1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(LUẬN án TIẾN sĩ) các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong thư tín thương mại tiếng anh và tiếng việt

193 14 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 6,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Việt xét trên mối quan hệ với các hành động ngôn ngữ .... Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình t

Trang 1

NGUYỄN THỊ THANH

CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU ĐẠT TÌNH THÁI ĐẠO NGHĨA TRONG THƯ TÍN THƯƠNG MẠI

TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội, 2018

Trang 2

NGUYỄN THỊ THANH

CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU ĐẠT TÌNH THÁI ĐẠO NGHĨA TRONG THƯ TÍN THƯƠNG MẠI

TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu

Mã số: 62 22 02 41

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN VĂN HIỆP

Hà Nội, 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả Luận án

NCS Nguyễn Thị Thanh

Trang 4

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành luận án

Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình dạy dỗ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Khoa

Tôi xin cảm ơn Khoa Tiếng Anh chuyên ngành, Trường Đại học Ngoại thương – nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Tác giả luận án

NCS Nguyễn Thị Thanh

Trang 5

1 Lí do chọn đề tài 7

2 Đối tượng nghiên cứu của luận án 8

4 Mục đích nghiên cứu của luận án 9

5 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 9

6 Câu hỏi nghiên cứu của luận án 10

7 Phương pháp nghiên cứu của luận án 10

8 Ngữ liệu nghiên cứu của luận án 12

9 Đóng góp của luận án 12

10 Bố cục của luận án 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 14

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 14

1.1.1 Nghiên cứu về tình thái 14

1.1.2 Nghiên cứu về tình thái đạo nghĩa 18

1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ trong các văn bản thư tín thương mại 20

1.2 Cơ sở lí luận 23

1.2.1 Một số lí luận về tình thái đạo nghĩa 23

1.2.2 Một số lí luận về thư tín thương mại 33

1.2.3 Một số lí luận khác liên quan đến luận án 35

Tiểu kết chương 1 43

CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU ĐẠT TÌNH THÁI ĐẠO NGHĨA “BẮT BUỘC” TRONG THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 44

2.1 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Anh 46

2.1.1 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Anh xét trên bình diện kết học 46

2.1.2 Các phương tiện biểu đạt tình thái “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Anh xét trên bình diện nghĩa học 50

Trang 6

2.2 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Việt 64

2.2.1 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Việt xét trên bình diện kết học 64 2.2.2 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Việt xét trên bình diện nghĩa học 68 2.2.3 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Việt xét trên bình diện dụng học 72

2.3 Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt 81

2.3.1 Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt xét trên bình diện kết học 83 2.3.2 Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt xét trên bình diện nghĩa học 88 2.3.3 Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt xét trên bình diện dụng học 97

Tiểu kết chương 2 101 CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU ĐẠT TÌNH THÁI ĐẠO NGHĨA

“ĐƯỢC PHÉP” TRONG THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 103 3.1 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh 104

3.1.1 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh xét trên bình diện kết học 104 3.1.2 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh xét trên bình diện nghĩa học 107 3.1.3 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh xét trên bình diện dụng học 110

Trang 7

3.2.1 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Việt xét trên bình diện kết học 119 3.2.2 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Việt xét trên bình diện nghĩa học 122 3.2.3 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Việt xét trên bình diện dụng học 124

3.3 Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt 129

3.3.1 Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt xét trên bình diện kết học 130 3.3.2 Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt xét trên bình diện nghĩa học 136 3.3.3 Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt xét trên bình diện dụng học 141

Tiểu kết chương 3 146

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 161

Trang 8

thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt 44Bảng 2.2 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Anh xét trên bình diện nghĩa học 51Bảng 2.3 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Anh xét trên mối quan hệ với các hành động ngôn ngữ 56Bảng 2.4 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Việt xét trên bình diện nghĩa học 68Bảng 2.5 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Việt xét trên mối quan hệ với các hành động ngôn ngữ 73Biểu đồ 2.1 Đối chiếu tần suất sử dụng các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa

“bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt 81Bảng 2.6 Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt xét trên bình diện nghĩa học 88Bảng 2.7 Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt xét trên mối quan hệ với các hành động ngôn ngữ 97Bảng 2.8 Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt xét trên mối quan hệ với các biểu thức điều biến phục vụ cho chiến lược lịch sự 100Bảng 3.1 Tổng hợp các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt 103Bảng 3.2 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh xét trên bình diện nghĩa học 107Bảng 3.3 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh xét trên mối quan hệ với các hành động ngôn ngữ 110Bảng 3.4 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Việt xét trên bình diện nghĩa học 122Bảng 3.5 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Việt xét trên mối quan hệ với các hành động ngôn ngữ 124

Trang 9

“được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt 129Bảng 3.6 Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt xét trên bình diện nghĩa học 137Bảng 3.7 Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt xét trên mối quan hệ với các hành động ngôn ngữ 142Bảng 3.8 Đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt xét trên mối quan hệ với các biểu thức điều biến phục vụ cho các chiến lược lịch sự 145

Trang 10

ĐTTT : Động từ tình thái

ĐTNH : Động từ ngôn hành

Câu ĐK : Câu điều kiện

Câu ML : Câu mệnh lệnh

TA : Ngữ liệu tiếng Anh

TV : Ngữ liệu tiếng Việt

Trang 11

Với sự ra đời của ngữ pháp chức năng, các nhà ngôn ngữ học có xu hướng mở rộng đối tượng nghiên cứu, họ không chỉ quan tâm đến ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống trừu tượng, tĩnh tại gồm các đơn vị và các quan hệ giữa các đơn vị mà còn quan tâm đến ngôn ngữ với tư cách là công cụ tương tác, tức là ngôn ngữ trong hoạt động, trong giao tiếp giữa con người với con người Theo đó, ngôn ngữ không chỉ được dùng

để miêu tả, phản ánh thế giới trong hoạt động nhận thức và tương tác xã hội, mà còn được dùng để thể hiện quan điểm, thái độ, tình cảm của người tạo lập đối với người tiếp nhận và với chính vấn đề được đề cập Nếu bỏ qua yếu tố tình thái, ngôn ngữ sẽ trở nên rời rạc, vô hồn Vì thế, quan tâm đến tình thái là một xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của ngôn ngữ học

Tình thái trong ngôn ngữ vô cùng phong phú và đa dạng Có nhiều cách phân loại tình thái như phân loại theo logic tình thái, phân loại theo sự biểu đạt thái độ của người tạo lập với người tiếp nhận và với nội dung được đề cập Tuy nhiên, dù được phân chia theo quan điểm nào thì “tình thái đạo nghĩa” (deontic modality) vẫn được nhìn nhận là một dạng cơ bản và quan trọng của phạm trù tình thái, phân biệt với các loại tình thái còn lại như tình thái nhận thức, tình thái tất suy, tình thái thời đoạn, tình thái mong ước, tình thái đánh giá… Tình thái đạo nghĩa được định nghĩa là

“loại tình thái liên quan đến nhân tố ý chí của người nói, theo đó người nói đánh giá tính hợp thức về đạo đức hay các chuẩn mực xã hội khác đối với hành động do một người nào đó hay chính người nói thức hiện” [121, tr.96] Tình thái đạo nghĩa được

các nhà ngôn ngữ trên thế giới quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, tại Việt Nam, tình thái đạo nghĩa vẫn còn là vấn đề mới Do vậy, cần có nghiên cứu chuyên sâu về phạm trù

vô cùng quan trọng này

Mặt khác, trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, giao dịch thương mại giữa các doanh nghiệp ngày càng phát triển, việc lựa chọn phương tiện giao dịch sao cho hiệu quả thực sự đã và đang trở thành một nhu cầu bức

thiết Là một “phương tiện thông tin liên lạc mà một tổ chức kinh tế sử dụng để gửi

Trang 12

cho đối tác và khách hàng của mình” [56, tr.263], các văn bản thư tín thương mại

đã và đang khẳng định tầm quan trọng và tính hiệu quả của mình trong quá trình giao dịch thương mại giữa các doanh nghiệp Nội dung các văn bản thư tín thương mại thường đề cập là những yêu cầu, đề nghị, cho phép đối tác thực hiện một hoạt động nào đó Song song với việc truyền đạt nội dung trên, các văn bản thư tín thương mại còn quan tâm đến mối quan hệ giữa người tạo lập và người tiếp nhận thông qua những đánh giá dựa trên các chuẩn mực xã hội nói chung và các quy định, điều lệ trong kinh doanh nói riêng Tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tôi chưa tiếp cận được bất kỳ nghiên cứu chuyên sâu nào về loại nghĩa đặc biệt này

Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy môn thư tín thương mại cho sinh viên chuyên ngành kinh tế, chúng tôi nhận thấy những khó khăn trong việc lựa chọn phương tiện biểu đạt để vừa biểu đạt nội dung văn bản vừa biểu đạt thái độ của người viết mà không ảnh hưởng đến mối quan hệ trong kinh doanh Hơn nữa, việc chuyển dịch một phương tiện trong ngôn ngữ này sang phương tiện tương đương trong ngôn ngữ khác cũng là những thách thức đối với người nghiên cứu, giảng dạy, tạo lập và tiếp nhận các văn bản thư tín thương mại Do vậy, việc nghiên cứu về các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ và thể loại văn bản là vô cùng cần thiết

2 Đối tượng nghiên cứu của luận án

Do đặc trưng của các văn bản thư tín thương mại nên đối tượng nghiên cứu của luận án là các phương tiện từ vựng, ngữ pháp được dùng để biểu đạt tình thái đạo nghĩa được sử dụng trong 180 văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và 180 văn bản thư tín thương mại tiếng Việt

3 Phạm vi nghiên cứu của luận án

Khi bàn về tình thái đạo nghĩa, Palmer (1986) đã đề cập đến bốn nhóm tình thái đạo nghĩa là “bắt buộc”, “cấm đoán”, “được phép”, “được miễn trừ” Qua khảo sát các văn bản thư tín thương mại, chúng tôi nhận thấy các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” được sử dụng 688 lần trong các văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và 645 lần trong các văn bản thư tín thương mại tiếng Việt

Trang 13

Tương tự, các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” được sử dụng

284 lần trong các văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và 211 lần trong các văn bản thư tín thương mại tiếng Việt Trong khi đó, các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “cấm đoán” chỉ xuất hiện 68 lần trong các văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và 8 lần trong các văn bản thư tín thương mại tiếng Việt Tương tự, các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được miễn trừ” cũng chỉ xuất hiện 24 lần trong các văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và 24 lần trong các văn bản thư tín thương mại tiếng Việt Hơn nữa, khi đi sâu phân tích về mối quan hệ giữa các phương tiện biểu đạt nội dung tình thái trên, chúng tôi nhận thấy bản chất của các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “cấm đoán”, “được miễn trừ” chủ yếu là dạng phủ định của các phương tiện biểu đạt tình thái “bắt buộc”, “được phép” Chẳng hạn như “cannot”, “could not”, “không được” là dạng phủ định của “can”,

“could”, “được” Tương tự, các phương tiện như “need not”, “không phải”, “không cần” là dạng phủ định của “need”, “phải”, “cần” Trong khuôn khổ của một luận án, chúng tôi không thể đi sâu phân tích tất cả các nội dung tình thái trên Do vậy, chúng tôi chỉ lựa chọn các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc”,

“được phép” để đi sâu phân tích và đối chiếu các đặc điểm về kết học, nghĩa học và dụng học nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt liên quan đến loại hình văn bản, ngôn ngữ, văn hóa được thể hiện thông qua việc lựa chọn các phương tiện biểu đạt trên

4 Mục đích nghiên cứu của luận án

Nghiên cứu này được tiến hành nhằm hai mục đích sau:

- Làm rõ các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt trên ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học

- Chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt Kết quả của luận án có thể được dùng để phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, tạo lập và tiếp nhận các văn bản thư tín thương mại đạt hiệu quả hơn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Để có thể đạt được mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:

Trang 14

- Hệ thống hóa lí luận về tình thái nói chung và tình thái đạo nghĩa nói riêng

- Khảo sát các phương tiện từ vựng, ngữ pháp biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt và phân chia chúng theo hai nhóm tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” và “được phép”

- Miêu tả các phương tiện biểu đạt ở ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học

- Đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa và thể thức văn bản

6 Câu hỏi nghiên cứu của luận án

Việc thực hiện những nhiệm vụ trên sẽ giúp người viết lần lượt trả lời các câu hỏi sau:

1 Tình thái đạo nghĩa được biểu đạt bằng các phương tiện từ vựng, ngữ pháp nào trong các văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt?

2 Xét trên ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học, chúng có những đặc điểm gì?

3 Những phương tiện trên có điểm tương đồng và khác biệt nào về ngôn ngữ, văn hóa và thể thức văn bản?

7 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Do đối tượng nghiên cứu là các phương tiện từ vựng, ngữ pháp biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt nên chúng tôi dùng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:

7.1 Phương pháp phân tích diễn ngôn

Phương pháp phân tích diễn ngôn là “đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn

ngữ nói và viết bậc trên câu từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng” [3, tr.158] Trong nghiên cứu

này, chúng tôi không sử dụng toàn bộ công cụ của phương pháp phân tích diễn ngôn để phân tích toàn bộ nội dung của diễn ngôn mà chúng tôi chỉ sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn để có thể phân tích phương tiện được sử dụng trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, từ đó, xác định được ý nghĩa của phương tiện dựa trên nội

Trang 15

dung mà phương tiện đó biểu đạt trong các văn bản thư tín thương mại

7.2 Phương pháp miêu tả

Trong nghiên cứu này, phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc”, “được phép” được tìm thấy trong các văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học Ở bình diện kết học, chúng tôi miêu tả các phương tiện biểu đạt gắn với cấu trúc câu Ở bình diện nghĩa học, chúng tôi miêu tả các phương tiện biểu đạt theo ba mức độ tình thái theo mô hình của Halliday và Matthiessen (2004)

Ở bình diện dụng học, chúng tôi vừa miêu tả mối quan hệ của các phương tiện biểu đạt với các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm khuyến lệnh và kết ước theo quan điểm của Searle (1969), vừa miêu tả mối quan hệ của các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa với các biểu thức điều biến phục vụ cho chiến lược lịch sự âm tính, dương tính theo quan điểm của Brown và Levinson (1978)

7.3 Phương pháp đối chiếu

Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ như Fisiak, Johansson, Lê Quang

Thiêm, Nguyễn Thiện Giáp, Bùi Mạnh Hùng thì phương pháp đối chiếu là “phương

pháp nghiên cứu so sánh hai hay nhiều ngôn ngữ hoặc tiểu loại của ngôn ngữ nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa chúng” Phương pháp đối chiếu có thể được

chia thành các tiểu loại là đối chiếu một chiều, đối chiếu hai chiều và đối chiếu song song Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp đối chiếu một chiều từ tiếng Anh sang tiếng Việt Để làm được điều đó, chúng tôi chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ cơ sở (ngôn ngữ nguồn) và tiếng Việt làm ngôn ngữ phương tiện (ngôn ngữ đích) Chúng tôi lần lượt đối chiếu từng bình diện kết học, nghĩa học và dụng học của các phương tiện biểu đạt tiếng Anh với các phương tiện biểu đạt tiếng Việt để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng

Bên cạnh việc sử dụng ba phương pháp phân tích trên, chúng tôi còn sử dụng thủ pháp thống kê để thống kê về tần suất và tỉ lệ sử dụng các phương tiện trong các văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt thông qua việc sử dụng phần mềm TextSTAT 2 Đây là một trong những phần mềm lọc dữ liệu ngôn ngữ có uy tín, đang được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước sử dụng

Trang 16

8 Ngữ liệu nghiên cứu của luận án

Ngữ liệu khảo sát của luận án là 180 văn bản thư tín thương mại tiếng Anh của các công ty tư nhân như Oriental Star; CH & Lynch Ltd; Cosevec, N.T; Satex, S.p.A, R Hughes and Son Ltd… với tổng số 258 trang Tương tự, 180 văn bản thư tín thương mại tiếng Việt của các công ty tư nhân như Công ty du lịch và thể thao Việt Nam, Công ty sản xuất đồ tre chuyên dụng KPI, Công ty TNHH và phát triển EDH, Công ty Hoa Lan, Công ty xuất nhập khẩu rau quả Việt Nam, Công ty ESSO, Công ty Ngọc Tú, Công ty Ngọc Động Hà Nam… với tổng số 261 trang Các văn bản này đều thuộc nhóm thư yêu cầu, thư chào hàng và thư khiếu nại Ba nhóm thư trên được lựa chọn để nghiên cứu do chúng được sử dụng trong hầu hết các giao dịch của các công ty Đồng thời, những nhóm thư này cũng là những nhóm thư mà tình thái đạo nghĩa có thể được nhận thấy rõ nhất Để đảm bảo độ tin cậy của ngôn ngữ được sử dụng cũng như nhận thấy rõ hơn sự khác biệt về ngôn ngữ, chúng tôi lựa chọn nhóm các văn bản tiếng Anh do người Anh viết và được sử dụng để gửi cho người Anh Tương tự, chúng tôi lựa chọn nhóm các văn bản tiếng Việt mà người viết và người nhận đều là người Việt Nam

9 Đóng góp của luận án

- Về mặt lý luận Thông qua nghiên cứu này, luận án góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn lí luận về tình thái, tình thái đạo nghĩa, các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa, thư tín thương mại, đặc điểm của ngôn ngữ trong thư tín thương mại Đồng thời, luận án cũng đã hệ thống hóa các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc”, “được phép” được thường xuyên sử dụng trong các văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt để làm cơ sở cho những nghiên cứu sâu hơn

- Về mặt thực tiễn Việc đối chiếu các phương tiện biểu đạt để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt ở cả ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học sẽ giúp người đọc thấy được rõ hơn đặc điểm của từng phương tiện để từ đó có thể lựa chọn được phương tiện phù hợp nhất để biểu đạt thái độ của mình đối với nội dung mệnh đề được đề cập Do vậy, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần nâng cao công tác nghiên

Trang 17

cứu, giảng dạy, tạo lập và tiếp nhận các văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt

10 Bố cục của luận án

Luận án ngoài phần mở đầu và kết luận được chia thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Trong chương này, chúng tôi lần lượt tổng quan các nghiên cứu trên thế giới

và tại Việt Nam về tình thái, tình thái đạo nghĩa và đặc điểm ngôn ngữ trong các văn bản thư tín thương mại nhằm giúp người đọc nắm rõ hơn về tình hình nghiên cứu về tình thái đạo nghĩa trong thư tín thương mại Tiếp đến, chúng tôi trình bày các cơ sở lí luận về tình thái đạo nghĩa, thư tín thương mại và các lí luận khác liên quan đến luận

án Đây là khung lí thuyết mà chúng tôi sử dụng để tiến hành nghiên cứu

Chương 2: Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong

thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt

Trong chương này, chúng tôi lần lượt miêu tả các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” được tìm thấy trong 180 văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và

180 văn bản thư tín thương mại tiếng Việt trên ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học Tiếp đến, chúng tôi lần lượt đối chiếu theo từng bình diện để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về loại hình văn bản, ngôn ngữ và văn hóa

Chương 3: Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong

thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt

Tương tự như chương 2, trong chương 3, chúng tôi tiếp tục khảo sát các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” và lần lượt miêu tả, đối chiếu các phương tiện biểu đạt này trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về loại hình văn bản, ngôn ngữ và văn hóa

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ

CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu về tình thái

1.1.1.1 Các quan điểm về tình thái

Tình thái là một phạm trù ngữ nghĩa của câu Tình thái có thể được chia thành hai nhóm lớn là tình thái khách quan và tình thái chủ quan Tình thái khách quan thể hiện những mối quan hệ giữa nội dung được miêu tả trong phát ngôn với hiện thực cuộc sống Tình thái chủ quan được dùng để biểu đạt thái độ, đánh giá của người nói đối với nội dung thông báo của phát ngôn, đối với hoàn cảnh phát ngôn

và đối với hiện thực.Trên thế giới, tình thái được nghiên cứu không chỉ trong lĩnh vực lô gích học mà còn trong lĩnh vực ngôn ngữ học

Trong lĩnh vực lô gích học, Jespersen đề cập đến tình thái trong mối quan hệ với “thức” (mood) và khẳng định việc lựa chọn thức phụ thuộc vào thái độ của người nói, đặc điểm của tiểu cú và mối quan hệ của nó với các cú khác trong câu Với quan điểm trên, ông đã phân chia phạm trù tình thái thành nhóm có chứa thành

tố ý chí và nhóm không chứa thành tố ý chí [dẫn theo 35] Như vậy, nghiên cứu của Jespersen đã nêu ra sự phân chia phổ quát về tình thái làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo Tiếp đến, von Wright cũng nghiên cứu về khía cạnh lô gích về tình thái và đề cập đến bốn thức là thức tất suy, thức nhận thức, thức đạo nghĩa, thức tồn thái [dẫn theo 35] Việc phân chia này đã làm rõ hơn sự phân biệt giữa tình thái dựa trên nhân tố “ý chí” mà Jespersen đã đề cập, đồng thời, đưa ra được hai nhóm tình thái mới là tình thái tất suy và tình thái tồn tại Tuy nhiên, ở một khía cạnh nào đó, tình thái tất suy và tình thái tồn tại khó được nhận diện một cách rõ ràng trong câu Cũng nghiên cứu về lôgíc tình thái, Rescher đã đưa ra một danh sách khá rộng về tình thái bao gồm tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa, tình thái thời đoạn, tình thái mong ước, tình thái đánh giá, tình thái nhân quả [dẫn theo 35] Việc phân chia này bị đánh giá là quá rộng, quá đa dạng nên rất khó nắm bắt

Trang 19

Trong lĩnh vực ngôn ngữ học, Searle đã đề cập đến tình thái khi nghiên cứu về các hành động ngôn ngữ Theo ông, hành động ngôn ngữ có thể được chia thành năm nhóm cơ bản là xác quyết, khuyến lệnh, kết ước, tuyên bố, biểu lộ [theo 130] Tương ứng với năm nhóm hành động ngôn ngữ trên là năm nhóm tình thái Với cách tiếp cận này, vai trò của người nói với tư cách là chủ thể nhận thức đã được nhấn mạnh Tương tự, Lyons cũng đưa ra quan điểm của mình về tình thái Theo đó, tình thái là

“thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà

mệnh đề đó miêu tả” [110, tr.425] Với quan điểm trên, tình thái có thể được chia

thành ba nhóm là tình thái tất yếu và khả năng, tình thái nhận thức và tình thái đạo

nghĩa Đồng tình với quan điểm trên, Palmer cho rằng tình thái là “thông tin ngữ

nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói đến trong câu” [121, tr.14] Dựa vào các nhân tố về tất yếu, khả năng và hiện thực, ông

đã chia tình thái thành hai nhóm là tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa Trong

đó, “tình thái nhận thức được dùng để chỉ ra vị thế hiểu biết của người nói bao gồm

cả sự xác nhận cũng như những đảm bảo cá nhân của người nói đối với điều anh ta nói còn tình thái đạo nghĩa lại liên quan đến tính hợp thức về đạo đức hay các chuẩn mực xã hội khác đối với hành động do một người nào đó hay chính người nói thực hiện” [121, tr.96] Việc phân chia này đã làm rõ sự khác biệt giữa tính khả năng và tất

yếu của tình thái và khá phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi

Tại Việt Nam, tình thái cũng là một trong các vấn đề được các nhà Việt ngữ

nghiên cứu Hoàng Trọng Phiến đề cập đến tình thái và coi tình thái “là phạm trù

ngữ pháp của câu ở dạng tiềm ẩn, và có mặt trong tất cả các kiểu câu Điều này thể hiện ở chỗ các câu có giá trị thời sự, nó có tác dụng thông báo một điều mới mẻ Qua đó, người nghe hiểu rằng người nói có thái độ thế nào đối với hiện thực” [50,

tr.30] Tương tự, khi nhìn từ góc độ dụng học, Đỗ Hữu Châu nhận định “tình thái

bao gồm toàn bộ những ý nghĩa thuộc phạm vi dụng học và hợp lại thành thông điệp bộc lộ kèm lõi P của câu” [5, tr.16] Cùng với tinh thần trên, Hoàng Tuệ đã

nhận định “tình thái là một khái niệm trong sự phân tích theo cách nhìn tìm đến

thái độ của người nói trong hoạt động phát ngôn, tức cũng là tìm đến tác động ngữ dụng, tác động mà người nói muốn tạo ra ở người nghe trong thực tiễn hoạt động ngôn ngữ” [66, tr.TV1]

Trang 20

Khi bàn luận về việc phân chia tình thái, dựa trên lý thuyết về hành vi ngôn ngữ, Cao Xuân Hạo đã chia tình thái thành tình thái hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn Tình thái của hành động phát ngôn phân biệt các lời về phương diện mục tiêu và tác dụng của giao tế còn tình thái của lời phát ngôn thuộc nội dung được truyền đạt hay được yêu cầu truyền đạt Tình thái của lời phát ngôn lại tiếp tục được chia thành hai tiểu loại là tình thái của câu và tình thái của cấu trúc

vị hạt nhân [theo 24] Tương tự, trong nghiên cứu của mình, Phạm Hùng Việt đã hệ thống các nghiên cứu về tình thái dựa trên quan điểm phân chia tình thái thành tình thái khách quan và tình thái chủ quan Đồng thời, tác giả cũng đã hệ thống hóa các trợ từ được sử dụng để biểu đạt tình thái trong tiếng Việt Cũng bàn về việc phân chia tình thái, Nguyễn Văn Hiệp đã xác lập một số tiểu loại tình thái dựa trên sự đối lập giữa chúng Cụ thể là:

- Đối lập giữa tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa,

- Đối lập giữa tình thái nhận thức và tình thái căn bản,

- Đối lập giữa tình thái hướng tác thể và tình thái hướng người nói,

- Đối lập giữa tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời nói phát ngôn,

- Những đối lập tình thái mang tính “lập trường” thuộc chủ quan của người nói [theo 35]

Mặc dù tình thái có thể được định nghĩa và phân loại theo nhiều cách khác nhau nhưng về cơ bản tình thái được hiểu là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề được đề cập và tình thái đạo nghĩa là một loại tình thái cơ bản thuộc phạm trù tình thái chủ quan trong ngôn ngữ

1.1.1.2 Các phương tiện biểu đạt tình thái

Phương tiện là cách thức, hình thức biểu hiện của một nội dung nào đó trong ngôn ngữ Khi bàn về phương tiện biểu đạt của tình thái trong tiếng Anh, Lyons, Palmer cho rằng, tình thái trong tiếng Anh được biểu đạt thông qua các phương tiện là hệ thống các động từ tình thái, thức [theo 110], [theo 121] Portner lại đề cập đến các phương tiện biểu đạt dựa trên vai trò của nó trong câu

Do vậy, tình thái có thể được biểu đạt thông qua các phương tiện thuộc câu như

Trang 21

trợ động từ tình thái và trạng từ tình thái hay các phương tiện thuộc bộ phận của câu như danh từ, động từ và tính từ chỉ thái độ của mệnh đề [theo 124] Tương

tự, Charlow và Chrisman đề cập đến các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa theo cấp độ từ và câu Ở cấp độ từ, các phương tiện biểu đạt gồm các động từ tình thái và các dạng phủ định, tính từ, động từ ngôn hành Ở cấp độ câu, các phương tiện được biểu đạt qua cấu trúc câu mệnh lệnh, câu điều kiện [theo 90]

Trong khi đó, khi bàn về các phương tiện biểu đạt tình thái trong tiếng Việt, Hoàng Trọng Phiến cho rằng, trong mỗi ngôn ngữ tình thái được biểu hiện khác nhau nhưng thông thường thì được biểu hiện bằng ngữ điệu, danh xưng của động

từ, trật tự từ, từ tình thái, thành ngữ và quán ngữ làm chức năng phân biệt và thực tại hóa câu [theo 50] Ở một góc nhìn khác, Hoàng Tuệ khẳng định, phương tiện biểu đạt tình thái bao gồm phương tiện nằm trong cấu trúc đoản ngữ, phương tiện nằm ngoài cấu trúc đoản ngữ và phương tiện thành phần câu [theo 66] Tương tự, Cao Xuân Hạo đề cập đến các phương tiện biểu đạt tình thái từ góc độ thành phần câu và từ loại và đưa ra một danh sách gồm khởi ngữ, cấu trúc đề-thuyết, hình thái

vị từ, vị từ tình thái mà bổ ngữ là cấu trúc vị ngữ hạt nhân, trợ từ tình thái đặt trong ngữ đoạn vị từ hay ngoài ngữ đoạn vị từ [theo 24] Đinh Văn Đức đã trình bày những đánh giá của mình về các phương tiện biểu đạt tình thái và đề cập đến các tiểu từ chuyên dụng là một trong những phương tiện biểu đạt tình thái quan trọng của tiếng Việt [theo 16] Đi sâu vào các phương tiện biểu đạt tình thái trong tiếng

Việt còn phải kể đến công trình “Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại” của Phạm Hùng

Việt Tác giả đã phân loại trợ từ thành các nhóm khác nhau và đi sâu miêu tả đặc điểm nghĩa tình thái và hoàn cảnh sử dụng của chúng [theo 68] Tiếp đó, trong công

trình “Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp”, Nguyễn Văn Hiệp đã liệt kê mười hai

phương tiện biểu đạt tình thái bao gồm các phó từ làm thành phần phụ của ngữ vị từ; các vị từ tình thái tính làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ; các vị từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề; các quán ngữ tình thái; các vị từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành; các thán từ; các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp đặc ngữ tương đương; các vị từ đánh giá và tổ hợp có tính đánh giá; các trợ từ; những đại từ nghi vấn dùng trong câu phủ định; các từ ngữ chêm xen biểu đạt tình thái; kiểu câu điều kiện, giả định [theo 35]

Trang 22

Như vậy, các phương tiện biểu đạt tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt khá đa dạng và phong phú Tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp và loại hình văn bản

mà người nói, người viết có thể lựa chọn cho mình phương tiện biểu đạt phù hợp với mục đích phát ngôn

1.1.2 Nghiên cứu về tình thái đạo nghĩa

Tình thái đạo nghĩa (deontic modality) xuất phát từ gốc tiếng Hy Lạp

“deon” có nghĩa là bổn phận, trách nhiệm liên quan đến tính tất yếu của hành động Những nghiên cứu tiên phong về tình thái trong mối quan hệ với thức của Jespersen, von Wright, Rescher, Searle đã đề cập đến tình thái đạo nghĩa như một phạm trù cơ bản thuộc tình thái chủ quan Sau này, Lyons nghiên cứu về tình thái đạo nghĩa trên bình diện nghĩa và khẳng định về mối quan hệ giữa sự cần thiết và cho phép của hành động dựa trên nhân tố đạo đức [theo 110] Tuy nhiên, nhân tố ý chí này không chỉ xuất phát từ mong muốn của cá nhân mà còn

có thể bị tác động bởi những nhân tố bên ngoài người viết như luật lệ Tiếp đó, Porter đã đưa ra quan điểm về tình thái đạo nghĩa là những gì liên quan đến cái đúng và sai theo như một vài hệ thống luật lệ nào đó [theo 124] Tương tự, hai tác giả Charlow và Chrisman nghiên cứu về mối quan hệ của các phạm trù tất yếu, khả năng của sự vật dựa trên logic và tự nhiên [theo 90] Như vậy, có thể thấy, các nghiên cứu trên đã cung cấp lý thuyết về tình thái đạo nghĩa dựa trên mối quan hệ với các thành tố ngôn ngữ khác nhau Mối quan hệ này cũng đã được Palmer trình bày trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa tình thái và thức

Theo đó, “tình thái đạo nghĩa là loại tình thái có chứa nhân tố ý chí của người

nói thông qua những đánh giá về đạo đức, chuẩn mực xã hội đối với hành động

do một người nào đó hay chính người nói thực hiện” [121, tr.86]

Tiếp đến, tình thái đạo nghĩa được nghiên cứu trong ngữ cảnh sử dụng Schemied khẳng định việc sử dụng tình thái đạo nghĩa phụ thuộc vào ngữ cảnh [theo 129] Theo đó, một từ có thể biểu đạt nhiều kiểu tình thái và thức khác nhau dựa trên ngữ cảnh khác nhau Chẳng hạn, động từ “must” vừa có thể được hiểu theo nghĩa tình thái nhận thức vừa được hiểu theo nghĩa tình thái đạo nghĩa Không những thế, tình thái đạo nghĩa còn được nghiên cứu trong ngôn ngữ tự nhiên bởi Fintel & Gillies

Trang 23

Nghiên cứu chỉ ra rằng ngôn ngữ tự nhiên được xác định bởi các thành tố bên trong

và các thành tố bên ngoài ngôn ngữ như nghĩa học và dụng học, giao thoa văn hóa và cách thuyết giải Do vậy, nghĩa tình thái được xác định qua các diễn đạt bao gồm nghĩa tình thái trạng huống và nghĩa tình thái đạo nghĩa [theo 92]

Tình thái đạo nghĩa cũng được nghiên cứu dựa trên phương tiện biểu đạt được sử dụng Các nghiên cứu của Palmer, Portner, Charlow & Chrisman đã liệt kê các phương tiện ngôn ngữ biểu đạt tình thái trong tiếng Anh Cụ thể là, Palmer liệt

kê các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa gồm các động từ tình thái, thức và các phương tiện từ vựng, như tiểu từ tình thái [theo 121] Portner đề cập đến hai nhóm biểu đạt tình thái gồm trợ động từ tình thái, bán trợ động từ tình thái, phương tiện biểu đạt tình thái thuộc bộ phận của câu như danh từ, động từ và tính từ chỉ thái

độ của mệnh đề [theo 124] Hơn nữa, Charlow & Chrisman đề cập đến các động từ tình thái, tính từ, động từ chỉ sự “bắt buộc”, “cho phép” và nhiều cấu trúc như câu mệnh lệnh hay câu điều kiện [theo 90]

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về tình thái đạo nghĩa chưa nhiều và chủ yếu nghiên cứu trong sự so sánh với các loại tình thái khác Đầu tiên phải kể đến cuốn sách “Cơ sở ngữ nghĩa, phân tích cú pháp” của Nguyễn Văn Hiệp Đây là một giáo trình đề cập một cách chi tiết về tình thái đạo nghĩa thông qua sự đối lập với các loại tình thái khác Thông qua giáo trình này, người viết sẽ có được khung kiến thức

để tiến hành những nghiên cứu về tình thái nói chung và tình thái đạo nghĩa nói

riêng Tiếp đến là luận án “Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt” của Bùi

Trọng Ngoãn Luận án này đã nghiên cứu lớp động từ tình thái tiếng Việt ở bình diện nghĩa học và dụng học Ở bình diện nghĩa học, tác giả đã nêu những đặc điểm nghĩa học của lớp động từ tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa Ở bình diện dụng học, tác giả đã chia các động từ tình thái dựa trên các hành vi tạo lời như tái hiện, điều khiển, biểu cảm, cam kết, tuyên bố [theo 47] Có thể nói, luận án này đã trình bày khá chi tiết về động từ tình thái nhận thức và đạo nghĩa trong tiếng Việt Đây là cơ sở để phân chia các động từ tình thái tiếng Việt thành từng nhóm sau này

Ngoài ra, luận án của Nguyễn Thị Thuận cũng đi sâu nghiên cứu “các động từ tình

thái “nên”, “cần”, “phải”, “bị”, “được” trong câu tiếng Việt” ở hai bình diện

Trang 24

nghĩa học, dụng học Luận án đã chỉ rõ những nét nghĩa của từng động từ tình thái trên đồng thời trình bày những hành vi ngôn ngữ mà từng động từ tình thái trên biểu

đạt [theo 60] Trong bài “Về một bình diện phát triển của tiếng Việt (thể hiện qua

hiện tượng ngữ pháp hóa hình thành một số tiểu từ tình thái cuối câu), tác giả Nguyễn Văn Hiệp đã trình bày về nhóm tiểu từ tình thái cuối câu và khẳng định tiểu từ tình thái cuối câu dùng để biểu đạt ý chí có tính áp đặt của người nói muốn người nghe thực hiện hành động được nói đến trong câu và như vậy cũng được coi là một dấu hiệu ngôn hành thuộc nhóm khuyến lệnh [theo 31] Theo hướng nghiên cứu đó, trong

bài “Một số phạm trù tình thái chủ yếu trong ngôn ngữ”, tác giả Lê Đông và Nguyễn

Văn Hiệp cũng đã biểu đạt sự đồng tình của mình đối với quan điểm về tình thái đạo nghĩa đã được Palmer đưa ra trước đó Theo đó, tình thái đạo nghĩa liên quan đến tính hợp thức về đạo đức hay các chuẩn mực xã hội khác nhau đối với hành động do một người nào đó hay chính người nói thực hiện [theo 15]

Như vậy, có thể khẳng định, tình thái đạo nghĩa là một vấn đề hấp dẫn và đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới tập trung nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, tại Việt Nam, những nghiên cứu về tình thái đạo nghĩa còn khá hạn chế Do vậy, cần có thêm những nghiên cứu chuyên sâu để có thể nắm bắt được vấn

đề này trong tiếng Việt

1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ trong các văn bản thư tín thương mại

Thư tín thương mại là một loại văn bản giao dịch được các cá nhân, tổ chức dùng để trao đổi thông tin trong quá trình hoạt động kinh doanh Để đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất thì việc lựa chọn một phương tiện phù hợp để biểu đạt nội dung và thái độ đóng vai trò rất quan trọng Các nghiên cứu về việc

sử dụng ngôn ngữ trong thư tín thương mại tiếng Anh đã chỉ rõ đặc điểm ngôn ngữ của loại hình văn bản này Nghiên cứu đầu tiên về ngôn ngữ trong thư tín thương mại của Ashley đã đề cập đến năm đặc tính của ngôn ngữ trong thư tín thương mại bao gồm tính thống nhất thể hiện ở từ ngữ lựa chọn; tính rõ ràng thông qua các cụm từ diễn đạt, cách sử dụng thể chủ động, bị động; tính hoàn chỉnh thể hiện hiện ở thông tin đưa ra cần đầy đủ; tính súc tích thể hiện qua cách diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng; tính chính xác thể hiện ở tất cả các thông tin được

Trang 25

trình bày trong văn bản phải đảm bảo độ tin cậy Do vậy, cần lựa chọn những từ đơn nghĩa, thông dụng, không phân biệt giới tính, từ ngữ mang tính tích cực….những từ ngữ thể hiện nghĩa rõ ràng để tránh sự hiểu lầm giữa người viết

và người nhận Khi viết câu, người viết cần lưu ý viết câu đơn, đủ ý, chính xác

về mặt thông tin và cách diễn đạt [theo 72] Tương tự, Dawyer nghiên cứu về việc sử dụng ngôn ngữ trong từng tình huống giao tiếp như chấp nhận lời mời, thông báo thay đổi, xác nhận thông tin, đưa ra lời phàn nàn, đưa ra yêu cầu và cũng khẳng định về tính thống nhất, rõ ràng, súc tích của loại văn bản này [theo 91] Ngoài ra, Courtland & John cũng đã trình bày các quy trình giao tiếp, quy trình viết một số nhóm thư tiêu biểu, cách sử dụng ngôn ngữ trong từng tình huống giao tiếp cụ thể như khi đưa ra yêu cầu hay đề xuất cần viết thẳng vào vấn đề, khi đưa ra sự phàn nàn cần trình bày rõ nội dung phàn nàn cũng như phương hướng giải quyết [theo 88] Mặc dù các nghiên cứu trên có đề cập đến cách sử dụng ngôn ngữ trong thư tín thương mại nhưng chúng mới chỉ đưa ra những đặc điểm chung của ngôn ngữ mà chưa đi sâu phân tích ngôn ngữ, cách diễn đạt để đạt được mục đích giao tiếp cụ thể như tình thái đạo nghĩa Hơn nữa, cũng chưa có một nghiên cứu nào đối chiếu việc sử dụng các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong cùng một thể loại văn bản thư tín thương mại nhưng trong hai ngôn ngữ khác nhau để chỉ ra những tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa giữa chúng

Tại Việt Nam, theo khảo sát của chúng tôi, những nghiên cứu về ngôn ngữ trong thư tín thương mại chưa nhiều, chưa sâu và chưa cụ thể Tuy nhiên, cũng có thể

kể ra một số công trình liên quan đến hướng nghiên cứu của chúng tôi Trong luận án

“Phân tích diễn ngôn thư tín thương mại”, tác giả Nguyễn Trọng Đàn đã phân tích và

xác định các hành vi lời nói trong các loại hình thư tín thương mại và mô hình hóa những hành vi lời nói này để nâng cao hiệu quả của việc giảng dạy thư tín thương mại Luận án tập trung nghiên cứu bốn loại thư bao gồm thư hỏi hàng, chào hàng, đặt hàng và khiếu nại dựa trên hành vi lời nói Thông qua luận án, tác giả khẳng định, thư tín thương mại là một lớp văn bản đặc biệt thể hiện mục đích rõ ràng với 3 điều kiện

là rõ ràng, súc tích và lịch sự [theo 10] Mặc dù luận án có trình bày về phương tiện ngôn ngữ thực hiện hành vi lời nói trong thư tín thương mại nhưng tất cả đều chưa cụ thể Nói cách khác, tác giả mới dừng ở việc liệt kê các phương tiện ngôn ngữ sử dụng

Trang 26

trong từng mục của các loại thư mà chưa đi sâu phân tích đích ngôn trung, tần suất sử dụng, sự tương đồng và khác biệt của các phương tiện ngôn ngữ đó Tương tự, luận

án “Ngôn ngữ học với việc dịch thuật văn bản giao dịch thương mại trên tư liệu

biên dịch Pháp-Việt” của tác giả Hà Văn Riễn cũng có đề cập đến những vấn đề về

tương đương trong dịch thuật, đưa ra một số thủ thuật trong quá trình dịch văn bản Pháp - Việt và chỉ ra một số lỗi trong quá trình dịch và đề xuất phương án xử lý [theo 55] Nhưng, luận án chỉ tập trung thảo luận những vấn đề liên quan đến dịch thuật nói chung và nghiên cứu tình hình dịch thuật các văn bản thư tín thương mại

từ tiếng Pháp sang tiếng Việt trong khi việc sử dụng tiếng Pháp trong giao dịch thương mại chiếm tỉ lệ không cao Do vậy, kết quả nghiên cứu trên không có tính ứng dụng cao trong thực tế Cũng theo hướng nghiên cứu này còn có luận án

“Phương pháp xây dựng và chuyển dịch văn bản thư tín thương mại” của tác giả

Nguyễn Thành Lân Công trình này đã đề cập đến cấu trúc văn bản, cấu trúc tu

từ của thư tín thương mại Anh-Mỹ, Nhật Bản và Việt Nam từ đó tìm ra sự khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ sử dụng trong thư tín thương mại tiếng Anh, tiếng Nhật và tiếng Việt Bằng việc so sánh về thể loại, đặc điểm ngôn ngữ trong thư tín tiếng Anh và tiếng Việt để tìm mô hình đối dịch văn bản thư tín thương mại Anh-Việt, Việt-Anh, nghiên cứu này đã đóng góp mô hình đối dịch Anh-Việt, Việt-Anh đối với văn bản thư tín thương [theo 42] Tuy nhiên, nghiên cứu này dựa trên cơ sở phương pháp xây dựng văn bản thư tín thương mại tiếng Anh dành cho người Nhật để đưa ra phương pháp đối dịch Anh-Việt, Việt-Anh nên

chưa bảo tính thuần Anh hay thuần Việt Gần đây, luận án “Khảo sát dịch thuật

Trung – Việt trên các bản dịch văn bản thương mại Trung - Việt” của tác giả

Trần Bích Lan cũng đã trình bày những vấn đề về văn bản thương mại, những vấn đề về dịch thuật và đặc biệt là kiểu dịch chức năng Tác giả luận án đã đề cập đến hai phần của việc dịch đó là dịch từ ngữ và dịch phát ngôn Trung-Việt Đồng thời, luận án cũng chỉ ra một số lỗi trong quá trình dịch và đề xuất cách khắc phục [theo 40] Đóng góp đáng ghi nhận của luận án là nêu ra và bước đầu giải quyết một số vấn đề liên quan đến việc dịch văn bản thư tín thương mại từ tiếng Trung sang tiếng Việt Tuy nhiên, luận án chưa đi sâu nghiên cứu về phân tích nghĩa của câu đặc biệt là nghĩa hàm ẩn thể hiện thái độ của người viết đối với nội dung được đề cập

Trang 27

Có thể thấy, nghiên cứu về tình thái là một xu hướng và tất yếu để có thể hiểu được nội dung văn bản cũng như thái độ của người viết thể hiện thông qua việc lựa chọn từ ngữ biểu đạt Tình thái đạo nghĩa là một phạm trù tình thái cơ bản thuộc nhóm tình thái chủ quan Tình thái đạo nghĩa đã được các nhà nghiên cứu phân tích trong mối quan hệ giữa tình thái và thức, trong ngữ cảnh sử dụng và dựa trên phương tiện ngôn ngữ biểu đạt được sử dụng Chưa có nghiên cứu nào phân tích một cách sâu sắc và toàn diện về tình thái đạo nghĩa trong một kiểu loại văn bản cụ thể như thư tín thương mại Hơn nữa, qua khảo sát, chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu chuyên sâu nào so sánh việc biểu đạt cùng một nội dung tình thái đạo nghĩa trong cùng một kiểu loại văn bản ở các ngôn ngữ khác nhau như tiếng Anh và tiếng Việt để thấy được sự tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa và thể thức văn bản

Tương tự, những nghiên cứu về thư tín thương mại nói trên mới chỉ đề cập đến những đặc điểm chung của ngôn ngữ trong thư tín thương mại như tính ngắn gọn, súc tích, lịch sự hoặc chỉ tập trung để mô hình hóa việc dịch thuật các văn bản thư tín thương mại Tuy nhiên, để có thể sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy, tạo lập và tiếp nhận các văn bản thư tín thương mại thì người viết cần nắm được nhưng đặc điểm về ngôn ngữ, văn hóa và thể thức văn bản thông qua việc lựa chọn phương tiện biểu đạt Do đó, với việc

chọn đề tài “Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong thư tín thương

mại tiếng Anh và tiếng Việt”, chúng tôi đã đi sâu phân tích các phương tiện biểu

đạt tình thái đạo nghĩa được sử dụng trong thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt trên ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học, qua đó, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong việc sử dụng các phương tiện biểu đạt này Kết quả này sẽ góp phần nâng cao chất lượng cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, tạo lập và tiếp nhận các văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Một số lí luận về tình thái đạo nghĩa

1.2.1.1 Quan điểm của các nhà ngôn ngữ về tình thái đạo nghĩa

Khi đề cập đến tình thái đạo nghĩa, các nhà ngôn ngữ trên thế giới đưa ra nhiều quan điểm khác nhau dựa trên góc nhìn riêng của mỗi tác giả Nghiên cứu về tình thái đạo nghĩa trong mối quan hệ với logic về nghĩa vụ và sự cho phép, Lyons

đã chỉ ra rằng “tình thái đạo nghĩa là loại tình thái liên quan đến sự cần thiết và sự

Trang 28

cho phép của hành động thông qua các nhân tố đạo đức” [110, tr.823] Dựa trên

nhân tố đạo đức, tình thái đạo nghĩa được chia thành các nội dung như “bắt buộc”,

“nhận định”, “cho phép”, “cần thiết”, “cấm đoán” Quan điểm này đã đề cập đến phương diện đạo đức thuộc bên trong người sử dụng Tuy nhiên, bên cạnh phương diện đạo đức còn những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng nội dung tình thái trên Trên tinh thần này, Porter đề cập đến tình thái đạo nghĩa trong mối quan hệ với hệ thống

luật lệ, và đã cho rằng “tình thái đạo nghĩa là những gì liên quan đến cái đúng và

sai theo như một vài hệ thống luật lệ nào đó” [124, tr.105] Quan điểm này đề cập

đến bình diện xã hội của tình thái đạo nghĩa Tuy nhiên, bình diện xã hội đó cần phải được nhìn nhận dựa trên những đánh giá của người sử dụng Đó là lí do mà khi

đề cập đến tình thái đạo nghĩa trong mối quan hệ với thức, Palmer nhận định “tình

thái đạo nghĩa là loại tình thái liên quan đến nhân tố ý chí của người nói Theo đó, người nói đánh giá tính hợp thức về đạo đức hay các chuẩn mực xã hội khác đối với hành động do người nào đó hay chính người nói thực hiện” [121, tr.96] Quan

điểm của Palmer đã đề cập đến nhân tố đạo đức và các chuẩn mực xã hội tác động đến người nói nên mang tính bao quát và cụ thể hơn quan điểm của Lyons, Paul Portner Đây cũng là quan điểm này được các nhà ngôn ngữ Việt Nam như Nguyễn Văn Hiệp, Lê Đông lựa chọn khi đề cập đến tình thái đạo nghĩa

1.2.1.2 Đặc điểm nghĩa học của tình thái đạo nghĩa

Tình thái đạo nghĩa có hai đặc điểm nghĩa học là tính chủ quan và tính không

thực hữu Tính chủ quan “thể hiện ở thái độ, ý chí và mong muốn của người nói đối với hành động Người nói cho rằng hành động là bắt buộc, là bị cấm đoán, là được phép, hay được miễn trừ Qua đó, người nói thể hiện ý chí, mong ước người nghe thực hiện hành động hay tự mình cam kết thực hiện hành động” [35, tr.110] Tương

tự, Martin & White cho rằng tính chủ quan của tình thái thể hiện ở thái độ, ý chí và mong muốn của người nói đối với hành động Tính chủ quan này được thể hiện thông qua cách người nói lựa chọn phương tiện biểu đạt Tính chủ quan có thể được xác định dựa trên giá trị về ý định mà người nói muốn biểu đạt Qua đó, hành động được cho là chắc chắn phải thực hiện, cần thực hiện hay nên thực hiện [theo 113] Bên cạnh tính chủ quan thì tình thái đạo nghĩa còn mang tính không thực hữu Tính

không thực hữu “thể hiện ở hành động tương lai mà người nói muốn người nghe thực

Trang 29

hiện hay tự mình thực hiện” [35, tr.111] Theo đó, người nói yêu cầu ai đó có nghĩa vụ

phải làm cho mệnh đề được nêu trong phát ngôn trở thành hiện thực (hoặc ngăn cản nó trở thành hiện thực) trong tương lai Tính không thực hữu còn được xét dưới bình diện

tính khả năng, tính tất yếu và tính hiện thực được thể hiện thông qua việc “hành động

được thực hiện bởi những chủ thể có trách nhiệm về phương diện đạo lý” [110, tr.823]

1.2.1.3 Các tiểu loại tình thái đạo nghĩa

Dựa vào đặc trưng ngữ nghĩa để chia tách các tiểu loại và lấy ý nghĩa tình thái khái quát làm tiêu chí phân loại như cách của Lyons, Palmer, Porter, Nguyễn Văn Hiệp, tình thái đạo nghĩa được chia làm hai nhóm là nhóm “tất yếu” bao gồm

“bắt buộc” (hiện thực) và “cấm đoán” (phi hiện thực) và nhóm “khả năng” bao gồm

“được phép” (hiện thực) và “miễn trừ” (phi hiện thực) Khi bàn về “bắt buộc”,

Palmer cho rằng, “bắt buộc” “thể hiện cam kết của người nói về cái cần thiết được

diễn đạt trong mệnh đề” [121, tr.181] Thêm vào đó “bắt buộc” còn thể hiện những

điều kiện xã hội bên ngoài buộc người nói thực hiện hành động được nêu trong câu,

sự “bắt buộc” là “có thể ở mức độ cao hoặc ở mức độ thấp hơn” [35, tr.117] Dựa

trên các thông số do Coates nêu ra, chúng tôi đồng ý rằng sự bắt buộc căn bản có các yếu tố sau: Có một lực F (force) nào đó quan tâm đến việc diễn ra hay không diễn ra sự tình Sự tình được thể hiện bởi một tác thể A (agent) Sự tình mang tính động D (dynamic) Sự tình vẫn chưa xảy ra ở thời điểm quy chiếu, và nếu nó xảy ra thì sẽ xảy ra ở một thời điểm muộn hơn L (later) so với thời điểm quy chiếu Sự tình không thực tại, song có một mức độ chắc chắn nào đó về khả năng sự tình sẽ xảy

ra Theo đó, người nói sử dụng lực F sẽ tác động lên A buộc A thực hiện hành động

D tại thời điểm L Ví dụ trong câu “You must finish this before dinner” (Anh phải

kết thúc công việc này trước bữa tối.), người nói đưa ra sự bắt buộc (F) cho người nghe (A) buộc người nghe (A) thực hiện hành động hoàn tất công việc (D) trước thời điểm bữa tối (L) Tương tự, theo quan điểm của Bybee, “cấm đoán” biểu thị

“sự ngăn cản của người nói đối với người nghe, theo đó người nói cấm người nghe

thực hiện hành động hoặc ứng xử theo cách nào đó” [35, tr.119] Sự “cấm đoán”

căn bản có các yếu tố sau: Có một lực F (force) nào đó quan tâm đến việc diễn ra hay không diễn ra sự tình Sự tình được thể hiện bởi một tác thể A (agent) Sự tình mang tính động D (dynamic) Sự tình vẫn chưa xảy ra ở thời điểm quy chiếu, và nếu

Trang 30

nó xảy ra thì sẽ xảy ra ở một thời điểm muộn hơn L (later) so với thời điểm quy chiếu Sự tình không thực tại, song có một mức độ chắc chắn nào đó về khả năng sự tình sẽ xảy ra Theo đó, người nói sử dụng lực F sẽ tác động lên A buộc A không thực

hiện hành động D tại thời điểm nói hoặc tại thời điểm L Ví dụ trong câu “Don’t open

the door.” (Đừng mở cửa.), người nói sử dụng lực F, tác động lên người nghe A,

ngăn cản người nghe A thực hiện hành động mở cửa D, tại thời điểm nói Khi bàn về

“được phép”, Bybee cho rằng “được phép” thể hiện “sự đồng ý cho phép người nghe

thực hiện hành động hay ứng xử theo cách nào đó” [83, tr.178] Được phép căn bản

có các yếu tố sau: Có một lực F (force) nào đó quan tâm đến việc diễn ra hay không diễn ra sự tình Sự tình được thể hiện bởi một tác thể A (agent) Sự tình mang tính động D (dynamic) Sự tình vẫn chưa xảy ra ở thời điểm quy chiếu, và nếu nó xảy ra thì sẽ xảy ra ở một thời điểm muôn hơn L (later) so với thời điểm quy chiếu Sự tình không thực tại, song có một mức độ chắc chắn nào đó về khả năng sự tình sẽ xảy ra Theo đó, người nói sử dụng lực F sẽ tác động lên A cho phép A thực hiện hành động

D tại thời điểm nói hoặc sau thời điểm nói L Ví dụ như trong câu “You may open the

window.”(Anh có thể mở cửa.), người nói tác động một lực (F) lên người nghe (A)

cho phép người nghe có quyền thực hiện hành động mở cửa (D) tại thời điểm nói Tương tự, “được miễn trừ” thể hiện sự cho phép khỏi chấp hành những quy định theo pháp luật Sự miễn trừ căn bản có các yếu tố sau: Có một lực F (force) nào đó quan tâm đến việc diễn ra hay không diễn ra sự tình Sự tình được thể hiện bởi một tác thể

A (agent) Sự tình mang tính động D (dynamic) Sự tình vẫn chưa xảy ra ở thời điểm quy chiếu, và nếu nó xảy ra thì sẽ xảy ra ở một thời điểm muôn hơn L (later) so với thời điểm quy chiếu Sự tình không thực tại, song có một mức độ chắc chắn nào đó

về khả năng sự tình sẽ xảy ra Theo đó người nói sử dụng lực F sẽ tác động lên A cho phép A không thực hiện hành động D tại thời điểm nói hoặc sau thời điểm nói L

Trong ví dụ “You may not open the window.” (Anh có thể không cần phải mở cửa.),

người nói đưa ra sự cho phép (F) cho người nghe (A) không thực hiện hành mở cửa (D) tại thời điểm nói

1.2.1.4 Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa

Tình thái đạo nghĩa là một tiểu loại của tình thái nên cũng được biểu đạt thông qua các phương tiện biểu đạt tình thái nói chung Tuy nhiên, ở trong mỗi loại

Trang 31

hình văn bản khác nhau, người viết sử dụng những phương tiện đặc trưng để vừa biểu đạt nội dung tình thái vừa thể hiện được đặc trưng văn bản Dựa trên ngữ liệu khảo sát, chúng tôi nhận thấy, các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa được sử dụng trong thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt khá đa dạng bao gồm động

từ tình thái, động từ ngôn hành, phó từ, câu điều kiện, câu mệnh lệnh, câu hỏi Để

có thể nhận diện được các phương tiện biểu đạt này, chúng tôi dựa trên đặc trưng của mỗi phương tiện Cụ thể là:

a Động từ tình thái: Động từ tình thái là một phương tiện cơ bản để biểu đạt tình thái trong thư tín thương mại Trong tiếng Anh, động từ tình thái được Lyons định

nghĩa là “một nhóm những hình thức nghĩa diễn tả khả năng, sự cần thiết và có vị trí

trung tâm hơn tính từ, trạng từ trong cấu trúc ngữ pháp của tiếng Anh” [110, tr.802]

Tương tự, Palmer và cộng sự chỉ ra rằng, động từ tình thái trình bày những lĩnh vực khác nhau liên quan đến cách chủ thể của mệnh đề thực hiện hành động mà người nói

đề cập [theo 121] Nhóm động từ tình thái được Đinh Văn Đức cho là “những động từ

trống nghĩa” [16, tr.139] Những từ này mang ý nghĩa từ vựng là rất ít, và chúng đã

được ngữ pháp hóa nhưng đang trong quá trình mà chưa trở thành những hư từ thực sự Các động từ này có hai mặt, một mặt chúng mang ý nghĩa ngữ pháp với tính cách là một trung tâm ngữ pháp trong tổ hợp với thành tố khác; mặt khác, chúng còn mang nghĩa tình thái khi tham gia diễn đạt các nhận xét đánh giá chủ quan của người nói, tính mục đích của phát ngôn Hơn nữa, động từ tình thái là cái có thể diễn đạt mối quan hệ giữa chủ thể và nội dung của động từ mang nghĩa đứng sau động từ tình thái [theo 2]

Khi bàn về đặc điểm của động từ tình thái tiếng Anh, Huddleston chỉ ra các

đặc trưng “N.I.C.E là phủ định (Negation), nghịch đảo (Inversion), nhập mã

(Code), khẳng định biểu cảm (Emphathy)” [dẫn theo 35, tr.129] Tương tự, Coates

cũng chỉ ra các đặc điểm sau của động từ tình thái:

Trang 32

- Không có dạng nguyên thể với “to”,

- Không cùng xuất hiện

- Chúng không biểu đạt hành động hay trạng thái mà chỉ biểu đạt khả năng,

sự cần thiết hay ý chí thực hiện hành động hay duy trì một trạng thái

[29, tr.234]

Tương tự, Bùi Minh Toán và Nguyễn Thị Lương cũng đề cập đến động từ tình

thái chính danh như sau: “Động từ tình thái chính danh biểu thị thái độ, cách đánh

giá của người nói liên quan đến nội dung, xét về cú pháp, chúng là trung tâm của vị ngữ Động từ tình thái không đứng một mình mà hay kết hợp với động từ khác, với

vị trí đứng trước động từ đó, làm thành vị ngữ câu” [65, tr.205] Hơn nữa, dựa trên

nội dung mà các động từ này đề cập, ông cũng đã chia động từ tình thái thành các

nhóm chỉ khả năng, chỉ sự bị động, chỉ sự cần thiết, chỉ ý chí, nguyện vọng

Vận dụng những lí luận trên và dựa trên ngữ liệu khảo sát, chúng tôi thấy rằng đã liệt kê những động từ thường xuyên được sử dụng để biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc”, “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh gồm “must”,

“have to”, “should”, “need”, “will”, “would”, “can”, “could”, “may”, “might” Tương tự, các động từ tình thái được dùng trong thư tín thương mại tiếng Việt gồm

“phải”, “cần”, “mong”, “muốn”, “mong muốn”, “có thể”, “được”

b Động từ ngôn hành: Động từ ngôn hành là phương tiện cũng được sử dụng phổ biến trong các văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt

Theo James, động từ ngôn hành là “động từ miêu tả hành động mà nó biểu đạt”

[103, tr.235] Trước đó, Austin cho rằng động từ ngôn hành là một loại động từ đặc biệt có thể biểu đạt hành động [theo 73] Tương tự, khi đề cập đến động từ

Trang 33

ngôn hành Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán và Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Đình Hòa, Nguyễn Đức Hoạt, Trần Thị Thu Hiền đều cho rằng, như các ngôn ngữ khác, tiếng Việt có động từ ngôn hành hoạt động với tư cách là dấu hiệu ngôn hành của phát ngôn Đây cũng là các động từ được dùng để biểu đạt hành động bằng lời

Khi bàn về đặc điểm của động từ ngôn hành tiếng Anh, Leech chỉ ra rằng, trong tiếng Anh động từ ngôn hành có các đặc điểm sau:

- Động từ ở mệnh đề chính là động từ ngôn trung,

- Động từ này ở thì hiện tại,

- Chủ ngữ của động từ thuộc ngôi thứ nhất,

- Tân ngữ gián tiếp của động từ nếu có là “you” (bạn),

- Động từ được đi sau bởi mệnh đề báo cáo

“allow”, “enable”, “accept”, “agree”, “let” Tương tự, các động từ ngôn hành được

sử dụng trong thư tín thương mại tiếng Việt bao gồm “yêu cầu”, “đề nghị”, “xin”,

“hỏi”, “cho phép”, “chấp nhận”, “cam kết”, “đảm bảo”

c Phó từ Phó từ (phụ từ) là từ loại thường được làm thành tố phụ cho thực từ để tạo nên cụm từ, và bổ sung ý nghĩa cho thực từ Về mặt ý nghĩa, phó từ không thực hiện được chức năng gọi tên mà chỉ làm dấu hiệu cho một loại ý nghĩa nào đó mà thôi Do vậy, phó từ không thể đảm nhiệm vai trò thành tố chính của cụm từ Dựa trên bản chất ngữ pháp của các phó từ đi kèm, các phó từ được chia thành hai nhóm gồm:

Trang 34

- Các phó từ đi kèm với danh từ: gồm các lượng từ như: những, các, mọi, mỗi, từng, một

- Các phó từ thường đi kèm với động từ và tính từ bao gồm:

+ Các phó từ chỉ ý nghĩa thời-thể: đã, từng, vừa, mới, đang, sẽ, sắp…

+ Các phó từ chỉ sự tiếp diễn, tương tự, đồng nhất: đều, cũng, vẫn, cứ, còn, lại… + Các phó từ chỉ ý khẳng định hay phủ định: có, không, chưa, chẳng… + Các phó từ chỉ ý mệnh lệnh: hãy, đừng, chớ, đi, nào…

+ Các phó từ chỉ mức độ: rất, hơi, khí, khá, quá, lắm, vô cùng, cực kỳ… + Các phó từ chỉ sự hoàn thành: xong rồi; kết quả: được, mất; chỉ ý tự lực: nữa, mãi, dần; chỉ sự phối hợp: cùng, với; chỉ cách thức: ngay liền, luôn, nữa, mãi, dần…

[65, tr.47]

Trong ngữ liệu khảo sát, chúng tôi nhận thấy phó từ “sẽ” được dùng như một phương tiện để biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” Ngoài ra, các phó từ chỉ thời thể và các phó từ chỉ mức độ cũng được sử dụng để nhấn mạnh hoặc giảm nhẹ mức tình thái Tuy nhiên, những phó từ này không tự thân biểu đạt nội dung tình thái đạo nghĩa “bắt buộc”, “được phép” nên chúng tôi không xét chúng với tư cách là một phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa độc lập

d Câu điều kiện: Câu điều kiện được sử dụng ở cả thư tín thương mại

tiếng Anh và tiếng Việt Swam định nghĩa câu điều kiện “là một hình thức được

sử dụng trong miêu tả ngữ pháp để đề cập đến những mệnh đề mà vai trò nghĩa học là sự diễn đạt của các mệnh đề hoặc điều kiện” [132, tr.11] Khảo sát cụ thể

từ tiếng Việt, Nguyễn Văn Hiệp cho rằng, câu điều kiện hay câu ghép chỉ điều kiện-hệ quả là một dạng câu ghép qua lại có các vế câu được kết nói với nhau bằng cặp hô ứng, biểu đạt quan hệ logic [theo 35] Câu điều kiện có hai mệnh đề

là mệnh đề chính diễn tả kết quả của hành động và mệnh đề điều kiện diễn tả điều kiện [theo 22] Câu điều kiện được Palmer đề cập đến trong mối quan hệ

với tình thái và cho rằng câu điều kiện “có vai trò quan trọng trong việc diễn đạt

mối quan hệ của người nói với điều được nói nên được xem là một phương tiện

để biểu đạt tình thái đạo nghĩa” [121, tr.189] Qua khảo sát, các câu điều kiện

được sử dụng trong thư tín thương mại tiếng Anh bao gồm các câu với “if”,

Trang 35

“unless” và câu điều kiện được sử dụng trong thư tín thương mại tiếng Việt là câu với “nếu ”

e Câu mệnh lệnh: Câu mệnh lệnh (hay câu cầu khiến) là một trong các loại câu được dùng để đưa ra yêu cầu, đòi hỏi, chỉ dẫn hoặc chia sẻ mong muốn hoặc lời mời cho ai đó [theo 132] hoặc ra lệnh, yêu cầu, van xin [theo 110] Câu mệnh lệnh có nhiều cung bậc sắc thái khác nhau Ở mức độ cao, câu mệnh lệnh cho biết hành động được để cập là mệnh lệnh, người nghe bắt buộc phải thực hiện hành động được đề cập Ở mức

độ thấp hơn, câu mệnh lệnh biểu đạt đề nghị, khuyên, do vậy, người nghe có thẻ thực hiện hoặc không thực hiện hành động được đề cập Để thành lập câu mệnh lệnh, trong tiếng Anh và tiếng Việt người ta sử dụng động từ nguyên thể hoặc trợ động từ phủ định

ở đầu câu Qua khảo sát các văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt, câu mệnh lệnh đều được thành lập bởi việc sử dụng động từ ở đầu câu như “send”, “call” trong thư tín thương mại tiếng Anh và “xin”, “mong”, “yêu cầu”, “đề nghị” trong thư tín thương mại tiếng Việt

f Câu hỏi: Câu hỏi được dùng để đưa ra yêu cầu, biểu đạt thái độ, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc gì đó [theo 132] Câu hỏi trong tiếng Anh được thành lập bởi việc đảo động từ tình thái hoặc trợ động từ lên đầu câu hoặc sử dụng từ ngữ

để hỏi Câu hỏi tiếng Việt được thành lập bởi việc thêm phó từ “có không” vào trước hoặc sau động từ hoặc sử dụng từ để hỏi ở đầu câu Qua khảo sát, câu hỏi chỉ được sử dụng trong thư tín thương mại tiếng Anh thông qua việc đảo động từ tình thái “can”, “could”, “may”, “would” lên đầu câu

1.2.1.5 Các mức độ tình thái

Tình thái đạo nghĩa mang tính chủ quan Tính chủ quan phản ánh những đánh giá của người nói về điều được nói Do vậy, một hành động có thể được đánh giá ở các mức độ tình thái khác nhau Dựa trên mô hình phân chia của Halliday và Matthiessen có thể phân chia mức tình thái của việc thực hiện hành động thành ba mức độ sau:

- Mức độ cao: Mức độ cao là mức độ biểu đạt sự chắc chắn (certain) của hành động được nói đến Theo đó, hành động được cho là chắc chắn sẽ được thực hiện trong tương lai

Trang 36

- Mức độ trung bình: Mức độ trung bình là mức độ biểu đạt sự có thể, có khả năng (probable) của hành động được nói đến Như vậy, hành động đó có nhiều khả năng sẽ được thực hiện trong tương lai

- Mức độ thấp: Mức độ thấp là mức độ biểu đạt sự có thể thực hiện hoặc không (possible) của hành động được nói đến Do vậy, hành động đó ít có khả năng được thực hiện trong tương lai

- Bắt buộc có áp lực trung bình là cái mà cho phép người nhận có một sự lựa chọn nhỏ của việc thực hiện hành động Nói cách khác, tính bắt buộc trung bình thể hiện ở phần nằm giữa mức độ thấp và mức độ cao với nghĩa là có thể cho từ chối phần nào, tức là khả năng lựa chọn thấp

- Bắt buộc thấp là sự bắt buộc cho phép người nhận có một sự lựa chọn lớn của việc thực hiện hành động Nói cách khác, tính bắt buộc thấp thể hiện ở chỗ có thể cho phép từ chối ở mức cao, tức là người nhận có khả năng lựa chọn cao

[theo 60]

Như vậy, bản thân phương tiện biểu đạt đã mang tính mức độ khi được xem xét ở bình diện nghĩa học của từ ngữ Bên cạnh đó, nghĩa của phương tiện cũng được xác định thông qua hoàn cảnh sử dụng Do vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi dựa trên định nghĩa được trình bày trong “A Dictionary of Linguistics and Phonetics” của Crystal, “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê và cách sử dụng của các phương tiện được trình bày trong các giáo trình ngữ pháp, nghĩa học để làm khái niệm cơ sở, đồng thời, chúng tôi cũng dựa vào nghĩa được sử dụng thường xuyên trong các văn bản thư tín thương mại để xác định chính xác mức độ tình thái của phương tiện được đưa ra đối chiếu

Trang 37

1.2.2 Một số lí luận về thư tín thương mại

1.2.2.1 Khái niệm về thư tín thương mại

Thư tín thương mại là văn bản được các doanh nghiệp sử dụng trong quá

trình kinh doanh Hiểu theo nghĩa hẹp, thư tín thương mại là “thư từ trao đổi giữa

các thương nhân có liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu và những dịch vụ xuất nhập khẩu” [10, tr.15] Hiểu theo nghĩa rộng, thư tín thương mại là “phương tiện thông tin liên lạc mà một tổ chức kinh tế sử dụng để gửi cho đối tác và khách hàng của mình” [79, tr.263] Mục đích của thư tín thương mại là “nêu lên những điều kiện có lợi cho người viết và người đọc bằng các yếu tố tinh thần, vật chất, các điều kiện ràng buộc của hai bên” [10, tr.52] Tương tự, Bosticco đã cụ thể hóa ba mục

đích sau của thư tín thương mại:

- Truyền đạt một thông điệp từ người viết sang người nhận,

1.2.2.2 Phân loại thư tín thương mại

Thư thương mại được phân chia theo nhiều tiêu chí khác nhau Dựa trên nội dung, Mack, Boudewijin, Radice, Nguyễn Trọng Đàn phân chia thư tín thành thư thiện chí, thư hỏi hàng và trả lời, thư báo giá bán hàng, thư quảng cáo bán hàng, thư chào hàng, thư đặt hàng, thư khiếu nại, thư trong thanh toán quốc tế, thư trong vận tải đường biển và hàng không, thư bảo hiểm [theo 111], [theo 78], [theo 126], [theo 10] Trong khi đó, dựa theo cách thức giao dịch, Ashley chia thư tín thương mại thành ba nhóm là nhóm thư, nhóm fax và nhóm emails [theo 72] Trong khi đó, Naterop, Weis, Haberfellner lại dựa trên tình huống giao tiếp và chia thư tín thành hai nhóm là nhóm thư thương mại và nhóm thư xã hội Trong đó, nhóm thư thương mại bao gồm thư yêu cầu, thư chào hàng, thư bán hàng, thư chấp thuận đơn hàng,

Trang 38

thư đặt hàng, thư liên quan đến các vấn đề hỏng hóc, đóng gói và vận chuyển, thư thanh toán, thư phàn nàn và phúc đáp và nhóm thư xã hội như thư chúc mừng, thư hỏi thăm, thư mời [theo 115]

Như vậy, thư tín thương mại có thể được phân chia thành nhiều nhóm khác nhau dựa trên các tiêu chí phân chia khác nhau Tuy nhiên, dù được phân chia theo cách nào thì thư chào hàng, thư yêu cầu, thư phàn nàn vẫn là những nhóm thư biểu đạt

rõ nhất nội dung ngôn ngữ cũng như tình thái của người viết đối với người nhận

1.2.2.3 Đặc điểm ngôn ngữ của thư tín thương mại

Với tư cách là một văn bản viết, thư tín thương mại mang đặc trưng của văn bản như tính chính xác, tính mạch lạc Bên cạnh những đặc trưng trên thì thư tín thương mại còn mang những đặc điểm ngôn ngữ riêng của thể loại Comas và Satterwhite đưa ra năm tiêu chuẩn của thư tín thương mại bao gồm:

- Tính lịch sự: người viết cần lựa chọn từ ngữ khi sử dụng, tránh sử dụng những từ tạo ra sự phản ứng không hay cho người đọc Để làm được điều này người viết cần đặt mình vào vị trí của người nhận trước khi viết thư

- Tính rõ ràng: Người viết cần viết thư rõ ràng, dễ hiểu thông qua những từ ngữ ngắn gọn Do vậy, người đọc sẽ không băn khoăn về những thông tin mà người viết định truyền tải

- Tính hoàn chỉnh: Một thông tin sẽ không được rõ ràng nếu những thông tin cần thiết bị thiếu Do vậy, khi viết thư, người viết cần viết đầy đủ những thông tin muốn trình bày

- Tính ngắn gọn, súc tích: Người viết trình bày nội dung thông tin bằng cách

sử dụng ít từ nhất, loại bỏ những thông tin, từ ngữ không cần thiết

- Tính chính xác: bất kỳ lỗi nào dù nhỏ như ngày, khoản tiền… cũng dẫn đến những sai lầm trong kinh doanh Vì vậy, người viết cần tập trung xem lại tính chính xác về những chi tiết được đưa ra

[theo 87]

Tương tự, khi bàn về ngôn ngữ trong thư tín thương mại tiếng Việt, Phan Thanh Lâm và Nguyễn Thị Hòa Bình cho rằng, một bức thư thương mại cần đảm bảo các yêu cầu sau:

Trang 39

- Viết một cách rõ ràng, dễ hiểu: Các khái niệm, từ ngữ được cả hai người viết và người đọc cùng hiểu một nghĩa Để làm được điều này người viết cần dùng những ngôn ngữ quen thuộc, dễ hiểu, tránh phải tra từ điển khi đọc và tránh để người đọc hiểu theo kiểu nước đôi

- Viết ngắn gọn: Cấu trúc câu văn, ý nghĩa của các đoạn văn diễn đạt logic, các dấu câu sử dụng đúng

- Viết thư thương mại với thuật ngữ phù hợp luật thương mại và quốc tế: Các thuật ngữ thương mại cần được dùng chính xác và thống nhất để người đọc không

bị nhầm lẫn

- Cố gắng tạo nên thiện ý, lịch sự và sự quan tâm qua việc lựa chọn từ vựng

và cách trau chuốt văn chương

[theo 41]

Như vậy, bên cạnh những đặc điểm mà một văn bản viết cần có, có thể khái quát đặc điểm ngôn ngữ của thư tín thương mại thông qua cấu trúc 3C: Clear (rõ ràng), Concise (súc tích), Courteous (lịch sự) [theo 1]

1.2.3 Một số lí luận khác liên quan đến luận án

1.2.3.1 Lý thuyết ba bình diện

Charles Sanders Peirce và Charles William Morris là những người khởi xướng và xây dựng về lý thuyết ba bình diện gồm kết học, nghĩa học, dụng học Trong đó:

- Bình diện kết học là bình diện của quan hệ giữa tín hiệu và tín hiệu, của

các quy tắc hình thức liên kết và các tín hiệu thành thông điệp

- Bình diện nghĩa học là bình diện mối quan hệ giữa tín hiệu và đối tượng trong hiện thực được biểu hiện

- Bình diện dụng học là bình diện của mối quan hệ giữa tín hiệu và người dùng, người lí giải chúng

[64, tr.24]

Tương tự, George cũng đưa ra quan điểm về ba bình diện trong ngôn ngữ gồm cú pháp học, ngữ nghĩa hoạc và ngữ dụng học Cụ thể:

Trang 40

- Cú pháp học là sự nghiên cứu các mối quan hệ giữa các hình thái ngôn ngữ, xem chúng được sắp xếp như thế nào trong chuỗi lời nói và những chuỗi lời nói nào được tổ chức tốt

- Ngữ nghĩa học là sự nghiên cứu về các mối quan hệ giữa các hình thái ngôn ngữ với các thực thể trong thế giới; đó là bằng cách nào các từ gắn kết đúng được với các sự vật

- Ngữ dụng học là sự nghiên cứu về các mối liên hệ giữa các hình thái ngôn ngữ và người sử dụng hình thái đó

[71, tr.21]

Lý thuyết ba bình diện đã cho thấy mối quan hệ khăng khít và phối hợp của

ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học trong ngôn ngữ Do vậy, rất nhiều các nhà ngôn ngữ nổi tiếng Việt Nam đã chọn hướng đi này khi phân tích về ngôn ngữ Chẳng hạn như công trình “Tiếng Việt, Sơ thảo ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo, “Đại cương ngôn ngữ học” tập 2, của Đỗ Hữu Châu, “Ngữ dụng học”, tập 1 của Nguyễn Đức Dân, “Ngữ Pháp Việt Nam” của tác giả Diệp Quang Ban, Giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” của tác giả Bùi Minh Toán và Nguyễn Thị Lương, công trình “Cú pháp tiếng Việt” của tác giả Nguyễn Văn Hiệp Điều này một lần nữa khẳng định việc nghiên cứu theo ba bình diện là phù hợp

Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận án, chúng tôi không thể đi sâu phân tích tất cả khía cạnh của ba bình diện trên Do vậy, trên bình diện kết học, chúng tôi sẽ tập trung phân tích về mối quan hệ của các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa với các thành phần khác của câu để từ đó mô hình hóa cấu trúc về vị trí của các phương tiện biểu đạt này trong câu Tương tự, trên bình diện nghĩa học, dựa trên lý thuyết về ba cấp độ tình thái do Halliday và Matthiessen đưa ra, chúng tôi sẽ phân chia các phương tiện biểu đạt theo ba mức độ tình thái cao, trung bình, thấp Trên bình diện dụng học, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích mối quan hệ của các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa với các hành động ngôn ngữ theo quan điểm của Searl Đồng thời, mối quan hệ của các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa với các biểu thức điều biến cũng được phân tích nhằm làm rõ hơn đặc trưng

về tính lịch sự của các văn bản thư tín thương mại

Ngày đăng: 17/12/2023, 03:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vương Thị Kim Anh (2009), Phân tích diễn ngôn thư tín thương mại tiếng Việt, Ngữ học toàn quốc 2009, Hội ngôn ngữ học Việt Nam, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ học toàn quốc 2009
Tác giả: Vương Thị Kim Anh
Năm: 2009
2. Diệp Quang Ban (2008), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
3. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
4. Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Thuận (2000), “Lại bàn về câu bị động trong tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ (7), tr. 14-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại bàn về câu bị động trong tiếng Việt”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Thuận
Năm: 2000
5. Đỗ Hữu Châu (1983), “Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động”, Tạp chí Ngôn ngữ (1), tr.16-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động”", Tạp chí Ngôn ngữ (1)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1983
6. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng, nghĩa học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng, nghĩa học tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
7. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở dụng học (T.1), NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở dụng học (T.1)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2003
8. Đỗ Hữu Châu (2012), Đại cương ngôn ngữ học (T.2), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học (T.2)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2012
9. Trần Trọng Dương (2008), Hướng dẫn viết thư tín thương mại Anh - Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn viết thư tín thương mại Anh - Việt
Tác giả: Trần Trọng Dương
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2008
10. Nguyễn Trọng Đàn (1995), Phân tích diễn ngôn thư tín thương mại, Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn thư tín thương mại
Tác giả: Nguyễn Trọng Đàn
Năm: 1995
11. Nguyễn Trọng Đàn (2001), Ngôn ngữ thư tín thương mại, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thư tín thương mại
Tác giả: Nguyễn Trọng Đàn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2001
12. Hữu Đạt (2009), Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
13. Lâm Quang Đông (2008), Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với nhóm vị từ trao tặng (trong tiếng Anh và tiếng Việt), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với nhóm vị từ trao tặng (trong tiếng Anh và tiếng Việt)
Tác giả: Lâm Quang Đông
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2008
14. Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp (2003), “ Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học”, Tạp chí Ngôn ngữ (7), tr. 16-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2003
15. Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp (2003), “Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học”, Tạp chí Ngôn ngữ (8), tr. 17-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2003
16. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
17. Đinh Văn Đức (2010), Các bài giảng về từ pháp học tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng về từ pháp học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
18. Đinh Văn Đức (2012), Ngôn ngữ học đại cương - Những nội dung quan yếu, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đại cương - Những nội dung quan yếu
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2012
19. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
20. Nguyễn Thiện Giáp (2009), Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm