ƠN……… ……… ……….……… 4
MỤC LỤC…….……… ……… … ……….……… 5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……….……… ……….………….………… 7
DANH MỤC BẢNG……… ………… … ……….………… 10
MỞ ĐẦU……….……… ……… ……….……… 11
1 Tính cấp thiết của đề tài……… ……… ……….……… 11
2 Mục tiêu nghiên cứu……… ……… ……….……… 13
3 Nhiệm vụ nghiên cứu……… ……… ……….……… 13
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… ……… ……….……… 14
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu……… ……… ……….……… 14
6 Đóng góp mới của Luận án……… ……… ……….……… 15
7 Bố cục của Luận án……… ……… ……….……… 16
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á CỦA CHÍNH QUYỀN TỔNG THỐNG B OBAMA 17 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… …… ………….…… … 17
1.1.1 Ở nước ngoài……… …… ………….…… … 17
1.1.2 Ở trong nước……… …… ………….…… … 23
1.2 Một số nhận xét về tình hình nghiên cứu đề tài ……… 26
1.2.1 Những vấn đề khoa học đã được giải quyết… ……… ……… ……… … ……… 26
1.2.2 Những vấn đề mới liên quan tới luận án sẽ được tập trung nghiên cứu… … ……… 27
Tiểu kết Chương 1………….…… … ……… ……… ……… … ……… 30
Chương 2: CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á CỦA CHÍNH QUYỀN TỔNG THỐNG B OBAMA 31 2.1 Cơ sở lý luận ……… …… ………….…… … 31
2.1.1 Học thuyết đối ngoại mới của B Obama ………… ……… 31
2.1.2 Điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời B Obama……… ……… 40
2.1.3 Chính sách xoay trục về châu Á của chính quyền B Obama……… 43
2.2 Cơ sở thực tiễn ………….…… … ……… ……… ……… … ……… 53
2.2.1 Tầm quan trọng của Đông Nam Á trong chính sách xoay trục của Mỹ ……… 53
2.2.2 Tình hình Đông Nam Á cuối thập niên thứ nhất thế kỷ XXI……… 54
2.2.3 Sự bất cập của chính sách Đông Nam Á của Mỹ trước 2009……… 60
Tiểu kết Chương 2………….…… … ……… ……… ……… … ……… 62
Trang 63.1 Nội dung chính sách Đông Nam Á của chính quyền Tổng thống B Obama …… 63
3.1.1 Mục tiêu của chính sách Đông Nam Á ……….………… 63
3.1.2 Giải pháp triển khai thực hiện chính sách Đông Nam Á ……….……… 64
3.2 Các hướng triển khai chính sách ……….……… … ………. 71
3.2.1 Đẩy mạnh hợp tác toàn diện với ASEAN ……….……… 71
3.2.2 Thúc đẩy quan hệ với các quốc gia Đông Nam Á… 82
3.2.3 Can dự vào vấn đề Biển Đông ……… … ……… 91
3.2.4 Đối phó với một Trung Quốc đang “trỗi dậy” ……… … ………
95 3.2.5 Lôi kéo các nước ASEAN tham gia TPP ……… … ………
96 Tiểu kết Chương 3………….…… … ……… ……… ……… … ……… 99
Chương 4: NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á CỦA CHÍNH QUYỀN B OBAMA 100 4.1 Đánh giá chính sách Đông Nam Á của chính quyền Tổng thống B Obama 100 4.1.1 Một số đặc trưng cơ bản trong chính sách Đông Nam Á của chính quyền Tổng thống B Obama.……… ……….…… … ……… ……… ……… … ……… 100
4.1.2 So sánh chính sách của chính quyền B Obama với G W Bush……… 104
4.2 Thành tựu và hạn chế trong chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á ……… 107
4.2.1 Thành tựu của chính sách đối với Đông Nam Á dưới thời Tổng thống B Obama 107 4.2.2 Hạn chế của chính sách đối với Đông Nam Á dưới thời Tổng thống B Obama 112
4.3 Tác động của chính sách Đông Nam Á dưới chính quyền Tổng thống B Obama 114 4.3.1 Đối với Mỹ………….…… … ……… ……… ……… … ……… 114
4.3.2 Đối với ASEAN………….…… … ……… ……… ……… … ……… 116
4.3.3 Đối với quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á……… … ……… 119
4.3.4 Đối với Việt Nam ……….…… … ……… ……… ……… … ……… 125
4.4 Triển vọng của chính sách Đông Nam Á của Mỹ hậu Obama……… 135
4.4.1 Cơ hội của chính sách đối với Đông Nam Á thời hậu Obama ……….………… 135
4.4.2 Thách thức của chính sách Đông Nam Á thời hậu Obama ………….…… … ……… …
137 4.4.3 Các kịch bản về chính sách Đông Nam Á thời hậu Obama………
141 Tiểu kết Chương 4……….…… … ……… ……… ……… … ……… 144
KẾT LUẬN ……….……… ……… 145
CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN……….………… 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….……….……….……… 153
PHỤ LỤC……….……….………. 160
Trang 7Chữ viết tắt
Tiếng Việt
Tiếng Việt
CA-TBD Châu Á - Thái Bình Dương
CHDCNH Cộng hòa dân chủ nhân dân
Tiếng Anh Tiếng Việt
AC Asean Community Cộng đồng ASEAN
Australia, New Zealand, United States Security Treaty
Khối hiệp ước quân sự Úc New Zealand - Mỹ
-APEC
Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn Khu vực ASEAN
ASEAN
Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
ASEAN+1 ASEAN and China ASEAN + Trung Quốc
ASEAN+3
ASEAN and Japan, Korea and China
ASEAN + Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc
BIT
Bilateral Investment Agreement
Hiệp định đầu tư song phương
BTA
Bilateral Trade Agreement Hiệp định thương mại song
phương
Trang 8hóa mới phát triển COC Code of Conduct in the
South China Sea
Quy tắc Ứng xử của các bên
ở Biển Đông CSIS
Center for Strategic and International Studies
Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược quốc tế
DOC Declaration of Conduct in
the South China Sea
Tuyên bố Ứng xử của các bên ở Biển Đông
EAS East Asia Summit Hội nghị cấp cao Đông Á
EU European Union Liên minh Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FMF
Foreign Military Finance Chương trình tài chính quân
sự nước ngoài FTA Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại tự do
GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc dân
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
GSP
General System of Preferences
Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập
IMET
International Military Education and Training
Chương trình giáo dục và đào tạo quân sự quốc tế IMF
International Moneytary Fund
Quỹ Tiền tệ quốc tế
ITAR
International Traffic in Arms Regulation
Quy định về buôn bán vũ khí quốc tế
IS Islamic State Nhà nước Hồi giáo
LMI
Lower Mekong Initiative Sáng kiến hợp tác hạ nguồn
sông Mê kông MRC
Nước Công nghiệp mới
Trang 9OHDACA
Civic Aid appropriation
họa nhân đạo và viện trợ
Sáng kiến an ninh chống phổ biến
RCEP
Regional Comprehensive Economic Partnership
Cơ chế đối tác kinh tế toàn diện khu vực
TAC
Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia
Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác khu vực Đông Nam Á
TIFA
Trade Investment Framework Agreement
Hiệp định khung về Thương mại và đầu tư
TPP
Trans-Pacific Parternship Agreement
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
United Nations Convention
on the Law of the Sea
Công ước của Liên hợp quốc
về Luật biển USAID
United States Agency for International Development
Cơ quan phát triển quốc tế
Mỹ USD United States dollar Đồng đô la Mỹ
WTO
World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế
giới
Trang 10DANH MỤC BẢNG
1 Hình 2.1 Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Hoa Kỳ 35
3 Bảng 4.1 Quan hệ đối tác kinh tế của Mỹ với ASEAN 110
Trang 111 Tính cấp thiết của đề tài
Là siêu cường duy nhất còn lại sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ muốn nhấn mạnh vị thế lãnh đạo toàn cầu Có thể nói, sau sự kiện 11/09/2001, Mỹ đã điều chỉnh chiến lược toàn cầu, chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực CA - TBD ĐNA là khu vực có vị trí địa chiến lược quan trọng trong bàn cờ chính trị quốc tế, và là một mắt xích trung tâm trong chiến lược CA - TBD của Mỹ, nên khu vực này cũng nằm trong phạm vi điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ Tuy nhiên, sự sa lầy của Mỹ ở Iraq và Afghanistan trong cuộc chiến chống khủng bố đã làm “xao nhãng” phần nào sự chú ý của Mỹ đối với ĐNA Sau khi trở thành Tổng thống thứ 44 của nước Mỹ vào ngày 20/01/2009, CQ
TT B Obama đã thực hiện chiến lược “tái cân bằng” hay còn gọi là chiến lược “xoay trục châu Á” với trọng tâm là khu vực ĐNA nhằm gia tăng sự can dự nhiều hơn của
Mỹ vào khu vực này, đảm bảo những lợi ích chiến lược của Mỹ nơi đây, đồng thời duy trì ảnh hưởng vốn có của họ trước sức ép cạnh tranh từ phía Trung Quốc
Quan tâm đến ĐNA, CQ TT B Obama coi trọng những lợi ích cốt lõi của khu vực này Trước hết là lợi ích kinh tế, ĐNA nổi lên là khu vực có tốc độ phát triển kinh tế năng động bậc nhất thế giới với mức trung bình 4,6% (2015) và 5,2% (2016), quốc gia tăng trưởng đứng đầu là Singapore và Philippines [29, tr.59-63] Cùng với nền văn hóa đa dạng giàu bản sắc, dân số trẻ và đông 625 triệu người (2015) [23, tr.29], giàu tài nguyên thiên nhiên, có vị trí địa chiến lược quan trọng trong bàn cờ địa chính trị khu vực nói riêng
và quốc tế nói chung Những yếu tố này đã giúp cho ĐNA trở thành điểm hội tụ và là nơi tranh giành của các cường quốc khu vực và trên thế giới như EU, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Anh Họ đều có những điều chỉnh chiến lược, nhằm tăng cường ảnh hưởng, bảo vệ lợi ích của mình ở ĐNA Điều này đã trở thành nguy cơ đe dọa đến vị thế số một của Mỹ tại khu vực trong bối cảnh trung tâm quyền lực của thế giới đang dần dịch chuyển từ khu vực châu Âu - Đại Tây Dương sang CA - TBD và Đông Á trong thế kỷ XXI
Về lợi ích chiến lược, khu vực ĐNA lại càng trở nên quan trọng đối với các lợi ích chiến lược của Mỹ ĐNA không chỉ là nơi Mỹ có quan hệ đồng minh truyền thống với nhiều nước ASEAN như Philippines và Thái Lan, có quan hệ khá tin cậy và chặt chẽ với Singapore và quan hệ toàn diện với Malaysia, Indonesia và Việt Nam mà còn
là khu vực địa chiến lược, có khả năng duy trì và kết nối các quan hệ kinh tế quốc tế, đồng minh của Mỹ từ Đông Bắc Á đến ĐNA, tạo cho Mỹ thế gọng kìm, kiểm soát địa chính trị Đông Á - CA-TBD Những lợi ích cũng như sự ràng buộc lẫn nhau giữa Mỹ với các quốc gia trong khu vực ĐNA, khó có thể làm Mỹ “xao nhãng” khu vực này
Trang 12Andaman cả về địa kinh tế và chiến lược an ninh quốc phòng
Trong lợi ích an ninh quân sự, Biển Đông là một mắt xích trọng yếu trong hệ thống quân sự ven biển của Mỹ ở châu Á, chạy dài từ vịnh Persic đến bán đảo Triều Tiên, là nơi hỗ trợ đắc lực cho việc duy trì “vành đai sắt” khống chế Trung Quốc ở phía Đông cũng như duy trì quan hệ đồng minh chiến lược của Mỹ ở khu vực ĐNA Điều quan trọng hơn cả là sự nổi lên nhanh chóng của Trung Quốc và hành động quyết đoán của họ trong các vấn đề khu vực và thế giới, mà điển hình là vấn đề Biển Đông, biển Hoa Đông cũng như những ảnh hưởng kinh tế, chính trị tăng nhanh của Trung Quốc ở ĐNA, nhất là các nước ĐNA lục địa và sự hình thành các cơ chế hợp tác, liên kết Đông Á không có Mỹ tham gia như ASEAN+3, Hợp tác Đông Bắc Á, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) trong đó có vai trò nổi trội của Trung Quốc, điều này tạo ra thách thức lớn đối với việc duy trì lợi ích chiến lược, lợi ích kinh tế và lợi ích giá trị của Mỹ ở khu vực CA - TBD mà trước hết là ĐNA Chính
vì vậy, CQ TT B Obama đã thực hiện chính sách “xoay trục châu Á” với trọng tâm là khu vực ĐNA nhằm đảm bảo những lợi ích của Mỹ nơi đây và góp phần kiềm chế sự hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông
Với việc gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc tại ĐNA, CQ TT B Obama càng phải tính đến vai trò “lãnh đạo” của mình tại đây Mỹ cho rằng, một chiến lược tổng thể đối với châu Á là không đầy đủ nếu không có một chính sách bền vững và rõ ràng đối với khu vực ĐNA, đặc biệt là ASEAN Hiệp hội các quốc gia ĐNA (ASEAN) là một tổ chức bao gồm nhiều quốc gia quan trọng của CA - TBD để ý tới và cạnh tranh với nhau, và Mỹ không thể nhường lại hoặc coi nhẹ những lợi ích cơ bản của mình tại khu vực có tính chất chiến lược này
Xuất phát từ tầm quan trọng của ĐNA đối với toàn bộ nền kinh tế Mỹ và sự ổn định trong khu vực cũng như chiến lược an ninh toàn cầu của Mỹ CQ TT B Obama
có nhiều mối quan tâm lớn tại khu vực ĐNA và ông sẽ tìm kiếm những biện pháp tối
ưu để can dự sâu hơn vào khu vực này CQ TT B Obama quan tâm đến ĐNA hơn rất nhiều so với các chính quyền trước và có cách tiếp cận mang tính đa chiều, xuất phát không chỉ từ lợi ích truyền thống về dân chủ, nhân quyền, mà còn cả về địa chiến lược, địa chính trị và địa kinh tế Vì lẽ đó, ĐNA đã trở thành mảnh đất thử nghiệm tốt cho chính sách “sức mạnh thông minh” [108, tr 67-69]
Chiến lược quay trở lại ĐNA của CQ TT B Obama diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc đang có các hành động căng thẳng thông qua việc đòi hỏi chủ quyền phi
lý và có các hành động bành trướng đơn phương trên Biển Đông bằng việc đưa ra yêu
Trang 13sách: đường lưỡi bò (nhằm kiểm soát 85% vùng biển này vào ngày 8/5/2009), coi Biển Đông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc (2010), thành lập thành phố Tam Sa (7/2012) Điều này đã góp phần làm cho tình hình chính trị, an ninh ở ĐNA và khu vực Biển Đông ngày càng trở nên phức tạp và làm căng thẳng quan hệ giữa Trung Quốc với Mỹ
ở khu vực này trong thời gian tới Chiến lược trở lại CA - TBD mà khu vực ĐNA là
“trọng tâm” của Mỹ cũng đã tác động trực tiếp đến Việt Nam Bởi sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (28/7/1995), quan hệ Việt - Mỹ có những bước phát triển mạnh mẽ trên các lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học
kỹ thuật Đặc biệt, sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang tới
Mỹ (7/2013), chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (7/2015), và chuyến thăm của Tổng thống B Obama đến Việt Nam vào ngày 23/5/2016 gần đây với hy vọng quan hệ giữa hai nước sẽ nâng lên tầm “đối tác, hợp tác toàn diện”
Với những lý do đó, tác giả cho rằng đề tài “Chính sách đối với Đông Nam Á của chính quyền Barack Obama (2009 - 2016)” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp
thiết Việc nghiên cứu chính sách này trong 2 nhiệm kỳ của CQ TT B Obama có tính thời sự cao, giúp cho giới lãnh đạo, các nhà chính trị, các học giả và người dân Việt Nam, các nước ĐNA có những nhận thức sâu sắc về chiến lược đối ngoại của vị tổng thống thứ 44 của nước Mỹ đối với khu vực, góp phần tạo nên những luận chứng, cơ sở khoa học và thực tiễn vào việc hoạch định, thực thi chính sách đối ngoại của các quốc gia ĐNA và Việt Nam với Mỹ siêu cường số một thế giới, đối tác chính trị, an ninh, quân sự, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật hàng đầu của khu vực trong thế kỷ XXI
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở những phân tích về lý luận và thực tiễn chính sách đối với ĐNA của
CQ TT B Obama, Luận án làm rõ đặc trưng cơ bản và nội dung quá trình triển khai chính sách Luận án còn đánh giá những tác động của chính sách đối với Mỹ, ASEAN
và Việt Nam; từ đó đưa ra một số dự báo về chính sách ĐNA của Mỹ trong tương lai
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu của Luận án là:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn chính sách ĐNA của CQ TT B Obama
- Phân tích mục tiêu, những nội dung chính, biện pháp và tình hình triển khai chính sách ĐNA của CQ TT B Obama
- Đánh giá chính sách đối với ĐNA của CQ TT B Obama và dự báo khả năng điều chỉnh chính sách của Mỹ thời hậu Obama
- Làm rõ những tác động của chính sách này đối với Việt Nam và khuyến nghị chính sách
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu chính sách ĐNA của Mỹ trong thời gian Tổng thống Barack Obama nắm quyền lãnh đạo nước Mỹ (2009 - 2016)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: khu vực CA - TBD nói chung với trọng tâm là khu vực ĐNA
- Về thời gian: nghiên cứu chính sách ĐNA của CQ TT B Obama trong giai đoạn từ đầu năm 2009 đến 2016
- Nội dung: tập trung phân tích chính sách ĐNA của CQ TT B Obama và các hướng triển khai chính sách trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh - quân sự, đồng thời phân tích tác động chính sách đối với Mỹ, ASEAN và Việt Nam và quan hệ Mỹ - Việt trong một số lĩnh vực chủ yếu
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Mỹ trong việc hoạch định chính sách đối với khu vực ĐNA và Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu quốc tế: Đây là phương pháp chủ đạo mà luận án sử
dụng; theo đó, tác giả đặt chính sách đối ngoại của Mỹ trong bối cảnh chung của tình hình thế giới, những xu thế chung của quan hệ quốc tế, từ đó phân tích các nhân tố tác động vào việc hoạch định chính sách ĐNA của CQ TT B Obama (2009 - 2016)
- Phương pháp nghiên cứu kết hợp lịch sử với logic: Vận dụng quan điểm lịch
sử để nêu rõ tính kế thừa, đồng thời làm nổi bật những điều chỉnh trong quan điểm chính sách đối ngoại của Mỹ đối với các quốc gia ĐNA Mặt khác, nghiên cứu quá trình hoạch định chính sách của CQ TT B Obama đối với ĐNA được đặt trong bối cảnh lịch sử từ năm 2009 trở lại đây
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Qua đó đem lại sự hiểu biết về hệ thống
các quan điểm, các khái niệm trong nhận định tình hình thế giới và khu vực, hệ thống hóa về đường lối chính sách ĐNA của Mỹ, đồng thời phân tích chính sách của CQ TT
B Obama đối với các quốc gia ĐNA trên một số lĩnh vực
- Phương pháp dự báo: Nêu lên xu thế phát triển của tình hình thế giới trong
những năm tới dựa trên những dữ liệu đáng tin cậy, từ đó đưa ra những đánh giá, dự
Trang 15báo và triển vọng của việc hoạch định chính sách ĐNA của Mỹ trong tương lai Đồng thời, luận án đưa ra những khuyến nghị và những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
- Phương pháp thống kê và so sánh: tác giả đã sử dụng phương pháp này để
tổng hợp, phân tích số liệu xuất nhập khẩu từ Mỹ sang các nước trong khu vực ĐNA
và các đối tác khác ở Bảng 4.1
Trong đó, phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng, tiếp cận và giải quyết các vấn đề là phương pháp tiếp cận về đất nước học, khu vực học và phương pháp phân tích chính sách của ngành khoa học chính trị Bên cạnh đó, tác giả phân tích các tài liệu gốc như Chiến lược an ninh quốc gia, Thông điệp Liên bang dưới thời CQ TT B Obama qua lăng kính của các trường phái lý luận trong quan hệ quốc tế
6.2 Đóng góp mới về khoa học của Luận án
- Trên cơ sở phân tích hệ thống chính sách ĐNA của Mỹ, Luận án góp phần luận giải một cách khoa học và làm rõ bản chất chính sách ĐNA của CQ TT B Obama trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa-giáo dục
- Luận án cung cấp thêm cơ sở khoa học đối với việc đánh giá sự chuyển dịch trọng tâm chiến lược mới của Mỹ, chiều hướng chiến lược của Mỹ và tác động đối với khu vực CA - TBD nói chung và Việt Nam nói riêng
- Trên cơ sở làm rõ chuyển biến trong tập hợp lực lượng giữa các trung tâm quyền lực lớn trên thế giới, Luận án phân tích thời cơ và thách thức đối với các quốc gia ĐNA, trong đó có Việt Nam và đưa ra những kiến nghị chính sách đối với Việt Nam trong quan hệ với Mỹ và các đối tác lớn khác; làm rõ vai trò, vị trí của Việt Nam trong chính sách ĐNA của Mỹ hiện nay
- Luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống
và toàn diện về cơ sở hình thành mục tiêu, nội dung và các hướng triển khai chính sách của chính quyền B Obama đối với ĐNA và có những đánh giá hệ quả, các tác động của chúng Đồng thời, Luận án đưa ra một vài gợi ý cho Việt Nam trong quan hệ ứng
xử với Mỹ và các bên liên quan
Trang 16Chương 3 Nội dung và các hướng triển khai chính sách đối với Đông Nam
Á của Chính quyền Tổng thống B Obama;
Chương 4 Nhận xét và đánh giá chính sách đối với Đông Nam Á của Chính quyền Tổng thống B Obama
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á CỦA CHÍNH QUYỀN TỔNG THỐNG B OBAMA
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tổng thống da màu đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ sau khi lên cầm quyền (2009 - 2016) đã đưa ra một chính sách đối với CA - TBD mà trọng tâm là khu vực ĐNA với tên gọi “xoay trục” (pivoting) Đây là một trong những đề tài cấp thiết, được giới nghiên cứu quan hệ quốc tế và các nhà hoạch định chính sách trên thế giới rất chú
ý quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau
1.1.1 Ở nước ngoài
Trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ, có rất nhiều công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại trong các thời kỳ lịch sử, trong đó bao gồm cả chính sách của Mỹ đối với CA - TBD nói chung và ĐNA nói riêng
Theo GS Joseph Nye của Đại học Havard, từng là Trợ lý Bộ trưởng Quốc
phòng Mỹ và là tác giả cuốn sách The future of power (Tương lai quyền lực) đã nhận định: “Ngay từ năm 1750, CA - TBD đã chiếm 3/5 dân số thế giới và 3/5 GDP toàn cầu và đến năm 2050 châu lục này sẽ trở lại về với địa vị vốn có của nó cách đây 300 năm” [113, tr 19-27] Trong tác phẩm của mình, Joseph Nye đã nhấn mạnh tầm quan
trọng cũng như lợi ích của Mỹ gắn bó chặt chẽ với khu vực CA - TBD Mỹ là một quốc gia Thái Bình Dương nên sự hiện diện của Mỹ ở khu vực này là hợp logic và Tổng thống B Obama đang dốc toàn lực để đảm bảo và duy trì sự lãnh đạo đối với khu vực này và toàn thế giới Tuy nhiên, Nye chưa đi sâu phân tích những lợi ích cốt lõi của Mỹ ở khu vực này
Ngoại trưởng Hillary Clinton đã hai lần khẳng định vị thế của khu vực CA
-TBD đối với lợi ích quốc gia của Mỹ trong bài phát biểu “America’s Pacific Century” (Thế kỷ Thái Bình Dương) tại Trung tâm Đông Tây, Hawaii ngày 10/11/2011 và dự báo: “Tương lai của Mỹ gắn kết chặt chẽ với tương lai của CA - TBD”, “châu Á rất quan trọng đối với tương lai của nước Mỹ, sự tham dự của Mỹ là cần thiết đối với tương lai của châu Á Khu vực này mong muốn chúng ta tham gia lãnh đạo và cùng kinh doanh”[99, tr 19-20] Bài viết này được coi là tuyên ngôn cho chính sách quay
trở lại ĐNA của CQ TT B Obama
Nghiên cứu chính sách đối ngoại của Mỹ đã có nhiều công trình khoa học, sách
tham khảo tiêu biểu có những cuốn có tính chất kinh điển như Diplomacy (Chính sách ngoại giao) của Henry Kissinger do Nxb Simon & Schuster phát hành năm 1994; Does America Need a Foreign Policy? Toward a Diplomacy for the 21 century (Liệu
Mỹ có cần một chính sách đối ngoại? Hướng tới một nền ngoại giao cho thế kỷ 21)
Trang 18của Henry Kissinger do Nhà xuất bản Simon & Schuster phát hành năm 2002; Grand chessboard (Bàn cờ lớn) của Zbigniew Brzezinski do Nxb Basic Books phát hành năm
1997 Đây đều là những cuốn sách tiêu biểu nhất, thể hiện tư duy hiện thực của những
nhà hoạch định chính sách đối ngoại Hoa Kỳ Trong cuốn Does America Need a Foreign Policy? Toward a Diplomacy for the 21 century của Henry Kissinger, nguyên
cố vấn an ninh quốc gia và Bộ trưởng Bộ ngoại giao dưới thời Nixon và Ford, đã phác họa một bức tranh đầy tính hiện thực về những cơ hội và thách thức đối với nước Mỹ trong một thế giới với những thay đổi hết sức sâu sắc do tác động hai mặt của toàn cầu hóa Đi theo quan điểm của chủ nghĩa hiện thực, Kissinger nhấn mạnh những khái niệm cốt lõi như lợi ích quốc gia, cân bằng chiến lược trong quan hệ quốc tế Kissinger cho rằng mặc dù Mỹ có những ưu thế vượt trội về sức mạnh kinh tế, quân sự nhưng nước này cũng cần có một chiến lược dài hạn trong một thế giới đang biến chuyển nhanh chóng Với tư tưởng hiện thực, cân bằng chiến lược của Kissinger thể hiện trong chiến lược củng cố liên minh với các đồng minh và đối tác chiến lược tại CA - TBD
Đặc biệt, trong cuốn sách American Foreign Policy: The Dynamics of Choice in the 21st Century (Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ: Động cơ của sự lựa chọn trong thế kỷ XXI) do Bruce W Jentleson chủ biên xuất bản năm 2000, đây là công trình
nghiên cứu sâu sắc về nước Mỹ và về các chính sách; các quan hệ đối ngoại của Mỹ với các quốc gia, khu vực trên thế giới Tuy nhiên, cuốn sách này chỉ tập trung phân tích chính sách đối ngoại của Mỹ thời kỳ của Tổng thống Bill Clinton trở về trước Nghiên cứu công trình này, tác giả có cái nhìn đối sánh về chính sách đối ngoại của
Mỹ từ các đời Tổng thống trước cho đến nay
Một trong những cuốn sách bàn về thế và lực, chính sách đối ngoại của CQ TT
B Obama là tác phẩm của học giả James Mann, với nhan đề The Obamians: The Struggle Inside the White House to Redefine American Power (Chính quyền Obama: Cuộc chiến bên trong Nhà Trắng để xác định lại sức mạnh Mỹ) xuất bản ngày
14/7/2012 Mann phân tích việc Obama chủ trương từ bỏ cách tiếp cận đơn phương của CQ TT G W Bush, đề cao tính đa phương và hòa giải trong giải quyết các vấn đề quốc tế Mỹ sẽ từ bỏ cách thức tập hợp lực lượng theo tiêu chí đi với Mỹ hoặc chống lại Mỹ mà CQ TT G.W Bush đã áp dụng một thời gian dài sau vụ khủng bố 11/9/2001, đồng thời sẽ thúc đẩy quan hệ với tất cả các nước, thậm chí cả với các nước trước đây
có bất đồng với Mỹ Một nhà nghiên cứu người Đức đã nhận định “Cuốn sách là một bức chân dung về chính sách đối ngoại của Tổng thống B Obama” [114, tr.27-28]
Trang 19Trong cuốn sách Barack Obama's Foreign Policy (Chính sách đối ngoại của Barack Obama) của các tác giả Martin S Indyk, Kenneth G Lieberthal và Michael E
O'Hanlon do Nxb Bending History phát hành vào ngày 3/2/2012, các tác giả đã đưa ra những nhận định quan trọng về chính sách đối ngoại của CQ TT B Obama trong nhiệm kỳ đầu Các tác giả đã phân tích chiến lược đối ngoại Mỹ là: (i) Bảo vệ an ninh cho dân tộc, đất nước và đồng minh; (ii) Thúc đẩy phát triển kinh tế và chia sẻ sự phồn vinh ở trong nước cũng như ở nước ngoài; (iii) Tăng cường vị trí của Mỹ trong sự lãnh đạo toàn cầu bằng việc nêu gương; (iv) Coi trọng hơn vị trí và vai trò của ASEAN về địa chiến lược và tham gia sâu hơn vào các thể chế tại khu vực [117, tr 29-37] Từ đó, đưa ra những lập luận về chính sách đối ngoại Mỹ trong nhiệm kỳ Tổng thống B Obama là khôi phục và củng cố vị trí siêu cường số một thế giới của Mỹ, giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính nhằm phục hồi, phát triển kinh tế và chống khủng
bố Tăng cường vị thế lãnh đạo toàn cầu của Mỹ, đảm bảo thịnh vượng chung, bảo vệ
và thúc đẩy các giá trị Mỹ trên thế giới
Về cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc ở khu vực ĐNA, cuốn sách
Obama and China's Rise: An Insider's Account of America's Asia Strategy (Sự trỗi dậy của Trung Quốc: chiến lược châu Á của Mỹ dưới thời Obama) xuất bản ngày
8/3/2012 Quan hệ Mỹ - Trung Quốc được Jeffrey của học giả Jeffrey A Bader dự báo
là mối quan hệ có ảnh hưởng lớn nhất đến thế giới trong tương lai Theo đánh giá của tác giả trong cuốn sách này, sự trỗi dậy của Trung Quốc đã trở thành thách thức dài hạn đối với Mỹ Trung Quốc trỗi dậy đã đánh dấu sự giảm sút vị trí và ảnh hưởng của
Mỹ ở khu vực ĐNA Phân tích của Jeffrey A Bader khẳng định Trung Quốc đang có ảnh hưởng ngày càng sâu rộng ở khu vực thông qua kênh thương mại và đầu tư Mỹ một cường quốc về kinh tế và quân sự, dưới thời Tổng thống B Obama đã đưa ra tuyên bố chuyển trọng tâm chiến lược về ĐNA Rõ ràng, cạnh tranh giữa hai quốc gia này là không thể tránh khỏi
Năm 2010, trong bản Báo cáo đặc biệt của Hội đồng đối ngoại quốc gia Hoa
Kỳ, nghiên cứu The United States in the New Asia (Hoa Kỳ bên trong một châu Á mới)
của hai tác giả Evan A Feigenbaum và Robert A Manning đã phân tích cấu trúc khu vực châu Á và ý nghĩa của khu vực này đối với Hoa Kỳ Các học giả nhấn mạnh Hoa
Kỳ phải tăng cường tham gia vào việc hình thành các tổ chức châu Á để thúc đẩy chiến lược kinh tế của Hoa Kỳ vì lợi ích và bảo vệ sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Mỹ Đồng thời, các học giả còn đưa ra sáu nguyên tắc về chính sách của Hoa
Kỳ đối với châu Á nói chung và kiến nghị chính sách cụ thể đối với Đông Bắc Á và ĐNA Bản báo cáo có ý nghĩa quan trọng cho việc hình thành chính sách của Hoa Kỳ
Trang 20đối với một khu vực châu Á và hứa hẹn sẽ đóng một vai trò trung tâm trong việc hình thành chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với khu vực châu Á trong thời gian tới
Nghiên cứu của học giả Carmia Colette Carroll với nội dung US - ASEAN relations under the Obama Administration 2009 - 2011 (Quan hệ Mỹ - ASEAN dưới chính quyền Obama 2009-2011) do Nxb Georgetown University, Washington, D.C
xuất bản năm 2012, tác giả đã phân tích những điều chỉnh chiến lược trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống B Obama Nếu như dưới CQ TT G W Bush, quan hệ Mỹ - ASEAN căng thẳng vì tổng thống G.W Bush coi ĐNA như mặt trận thứ hai trong cuộc chiến chống khủng bố sau sự kiện 11/9/2001, thì quan hệ Mỹ - ASEAN được cải thiện hơn dưới thời CQ TT B Obama trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa Với nghiên cứu này, tác giả Carmia đã có một cái nhìn đối sánh trong quan hệ Mỹ - ASEAN dưới thời Tổng thống G W Bush và Tổng thống B Obama
Về quan hệ giữa Mỹ - Malaysia, tác giả Pamela Sodhy, chuyên gia nghiên cứu
châu Á của trường Đại học Georgetown đã viết cuốn sách Malaysia - US Relations
2000 - 2011 (Quan hệ Mỹ - Malaysia từ 2000 - 2011) được Institute of Strategic and
International Studies (ISIS) Malaysia xuất bản năm 2012 Mục đích của cuốn sách này
là phân tích mối quan hệ hiện tại giữa Malaysia, một quốc gia ĐNA và Hoa Kỳ, siêu cường duy nhất của thế giới, để cho thấy rằng không giống như những năm trước đó, quan hệ giữa hai nước đã phát triển thành quan hệ đối tác chiến lược Bên cạnh đó, cuốn sách còn phân tích thách thức mà Malaysia phải đối mặt với những nỗ lực để đạt được mục tiêu trở thành một quốc gia phát triển vào năm 2020 và Hoa Kỳ với những
nỗ lực để vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất từ trước đến nay
Năm 2013, nhóm tác giả Robert G Sutter, Michael E Brown, and Timothy J
A Adamson, Đại học George Washington đã viết cuốn sách Balancing Acts: The U.S Rebalance and Asia - Pacific Stability (Hoa Kỳ thực hiện hành động tái cân bằng tại khu vực CA - TBD) Cuốn chuyên khảo này đã phân tích chính sách “xoay trục” hay
còn gọi là “tái cân bằng” sang khu vực CA - TBD của CQ TT B Obama Đồng thời, phân tích những lý do chiến lược cho sự thay đổi chính sách này, các yếu tố mới cũng như các sáng kiến mới của chính sách Hoa Kỳ đối với khu vực, và triển vọng chính sách của Hoa Kỳ đối với khu vực CA - TBD
Năm 2014, Peter A Petri và Michael G Plummer đã xuất bản cuốn ASEAN Centrality and the ASEAN - US Economic Relationship (Vai trò trung tâm của ASEAN
và quan hệ kinh tế giữa ASEAN - Hoa Kỳ); cuốn sách phân tích với việc đề cao sức
mạnh của ASEAN trên mặt trận kinh tế thông qua Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Mỹ cũng mong muốn tạo lập một ĐNA tự cường, phát huy được lợi thế
Trang 21kinh tế để từ đó củng cố vai trò kinh tế của khu vực trước những cuộc đọ sức quyền lực kinh tế đang dẫn tới bất ổn nghiêm trọng tại CA - TBD và trên quy mô toàn cầu Ngoài Mỹ, một số quốc gia khác trên thế giới đã có các công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách đối với ĐNA của CQ TT B Obama như:
Ở Singapore, tiêu biểu có công trình nghiên cứu Mỹ trở lại châu Á và sự thay đổi của trật tự châu Á của GS Trịnh Vĩnh Niên (Viện Đông Á - Đại học Quốc gia
Singapore) Qua công trình khoa học này, GS Niên đã phân tích sự quay trở lại châu Á của Mỹ trong sự trỗi dậy của Trung Quốc; để từ đó tác giả đi sâu phân tích những thay đổi trong quan hệ Mỹ - Trung, Mỹ và các quốc gia châu Á, cũng như quan hệ giữa Trung Quốc và các quốc gia châu Á Điểm mạnh của công trình này đã phân tích được những thay đổi trong mối quan hệ Mỹ - Trung khi Mỹ thực hiện chiến lược quay trở lại châu Á Điểm yếu của công trình là chưa có những đánh giá cũng như nhìn nhận khách quan trong mối quan hệ Mỹ - Trung, quan hệ quốc tế ở châu Á
Ở Philippines, sự cạnh tranh trong quan hệ Mỹ - Trung ở trên thế giới nói
chung và ĐNA nói riêng không phải là chủ đề mới mẻ, thậm chí đây là một đề tài
“nóng” thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, học giả, tiêu biểu là công
trình The Obama Administration’s Strategic Pivot to Asia: From a Diplomatic to a Strategic Constrainment of an Emergent China? (Chiến lược xoay trục châu Á của CQ
TT B Obama: Từ chiến lược ngoại giao đến kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc)
của tác giả Renato Cruz De Castro, De La Salle University (Philippines) được đăng trên Tạp chí The Korean Journal of Defense Analysis, Vol 25, No 3, September 2013,
pp 331-349 Renato Cruz De Castro đã phân tích chính sách xoay trục hướng về ĐNA của CQ TT Obama đồng thời ngăn chặn và kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực, đe dọa vị thế siêu cường của Mỹ
Ở Trung Quốc, tiêu biểu là cuốn sách Mỹ thay đổi chiến lược toàn cầu của Lý
Thực Cốc, Nxb CTQG Hà Nội 1998, trong đó nêu lên các chiến lược lớn của Mỹ đối với các khu vực trên thế giới; sự tranh giành ảnh hưởng của Mỹ và Liên Xô trước đây
và những dự đoán cho tương lai của Mỹ Bên cạnh đó, còn có các công trình như U.S foreign policy in Southeast Asia under the Obama Administration: Explaining U.S return to Asia and its Strategic Implications (Chính sách đối ngoại ở ĐNA dưới thời
CQ TT B Obama: giải thích sự quay trở lại châu Á của Hoa Kỳ và ảnh hưởng của nó)
của hai tác giả Hung Ming Te & Tony Tai Ting Liu được đăng trên tạp chí Usak Yearbook, Vol.5, 2012, pp 195-225; hai nhà nghiên cứu Trung Quốc này đã phân tích
và đánh giá chính sách đối ngoại của CQ TT B Obama dựa trên sức mạnh thông minh
Trang 22đồng thời so sánh sự khác biệt chính sách giữa hai đời Tổng thống G.W Bush và B Obama để có cái nhìn khái quát về chiến lược đối ngoại của Mỹ tại khu vực ĐNA
Ở Bangladesh, nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Mỹ đóng vai trò quan
trọng giúp nước này đề ra những bước đi đúng đắn trong quan hệ với Mỹ Tiêu biểu có
công trình U.S pivot policy towards Asia - Pacific: Implications for the region and Bangladesh (Chính sách xoay trục của Hoa Kỳ hướng tới CA-TBD: Những ảnh hưởng đối với khu vực và Bangladesh) của học giả Mohammad N Nabi, Department of
International Relations, University of Dhaka, Dhaka-1000, Bangladesh, đăng trên tạp chí J S Asian Stud (03) 2014, pp.203-215 Mohammad N Nabi đã tập trung phân tích chính sách quay trở lại và can thiệp sâu hay còn gọi là chính sách xoay trục vào khu vực CA - TBD của CQ TT B Obama thông qua nhiều biện pháp kinh tế, quân sự nhằm tăng cường sự hiện diện của Mỹ ở khu vực này Từ đó tác giả có những liên hệ với Bangladesh để có những đối sách phù hợp
Ở Campuchia, ngày 19/11/2012, tại Phnom Penh đã diễn ra Hội nghị cấp cao
giữa các nhà lãnh đạo Mỹ và ASEAN lần thứ IV, nội dung của Hội nghị được khái
quát trong công trình nghiên cứu ASEAN - US relations under the Obama Administration (Quan hệ ASEAN - Mỹ dưới chính quyền Obama) của học giả Mao
Tithiarun Dưới thời CQ TT G.W Bush, quan hệ Mỹ ASEAN không mấy phát triển do
Mỹ gần như bỏ quên khu vực ĐNA mà ưu tiên cho khu vực Trung Đông thì đến nay, dưới thời CQ TT B Obama quan hệ Mỹ - ASEAN đã nâng lên tầm đối tác chiến lược
Từ khi lên cầm quyền, Tổng thống B Obama đã có những động thái tích cực nhằm thúc đẩy mối quan hệ Mỹ - ASEAN phát triển Mỹ xem ASEAN là hạt nhân và động lực chủ đạo cho các cơ chế hợp tác đa phương trong khu vực đồng thời tái khẳng định cam kết của Mỹ tăng cường can dự với ĐNA Tuy nhiên, công trình chưa đánh giá những ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các nước ĐNA
Ở Thái Lan, nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Mỹ có ý nghĩa quan trọng
trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của Thái Lan trong bối cảnh mới Tiêu biểu
có công trình nghiên cứu The American foreign policy towards Southeast Asia in the
21 st century: The second front or the containment against China (Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực ĐNA trong thế kỷ 21: Trên mặt trận thứ hai hay việc kiềm chế Trung Quốc) của tác giả Bhanubhatra Jittiang, Chulalongkorn University Ở công trình
này, tác giả tập trung phân tích quan hệ giữa Mỹ - ĐNA trước chiến tranh lạnh, từ đó đưa ra những thách thức và cơ hội của chính sách đối với ĐNA của Mỹ trong thế kỷ
21 Tác giả có đề cập tới chính sách ngăn chặn nhưng chưa phân tích rõ những biện pháp mà Mỹ thực hiện để ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc ở khu vực ĐNA
Trang 23Ở Đài Loan, tiêu là công trình nghiên cứu An Analysis of Obama Administration’s Foreign Policy in Southeast Asia (Phân tích của chính sách đối ngoại của chính quyền Obama ở khu vực ĐNA) của Hung Ming Te và Lee Mei Hsien,
National Chung Hsing University Các tác giả đã phân tích chính sách quay trở lại ĐNA của CQ TT B Obama, những lợi ích mà Mỹ sẽ đạt được khi thực hiện chính sách này Các học giả cũng khẳng định sức mạnh thông minh là cơ sở để Mỹ thực hiện
và lập kế hoạch chiến lược tại ĐNA Những vấn đề toàn cầu, sự trỗi dậy của Trung Quốc, khủng bố và cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ đối với khu vực ĐNA Khi phân tích nguồn gốc của “sức mạnh thông minh”, các học giả chỉ tập trung phân tích lý thuyết “sức mạnh thông minh” của Joseph S.Nye mà không chú ý đến thông điệp “sức mạnh thông minh” mà CQ TT B Obama áp dụng trong chính sách đối ngoại được đưa ra trong bài phát biểu của Ngoại trưởng Hillary
Clinton “Thế kỷ Thái Bình Dương” (America’s Pacific Century) tại Trung tâm Đông
Tây, Hawaii vào ngày 10/11/2011
1.1.2 Ở trong nước
Đối với Việt Nam, việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Mỹ là nhiệm vụ hết sức cấp thiết bởi nó liên quan đến khả năng hoàn thành các mục tiêu được Đảng và Chính phủ đặt ra trong Cương lĩnh phát triển kinh tế, xã hội trong giai đoạn 2010 -
2020 Ở nước ta, có thể chia các công trình nghiên cứu theo 3 nhóm sau:
Nhóm thứ nhất: Bao gồm các công trình nghiên cứu có giá trị về chiến lược đối ngoại của Mỹ như Nguyễn Thái Yên Hương (2008), Hoa Kỳ Văn hóa và Chính sách đối ngoại, Nxb Thế giới, Hà Nội; Nguyễn Thái Yên Hương, Tạ Minh Tuấn (đồng chủ biên) (2011), Các vấn đề nghiên cứu về Hoa Kỳ, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Hai
công trình này nghiên cứu về Hoa Kỳ trên các lĩnh vực: lịch sử, văn hóa, xã hội, kinh tế; đặc biệt là hệ thống chính trị, pháp luật và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ Lê Bá
Thuyên (1997), Hoa Kỳ cam kết và mở rộng, Nxb KHXH, Hà Nội Trong cuốn sách,
TS Lê Bá Thuyên đã phác họa những nội dung chính trong ba trụ cột chủ yếu trong chiến lược an ninh quốc gia “Can dự và mở rộng” là: an ninh kinh tế, an ninh quân sự
và thúc đẩy dân chủ, nhân quyền Ngoài ra, việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của
Mỹ còn được đi sâu phân tích trong các lĩnh vực an ninh, kinh tế như Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004 của Lê Linh Lan (chủ biên); Nguyễn Thiết Sơn (2002) Mỹ điều chỉnh chính sách kinh tế, Nxb KHXH, Hà Nội Ngoài các
tác phẩm viết về chiến lược đối ngoại của Tổng thống, còn có cuốn sách viết về cuộc đời, sự nghiệp, quan điểm chính trị, lập trường của ông về các vấn đề kinh tế, chính trị,
Trang 24ngoại giao như cuốn Barack Obama - Tổng thống da màu đầu tiên trong lịch sử nước
Mỹ, Nxb Lao động, Hà Nội
Nhóm thứ hai: Bao gồm các công trình nghiên cứu về chính sách đối với ĐNA
của CQ TT B Obama Ở nhóm này có một số công trình như: Nguyễn Thiết Sơn (chủ
biên) (2012), Quan hệ Hoa Kỳ - ASEAN 2001-2020, Nxb Từ điển Bách khoa Cuốn
sách trình bày thực trạng quan hệ Hoa Kỳ - ASEAN trên các mặt quan trọng như: những điều chỉnh chiến lược của Mỹ đối với khu vực các nước ASEAN, thực trạng quan hệ kinh tế, chính trị, an ninh quân sự của Hoa Kỳ với các nước ASEAN Đồng thời, tác giả còn nêu ra những dự báo về triển vọng quan hệ Hoa Kỳ - ASEAN trong
10 năm tới và những tác động của mối quan hệ song phương đối với sự phát triển của các nước ASEAN, cũng như đối với Việt Nam Bên cạnh đó, còn có các công trình
như: Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh của Lê Khương Thùy, Nxb KHXH Hà Nội, 2003; Chính sách và vai trò của Mỹ ở khu vực CA
- TBD, Nxb KHXH Hà Nội, 2005; Việt Nam - Châu Mỹ: Thách thức và cơ hội, Học viện Ngoại giao, Hà Nội, 2005; Tổng thống Obama - Ba ngày trên đất Việt của Ninh
Hồng Nga, Nxb CTQG, Hà Nội, 2016
Nhóm thứ ba: Bao gồm các công trình nghiên cứu về hợp tác và cạnh tranh
chiến lược Mỹ - Trung ở ĐNA Ở nhóm này có một số công trình như: Nguyễn Thái
Yên Hương, Lê Hải Bình, Lại Thái Bình (2011), Quan hệ Mỹ - Trung hợp tác và cạnh tranh luận giải dưới góc độ cân bằng quyền lực, Nxb CTQG Tài liệu tập trung đánh
giá, phân tích về quan hệ Mỹ - Trung trong hơn 30 năm qua, kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao và triển vọng của mối quan hệ này đến năm 2020 theo góc độ của khoa học chính trị, xem xét quan hệ nước lớn dưới góc độ cân bằng lực lượng, từ
đó góp phần cho việc hoạch định triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam trong
hiện tại và tương lai Trần Khánh (2014), Hợp tác và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở ĐNA ba thập niên đầu sau chiến tranh lạnh, Nxb Thế giới Cuốn sách lý giải
xu hướng trong quan hệ quốc tế ở ĐNA cũng như cặp quan hệ Mỹ - Trung trong lịch
sử đương đại quan hệ này tác động sâu sắc, mạnh nhất đến xu hướng hợp tác và phát triển ở ĐNA nói riêng, trật tự thế giới nói chung trong ba thập niên đầu thế kỷ XXI Ngoài ra, cũng có một số đề tài nghiên cứu của Vụ Châu Mỹ, Bộ Ngoại giao
như Chiến lược đối ngoại của Mỹ trong thập kỷ 1990, Đề tài cấp Bộ 5/1995; Dự báo
chiến lược đối ngoại của Mỹ trong 20 năm đầu thế kỷ XXI, Đề tài cấp Vụ tháng
11/2000; Dự báo chính sách đối ngoại của Mỹ đối với CA-TBD dưới chính quyền G.W Bush, Đề tài cấp Vụ tháng 11/2001; Điều chỉnh chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ sau sự kiện 11/9/2001 và tác động tới quan hệ quốc tế trong thập kỷ đầu thế kỷ XXI,
Trang 25Đề tài trọng điểm cấp Bộ 3/2004 Những đề tài này đều là công trình nghiên cứu công phu, đánh giá kịp thời những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với các khu vực nói riêng dưới các chính quyền Mỹ để từ đó đưa ra những kiến nghị chính sách của Việt Nam đối với Mỹ vào từng thời điểm
Liên quan đến chủ đề chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và khu vực CA - TBD nói riêng đã có nhiều nghiên cứu công bố trên một số tạp chí chuyên ngành như:
Ở Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, Học viện Ngoại giao, tiêu biểu có các bài viết:
Hà Hồng Hải (2014), Những điều chỉnh gần đây trong chính sách Biển Đông của Mỹ,
số 97 (6-2014); Nguyễn Đình Luân (2014), Về chiến lược lớn của Mỹ tới 2025 - 2030,
số 96 (3-2014); Nguyễn Phú Tân Hương (2014), Quan hệ Mỹ - ASEAN dưới thời Tổng thống B Obama, số 98 (9-2014); Nguyễn Văn Lan, Chúc Bá Tuyên (2012), Đông Nam Á trong chính sách đối ngoại của Mỹ hiện nay: sự triển khai và dự báo triển vọng, số 88 (3-2012); Vũ Lê Thái Hoàng (2012), Sức mạnh thông minh, thế kỷ Thái Bình Dương và học thuyết đối ngoại Obama, số 88 (3-2012); Lê Linh Lan (2011), Chuyển biến trong quan hệ Mỹ - Nga dưới chính quyền B Obama: Nguyên nhân và triển vọng, số 85 (6-2011); Trần Nguyễn Tuyên, Nguyễn Kỳ Sơn (2010), Điều chỉnh chính sách đối ngoại của chính quyền B Obama hiện nay, số 80 (3-2010); Khổng Thị Bình - Nguyễn Vũ Tùng (2009), Chính sách đối ngoại của Mỹ và hệ lụy đối với khu vực CA - TBD: Các góc nhìn từ giới học giả khu vực, số 77 (6-2009); Hà Mỹ Hương (2007), Nhìn lại sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ sau Chiến tranh lạnh số
68 (03-2007); Nguyễn Đình Luân (2004), Tìm hiểu logic địa chính trị trong chiến lược đối ngoại của Mỹ sau Chiến tranh lạnh, 50 (02-2003); Hoàng Anh Tuấn (2003), Bàn
về chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ
Trong khi đó, trên Tạp chí châu Mỹ ngày nay cũng có nhiều bài viết về chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và đối với khu vực CA - TBD nói riêng tiêu biểu
như: Nguyễn Thái Yên Hương (2012), Chính sách tăng cường sự hiện diện của Mỹ tại khu vực CA - TBD sau năm bầu cử 2012, số 10-2012; Cù Chí Lợi (2012), Chính sách của Hoa Kỳ đối với khu vực CA - TBD và những hàm ý đối với Việt Nam, số 07-2012; Nguyễn Lan Hương (2012), Mỹ và trọng tâm chiến lược CA - TBD trong năm 2011, số 9-2012; Bùi Thành Nam (2013), Quan hệ Việt - Mỹ trong bối cảnh quan hệ Mỹ - ASEAN, số 7-2013; Lê Khương Thùy (2014), Điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc và tác động đến Đông Nam Á/ASEAN, số 09-2014
Ngoài ra, còn có một số bài viết nghiên cứu về chính sách của Mỹ đối với ĐNA
trên các Tạp chí khác như: Trần Thị Vinh (2012), ĐNA trong chiến lược CA - TBD của Mỹ (từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 2011), Tạp chí Nghiên cứu Đông
Trang 26Nam Á, số 142; Nguyễn Hoàng Giáp (2005) Tác động của sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu mới của Mỹ đến Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6 năm 2005; Việt Nam và tính toán chiến lược mới của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á, đăng
trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2011 của tác giả Nguyễn Thái Yên Hương
Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu tại các Hội thảo quốc tế như:
Vai trò của Việt Nam trong khu vực CA - TBD, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế, Nxb Thế giới, Hà Nội năm 2011 của Vũ Văn Hà; Vị thế địa kinh tế, địa chính trị của Việt Nam trong khu vực CA - TBD, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế, Nxb Thế giới, Hà Nội năm 2011 của Lê Văn Sang; Vị thế của Việt Nam ở CA - TBD trong mối liên hệ với chính sách của Mỹ ở khu vực, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế, Nxb Thế giới, Hà Nội năm 2011 của
Nguyễn Thị Thanh Thủy đã nêu lên tầm quan trọng vị trí địa chiến lược của Việt Nam tại CA - TBD trong sự so sánh với chính sách đối ngoại của Mỹ
Tuy trên nhiều tạp chí trong nước cũng như quốc tế có các bài báo viết về chính sách của Mỹ tại khu vực CA - TBD sau khi B Obama lên cầm quyền dưới dạng bình luận phân tích và đánh giá sơ bộ tình hình triển khai cũng như chiều hướng chính sách của CQ TT B Obama Nhưng chưa có đề tài nghiên cứu tổng thể về chính sách đối với ĐNA của CQ TT B Obama trong hai nhiệm kỳ 2009 - 2016
1.2 Một số nhận xét về tình hình nghiên cứu đề tài
1.2.1 Những vấn đề khoa học đã được giải quyết
Qua phân tích các nghiên cứu tiêu biểu về chủ đề này, có thể thấy một số khía cạnh nổi bật đã được các nhà nghiên cứu trong, ngoài nước khai thác và làm rõ:
Trước hết, khi nghiên cứu về khu vực CA - TBD, hai học giả Evan và Robert trong cuốn sách The United States in the New Asia (Hoa Kỳ trong châu Á mới) đã
phân tích đây là khu vực phát triển năng động nhất trên thế giới Những thành công về tăng trưởng kinh tế cùng với thế mạnh về vốn, dự trữ ngoại tệ, tính năng động đã nâng cao vị thế của khu vực này so với các khu vực khác Đồng thời, khu vực này là nơi hiện diện và tập trung nhiều lợi ích và ưu tiên chiến lược của tất cả các nước lớn Các nhà hoạch định Mỹ cho rằng, khai thác một ĐNA tăng trưởng và năng động là lợi ích
và chiến lược của Mỹ Tổng thống B Obama đã đưa ra chiến lược “xoay trục châu Á”
mà Ngoại trưởng Hillary Clinton mô tả là thế kỷ mới giữa Mỹ và châu Á Bà Clinton cho rằng Mỹ cần phải định hình lại vị trí của mình trong bối cảnh của thế giới
Thứ hai, quan hệ Mỹ - Trung Quốc trong bối cảnh quốc tế phức tạp những năm đầu thế kỷ XXI, tác giả Trần Khánh trong cuốn Hợp tác và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở ĐNA đã phân tích, đây là hai nước đang có thế và lực rất lớn, đồng thời có rất
nhiều tham vọng trong việc định hình nền chính trị thế giới tương lai Tại khu vực
Trang 27ĐNA, sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc ngày càng tăng lên một cách mạnh mẽ,
đe dọa đến những lợi ích của Mỹ trong khu vực, vì thế sự cạnh tranh quyền lực giữa hai nước ở khu vực ĐNA là không thể tránh khỏi Nguyên nhân chính khiến cạnh tranh Mỹ - Trung trở nên quyết liệt là sự va chạm lợi ích giữa một siêu cường muốn duy trì vị thế bá quyền duy nhất và một cường quốc đang “trỗi dậy” mạnh mẽ, có tham vọng bá chủ khu vực và phá vỡ trật tự do Mỹ chi phối, thiết lập trật tự “đa cực”
Thứ ba, học giả Carmia phân tích quan hệ Mỹ - ASEAN trong bối cảnh nước
Mỹ gặp nhiều khó khăn về đối nội cũng như đối ngoại, CQ TT B Obama đã và đang tiến hành những điều chỉnh tương đối lớn về chính sách đối ngoại: cải thiện quan hệ và hình ảnh của nước Mỹ đối với thế giới (trong đó có thế giới Hồi giáo), chia sẻ trách nhiệm lớn hơn với các đồng minh tại khu vực ĐNA Tổng thống B Obama đã điều chỉnh chính sách theo hướng coi trọng hơn khu vực này, tăng cường quan hệ với ASEAN trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh và văn hóa; tăng cường tham gia vào các cơ chế đa phương, các mối quan hệ song phương đối với các quốc gia ĐNA Nhìn chung, trong các cuốn sách, công trình nghiên cứu và ấn phẩm khoa học
kể trên, chính sách đối ngoại của Mỹ và việc triển khai đối với khu vực ĐNA của CQ
TT B Obama đã được phản ánh trên nhiều khía cạnh cụ thể, tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến chưa nhất quán về chính sách của Mỹ đối với ĐNA và Việt Nam Hơn nữa chưa
có một công trình có tính chất bao quát và hệ thống về chính sách ĐNA của B Obama trong 2 nhiệm kỳ Tổng thống (2009 - 2016) Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Chính sách Đông Nam Á của CQ TT B Obama (2009 - 2016)” sẽ là một đóng góp thiết thực, kịp thời vào công tác nghiên cứu quan hệ quốc tế nói chung với hy vọng giúp các nhà hoạch định chính sách có một cái nhìn tổng thể và rõ ràng về chính sách của Mỹ đối với ĐNA và chính sách đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Những vấn đề mới liên quan tới luận án sẽ được tập trung nghiên cứu
Ngay sau khi giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tháng 11/2008 đến việc tái đắc cử vào nhiệm kỳ 2, Tổng thống B Obama phải đối mặt với nhiều thách thức Đó
là cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, tiếp quản di sản nặng nề của người tiền nhiệm
G W Bush và sự chia rẽ trong nội bộ nước Mỹ Trước tình thế đó, CQ TT B Obama điều chỉnh chính sách “cởi mở, thân thiện và đa phương” phù hợp với sự thay đổi từ cả
3 cấp độ: cộng đồng quốc tế, nước Mỹ và cá nhân CQ TT B Obama thực hiện chính sách xoay trục sang khu vực ĐNA trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại giao và an ninh quốc phòng với mong muốn đưa nước Mỹ thoát khỏi khủng hoảng, cân bằng quyền lực và kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc Với những chính sách
Trang 28đó, CQ TT B Obama cũng giữ nguyên được hình ảnh “thiện cảm” và thực sự muốn
“thay đổi” nước Mỹ trong con mắt của người dân Mỹ và cộng đồng quốc tế
Chính sách của Mỹ đối với ĐNA trong thời gian qua đã có những bước tiến cả
về lượng và chất Tiếp nối những thành quả mà chính quyền tiền nhiệm đã đạt được tại khu vực, CQ TT B Obama có thêm nhiều động thái trong việc tăng cường hơn nữa quan hệ đồng minh và đối tác với các nước ĐNA, nhưng quan trọng hơn là CQ TT B Obama đã sử dụng cách tiếp cận đa phương thay vì song phương như trước đây Chứng tỏ vai trò ngày càng tăng của ĐNA nói riêng và châu Á nói chung trong những tính toán lợi ích của Mỹ Tạp chí Economist (Anh) nhận xét: Tổng thống B Obama có những bước khởi đầu tốt trong chính sách ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt, đa phương khác với chính sách cứng rắn, đơn phương của Tổng thống G W Bush [140, tr.9-10] Như vậy, theo các nhà hoạch định chính sách Mỹ nội dung của chính sách đối
với ĐNA của CQ TT B Obama được khái quát: (i) Coi trọng và tăng cường đầu tư về mặt chiến lược; (ii) Kiên trì lấy việc tăng cường liên minh quân sự song phương, duy trì sự hiện diện quân sự tuyến đầu là nền tảng của chính sách an ninh khu vực; (iii)
Tăng cường mối quan hệ hợp tác toàn diện với ASEAN về các lĩnh vực như chính trị,
an ninh; (iv) Việc điều chỉnh chính sách đối với khu vực ĐNA của Hoa Kỳ trong
nhiệm kỳ 2 của Tổng thống B Obama sẽ nảy sinh những ảnh hưởng sâu sắc và hiện thực đối với quan hệ Mỹ - ASEAN
Sợi chỉ đỏ xuyên suốt chính sách đối với ĐNA của CQ TT B Obama là Học thuyết đối ngoại Obama hay Học thuyết về an ninh đối ngoại là những mục tiêu, quan điểm, lập trường cơ bản của Tổng thống B Obama, từ đó đề ra những chính sách cụ thể áp dụng trong nhiệm kỳ 2 Theo giới phân tích, CA - TBD là nơi hiện diện và tập trung nhiều ưu tiên chiến lược đối với các nước lớn Vì vậy chính sách của CQ TT B Obama đối với CA - TBD mà trọng tâm là ĐNA sẽ được điều chỉnh trong thời gian tới theo hướng vừa hợp tác vừa kiềm chế (đối với Trung Quốc) vẫn giữ vai trò định hướng trong chính sách đối với ĐNA; tăng cường quan hệ với các nước đồng minh qua việc phối hợp về chính sách ngoại giao, cân bằng quan hệ kinh tế với các cam kết
an ninh; liên kết kinh tế được chú trọng trong gắn kết liên minh; can dự sâu hơn vào các cơ chế đa phương trong khu vực
Sau năm 2016, chính trường nước Mỹ sẽ có sự biến động với cuộc bầu cử Tổng thống Như vậy, khả năng Mỹ sẽ có những điều chỉnh nhất định trong chính sách đối ngoại Tuy nhiên, mục tiêu vẫn không thay đổi, đó là đảm bảo lợi ích quốc gia, duy trì vị trí bá quyền của Mỹ trên thế giới Như vậy, Mỹ tiếp tục duy trì sự quan tâm đáng kể tới khu vực CA - TBD với trọng tâm là ĐNA Dù Đảng nào nắm chính quyền, Mỹ sẽ vẫn
Trang 29theo đuổi chính sách tăng cường can dự vào khu vực như chính quyền B Obama thực hiện trong hai nhiệm kỳ Chính sách mới này có thể có những điều chỉnh nhằm thích ứng với điều kiện mới Tuy nhiên, chính sách đối với ĐNA của Mỹ trong nhiệm kỳ hai của Tổng thống B Obama và thời gian tới vẫn sẽ tập trung một số hướng chủ yếu là: quan hệ với Trung Quốc, quan hệ với đồng minh, quan hệ với ASEAN và hoạt động tại các cơ chế đa phương trong khu vực
Hiện nay, ở Việt Nam và trên thế giới đã có một số nghiên cứu về chính sách đối với ĐNA của CQ TT B Obama Điểm mới mà tác giả đề cập trong Luận án xét theo 4 phương diện chủ yếu an ninh, thịnh vượng, quan niệm giá trị và trật tự quốc tế: Đối với “an ninh” (security), trong chính sách đối với ĐNA, CQ TT B Obama sẽ
thông qua các phương thức sau nhằm duy trì an ninh trong khu vực: (i) Duy trì năng lực
quốc phòng được huấn luyện và trang bị tốt nhất, lãnh đạo lực lượng đối với khu vực
ĐNA; (ii) Duy trì áp lực đối với tổ chức Al Qaeda, Nhà nước Hồi giáo (IS) cùng các tổ chức dưới quyền của chúng; (iii) Nỗ lực vì một thế giới không có vũ khí hạt nhân; hợp
tác với các quốc gia trong khu vực ĐNA đối với vấn đề biến đổi khí hậu, các biện pháp bao gồm thông qua giảm hiệu ứng nhà kính quốc gia, ngoại giao quốc tế và tuân thủ cam kết của Mỹ đối với “Quỹ khí hậu xanh”
Đối với “thịnh vượng” (prosperity), thúc đẩy các chương trình nghị sự về thương mại như Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Đại Tây Dương để tạo nhiều cơ hội việc làm hơn cho Mỹ và chia sẻ tốt hơn sự thịnh vượng; Hiệp định TPP là một thành công của CQ TT B Obama trong chiến lược xoay trục kinh tế đối với các nước ASEAN
Đối với quan niệm giá trị (values), thúc đẩy và bảo vệ dân chủ, nhân quyền và bình đẳng, chỉ ra sự chuyển đổi từ thể chế của các nước trong khu vực mà Myanmar là một ví dụ điển hình; Đối với “trật tự quốc tế” (international order), thông qua tăng cường ngoại giao, quan hệ liên minh và đối tác mạnh mẽ hơn, mở rộng thương mại và đầu tư, bảo vệ an ninh đa dạng hóa, thực hiện tái cân bằng đối với khu vực ĐNA Những vấn đề nêu trên, là vấn đề mới mà tác giả lựa chọn để tập trung nghiên cứu trong Luận án
Trang 30Tiểu kết Chương 1
Từ khi B Obama tuyên thệ nhận chức vào đầu năm 2009 đến thời điểm tái đắc
cử nhiệm kỳ 2 vào năm 2013, Tổng thống B Obama đều chọn ĐNA làm điểm đến đầu tiên thể hiện tầm quan trọng của khu vực trong việc thúc đẩy chiến lược chuyển trọng tâm sang ĐNA của Mỹ CQ TT B Obama sẽ mở ra một kỷ nguyên mới trong chính sách đối ngoại của nước Mỹ đối với khu vực ĐNA Lên nhận chức với khẩu hiệu “We believe in change” (Chúng ta tin vào sự thay đổi), CQ TT B Obama điều chỉnh chính sách theo hướng coi trọng hơn khu vực này Chính sách đó sẽ dựa trên sự kết hợp khéo léo giữa quân sự, sức mạnh ngoại giao và chỉ dùng quân sự như liệu pháp cuối cùng
Đó là sự kết hợp giữa các nguyên tắc và chủ nghĩa thực dụng chứ không phải theo ý thức hệ cứng nhắc Trong quan hệ quốc tế, ngoại giao và sự thuyết phục sẽ đi tiên phong Phương châm của nền ngoại giao ấy là thêm đối tác, bớt đối thủ
Tóm lại, chương này đã phân tích, đánh giá tổng quan về lịch sử nghiên cứu chính sách đối ngoại của Mỹ, chính sách đối với ĐNA của CQ TT B Obama ở trong nước và trên thế giới Tác giả định hướng mục tiêu, nhiệm vụ và những phương pháp trong việc nghiên cứu chính sách đối với ĐNA của CQ TT B Obama (2009 - 2016) Dựa trên mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu, tác giả đưa ra những đóng góp về mặt lý luận, thực tiễn và đóng góp mới của Luận án trong việc hoạch định chính sách đối ngoại cũng như trong quan hệ giữa Mỹ và các quốc gia ĐNA nói chung
và Việt Nam nói riêng
Trang 31CHƯƠNG 2 CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á CỦA CHÍNH QUYỀN TỔNG THỐNG B OBAMA
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Học thuyết đối ngoại mới của B Obama
2.1.1.1 Bối cảnh ra đời của học thuyết
a) Bối cảnh quốc tế
Trật tự thế giới mới đang định hình theo hướng “nhất siêu đa cường”
Thế giới là một thể thống nhất và đa dạng, nhu cầu hòa bình, ổn định, hợp tác
và phát triển trở nên cấp bách Xu hướng lành mạnh hóa, dân chủ hóa trong sinh hoạt quốc tế ngày càng được rõ nét Điều đó đòi hỏi sự hợp tác, nỗ lực của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế Với sự phát triển năng động, châu Á đang hướng tới xây dựng các cơ chế hợp tác đa phương trên nguyên tắc phối hợp được nhiều quốc gia khu vực ASEAN+3, APEC, ARF, EAS là những diễn đàn hợp tác đã được thành lập và đi vào hoạt động tương đối có hiệu quả Ngày 31/12/2015, Cộng đồng ASEAN chính thức thành lập Đây là dấu mốc quan trọng trong lịch sử của ASEAN Dưới mái nhà chung đó, các dân tộc ở ĐNA sẽ chung sống, gắn kết, chia sẻ lợi ích và phát triển trên chặng đường mới vì mục tiêu hòa bình, ổn định, phát triển và hướng tới người dân Trật tự thế giới vẫn định hình xu thế “nhất siêu đa cường” và trong sự vận động phức tạp, đan xen giữa các nhân tố, xu hướng cấu thành thế giới là quá trình đấu tranh, tập hợp lực lượng mới cho sự ra đời của cục diện chính trị thế giới Đây là thời kì quá
độ giữa trật tự cũ bị tan rã, nhưng trật tự mới chưa định hình rõ nét Song quá trình đấu tranh cho một thế giới hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển trong đó mọi quốc gia dân tộc đều bình đẳng, dân chủ, vừa là nguyện vọng, vừa là xu thế của thời đại Tương lai của một trật tự thế giới sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự nhận thức và hành động của các dân tộc, của các nước, dù nước lớn hay nước nhỏ Mỹ cần có cái nhìn đúng đắn, cởi mở với xu thế này nếu không muốn mất dần đi ảnh hưởng ở khu vực
Vai trò của các cường quốc mới nổi trong nền chính trị và kinh tế thế giới
CA - TBD là nơi có các cường quốc lớn như Trung Quốc, Liên bang Nga, Nhật Bản, Ấn Độ Nơi đây chứng kiến sự trỗi dậy của Trung Quốc, sự phục hồi mạnh mẽ của Nga, những tham vọng phát triển kinh tế của Nhật Bản, sự vươn lên của Ấn Độ Các nước này đã và sẽ là các chủ thể có tiếng nói quan trọng buộc Mỹ phái tính đến trong chính sách đối ngoại của mình
Trong những nhân tố trên, sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc về kinh tế, quân sự và chính trị là một thách thức lớn nhất đối với CQ TT Obama vì điều này đe dọa trực tiếp tới vị thế lãnh đạo ở CA - TBD Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế Trung
Trang 32Quốc đem lại cho Mỹ cả cơ hội và thách thức, nó tạo cơ hội để Mỹ đầu tư và xuất khẩu hàng hóa vào Trung Quốc, đồng thời cũng tạo thành mối đe dọa đối với sức ảnh hưởng kinh tế của Mỹ ở khu vực này Không chỉ vậy, sự “lớn mạnh không ngừng” của Trung Quốc và tham vọng ở Biển Đông làm cho Mỹ tỏ ra lo lắng
Thập niên vừa qua cũng chứng kiến sự phục hồi mạnh mẽ của Nga Sau hai nhiệm kỳ cầm quyền, TT V Putin đã củng cố lại hệ thống chính trị rối ren, vực dậy nền kinh tế Nga từ tình trạng hoang tàn lấy lại uy thế quân sự, đưa nước Nga trở thành một trong 10 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới, biến đồng Rúp trở thành một đồng tiền có giá trị thanh toán quốc tế Đến nay, nền kinh tế của Nga không chỉ dựa vào tiềm năng tài nguyên thiên nhiên khổng lồ mà còn dựa vào nền kinh tế tri thức nhờ phát triển và có những công nghệ đột phá mang tính cách mạng trong lĩnh vực công nghệ cao Hiện nay, TT V Putin tiếp tục lãnh đạo để đưa nước Nga phát triển, trở thành cường quốc của thế giới về kinh tế, quân sự và chính trị vào năm 2020
“Sự trở mình” của một Ấn Độ được mệnh danh là “quốc gia có thị trường bán
lẻ lớn nhất hành tinh” Chính phủ Ấn Độ đặc biệt chú trọng đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao làm chỗ dựa vững chắc cho nền kinh tế, trong đó có lĩnh vực chinh phục và khai thác khoảng không vũ trụ, đưa nền kinh tế Ấn Độ phát triển với tốc độ nhanh Trong khoảng từ năm 2001 - 2011, GDP của Ấn Độ liên tục tăng trưởng, trung bình 6%/năm Với nhịp độ đó, đến năm 2025, Ấn Độ sẽ trở thành cường quốc kinh tế đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Mỹ [38, tr 45-57]
Bên cạnh đó, sự nổi lên của một số cường quốc khác như Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đe dọa chiến lược an ninh của Mỹ trong những năm gần đây Các cường quốc trên đang mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực và dẫn đến sự phân chia lại sức mạnh toàn cầu, thể hiện qua việc mở rộng G8 thành G20
Các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng trầm trọng
Trong những năm gần đây, những vấn đề an ninh phi truyền thống đã vượt qua khỏi phạm vi, lợi ích, an ninh và khả năng của một quốc gia Vấn đề này đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, đe dọa tới an ninh toàn cầu và an ninh của từng khu vực, bởi hoạt động của tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố quốc tế nhất là khủng bố bằng
vũ khí sinh hóa học là những hoạt động không biên giới, không loại trừ một quốc gia nào Chính vì vậy, cuộc đấu tranh với những vấn đề này đòi hỏi phải có sự nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, khu vực để tạo ra những giải pháp và bước đi hài hòa kết hợp giữa kinh tế, chính trị, ngoại giao, pháp luật, khoa học kỹ thuật và các mặt khác nhằm nỗ lực loại trừ nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia và an ninh khu vực
Trang 33Hiện nay, ASEAN được coi là một khu vực phát triển năng động và trong quá trình phát triển của mình đã đạt được nhiều thành tựu nhất định Bên cạnh những thuận lợi đó, thì các quốc gia ASEAN vẫn phải đối mặt với những thách thức, nguy cơ tiềm tàng nhất là các vấn đề an ninh phi truyền thống như: thảm họa địa chất, bệnh dịch, nạn khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tình trạng thiếu hụt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu, khủng hoảng kinh tế toàn cầu Trên thực tế, chính những nguyên nhân và biểu hiện ngày càng rõ rệt của vấn đề an ninh phi truyền thống tại khu vực ASEAN đã tạo ra sự nhận thức đúng đắn và sự đồng thuận giữa các quốc gia, không chỉ trên thế giới mà còn đối với các quốc gia trong cùng một khu vực ASEAN, các quốc gia đối thoại với ASEAN trong việc giải quyết các vấn đề này
Đối với Mỹ, đây một mặt là những bài toán khó cần tìm lời giải mà mặt khác, cũng là một cơ hội để thể hiện sức mạnh của một siêu cường, duy trì được ưu thế trọng khu vực Như vậy, khu vực CA - TBD không chỉ đem lại lợi ích cho Mỹ mà còn đặt ra nhiều thách thức mới cho CQ TT B Obama Chính sách đối với CA - TBD với trọng tâm là ĐNA của CQ TT B Obama cần được triển khai một cách hợp lý để đáp ứng được mục tiêu trong thời kỳ mới, đảm bảo chiến lược đối ngoại quốc gia Hoa Kỳ
b) Tình hình bên trong nước Mỹ
Vấn đề chính trị nội bộ
Sau 2 nhiệm kỳ dưới sự lãnh đạo của CQ TT G W Bush (2001-2008), nước Mỹ đứng trước những thách thức lớn về chính sách đối nội, đối ngoại
Sự kiện 11/9/2001, đã làm thay đổi hoàn toàn chính sách ngoại giao, quân sự,
an ninh của nước Mỹ CQ TT G W Bush đã phát động cuộc chiến chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu với trọng tâm là Iraq và Afghanistan, những quốc gia được Washington coi là “dinh lũy” của chủ nghĩa khủng bố và có mối quan hệ chặt chẽ với mạng lưới Al Qaeda của trùm khủng bố Osama Bin Laden CQ TT G W Bush đã đề
ra chính sách ngoại giao “đơn phương” và học thuyết “đánh đòn phủ đầu” làm “xương sống” trong chính sách chống khủng bố và can dự vào các vấn đề quốc tế của nước Mỹ trong giai đoạn này Tuy nhiên, trong suốt 2 nhiệm kỳ ông G.W Bush nắm quyền lãnh đạo nước Mỹ những mục tiêu mà chính quyền của ông đã đề ra không những không đạt được kết quả như mong muốn mà trái lại đã góp phần làm cho vị thế của Washington trở nên mờ nhạt
Cuộc chiến chống khủng bố mà Mỹ phát động ở Iraq và Afganishtan mỗi năm
đã ngốn hàng trăm tỷ USD và hàng trăm sinh mạng lính Mỹ Trong giai đoạn
2001-2008, tổng chi phí quốc phòng mà Mỹ dành cho cuộc chiến này lên tới hơn 1500 tỷ USD, hơn 4000 lính Mỹ bỏ mạng, trong khi các mục tiêu chính là tiêu diệt trùm khủng
Trang 34bố Bin Laden và xây dựng nền dân chủ theo kiểu Mỹ ở quốc gia Nam Á này không thực hiện được [5, tr 17-29]
Chính sách ngoại giao “đơn phương” và học thuyết “đánh đòn phủ đầu” không làm cho nước Mỹ nâng cao vị thế quốc tế để đối phó với chủ nghĩa khủng bố quốc tế mà trái lại các chính sách này còn gây ra những mâu thuẫn, chia rẻ với các đồng minh trụ cột ở châu Âu như Pháp và Đức Dư luận quốc tế lên án các chính sách trên mang nặng tính chất hiếu chiến và theo lối tư duy của thời kỳ Chiến tranh Lạnh
Sau khi Tổng thống B Obama lên nắm quyền, đảng Dân chủ có ưu thế tại Quốc hội và kiểm soát cơ quan hành pháp từ năm 2009 Do vậy, người dân Mỹ chờ đợi chính sách ưu tiên của Đảng là phải giải quyết ngay vấn đề khó khăn kinh tế, thế nhưng Đảng cầm quyền lại khiến họ thất vọng với tình hình kinh tế không mấy khả quan Điều này thực sự không có lợi cho đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử sắp tới Kết quả là phe Cộng hòa đã giành lại quyền kiểm soát Hạ viện từ tay phe Dân chủ với 242/435 ghế (trước bầu cử 178/435) và tăng thêm 6 ghế tại Thượng viện (trước bầu cử 41/100) [102, tr.19] Việc đảng Cộng hòa giành thắng lợi trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vừa qua, khiến cho sự chia rẽ đảng phái tại Mỹ gia tăng, và như vậy CQ TT
B Obama sẽ phải đối mặt với những khó khăn trong việc thực thi chính sách trong thời gian còn lại vì mục tiêu của hai đảng khá đối chọi nhau
Kinh tế suy giảm do khủng hoảng tài chính
CQ TT G.W Bush đã giành nhiều ưu tiên về phát triển sức mạnh quân sự, củng
cố tiềm lực quốc phòng và mở rộng ảnh hưởng chính trị ra phạm vi toàn cầu hơn là phát triển kinh tế Trong giai đoạn 2001 - 2008, chi phí quốc phòng của nước Mỹ liên tục tăng từ 300 tỷ USD (2000) lên 584 tỷ USD vào năm 2008 [99, tr.19] Việc dành hàng nghìn tỷ USD cho cuộc chiến chống khủng bố hao người tốn của ở Iraq và Afganishtan trong giai đoạn 2001 - 2008 đã góp phần làm cho nguồn ngân sách và sức mạnh kinh tế của nước Mỹ bị suy giảm Thêm vào đó, các công ty, tập đoàn kinh tế của Mỹ còn gặp phải sự cạnh tranh quyết liệt từ các doanh nghiệp đến từ Trung Quốc,
EU, các nước G20 dẫn tới hàng hóa của Mỹ khó có điều kiện phát triển thuận lợi như trước Các doanh nghiệp Mỹ cũng có sự hạn chế trong việc cải tiến công nghệ, mẫu
mã và các mặt hàng, điều này làm hạn chế sự cạnh tranh của hàng hóa Mỹ với hàng hóa của các nước ngay trên chính thị trường Mỹ
Khủng hoảng tài chính ở Mỹ bắt đầu là sự đổ vỡ của thị trường bất động sản đã gây nên những hệ lụy to lớn cho nền kinh tế Mỹ, mà trước hết là khu vực tài chính, với
sự sụp đổ của hàng loạt ngân hàng lớn, và sau đó là các ngành công nghiệp có liên
Trang 35quan đến khu vực nhà đất và toàn bộ nền kinh tế Mỹ Đây chính là nguyên nhân làm cho nhiều ngành công nghiệp gặp khó khăn và bị thu hẹp
Số liệu ở Hình 1.1, nền kinh tế Mỹ đã trải qua một giai đoạn với bốn quý có tốc
độ tăng trưởng âm liên tiếp từ Quý III/2008 đến Quý III/2009, và về tổng thể, tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ trong giai đoạn 2008 đến nay là rất thấp Nhằm khắc phục tình trạng suy thoái kinh tế, CQ TT B Obama hiện nay đã thực hiện hàng loạt các giải pháp, nhằm đưa nền kinh tế quay trở lại đà tăng trưởng
Ngoài các gói cứu trợ ngân hàng, gói kích thích kinh tế với trị giá 787 tỷ USD được Tổng thống B Obama ký và thực hiện vào năm 2009 là một gói kích thích đáng
kể Bên cạnh biện pháp tài chính, các giải pháp tiền tệ kinh điển cũng được áp dụng để thúc đẩy đầu tư, đó là việc nới lỏng tiền tệ Gói kích thích kinh tế năm 2009 trên thực
tế đã đem lại một số tác động tích cực cho quá trình phục thồi của nền kinh tế Mỹ với tốc độ tăng GDP tương đối khả quan vào năm 2010 ở mức 3%
Hình 1.1 Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Hoa Kỳ
Tăng trưởng GDP hàng năm được điều chỉnh bởi lạm phát
(nguồn: Văn phòng phân tích kinh tế, Bộ Thương mại Mỹ)
Tuy nhiên, từ cuối năm 2010 đến nay, tốc độ tăng GDP của Mỹ có xu hướng chậm lại Với xu hướng chậm lại của tiến trình phục hồi của nền kinh tế, một biện pháp kích thích kinh điển khác lại được áp dụng cho nền kinh tế Mỹ, bằng việc nới lỏng tiền tệ với quy mô khoảng 600 tỷ USD vào cuối năm 2010 Mặc dù vậy, nhưng kinh tế Mỹ trong năm 2011 cũng không có dấu hiệu khả quan, khi tốc độ tăng GDP của Quý I 0,4%, Quý II 1,4% và Quý III 2,1% [78, tr.9-10] Tác động sâu xa của cuộc khủng hoảng này là vai trò và ảnh hưởng của Mỹ bị suy giảm nhanh hơn trong tương quan lực lượng với các nước cạnh tranh với Mỹ, đặc biệt là so với Trung Quốc
Vị thế quốc tế của Mỹ suy giảm
Vị thế và hình ảnh của nước Mỹ bị suy giảm nghiêm trọng trên trường quốc tế, nhất là sự sa lầy của Mỹ ở Iraq và Afghanistan trong cuộc chiến chống khủng bố Tại các nước Mỹ Latinh, nơi mà Mỹ coi là “sân sau” của mình, ảnh hưởng của siêu cường này cũng bị suy giảm bởi sự nổi lên của làn sóng “cánh tả” mà “ngọn cờ đầu” là
Trang 36Venezuela với sự hỗ trợ đắc lực về chính trị, tư tưởng của Cuba Các nước Nam Mỹ đã tương đối thành công trong việc làm thất bại hành động gây sức ép đối với chính phủ của Tổng thống Venezuela Hugo Chavet, Tổng thống Bolovia Evo Morales, đồng thời làm thất bại nỗ lực của Mỹ nhằm chọn người đứng đầu mới cho Tổ chức các quốc gia châu Mỹ và ý đồ thành lập một Hội đồng “rà soát tình hình dân chủ” Còn các nước khác như Brazil, Chile, Mexico ngày càng trở nên độc lập hơn với Mỹ
Nhiều nước thuộc cộng đồng Hồi giáo ở Trung Đông như Syria, Iran trước đây
có quan hệ khá tốt với Mỹ thì từ nhiệm kỳ sau của G W Bush, mối quan hệ đó trở nên xấu đi nhanh chóng Tình hình trở nên căng thẳng này không chỉ bắt nguồn từ sự chiếm đóng của Mỹ tại Iraq mà còn do việc Mỹ thiên vị nhà nước Do Thái, đòi các nước này không được ủng hộ phong trào Hezbolla của Lybia và Hamas của Palestine Khi nhắc đến Mỹ thì câu trả lời phổ biến nhất là “chính sách đối ngoại không công bằng” Trên thực tế, chính sách của Mỹ muốn “thay đổi chế độ” và “dân chủ hóa” các nước như Iraq, Iran, Syria, biến Trung Đông từ một “vòng cung bất ổn” thành một khu vực dân chủ và ổn định về cơ bản đã không thực hiện được Điều này, làm suy giảm tương đối uy tín và quyền lực của Mỹ ở Trung Đông và trên thế giới
Tâm lý ghét Mỹ tăng mạnh ở nhiều nơi trên thế giới Một điều tra dư luận thế giới cuối năm 2008 cho thấy người dân ở 26 trong số 33 quốc gia được hỏi không có cái nhìn thiện cảm với Mỹ Chính sách đối ngoại của Mỹ bị nhiều người phản đối trong đó có cả đồng minh của Mỹ [105, tr.7-8] Đây có thể coi là sự thất bại của chủ nghĩa bảo thủ, chính sách đơn phương của CQ TT G W Bush trong 8 năm cầm quyền Tình hình chính trị, kinh tế của nước Mỹ dưới thời Tổng thống G W Bush đứng trước nhiều khó khăn, thách thức nghiêm trọng Vấn đề này đã trở thành gánh nặng cho ông Obama và chính quyền của ông sau khi vị tổng thống da màu đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ này tiếp quản chiếc ghế lãnh đạo nước Mỹ từ tay người tiền nhiệm G.W Bush vào ngày 20/01/2009
Đứng trước những thách thức đó, vị trí số một của Mỹ dường như đang bị lung lay Tham vọng duy trì địa vị là một siêu cường chi phối thế giới đang gặp những trở ngại quan trọng Đó cũng chính là lý do khiến CQ TT B Obama phải có những điều chỉnh nhất định trong chính sách đối ngoại của mình
2.1.1.2 Nội dung học thuyết
Nếu như Tổng thống Clinton nỗ lực xây dựng học thuyết đối ngoại dựa trên nền tảng “Chiến lược cam kết và mở rộng”; Tổng thống G.W Bush chịu ảnh hưởng của lý thuyết “đòn đánh phủ đầu”; thì Tổng thống B Obama đã và đang hoàn thiện học
Trang 37thuyết đối ngoại mới theo hướng thực dụng hơn, đó là sự kết hợp khéo léo giữa chủ nghĩa hiện thực, sức mạnh thông minh và sự ưa chuộng chủ nghĩa đa phương
Chủ nghĩa hiện thực
Chủ nghĩa hiện thực là lý thuyết quan hệ quốc tế lâu đời nhất và được vận dụng thường xuyên nhất Thucydides, nhà sử học sống ở thế kỷ thứ V TCN là người sáng lập của trường phái hiện thực, ông cho rằng mối quan hệ giữa các quốc gia được dựa trên sức mạnh hơn là lẽ phải Đến đầu thế kỷ XVI, Niccolo Machiavell, một nhà triết học chính trị của trường phái hiện thực mới đã đưa ra những lập luận về chủ nghĩa hiện thực [9, tr.23] Như vậy, thuyết hiện thực là tập hợp các luận điểm có ảnh hưởng lớn nhất trong vài thập kỷ qua trong giới học thuật và chính sách đối ngoại tại Mỹ Khi nghiên cứu chính sách đối ngoại Mỹ, cần dựa vào các giả định cơ bản của lý luận này Kenneth N Walts với tư cách là cha đẻ của thuyết hiện thực khẳng định trong cuốn Lý luận chính trị quốc tế (1979), “thuyết hiện thực nêu lên những nguyên lý tổng quát về hành vi của các quốc gia trong hệ thống quốc tế”[118, tr.59] Một số giả định của thuyết hiện thực sẽ gợi ý cho quá trình phân tích chính sách đối ngoại Mỹ Trong mọi hoàn cảnh, Mỹ sẽ đặt lợi ích quốc gia lên cao nhất bởi lợi ích quốc gia là nền tảng quan trọng nhất để hoạch định chính sách và vị trí của quốc gia trong hệ thống quốc tế
sẽ chi phối nhận thức về lợi ích quốc gia Chính sách xoay trục về châu Á mà CQ TT
B Obama đang thực hiện là một minh chứng cho lý thuyết này
Trong bối cảnh đó, “CQ TT B Obama quyết định chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực CA - TBD, hay còn gọi là chiến lược tái cân bằng”[41, tr.33], xem việc tăng cường quan hệ với ĐNA như một phần nội dung quan trọng Giờ đây, tầm quan trọng địa chiến lược của khu vực ĐNA được CQ TT B Obama chú trọng trên các khía cạnh có liên quan đến các lợi ích về kinh tế, an ninh - quân sự và tự do hàng hải cũng như vai trò năng động của các nước Điều này chứng tỏ rằng chủ nghĩa hiện thực đã trở lại trong chính sách khu vực của Mỹ dưới CQ TT B Obama
Quyền lực thông minh
Thuyết quyền lực thông minh có nguồn gốc từ nghiên cứu của học giả Joseph S.Nye Ông cho rằng, Mỹ có cả quyền lực cứng (hard power) và quyền lực mềm (soft power) để lãnh đạo thế giới Nhưng việc sử dụng quyền lực như thế nào để đạt được mục tiêu chính sách lại phụ thuộc vào cách sử dụng quyền lực một cách có hiệu quả nhất Nói cách khác, phải có cách sử dụng quyền lực một cách “thông minh” Đó chính
là bản chất của thuyết quyền lực thông minh do Nye đề xướng [119, tr.18] Dưới thời Obama, thuyết quyền lực thông minh đã trở thành chỗ dựa về mặt lý luận cho chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và đối với ĐNA nói riêng
Trang 38Bảng 1.2 Ý nghĩa của quyền lực
(Nguồn: Joseph S Nye, Quyền lực mạnh mềm - Phương tiện tạo ra sự thành công trong nền chính trị thế giới)
Khi phân tích ý nghĩa của quyền lực, GS Joseph S.Nye cho rằng, quyền lực có
ba cách cơ bản: ép buộc người khác bằng sự đe dọa tức là dùng “cây gậy” hay “sức mạnh cứng”; dụ dỗ người khác bằng lợi ích (tiền bạc, vật chất, danh vọng) hay “củ cà rốt” và cuối cùng là thu hút, hấp dẫn người khác bằng sức hấp dẫn (các giá trị, tư tưởng) hay chính là “sức mạnh mềm” (bảng 1.2)
Ngay từ khi bước vào Nhà Trắng, Tổng thống B Obama chú trọng hơn đến Học thuyết đối ngoại mới của mình: (i) Đề cao tính đa phương, hòa giải và từ bỏ cách tiếp cận đơn phương trong giải quyết các vấn đề quốc tế; (iii) Chủ trương đối thoại, can dự với các quốc gia mà Hoa Kỳ coi là “bất hảo”; (v) Chủ trương sử dụng công cụ khác, ngoài quân sự, để đạt được mục đích đối ngoại, nhất là các mối quan hệ kinh tế;
về sau chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ được gọi là ngoại giao “thông minh”; (vi) Cần tôn trọng lịch sử và văn hóa khác nhau, và Hoa Kỳ lãnh đạo thế giới, không phải thông qua áp đặt các giá trị, mà “là bằng cách noi gương”; (vii) Chống khủng bố là ưu tiên cao trong chính sách đối ngoại, song không coi khủng bố là cuộc chiến “kéo dài nhiều thế hệ” và từ bỏ ý định thông qua chống khủng bố để mở rộng ảnh hưởng trên thế giới, duy trị vị thế siêu cường số một và thế đơn cực sau Chiến tranh Lạnh [103, tr 19-39] Sức mạnh thông minh được Hillary Clinton vận dụng để xây dựng cơ sở lý luận cho học thuyết đối ngoại mà CQ TT B Obama theo đuổi trong nhiệm kỳ đầu Sức mạnh thông minh là (i) việc sử dụng, kết hợp sức mạnh một cách thông minh, khôn ngoan nhất; (ii) một dạng sức mạnh mới được tạo ra từ sự kết hợp hiệu quả giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm của một quốc gia [79, tr.27] Như vậy, sức mạnh thông
Trang 39minh là sự phát triển một cách chiến lược thống nhất, một cơ sở nguồn lực và một bộ công cụ để đạt được mục tiêu chính sách dựa trên sức mạnh cứng và sức mạnh mềm
“Sức mạnh thông minh” đã thấm nhuần trong chính sách đối ngoại của CQ TT
B Obama và được vận dụng một cách khá toàn diện, linh hoạt góp phần bảo đảm những lợi ích cơ bản của Mỹ Thực tế, chính sách đối ngoại của CQ TT B Obama là việc “sử dụng các biện pháp ngoại giao thông minh” làm nền tảng, kết hợp sức mạnh quân sự khi cần thiết, từ đó hình thành nên học thuyết đối ngoại mới của Obama làm
cơ sở lý luận trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, củng cố vị thế và tăng cường tầm ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực ĐNA
Thuyết thể chế và cách tiếp cận đa phương
Thuyết thể chế góp phần cùng thuyết quyền lực thông minh giải thích thêm tại sao Mỹ quan tâm hơn tới các cơ chế đa phương qua một số khía cạnh cụ thể sau đây:
Khía cạnh thứ nhất: Liên quan tới yếu tố giảm chi phí mà thuyết thể chế nêu ra
Cụ thể việc đầu tư vào các thể chế đang tồn tại sẽ ít tốn kém hơn là xây dựng thể chế mới Khi ở vào đỉnh cao quyền lực, Mỹ sẵn sàng lập ra các cơ chế và tổ chức quốc tế
đa phương, chịu hầu hết, hoặc phần lớn gánh nặng vận hành các tổ chức này Nhưng dưới nhiệm kỳ Tổng thống B Obama, dù nội bộ vẫn chưa thống nhất về tính hiệu quả của cơ chế ASEAN, Mỹ đã khẳng định “vai trò trung tâm của ASEAN” và quyết tâm tham gia các cơ chế đa phương khu vực mà ASEAN làm nòng cốt Nói cách khác, việc
Mỹ tham gia vào các cấu trúc an ninh khu vực, nhất là ARF, EAS, ADMM+, đã thể hiện khá rõ cách tiếp cận trên Điều này giúp giải thích lý do tại sao Mỹ nhấn mạnh sự ủng hộ “vai trò trung tâm” của ASEAN và hoan nghênh các nước khác đóng vai trò tích cực hơn trong các thể chế đa phương này
Khía cạnh thứ hai: Liên quan tới tính chất lỏng lẻo của các cơ chế an ninh đa
phương trong khu vực CA - TBD và theo đó là cơ hội để Mỹ đóng vai trò trong các cơ chế này Tổng thống B Obama cho rằng việc thiết lập các luật lệ và xây dựng các chương trình nghị sự là nội dung chính của Mỹ khi tham gia vào cơ chế tại khu vực ĐNA Thực tế quá trình Mỹ tham gia vào các cơ chế đa phương khu vực đã cho thấy
Mỹ không muốn mất vai trò, thậm chí muốn khẳng định ảnh hưởng trong các cơ chế này Chính sách này thể hiện qua một số triển khai sau:
- Tích cực xây dựng luật chơi, thông qua việc nhấn mạnh các nguyên tắc về tự
do và an ninh hàng hải, sử dụng luật quốc tế trong vấn đề Biển Đông, không sử dụng
vũ lực trong tranh chấp Biển Đông
- Đẩy mạnh những lĩnh vực Mỹ có lợi thế, trong khi tham gia xây dựng chương trình hành động đa phương như tuần tra trên biển, cứu trợ cứu nạn
Trang 40- Đẩy mạnh những vấn đề Mỹ ưu tiên như chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chống khủng bố, đẩy mạnh ngoại giao nhân dân
- Giành vai trò lãnh đạo trên một số vấn đề thông qua việc đi đầu xây dựng chương trình nghị sự của EAS như chủ động đưa vấn đề chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, an ninh hàng hải, trợ giúp nhân đạo/cứu trợ thảm họa
- Mỹ đã tích cực thúc đẩy sáng kiến tiểu vùng sông Mekong (LMI) nhất là trong các mặt xây dựng chương trình nghị sự, tìm kiếm nguồn lực cho hoạt động LMI
Khía cạnh thứ ba: Liên quan tới một “chiến lược thông minh” đối phó với
Trung Quốc Các cấu trúc an ninh đa phương trong khu vực đều là các cơ chế, diễn đàn thảo luận và tiến tới xử lý các vấn đề an ninh khu vực, trong đó bài toán chiến lược lớn nhất của Mỹ là đối phó với một Trung Quốc đang “trỗi dậy” Do đó, các cơ chế an ninh đa phương trong khu vực cũng là các công cụ của một chính sách được cho là hợp lý và hiệu quả nhất để đối phó với Trung Quốc Đặc biệt, trong bối cảnh Trung Quốc vừa là cơ hội, vừa là thách thức, Mỹ cũng phải tham gia thiết chế này để ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc, ngăn chặn xu hướng “loại trừ Mỹ” mà Trung Quốc chủ trương, đồng thời không đối đầu với Trung Quốc Do đó, cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung càng lớn thì mức độ cam kết của Mỹ đối với các cơ chế này càng tăng Cuối cùng, việc tham gia các cơ chế an ninh còn tạo điều kiện hỗ trợ cho sự can
dự của Mỹ vào các cơ chế kinh tế đa phương khu vực, từ tạo hiệu ứng tổng thể đảm bảo sự có mặt và khả năng tiếp cận khu vực ĐNA trên mọi lĩnh vực, qua đó giúp Mỹ củng cố vị thế trong quan hệ với Trung Quốc
2.1.2 Điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Obama
Lên nắm quyền trong thời điểm nước Mỹ đáng đứng trước những thách thức về kinh tế, chính trị Trong đó, khó khăn về kinh tế và sự chia rẽ trong nội bộ nước Mỹ có thể coi là những thách thức nghiêm trọng nhất với chính quyền tân Tổng thống B Obama Để có thể đối phó với những khó khăn, thách thức này, CQ TT B Obama phải
có những điều chỉnh căn bản về đối nội lẫn đối ngoại
Mục tiêu điều chỉnh chính sách đối ngoại
Chính sách đối ngoại Mỹ trong nhiệm kỳ Tổng thống B Obama tập trung vào khôi phục và củng cố vị trí siêu cường số một thế giới của Mỹ, phục hồi và phát triển kinh tế và chống khủng bố Mỹ chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa các mục tiêu, thực hiện chính sách đối ngoại linh hoạt mềm dẻo hiệu quả hơn Để thực hiện mục tiêu đảm bảo an ninh cho Mỹ và đồng minh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mỹ, vị thế lãnh đạo toàn cầu của Mỹ, đảm bảo thịnh vượng chung, bảo vệ và thúc đẩy các giá trị Mỹ trên