Em xin gữi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy Đặng Ngọc Minh Đức ,thầy đã định hướng tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho em hoàn thành tốt đồ án 2 này,làm tiền đề cho luận văn sau này.Hiện nay, m
Trang 1Trường Đại Học Tôn Đức Thắng
Khoa Điện-Điện Tử Nghành Điện Tử VIễn Thông
ĐỒ ÁN MÔN HỌC 2 TÌM HIỂU KỸ THUẬT CDMA
Sinh viên :Trần Khánh-Nguyễn Duy Hinh
Trang 2Em xin gữi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy Đặng Ngọc Minh Đức ,thầy đã định hướng tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho em hoàn thành tốt đồ án 2 này,làm tiền đề cho luận văn sau này.
Hiện nay, mạng thông tin di động của Việt Nam đang sử dụng công nghệ GSM, tuy nhiên trong tương lai mạng thông tin này sẽ không đáp ứng được các nhu cầu về thông tin di động, do đó việc nghiên cứu và triển khai mạng thông tin di động CDMA là một điều tất yếu Xuất phát từ những suy nghĩ như vậy nên em đã chọn
đề tài “Tìm Hiểu Kỹ Thuật CDMA”.
Một lần nửa em cảm ơn thầy!
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Với sự phát triển vượt bậc cúa công nghệ thông tin và song song với sựphát triển của công nghệ thông tin thì công nghệ vô tuyến cũng phát triểntheo.Với những chuẩn truyền thông mới,hiện đại đã được nghiên cứu và ứngdụng rông rãi.Cuộc cách mạng của nước ta thậ sự bùng nổ khi ba mạng điệnthoại di động ra đời : VMS_Mobile Phone , GPC_VinaPhone và Viettel đều dựatrên công nghệ GSM (Golbal System for Mobile) Năm 1995 công nghệ CDMAvới phiên bản đầu tiên là IS_95 được triển khai ở Hồng Kông đã khắc phục đượcmột số nhược điểm của GSM,công nghệ này đã phát triển mạnh ở Bắc Mỹ và ởHàn Quốc khi vừa ra đời Nó được triển khai ở nước ta vào năm 2003 bởi công
ty Sfone sử dụng công nghệ CDMA 2000_1x, và mới đây na9m 2006EVN_Telecom cũng cho ra đời mạng điện thoại di động sử dụng công nghệCDMA 2000_1x
Nói đến việc truyền dữ liệu thì bất kỳ kiểu truyền nào cũng tính đến khảnăng bảo mật, tốc độ và băng thông truyền, mã hóa và giải mã đúng với thôngtin gốc ban đầu Với cong nghệ CDMA chúng ta có thể truyền thông với khảnăng bảo mật cao nhờ vào áp dụng công nghệ trải phổ hiện đại, tốc độ truyền cóthể lớn hơn so với hệ thống GSM trước đó cùng với băng thông rộng ta có thểtruyền được dữ liệu hình ảnh với chật lương tốt
Tuy nhiên nhược điểm của CDMA là bị giới hạn bởi nhiễu đa truy cập MAI
( Multiple Access Intreference) vì chuổi trãi phổ của các user không hoàn toàn
trực giao Khi số user tăng đến một mức nào đó ( nghẽn mềm) thì phương pháptách sóng thông thường có thể làm mất dữ liệu Giới hạn của GS-CDMA hiện tại
là còn biểu hiện ở vấn đề gần xa Người dùng ở trạm thu phát gốc sẽ được trạmthu phát tín hiệu với mức công suất thu phát lớn hơn so với người xa, vì vậy mặc
dù khi có ít người sử dụng tích cực trong kênh truyền nhưng điều khiển côngsuất không tốt thì tín hiệu của người dùng ở xa vẫn bị lấn áp, lượng nhiễu MAItăng lên nhiều sẽ làm cho chất lương hệ thống bị ảnh hưởng bởi hiện tượng gần
xa Để khắc phục nhược điểm này, các phương pháp điều khiển công suất chặchẽ đã dược áp dụng trong hệ thống thông tin trãi phổ hiện đại Điều này làm
Trang 4tăng độ phức tạp của máy thu, chức năng này là không cần thiết đối với các hệthống thông tin di động trước đó.
Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để triệt nhiễu đa truy cập MAI nhằmtăng dung lượng, chất lượng hệ thống và giãm bớt chức năng điều khiển côngsuất trong máy thu
Trang 5Phần 1: Tổng quan về CDMA
I Lịch sử phát triển CDMA:
Vô tuyến di động đã được sử dụng gần 78 năm Mặc dù các khái niệm tổ ong,các kỹ thuật trải phổ, điều chế số và các công nghệ vô tuyến hiện đại khác đã đượcbiết đến trước đây, dịch vụ điện thoại di động mãi đến đầu những năm 1960 mớixuất hiện ở các dạng sử dụng được và khi đó nó chỉ là các sửa đổi thích ứng củacác hệ thống điều vận Các hệ thống điện thoại di động đầu tiên này ít tiện lượi vàdung lượng rất thấp so với các hệ thống hiện nay cuối cùng các hệ thống điện thoại
tổ ong điều tần song công sử dụng kỹ thuật đa thâm nhập phân chia theo tần số(FDMA) đã xuất hiện vào những năm 1980 Cuối những năm 1980 người ta nhậnthấy rằng các hệ thống tổ ong tương tự không thể đáp ứng được nhu cầu ngày càngtăng vào thế kỷ sau nếu như không loại bỏ được các hạn chế cố hữu của các hệthống này
(1) Phân bổ tần số rất hạn chế, dung lượng thấp
(2) Tiếng ồn khó chịu và nhiễu xẩy ra khi máy di động chuyển dịch trong môitrường pha đinh đa tia
(3) Không đáp ứng được các dịch vụ mới hấp dẫn đối với khách hàng
(4) Không cho phép giảm đáng kể giá thành của thiết bị di động và cươ sở hạtầng
(5) Không đảm bảo tính bí mật của các cuộc gọi
(6) Không tương thích giữa các hệ thống khác nhau, đặc biệt là ở Châu Âu,làm cho thuê bao không thể sử dụng được máy di động của mình ở nước khác.Giải pháp duy nhất để loại bỏ các hạn chế trên là phải chuyển sang sử dụng kỹthuật thông tin số cho thông tin di động cùng với các kỹ thuật đa truy nhập mới
Hệ thống thông tin di động số sử dụng kỹ thuật đa thâm nhập phân chia theothời gian (TDMA) đầu tiên trên thế giới được ra đời ở Châu Âu và có tên gọi làGSM GSM được phát triển từ năm 1982 khi các nước Bắc Âu gửi đề nghị đếnCEPT để quy định một dịch vụ viễn thông chung châu Âu ở băng tần 900 MHz
Trang 6Năm 1985 hệ thống số được quyết định Tháng 5 năm 1986 giải pháp TDMA bănghẹp đã được lựa chọn ở Việt Nam hệ thống thông tin di động số GSM được đưavào từ năm 1993.
Ở Mỹ khi hệ thống AMPS tương tự sử dụng phương thức FDMA được triểnkhai vào giữa những năm 1980, các vấn đề dung lượng đã phát sinh ở các thị trư-ờng di động chính như: New York, Los Angeles và Chicago Mỹ đã có chiến lượcnâng cấp hệ thống này thành hệ thống số: chuyển tới hệ thống TDMA được kýhiệu là IS- 54 Việc khảo sát khách hàng cho thấy chất lượng của AMPS tốt hươn.Rất nhiều hãng của Mỹ lạnh nhạt với TDMA, AT &T là hãng lớn duy nhất sửdụng TDMA Hãng này đã phát triển ra một phiên bản mới: IS - 136, còn được gọi
là AMPS số (D-AMPS) Nhưng không giống như IS - 54, GSM đã đạt được cácthành công ở Mỹ
Các nhà nghiên cứu ở Mỹ tìm ra hệ thống thông tin di động số mới là côngnghệ đa truy nhập phân chia theo mã (CDMA) Công nghệ này sử dụng kỹ thuậttrải phổ trước đó đã có các ứng dụng chủ yếu trong quân sự Được thành lập vàonăm 1985, Qualcom đã phát phiển công nghệ CDMA cho thông tin di động và đãnhận được nhiều bằng phát minh trong lĩnh vực này Đến nay công nghệ này đãtrở thành công nghệ thống trị ở Bắc Mỹ, Qualcom đã đưa ra phiên bản CDMA đầutiên được gọi là IS - 95 A
Các mạng CDMA thương mại đã được đưa vào khai thác tại Hàn Quốc vàHồng Kông CDMA cũng đã được mua hoặc đưa vào thử nghiệm ở Argentina,Brasil, Chile, Trung Quốc, Germany, Irael, Peru, Philippins, Thailand và mới đây
ở Nhật Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam cũng đã có kế hoạch thửnghiệm CDMA
Ở Nhật vào năm 1993 NTT đưa ra tiêu chuẩn thông tin di động số đầu tiên củanước này: JPD (Japannish personal Digital Cellular System)
Song song với sự phát triển của các hệ thống thông tin di động tổ ong nói trên,các hệ thống thông tin di động hạn chế cho mạng nội hạt sử dụng máy cầm taykhông dây số cũng được nghiên cứu phát triển Hai hệ thống điển hình cho loại
Trang 7thông tin này là: DECT (Digital Enhanced Cordless Telecommunication) củaChâu Âu và PHS (Personal Handy Phone System) của Nhật cũng đã được đưa vàothương mại.
Ngoài các hệ thống thông tin di động mặt đất, các hệ thống thôg tin di động vệtinh: Global Star và Iridium cũng được đưa vào thương mại trong năm 1998.Hiện nay để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các khách hàng viễn thông về
cả dịch vụ viễn thông mới các hệ thống thông tin di động đang tiến tới thế hệ thứ
ba Hiện nay có hai tiêu chuẩn đã được chấp thuận cho IMT-2000 đó là: CDMA và CDMA2000 W-CDMA được phát triển lên từ GSM thế hệ 2 vàCDMA2000 được phát triển lên từ IS-95 thế hệ 2 Ở thế hệ này các hệ thống thôngtin di động có xu thế hoà nhập thành một tiêu chuẩn duy nhất và có khả năng phục
W-vụ ở tốc độ bit lên đến 2 Mbit/s Để phân biệt với các hệ thống thông tin di độngbăng hẹp hiện nay các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba được gọi là hệthống thông tin di động băng rộng
Chúng ta đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ viễn thông,đặc biệt là thông tin di động và truyền thông không dây Kỹ thuật đa truy nhậpđang bùng nổ Số lượng người sử dụng mạng di động tăng vọt Nhu cầu dịch vụngày càng đa dạng, đặc biệt là các dịch vụ số liệu, kết nối Internet và multimedia
Hệ thống thông tin đi động tế bào đầu tiên được triển khai vào năm 1971 dùng
kỹ thuật điều chế tương tự FM ở dải tần 850 MHz Tương ứng là hệ thống AMPScủa Mỹ ra đời vào năm 1983 Đến đầu những năm 90, thế hệ đầu tiên của thông tin
di động tế bào đã bao gồm hàng loạt hệ thống ở nhiều nước khác nhau: TACS,NMT, NAMPS … Tuy nhiên các hệ thống này đều không thỏa mãn được nhu cầungày càng tăng, trước hết là nhu cầu về dung lượng Mặt khác, việc tồn tại nhiềutiêu chuẩn không tương thích với nhau làm cho liên lạc giữa các mạng cực kỳ khókhăn Những hạn chế trên đã được đặt ra cho mạng di động tế bào thế hệ thứ haiphải giải quyết
Mạng di động thế hệ thứ hai ra đời, sử dụng kỹ thuật số thay vì kỹ thuật tương
tự như trong thế hệ thứ nhất Việc sử dụng công nghệ số giúp cho mạng thế hệ thứ
Trang 8hai bảo đảm chất lượng cao trong một môi trường nhiễu mạnh, có dung lượng lớnhơn, hiệu suất sử dụng phổ tần cao hơn, có nhiều dịch vụ hơn … Mạng thế hệ thứhai được phát triển mạnh mẽ, trong đó nổi tiếng nhất và được sử dụng nhiều nhất
là mạng GSM với khoảng 600 triệu thuê bao trên toàn thế giới Hiện tại GSM vẫnđang là tiêu chuẩn được ứng dụng rộng khắp … Nhưng trong khi nhu cầu củangười sử dụng ngày càng cao, thì hệ thống GSM vẫn còn nhiều hạn chế Không hỗtrợ dịch vụ số liệu tốc độ cao, không thể ứng dụng multimedia, dung lượng củamạng vẫn còn thấp
II Các phương pháp đa truy cập :
Công nghệ viễn thông phát triển đã kéo theo nhu cầu sử dụng các dịch vụ thông tin di động ngày càng tăng Số người sử dụng thông tin di động và truyền thông không dây tăng vọt dẫn đến việc dùng chung, chia sẻ tài nguyên (các đường truyền vô tuyến vật lý) là một xu hướng tất yếu Việc nhiều người sử dụng chung một đường truyền vô tuyến được gọi là đa truy cập
Có 3 phương pháp đa truy cập được sử dụng trong thông tin di động: đa truy cập phân chia theo tần số FDMA, đa truy cập phân chia theo thời gian TDMA, đa truy cập phân chia theo mã CDMA
Trang 91 Đa truy cập phân chia tần số FDMA ( Frequency Division Multiple Access ) :
Trong phương pháp này, băng tần của toàn bộ hệ thống bị chia thành nhiềuphần nhỏ Hệ thống gán cho mỗi người sử dụng một tần số khác nhau, mỗi kênhtruyền là một tần số, có nghĩa là mỗi người sử dụng có một kênh truyền riêng Hệthống phân biệt tín hiệu của những người sử dụng khác bằng các kênh tần số khácnhau Điều này làm cho hệ thống sử dụng phổ tần kém hiệu quả nhất, vì khi đangtiến hành cuộc gọi, không một người sử dụng nào khác có thể chia sẻ cùng mộtkênh tần số
Mỗi kênh trong hệ thống FDMA là một cặp tần số, tần số cao dành chođường xuống, tần số thấp dành cho đường lên
Đặc điểm chính của hệ thống FDMA:
- Một kênh FDMA chỉ mang một kênh thoại tại một thời điểm
- Khi kênh FDMA không được sử dụng, nó sẽ ở trong tình trạng rỗi,nhưng không một thuê bao nào khác có thể chia sẻ, sử dụng kênh tần số này
- Cuộc gọi được thu phát liên tục sau khi ấn định kênh thoại
- Băng thông của mỗi kênh hẹp (30KHz), do đó hệ thống FDMA là hệthống băng hẹp
- Mức độ phức tạp của FDMA thấp hơn các hệ thống khác
- Do phân cách thuê bao bằng các tần số khác nhau, nên hệ thống cần rất
ít thông tin cho mục đích đồng bộ
- Dung lượng của hệ thống nhỏ Tuy nhiên có thể tăng dung lượng bằngcách sử dụng băng tần hẹp hơn thông qua cải tiến các kỹ thuật điều chế
- Sử dụng các bộ truyền song công do cả hai hướng thu và phát hoạt độngcùng một lúc, dẫn đến tăng chi phí cho thiết bị
- Ảnh hưởng của nhiễu đối với hệ thống rất cao Vì vậy phải sử dụngnhiều bộ lọc tần số
Trang 102 Đa truy cập phân chia theo thời gian TDMA ( Time Division Multiple Access ) :
Kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo thời gian – TDMA (time divisionmultiple access) cũng chia nhỏ băng tần của mình thành nhiều kênh tần số khácnhau Nhưng thời gian sử dụng kênh tần số được chia thành nhiều khe thời giannhỏ hơn (ví dụ 8 khe trong GSM) Vì vậy, nhiều người có thể sử dụng chung mộttần số Khi đã sử dụng hết tất cả các khe thời gian trên một tần số thì người sửdụng tiếp theo sẽ được cấp phát một khe thời gian trên kênh tần số mới Điều nàylàm tăng thêm hiệu quả sử dụng tần số của hệ thống so với hệ thống FDMA
TDMA là một hệ thống phức tạp hơn FDMA, bởi vì tiếng nói phải được sốhoá hoặc mã hoá, sau đó được lưu trữ vào một bộ nhớ đệm để gán cho một khethời gian trống và khi đó mới phát đi Do đó việc truyền dẫn tín hiệu là không liêntục và tốc độ truyền dẫn phải lớn hơn vài lần tốc độ mã hoá Ngoài ra, do có nhiềuthông tin hơn chứa trong cùng một dải thông nên thiết bị TDMA được sử dụng có
kỹ thuật phức tạp hơn để cân bằng tín hiệu thu nhằm duy trì chất lượng tín hiệu
Nhiều người sử dụng trên một kênh tần số được ấn định khe thời gian khácnhau Mỗi người chỉ có thể thu phát tín hiệu trong khe thời gian của mình Mỗikênh tần số cùng với một khe thời gian tạo thành một kênh truyền bên trong hệthống
Trong TDMA, vì mỗi người sử dụng không truyền liên tục mà chỉ truyềntrên khe thời gian nên hệ thống phải sử dụng tín hiệu số và điều chế số Có haidạng song công bên trong TDMA: song công theo tần số (FDD) và song công theothời gian (TDD) FDD sử dụng các kênh có tần số khác nhau cho truyền và nhận.Ngược lại, trong TDD, một nửa thời gian được dành cho thu và một nửa còn lạidành cho việc phát tín hiệu
Đặc điểm chính của hệ thống TDMA:
Trang 11- TDMA cho phép nhiều người sử dụng chung một tần số, bằng cách chiakhoảng thời gian sử dụng tần số thành nhiều khe thời gian không chồng lấp nhau,
và mỗi người sử dụng một khe thời gian Số lượng khe tùy thuộc vào kỹ thuật điềuchế, băng thông …
- Việc truyền tín hiệu trong TDMA diễn ra không liên tục mà thành từngcụm nhỏ Vì vây, máy di động có thể giảm bớt năng lượng tiêu hao cho việc thuphát tín hiệu, dẫn đến thời gian sử dụng acquy tăng lên
- Trong các khe thời gian rỗi, máy di động đo đạc mức công suất của cáctrạm phát khác
- TDMA cần nhiều thông tin cho quá trình đồng bộ ban đầu hơn FDMA
do chế độ truyền không liên tục và chia khe thời gian
- Có thể cấp phát băng tần theo yêu cầu thông qua việc ấn định nhiềukênh cho một người sử dụng để tăng tốc độ của dịch vụ Vì vậy, tốc độ dịch vụ cóthể được cải thiện
3 Đa truy cập phân chia theo mã CDMA ( Code Division Multiple Access ):
Đa truy nhập phân chia theo mã CDMA hoạt động theo nguyên lý trải phổ
Nó không tìm cách phân bố các tiềm năng tần số và thời gian rời rạc cho mỗi thuêbao Ngược lại, giải pháp này cung cấp tất cả các tiềm năng đồng thời cho mọithuê bao, khống chế mức công suất phát từ mỗi thuê bao ở mức tối thiểu đủ để duytrì một tỷ số tín hiệu/tạp âm theo mức chất lượng yêu cầu Mỗi thuê bao sử dụngmột tín hiệu băng rộng như tạp âm chiếm toàn bộ dải tần phân bố Theo cách nhưvậy mỗi thuê bao tham gia vào tạp âm nền tác động tới tất cả các thuê bao khác,nhưng ở phạm vi ít nhất có thể Can nhiễu bổ xung này làm hạn chế dung lượng,nhưng vì phân bố tiềm năng thời gian và dải thông không bị hạn chế cho nên dunglượng cũng lớn hơn đáng kể so với các hệ thống TDMA và FDMA
Kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo mã – CDMA (code division multipleaccess) không phân chia nhỏ phổ tần, cũng không chia thời gian thành các khe, mà
Trang 12tất cả những người sử dụng khác nhau đều được phép sử dụng toàn bộ băng tầntrong cùng một thời gian.
Hệ thống trải phổ có khả năng chống lại nhiễu đa đường và tăng dunglượng đa truy nhập Hiệu quả sử dụng băng tần rất cao khi có nhiều người cùng sửdụng hệ thống
Các đặc điểm chính của CDMA:
- Cho phép mỗi người dùng sử dụng toàn bộ băng tần của hệ thống trongcùng một thời gian
- Mỗi người sử dụng sẽ có một mã khác nhau để phân biệt Mã được sửdụng để mã hóa và điều chế
- Sử dụng hiệu quả phổ tần hơn các hệ thống FDMA và TDMA
- Hệ thống có tính bảo mật cao
- Cho phép cấp phát tài nguyên mềm dẻo Hỗ trợ nhiều loại dịch vụ có tốc
độ khác nhau
Trang 13Phần 2 : Kỹ Thuật trãi phổ CDMA trong
đó mỗi thuê bao tham gia vào tạp âm nền tác động tới tất cả các thuê bao khác,nhưng ở phạm vi ít nhất có thể bằng cách khống chế công suất phát Như vậy một
hệ thống được coi là trải phổ nếu:
Tín hiệu trải phổ (tín hiệu phát) phải có độ rộng phổ lớn hơn nhiều lần độrộng phổ của thông tin gốc cần truyền
Trải phổ được thực hiện bằng một mã độc lập với dữ liệu gốc
Có 3 kỹ thuật trải phổ cơ bản:
• Trải phổ chuỗi trực tiếp (DS/SS – Direct Sequence Spread Spectrum)
• Trải phổ nhảy tần (FH/SS – Frequence Hopping Spread Spectrum)
• Trải phổ dịch thời gian (TH/SS – Time Hopping Spread Spectrum)
2) Kỹ thuật trải phổ chuỗi trực tiếp (DS-CDMA)
Hệ thống DS/SS được trải phổ bằng cách cộng module 2 dữ liệu gốc với
mã giả ngẫu nhiên Tín hiệu sau khi trộn sẽ điều chế một sóng mang theo BPSK, QPSK… Máy thu dùng mã giả ngẫu nhiên được tạo ra giống như bên phát cộng module 2 với tín hiệu thu được, thực hiện giải trải phổ để lấy tín hiệu mong muốn Đây là hệ thống được biết đến nhiều nhất trong các hệ thống thông tin trải phổ Là
hệ thống tương đối đơn giản vì nó không yêu cầu tốc độ tổng hợp tần số cao
Kỹ thuật DS/SS – BPSK
Trang 14Quá trình trải phổ tín hiệu tin được minh hoạ như hình vẽ sau:
Bản tin nhị phân cần phát có tốc độ bit Rb = 1/Tb được mã hoá theo NZRsao cho b(t)= ±1 Ta có thể biểu diễn b(t) như sau:
b(t) = Σb∞∞=kk ΠT(t-kT)
Trong đó, bk = ±1 là bit số liệu thứ k và T là độ rộng xung của một bit sốliệu Tín hiệu b(t) được trải phổ bằng cách nhân với tín hiệu p(t), p(t) = ±1 là tínhiệu giả ngẫu nhiên có tốc độ Rc= 1/Tc lớn hơn nhiều lần so với Rb Phần tử nhịphân của chuỗi p(t) được gọi là một chip để phân biệt nó với phần tử nhị phân (bit)của bản tin Tín hiệu b(t)p(t) nhận được sẽ được điều chế một sóng mang theophương pháp điều chế BPSK Tín hiệu phát DS/SS – BPSK là:
s(t) = Ab(t)p(t) cos(2πfct + θ(t))
Trong đó: A là biên độ sóng mang
fc là tần số sóng mang θ(t) là pha của sóng mang được điều chế
Sơ đồ khối quá trình giải trải phổ như sau:
Trang 15Tại máy thu, tín hiệu thu được m(t) bao gồm tín hiệu phát bị trễ mộtkhoảng thời gian τ là s(t- τ) và tạp âm trên đường truyền n(t) Do đó tín hiệu thuđược là:
m(t) = s(t- τ) + n(t) = Ab(t- τ)p(t- τ) cos{2πfc(t- τ) + θ(t))} + n(t)
Để đơn giản quá trình giải trải phổ ta bỏ qua tạp âm Tín hiệu r(t) tại đầuvào bộ lọc thông dải (BPF) là:
r(t) = Ab(t- τ)p(t- τ) cos{2πfc(t- τ) + θ(t))} 2cos{2πfc(t- τ) + θ(t))}
= Ab(t- τ)p(t- τ) + Ab(t- τ)p(t- τ) cos{2πfc(t- τ) + θ(t))}
Bộ lọc thông dải của bộ tách sóng loại bỏ các thành phần tần số cao và chỉgiữ lại thành phần tần số thấp u(t) = b(t)p(t) Sau đó, thành phần này được nhânvới mã nội tại p(t- τ) được tạo ra ở máy thu đã được đồng bộ
Do p(t- τ) = ±1 nên p2(t- τ) =1.Tại đầu ra của bộ nhân sẽ có:
x(t) = b(t- τ)p(t- τ)p(t- τ) = b(t- τ)p2(t- τ) = b(t- τ)
Sau đó, tín hiệu này được tích hợp trên một chu kỳ bit để lọc tạp âm Bản tin phát được khôi phục tại đầu ra bộ tích hợp, giống như tín hiệu băng gốc nhưng trễ về mặt thời gian là τ
Thực tế quá trình nén phổ, bên thu sẽ nhận đồng thời tín hiệu s(t) xếpchồng cùng với các tín hiệu sóng mang si(t) (i=1,2 N-1) không mong muốn của(N-1) người dùng khác ở cùng một tần số Do đó tín hiệu thu được sẽ là:
Trang 18 Nguyên lý chung:
Kỹ thuật trải phổ nhảy tần FH/SS là sự chuyển dịch sóng mang có tần sốđược chọn theo mã trong một tập hợp các tần số Độ rộng toàn bộ băng tần đượcchia nhỏ thành các khe tần số không lấn lên nhau Chuỗi mã PN sẽ xác định khetần số nào được dùng để truyền tin trong một khoảng thời gian nhất định
Khác với trải phổ chuỗi trực tiếp, ở trải phổ nhảy tần mã trải phổ khôngtrực tiếp điều chế tín hiệu mà được dùng để điều khiển bộ tổ hợp tần số tạo ra cáctần số khác nhau
Tốc độ nhảy tần có thể nhanh hơn hay chậm hơn tốc độ số liệu Tươngứng có hai trường hợp là: nhảy tần nhanh và nhảy tần chậm
Sơ đồ khối của máy thu và máy phát của hệ thống nhảy tần như sau:
Bản tin nhị phân b(t) cần phát có tốc độ Rb= 1/Tb , được mã hoá NZR Sau
đó được điều chế một sóng mang mà tần số của nó fc(t) được điều khiển bởi một
bộ tạo mã Bộ tổng hợp tần số sẽ tạo ra các chip có tốc độ bit Rc Do đó, tần sốsóng mang được xác định theo một tập hợp của log2N chip ( N là số lượng các tần
số sóng mang có thể có) Mỗi lần nó thay đổi là mã đã tạo ra log2N chip liên tiếp.Như vậy, tần số sóng thay đổi theo các bước Bước của tần số là RH=Rc/log2N
Trang 19Tại máy thu, sóng mang được nhân với một sóng mang chưa điều chếđược tạo ra giống hệt bên phát Sóng mang này được tạo ra nhờ bộ tạo mã PNgiống như bên phát điều khiển bộ tổ hợp tần số để tạo ra tần một tần số thích hợp.Như vậy, Sự chuyển dịch tần số giả ngẫu nhiên ở bên phát sẽ được loại bỏ tại nơithu
Điều chế FSK thường sử dụng cho các hệ thống này Giải điều chế là không kết hợp do tần số sóng mang luôn thay đổi trong quá trình truyền tin
Hệ thống FH/SS nhanh
Ở hệ thống FH/SS nhanh, có ít nhất một lần nhảy với một bít số liệu Với
T là chu kỳ của tín hiệu, Th là thời gian của một đoạn nhảy tần thì T/Th ≥ 1 Trong khoảng thời gian Th giây của mỗi lần nhảy tần, một trong số j tần số { f0, f0+Δf , f ,
f0+2Δf , f , … ,f0+(j-1)Δf , f } được phát Trong đó Δf , f là khoảng cách giữa các tần số lâncận, thường được chọn bằng 1/Th
Hệ thống FH/SS chậm
Khi tốc độ nhảy tần số của sóng mang trải phổ nhỏ hơn tốc độ dữ liệu ta có
hệ thống trải phổ nhảy tần chậm (T/TH < 1) Về cơ bản thì hai hệ thống trải phổ nhảy tần chậm và nhảy tần nhanh tương tự nhau Dưới đây là biểu đồ tần số của hệ thống trải phổ nhảy tần chậm với T/TH= 1/2 :
Trang 204) Kỹ thuật trải phổ nhảy thời gian TH/SS
Nhảy thời gian tương tự như điều chế xung Nghĩa là, dãy mã đóng/mở bộphát, thời gian đóng/ mở bộ phát được chuyển đổi thành dạng tín hiệu giả ngẫunhiên theo mã và đạt được 50 % yếu tố tác động truyền dẫn trung bình Sự khácnhau nhỏ so với hệ thống FH/SS đơn giản là trong khi tần số truyền dẫn biến đổitheo mỗi thời gian chip mã trong hệ thống FH/SS thì sự nhảy tần số chỉ xảy ratrong trạng thái dịch chuyển dãy mã trong hệ thống TH/ SS Hình (18) là sơ đồkhối của hệ thống TH/SS Ta thấy rằng bộ điều chế rất đơn giản và bất kỳ mộtdạng sóng cho phép điều chế xung theo mã đều có thể được sử dụng đối với bộđiều chế TH/ SS
TH/SS có thể làm giảm giao diện giữa các hệ thống trong hệ thống ghép kênh theo thời gian Vì mục đích này mà sự chính xác thời gian được yêu cầu trong hệ thống nhằm tối thiểu hóa độ dư giữa các máy phát
Trang 21Do hệ thống TH/SS có thể bị ảnh hưởng dễ dàng bởi giao thoa nên cần sửdụng hệ thống tổ hợp giữa hệ thống này với hệ thống FH/SS để loại trừ giao thoa
có khả năng gây nên suy giảm lớn đối với tần số đơn
Có thể thiết kế các hệ thống DS/ SS với giải điều chế kết hợp và không kếthợp Tuy nhiên, do sự nhảy chuyển tần số phát nhanh rất khó duy trì đồng bộ pha
ở các hệ thống FH/SS vì thế chúng thường đòi hỏi giải điều chế không kết hợp.Trong thực tế các hệ thống DS/SS có chất lượng tốt hơn do sử dụng giải điều chếkết hợp nhưng giá thành của mạch pha sóng mang đắt
Với cùng tốc độ đồng hồ của bộ tạo mã PN, FH/SS có thể nhảy tần trênbăng tần rộng hơn nhiều so với băng tần của tín hiệu DS/SS Ngoài ra có thể tạo ratín hiệu TH/SS có độ rộng băng tần rộng hơn nhiều độ rộng băng tần của DS/ SSkhi bộ tạo chuỗi của hai hệ thống này cùng tốc độ đồng hồ
Hệ thống FH/SS loại trừ được các kênh tần số gây nhiễu giao thoa mạnh
và thường xuyên, còn DS/SS nhạy cảm nhất với vấn đề gần xa Các hệ thốngFH/SS dễ bị thu trộm hơn so với hệ thống DS/SS