Các cơ quan Chính phủ, các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp… luôn cần có các thông tin phân tích, dự báo kinh tế để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, ra quyết định tro
Trang 11
NGUYỄN VĂN HÙNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH
TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội - 2011
Trang 22
NGUYỄN VĂN HÙNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH
TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2008 BẰNG MÔ HÌNH TOÁN HỌC
Ngành: Công nghệ Thông tin Chuyên ngành: Hệ thống Thông tin
Mã số: 604805
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS ĐỖ VĂN THÀNH
Hà Nội - 2011
Trang 3BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 2
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH IO 5
1.1 Mô hình Input-Output (Mô hình IO) 5
1.1.1 Lý thuyết về mô hình IO 5
1.1.1.1 Bảng IO 5
1.1.1.1.1 Một số bảng IO 9
1.1.1.1.2 Cách lập bảng IO 11
1.1.1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản để xây dựng bảng danh mục các ngành sản phẩm 11
1.1.1.1.4 Một số biến đổi trong quá trình lập bảng IO 12
1.1.1.2 Phân tích những ảnh hưởng kinh tế thông qua nhân tử vào – ra (IO multipliers) 14
1.1.1.2.1 Phương trình ảnh hưởng cơ bản 14
1.1.1.2.2 Những ảnh hưởng ban đầu từ nhu cầu cuối cùng 15
1.1.1.2.3 Tính tổng ảnh hưởng 16
1.1.1.2.4 Phân tích qua các nhân tử vào - ra 17
1.1.2 Các bảng IO của Việt Nam 22
1.2 Các ứng dụng mô hình IO 23
1.3 Kết luận 23
CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH IO VÀO CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ TÁC GIAI ĐOẠN 1996-2008 24
2.1 Phương pháp đánh giá tác động của nhân tố cầu đến tăng trưởng 24
2.1.1 Mô hình lý thuyết về phân tích tác động của các nhân tố cầu đến tăng trưởng 24
2.1.2 Dữ liệu phục vụ cho đánh giá 29
2.2 Vận dụng phương pháp để đánh giá tác động của 38 ngành sản phẩm công nghiệp chế tác 30
2.2.1 Luận cứ lựa chọn các ngành sản phẩm công nghiệp chế tác đưa vào phân tích 30
2.2.1.1 Danh mục các ngành sản phẩm 30
2.2.1.2 Một số ưu điểm 32
2.2.1.3 Một số nhược điểm 32
2.2.2 Quá trình phân tích bằng phần mềm Excel 33
2.2.2.1 Một số phương pháp phân tích cơ bản 33
2.2.2.1.1 Tính tỷ lệ VA/GO 35
2.2.2.1.2 Các tỷ lệ thành phần của VA 35
2.2.2.1.3 Đo lường đóng góp của nhân tố lao động vào giá trị gia tăng (VA) của ngành 35
2.2.2.1.4 Tỉ trọng đóng góp của các ngành vào giá trị gia tăng (VA) 36
Trang 42.2.2.1.8 Hệ số nhân tử đầu ra - Output Multiplier 37
2.2.2.1.9 Hệ số nhân tử đầu vào - Input Multiplier 37
2.2.2.2 Phương pháp phân rã tăng trưởng 38
2.2.2.2.1 Quá trình tính toán trên từng bảng IO 38
2.2.2.2.2 Quá trình tính toán trên cùng 2 bảng IO (bảng IO1, IO2) 38
2.3.3 Các kết quả phân tích bằng phần mềm Excel cho 38 ngành công nghiệp chế tác 41
2.3 Kết luận 50
CHƯƠNG III: XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM BẰNG MÔ HÌNH IO 52
3.1 Xác định bài toán 52
3.3 Mô hình nghiệp vụ của hệ thống 52
3.3.1 Các chức năng nghiệp vụ 53
3.3.1.1 Chức năng nhập, sửa đổi bảng IO 53
3.3.1.2 Chức năng tìm kiếm bảng IO 54
3.3.1.3 Chức năng xóa bảng IO 54
3.3.1.4 Chức năng nhóm gộp các ngành 54
3.3.1.5 Chức năng các kỹ thuật phân tích 54
3.3.2 Sơ đồ ngữ cảnh của hệ thống 55
3.3.3 Mô hình hóa quá trình xử lý 56
3.4 Mô hình kiến trúc hệ thống 57
3.4 Xây dựng chương trình 57
3.4.1 Xây dựng các hàm cho hệ thống 57
3.4.2 Xây dựng các màn hình chức năng cho hệ thống 64
3.5 Môi trườ ng thử nghiê ̣m 65
3.6 Cài đặt chương trình 65
3.7 Dữ liệu đầu vào của hệ thống 65
3.8 Một số giao diện thực hiện chương trình 65
3.9 Kết luận 71
KẾT LUẬN 73
1 Những kết quả chính đạt được của luận văn 73
2 Hướng nghiên cứu, mở rộng 73
TÀI LIỆU KHAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 75
Trang 51 GO Gross Ouput Giá trị sản xuất
in the domestic Final Demand
Thay thế nhập khẩu cho nhu cầu nội địa
in the Entermediate Demand
Thay thế nhập khẩu cho nhu cầu trung gian
Trang 6Hình 3.1 Sơ đồ ngữ cảnh của hệ thống 55
Trang 7MỞ ĐẦU
Phân tích, dự báo kinh tế là công việc phức tạp nhưng rất cần thiết đối với mọi quốc gia Các cơ quan Chính phủ, các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp… luôn cần có các thông tin phân tích, dự báo kinh tế để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, ra quyết định trong quản lý điều hành, xây dựng chiến lược và kế hoạch sản xuất kinh doanh… Để có được những thông tin như vậy, các nhà nghiên cứu đã cố gắng ứng dụng các mô hình toán học để phân tích
và dự báo các hành vi của các tác nhân kinh tế Một trong những mô hình được ứng dụng khá phổ biến trên thế giới để phân tích, dự báo kinh tế là mô hình bảng vào-ra (Input-Output - IO)
Mô hình IO lần đầu tiên được đưa ra bởi Wassily Leontief Đây là một trong những mô hình vĩ mô đầu tiên của kinh tế học hiện đại và được ứng dụng trong phân tích kinh tế từ những năm 1930 So với các công cụ dự báo kinh tế vĩ
mô khác, mô hình IO có ưu điểm là có thể phân tích đồng thời quan hệ kinh tế giữa các ngành, trên phương diện phân phối và hình thành sản phẩm; phân tích đuợc các mối quan hệ cân đối hiện vật cũng như giá trị; phân tích được các tác động dây chuyền trong nền kinh tế…
Ở Việt Nam, mô hình IO chỉ được bắt đầu nghiên cứu xây dựng từ giữa những năm 1980; việc lập trình cho một số ứng dụng của bảng IO ở Việt Nam chưa được quan tâm Hiện việc phân tích và tính toán ứng dụng mô hình IO chỉ dựa vào bảng tính EXCEL
Việc ứng dụng các kỹ thuật tin học để xây dựng phần mềm/chương trinh tin học nhằm hỗ trợ quá trình phân tích và dự báo kinh tế nói chung và phân tích kinh tế dựa vào bảng IO nói riêng đang được các nhà tin học kinh tế quan tâm
Đề tài “Đánh giá hiệu quả các ngành kinh tế Việt Nam giai đoạn
2000-2008 bằng mô hình toán học” sẽ tập trung tìm hiểu và ứng dụng của mô
hình IO để phân tích đánh giá hiệu quả của ngành Công nghiệp chế tác của Việt Nam dựa trên số liệu thực tế của nền kinh tế và lập chương trình tin học cho quá tình tính toán và phân tích đó Trong Đề tài này, tác giả ứng dụng 3 mô hình IO các năm 1996, 2000 và 2007 do Tổng Cục Thống kê điều tra, xây dựng để phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành Công nghiệp chế tác của Việt Nam giai đoạn 1996-2007 Các kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là một bằng chứng thực nghiệm chứng minh cho một số kết luận định tính về các nhân
tố quyết định sự phát triển của các ngành Công nghiệp chế tác ở Việt Nam hiện nay
Nội dung chính của Đề tài được trình bày trong 3 chương nội dung và
Trang 84 Chương I: Tổng quan về mô hình IO sẽ trình bầy một cách tóm lược về
mô hình này và những ứng dụng chủ yếu của nó này trong phân tích, nghiên cứu các ngành kinh tế
Chương II: Ứng dụng mô hình IO vào các ngành công nghiệp chế tác giai đoạn 1996-2008 sẽ ứng dụng lý thuyết mô hình IO và sử dụng bảng tính Excel làm môi trường tính toán để nghiên cứu tác động của các nhân tố về phía cầu (hay sử dụng), của việc thay đổi hệ số kỹ thuật đến tăng trưởng và chuyển dịch
cơ cấu các ngành công nghiệp chế tác giai đoạn 1996-2008
Chương III: Xây dựng chương trình đánh giá hiệu quả các ngành kinh tế Việt Nam bằng mô hình IO sẽ trình bầy kết quả xây dựng chương trình tin học nhằm tự động hoá quá trình tính toán trong phân tích IO của các nhà phân tích
và dự báo kinh tế Phần phụ lục sẽ giới thiệu mã lệnh (code) của một số thủ tục, hàm và chương trình con của chương trình tin học được xây dựng
Cuối cùng là phần Kết luận và Tài liệu tham khảo
Trang 9CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH IO
Trong nhiều thập kỷ qua, với việc ứng dụng ngày càng nhiều các công cụ toán học vào nghiên cứu kinh tế, các phương pháp dự báo kinh tế đã phát triển không ngừng Các mô hình toán và kinh tế lượng rất được quan tâm trong công tác dự báo Tuy nhiên, cho đến nay, tính chính xác của các mô hình dự báo kinh
tế còn nhiều giới hạn Các cơ quan nghiên cứu lớn như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đều có các mô hình dự báo rất phức tạp và chi tiết nhưng các kết quả dự báo của họ so với thực tiễn nhiều khi vẫn có sai số khá lớn Điều này có thể nhận thấy qua việc so sánh các chỉ tiêu dự báo của họ với các chỉ tiêu thực tế xẩy ra sau đó
Mặc dù các kết quả dự báo so với thực tiễn vân chưa thật chính xác nhưng nói chung chúng phản ánh được xu thế biến động của các hiện tượng kinh tế Việc nghiên cứu tìm kiếm các phương thức dự báo thích hợp với nền kinh tế luôn là một việc cần thiết, quan trọng đối với mỗi quốc gia Một trong các mô hình toán học hỗ trợ cho các nhà kinh tế trong việc phân tích và dự báo là mô hình Input-Output
Chương này sẽ trình bầy tổng quan về mô hình này và việc ứng dụng của
nó trong việc phân tích, dự báo kinh tế
1.1 Mô hình Input-Output (Mô hình IO)
1.1.1 Lý thuyết về mô hình IO
Mô hình IO về cơ bản là một hệ phương trình tuyến tính (linear) mô tả mối liên hệ giữa đầu vào (input) và đầu ra (output) của từng ngành sản xuất trong nền kinh tế Vì đầu vào của một ngành có thể là đầu ra của nhiều ngành khác, bất kỳ một thay đổi nào trong một ngành (ví dụ sản phẩm tăng, thuế thay đổi, công nghệ thay đổi…) đều có sự “lan tỏa” ra các ngành khác, không trực tiếp cũng gián tiếp Bởi vậy ứng dụng quan trọng nhất của mô hình này là tính các “chỉ số lan tỏa” (multiplier) của từng ngành, nghĩa là ảnh hưởng khi nó thay đổi vào các ngành khác
1.1.1.1 Bảng IO
Bảng IO bắt nguồn từ những ý tưởng trong cuốn „Tư bản‟ của Karl Marx khi ông tìm ra mối quan hệ trực tiếp theo quy luật kỹ thuật giữa các yếu tố tham gia quá trình sản xuất Tư tưởng này của ông sau đó được Wassily Leontief (Nobel kinh tế, 1973) phát triển bằng cách toán học hoá toàn diện quan hệ cung, cầu trong toàn nền kinh tế Leontief coi mỗi công nghệ sản xuất là một mối quan
Trang 106
hệ tuyến tính giữa số lượng sản phẩm được sản xuất ra và các sản phẩm vật chất
và dịch vụ làm chi phí đầu vào Mối liên hệ này được biểu diễn bởi một hệ thống hàm tuyến tính với những hệ số được quyết định bởi quy trình công nghệ Với tư tưởng này, vào năm 1936 W Leontief đã xây dựng cho Hoa kỳ hai bảng IO đầu tiên với số liệu của các năm 1919 và 1929 Năm 1941 chúng được xuất bản với tên gọi “ Cấu trúc của nền kinh tế Hoa kỳ”
Sau này bảng IO đã được phát triển và mở rộng để nghiên cứu rất nhiều vấn đề về kinh tế, xã hội, nhân khẩu học và môi trường … Đến nay, bảng IO còn được sử dụng như một công cụ quan trọng để lượng hóa mối quan hệ giữa kinh
tế và môi trường
Hệ thống các tài khoản quốc gia (SNA), một hệ thống thống kê phản ánh
vĩ mô nền kinh tế trong nhiều thập kỷ, được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng, coi mô hình IO là trung tâm của hệ thống này Tuy nhiên hệ thống SNA lần đầu tiên được Liên Hợp Quốc xuất bản vào năm 1953 không có mô hình IO
Hệ thống tài khoản quốc gia được điều chỉnh năm 1968 đã coi bảng IO là trung tâm của toàn bộ hệ thống SNA đã sử dụng bảng IO để mô tả việc sử dụng các sản phẩm vật chất và dịch vụ, lao động (được đo bằng thu nhập người lao động), tài sản cố định (được thể hiện bằng khấu hao tài sản cố định) trong quá trình sản xuất của từng hoạt động sản xuất Bảng IO không những cho biết chi phí trực tiếp cho sản xuất mà cả chi phí gián tiếp trong vòng tròn khép kín của quá trình sản xuất
Trang 11x = - véc tơ cột gồm n thành phần x1, , xn là giá trị sản xuất của các ngành
p = 5 - Số thành phần của nhu cầu cuối cùng, cụ thể là các thành phần tiêu dùng
cá nhân, tiêu dùng xã hội, tích luỹ tài sản cố định, tích luỹ tài sản lưu động và xuất khẩu
X = (xij) - ma trận kích thước n n các sản phẩm trung gian, cụ thể xij là giá trị các sản phẩm ngành i tham gia vào quá trình sản xuất của ngành j
Y = (yij) - ma trận kích thước n 5 các thành phần của nhu cầu cuối cùng, cụ thể yij là giá trị các sản phẩm ngành i tham gia vào nhu cầu cuối cùng loại j
Xm, Ym - các ma trận tương tự như ma trận X, Y nhưng xây dựng đối với các sản phẩm nhập khẩu
m - véc tơ cột gồm n thành phần m1, , mn là giá trị sản phẩm nhập khẩu của các ngành
q = 4 - số thành phần của đầu vào đầu tiên (primary inputs), cụ thể là các thành phần khấu hao tài sản cố định, thù lao lao động, lợi nhuận và thuế sản xuất
V = (vij) - ma trận kích thước 4 n các thành phần của đầu vào đầu tiên đối với
n ngành, cụ thể vij là giá trị của đầu vào đầu tiên loại i trong ngành j,
x
x
Ad, Am - các ma trận được xây dựng tương tự như ma trận A nhưng tách riêng cho sản phẩm trong nước và sản phẩm nhập khẩu
Theo cách nhìn tổng quát từ bảng IO thì một sản phẩm được xem xét trên hai giác độ khác nhau:
- Về giác độ giá trị (theo cột): Thể hiện cung (nguồn) của sản phẩm tức là sản phẩm đó được sản xuất ra như thế nào? Những sản phẩm nào được sử dụng
để làm chi phí trong quá trình sản xuất ra một sản phẩm đó Hay nói cách khác theo cột của bảng IO cho thấy kết cấu giá trị hoặc là định mức kỹ thuật khi tạo ra một đơn vị sản phẩm Theo cột, những chi phí về sản phẩm vật chất và dịch vụ trong quá trình sản xuất ra một đơn vị sản phẩm được gọi là Chi phí trung gian (Intermediate Input) và những giá trị mới được tạo ra trong quá trình sản xuất được gọi là Giá trị gia tăng (Value Added) bao gồm Thu của người lao động,
Trang 128 khấu hao tài sản cố định, thuế sản xuất (còn gọi là thuế gián thu), thặng dư sản xuất Tổng giá trị sản phẩm mới được sản xuất ra theo cột gọi là Sản lượng đầu vào (Gross Input - GI) hay còn được gọi là tổng chi phí sản xuất tạo ra giá trị sản phẩm (bằng chi phí trung gian cộng với giá trị tăng thêm)
- Về giác độ hiện vật (theo hàng hay ngành sản phẩm): Thể hiện cầu (sử dụng) của sản phẩm tức là sản phẩm đó được dùng như thế nào? Sản phẩm có thể được dùng cho sản xuất, cho Tiêu dùng cuối cùng (bao gồm tiêu dùng của hộ gia đình và tiêu dùng của Chính phủ), cho Tích lũy hoặc cho Xuất khẩu
- Dùng cho sản xuất ở đây được hiểu là sản phẩm vật chất và dịch vụ được sử dụng làm chi phí đầu vào trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm khác
Về bản chất việc sử dụng sản phẩm đó không bị mất đi trong quá trình sản xuất
mà được chuyển dịch vào sản phẩm mới được tạo ra Trong tài khoản quốc gia cũng như trong bảng IO, sản phẩm được dùng vào sản xuất được gọi là tiêu dùng trung gian (Intermediate Consumption)
- Các nhân tố cầu ở trong bảng IO là các nhân tố: (i) Tiêu dùng cuối cùng, bao gồm tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng chính phủ; (ii) Tích lũy tài sản, bao gồm tích lũy tài sản cố định và tích lũy tài sản lưu động; (iii) Xuất khẩu
- Các nhân tố cung trong bảng IO là các nhân tố: Thù lao lao động, vốn khấu hao tài sản cố định và lợi nhuận
- Tiêu dùng cuối cùng (Final Consumption): là những sản phẩm vật chất
và dịch vụ được sử dụng vào mục đích thường ngày về đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân và xã hội Những sản phẩm đó sẽ tiêu phí mất đi trong quá trình sử dụng
- Tích lũy tài sản (Gross Capital Formation): là sản phẩm được sử dụng để tích lũy cho quá trình sản xuất của thời kỳ sau
- Xuất khẩu (Export): là sản phẩm vật chất và dịch vụ được dùng cho xuất khẩu Những sản phẩm này được sản xuất trong nước nhưng được tiêu dùng cho nhu cầu sử dụng của nước ngoài (bên ngoài lãnh thổ kinh tế)
- Chỉ tiêu nhập khẩu (Import): được sử dụng để cân đối giữa cung và cầu hoặc giữa nguồn và sử dụng
Chỉ tiêu tổng hợp của các chỉ tiêu tiêu dùng cuối cùng, tích lũy, xuất khẩu
và nhập khẩu là chỉ tiêu sử dụng cuối cùng (Final Demand)
Tổng theo hàng được gọi là Giá trị sản xuất (Gross Output: GO) Tổng theo cột (nguồn - cung) là tổng chi phí sản xuất (Gross Input: GI), tổng chi phí theo cột bằng tổng giá trị sản xuất theo hàng, hoặc tổng nguồn phải bằng tổng sử dụng, đó cũng là lý do nhiều nhà kinh tế cho rằng mô hình IO là mô hình toàn diện nhất phản ánh mối quan hệ cung - cầu Nói cách khác, mô hình IO vừa thể
Trang 13hiện kết cấu về mặt giá trị, vừa thể hiện kết cấu về mặt hiện vật của sản phẩm và thể hiện mối quan hệ cung - cầu đối với từng sản phẩm
Sử dụng cuối cùng
GO giá
sử dụng cuối cùng
Phí
TN, vận tải
GO Giá người sản xuất
Chi phí trung gian
n1 X1 n2 Xij X2
… - = Thương
nghiệp, vận tải hàng hóa 0 0 0 0 0 0 0 0 0 A
… 0
nn 0 Xn
Giá trị tăng thêm
GI giá người sản xuất X1 X2 A Xn A
Ghi chú: A là giá trị sản xuất của ngành thương nghiệp, vận tải hàng hóa
Trong bảng IO giá sử dụng cuối cùng các phần tử Xij bao gồm giá trị sản phẩm i theo giá thành công xưởng, phí lưu thông và thuế sản phẩm
b Bảng IO giá người sản xuất
BẢNG IO GIÁ SẢN XUẤT
Tiêu dùng trung gian
N1 n2 …
Thương nghiệp, vận tải hàng hóa … nn
Sử dụng cuối cùng
GO Giá người sản xuất
Chi phí trung gian
n1 X1 n2 Aij X2
…
Trang 1410 Thương
nghiệp, vận tải hàng hóa A1 a2 … a4 … an a(n+1) A
…
nn Xn
Giá trị tăng thêm
GI giá người sản xuất X1 X2 A Xn
Trong bảng IO giá sản xuất phần tử Aij không bao gồm phí lưu thông Do
đó phí lưu thông nằm trong các sản phẩm này được đưa về dòng thương nghiệp
và vận tải hàng hóa; tổng chi phí theo hàng giá người sản xuất cân bằng với tổng giá trị sản xuất theo cột của bảng IO giá người sản xuất
Bảng IO đem đến cho người đọc cái nhìn tổng thể về nền kinh tế, số liệu trong bảng phản ánh một cách tập trung và khái quát nhất mối quan hệ liên ngành trong quá trình sản xuất và sử dụng sản phẩm cho tiêu dùng cuối cùng; tích lũy tài sản; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Nó cho thấy để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm của một ngành thì cần bao nhiêu sản phẩm của ngành khác và ngược lại ngành đó cung cấp bao nhiêu sản phẩm để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm của ngành khác Từ đó cho phép tính toán và phân tích được các mối quan hệ; đánh giá hiệu quả sản xuất, tính toán được các chỉ tiêu tổng hợp khác Điều này rất quan trọng đối với các nhà sản xuất, các nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính sách
c Bảng IO theo giá cơ bản
Bảng IO theo giá cơ bản là bảng tốt nhất để tính ma trận nghịch đảo Leontief, vì làm tăng độ tuyến tính trong các quan hệ của bảng IO Để có bảng
IO theo giá cơ bản phải lập ma trận thuế, phần tử của ma trận thuế thể hiện: thuế nằm trong giá trị các sản phẩm vật chất đối với cả tiêu dùng trung gian và tiêu dùng cuối cùng Ta có:
Giá cơ bản = Giá người sản xuất – Thuế sản xuất
d Bảng IO cạnh tranh
Bảng IO loại này có thể lập trên phạm vi quốc gia hoặc vùng Trong bảng
IO này thì chi phí trung gian bao gồm cả sản phẩm trong nước và sản phẩm sản xuất ở nước ngoài (nhập khẩu)
e Bảng IO không cạnh tranh
Trang 15Bảng IO loại này cũng có thể được lập trên phạm vi quốc gia hoặc vùng Trong bảng IO này chi phí trung gian được tách ra sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu
g Bảng IO liên vùng
Một trong những đóng góp quan trọng của các mô hình liên kết là sự phát triển của mô hình IO thành mô hình IO liên vùng Cùng với các mô hình kinh tế lượng, ma trận hoạch toán xã hội, mô hình cân bằng tổng thể, mô hình IO liên vùng được xem như một đối thủ trong việc lựa chọn các mô hình thích hợp đối với các nhà kinh tế Mô hình IO liên vùng thường là sự lựa chọn hàng đầu đối với Nhật Bản
Trước đây khi nghiên cứu về vùng, các mô hình phân tích chỉ xem xét các ảnh hưởng từ bên ngoài đến một vùng nào đó, mô hình IO liên vùng cho thầy được mức độ ảnh hưởng ngược của vùng này tới vùng khác, sau đó quay ngược
cả vùng
1.1.1.1.2 Cách lập bảng IO
Để lập bảng IO sẽ theo các bước sau:
Bước 1: Xác định cỡ của bảng IO tức là số ngành sản phẩm dự định
Bước 2: Xác định đối tượng điều tra để lập bảng IO, đối tượng điều tra phục vụ việc lập bảng IO thường là các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạch toán độc lập
Bước 3: Sau khi xác định đối tượng điều tra, lấy đó làm cơ sở để lập dàn mẫu
Bước 4: Xác định cỡ mẫu và tiến hành điều tra chọn mẫu với dàn mẫu đã được lập ở bước 3
Bước 5: Thiết kế phiếu điều tra Việc thiết kế phiếu điều tra để lập bảng IO hết sức phức tạp, điều tra viên hoặc kế toán các doanh nghiệp cần bóc tách rất chi tiết các khoản chi phí
Bước 6: Tiến hành tập huấn cho giám sát viên và các điều tra viên một cách kỹ lưỡng, vì điều tra để lập được bảng IO hết sức phức tạp
Bước 7: Nghiệm thu kỹ phiếu điều tra trước khi tiến hành xử lý
Bước 8: Làm sạch số liệu, xử lý và lập bảng IO
1.1.1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản để xây dựng bảng danh mục các ngành sản
phẩm
Trang 1612 Ngành trong bảng IO được hiểu là ngành sản phẩm, bao gồm cả sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ Dù là phân ngành kinh tế hay phân ngành sản phẩm, đơn vị quan sát vẫn là các đơn vị hoạt động kinh tế có hoạch toán, căn cứ vào kết quả hoạt động sản xuất ra sản phẩm của đơn vị để phân loại các sản phẩm trong những ngành kinh tế khác nhau về các ngành sản phẩm tương ứng
Không coi sản phẩm hoàn thành trong từng công đoạn của phân xưởng thuộc ngành sản phẩm, nếu chúng không được bán ra bên ngoài mà chỉ sử dụng tiếp tục trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Nếu tách sản phẩm đến từng phân xưởng trong xí nghiệp công nghiệp thì chỉ tiêu giá trị sản xuất sẽ bị trùng và không phù hợp với phương pháp công xưởng trong việc tính giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp
1.1.1.1.4 Một số biến đổi trong quá trình lập bảng IO
Ma trận nghịch đảo Leontief (I – A)-1 với dòng và cột đều thể hiện ngành sản phẩm thuần túy, nó là tổng thể các sản phẩm đồng loại hoặc có thể thay thế cho nhau, thường giống nhau về công dụng, về quy trình công nghệ sản xuất Ngành ở đây được gọi là ngành sản phẩm thuần túy hoặc ngành sạch và do vậy trong nền kinh tế thị trường mỗi doanh nghiệp thường sản xuất nhiều hơn một sản phẩm Ví dụ doanh nghiệp sản xuất hàng dệt, nhưng lại có sản xuất phụ là may mặc, hoặc những sản phẩm phụ trợ khác mà … trong hạch toán của doanh nghiệp không thể bóc tách bao nhiêu là chi phí cho sản xuất chính là dệt, bao nhiêu là chi phí cho sản xuất phụ khác Từ thực tiễn trên Richard Stone đưa ra ý niệm xây dựng các ma trận vệ tinh trước khi tính ma trận A với dòng và cột là ngành sản phẩm, những ma trận vệ tinh được gọi là ma trận sử dụng (use matrix)
và ma trận sản xuất (make matrix) SNA xuất bản năm 1993 gọi là bảng sử dụng (Use table) và bảng nguồn (Supply table), còn gọi tắt là SUT (Supply and Use table) Tuy tên gọi có thay đổi nhưng những ý niệm cơ bản không thay đổi Sau đây là những khái niệm về các ma trận này:
Trang 17Ở ma trận X ngành sản phẩm được thể hiện theo dòng và ngành kinh tế được thể hiện theo cột
Tức là ∑ Xjk (j = 1, n) là tổng theo dòng của ma trận X, thể hiện sản phẩm
j được sử dụng làm chi phí trung gian của các ngành trong nền kinh tế
Và ∑ Xjk (j = 1, n) với k = 1, n là tổng theo cột của ma trận
X là thể hiện tổng chi phí trung gian của ngành k Phần tử Xjk thể hiện giá trị sản phẩm của sản phẩm j được dùng cho sản xuất của ngành kinh tế k
Gọi Y là vector sử dụng cuối cùng Y = (Y1, , Yn)
Với Yi là phần giá trị của sản phẩm i được sử dụng cho nhu cầu cuối cùng
qi vector biểu thị giá trị sản xuất của sản phẩm i
q‟ vector chuyển vị của vector q
L vector biểu thị giá trị tăng thêm (GDP)
Từ đó ta có quan hệ sau:
Qj = ∑ Xjk + Yj X.i + Y = q
∑ Vkj là tổng theo dòng của ma trận V với k = 1, n thể hiện giá trị sản xuất của ngành kinh tế
∑ Vkj tổng theo cột ma trận V với j = 1, n và thể hiện giá trị sản xuất của sản phẩm j được sản xuất bởi tất cả các ngành trongg nền kinh tế
Ở ma trận V các phần tử nằm trên đường chéo V11, V22 , …, Vjk, Vnn thể hiện sản phẩm chính của các ngành kinh tế Ví dụ: ngành kinh tế k thì sản phẩm chủ yếu của ngành đó là Vjk
Trang 1814 Các phần tử bên ngoài đường chéo của ma trận V cũng có thể tồn tại vì như lập luận ở trên, một đơn vị sản xuất không chỉ sản xuất một loại sản phẩm chủ yếu mà còn sản xuất nhiều loại sản phẩm khác
Vì vậy việc xây dựng ma trận V là phù hợp thực tế và đó cũng là một trong những sự khác nhau cơ bản trong cách tiếp cận thông tin với mô hình cân đối liên ngành mà chúng ta đã làm quen
Từ ma trận V như vừa nêu trên gọi V‟ là ma trận chuyển vị của ma trận V
và dễ dàng suy ra:
q = V‟ I
I là vector đơn vị, I = (1, 1 …, 1) Xây dựng vector g với các phần tử của g là:
đó dựa vào nghiên cứu, hoặc những ảnh hưởng của ngành kinh tế đó đối với các ngành kinh tế khác
1.1.1.2.1 Phương trình ảnh hưởng cơ bản
Một mô hình vào ra ở dạng đơn giản nhất của nó là sự khớp nối đầy đủ việc phân tích các hoạt động qua lại trong nền kinh tế; Sự phát triển của một ngành kinh tế nào đó có sự tác động qua lại tới sự phát triển các ngành kinh tế khác Vì vậy, một phương pháp tiếp cận đúng được sử dụng để nghiên cứu một ngành kinh tế bằng cả 2 cách để dự báo xu hướng tăng trưởng của vector tiêu dùng cuối cùng, ví dụ việc tăng tiêu dùng cuối cùng của mỗi một loại mặt hàng trong nền kinh tế sẽ kéo theo sự đòi hỏi về sản lượng của những ngành kinh tế tương ứng và sau đó sử dụng phương trình ảnh hưởng cơ bản sau đây để tính tổng ảnh hưởng tới giá trị sản xuât:
Trang 19ΔX = (I-A d)ΔYd
(1) Hoặc:
ΔX = CdΔYd
(2) Trong đó: Cd = (I-Ad)-1
Cần phải phân biệt rõ hơn các khái niệm sử dụng trong phương trình (1) Mối liên hệ giữa các nhân tử vào – ra cơ bản được xác định theo công thức sau:
X = (I-A)-1Y (3) Trong đó:
Y = S + E – M Y: Là vector cột thể hiện nhu cầu tiêu dùng cuối cùng
S: Vector cột thể hiện chi tiêu dùng cuối cùng
E: Vector xuất khẩu
M: Vector nhập khẩu
Mỗi phần tử của ma trận chi phí trung gian AX được chia thành 2 bộ phận: Một bộ phận có nguồn gốc từ trong nước (AdX) và bộ phận còn lại có nguồn gốc từ nước ngoài (Mid), phương trình (3) được viết lại như sau:
X = (AdX + Mid) + Y (4) Hoặc
X = AdX + (S + E – M + Mid) (5) Khi đó, có phương trình sau:
Y = S + E – M
Yd = S + E – (M – Mid) Phương trình này có thể được áp dụng cho Yd
hoặc cho sự thay đổi về nhu cầu cuối cùng đối với các sản phẩm được sản xuất trong nước ΔYd (M – Mid) là phần tử nhập khẩu cho tiêu dùng cuối cùng ΔYd là sự thay đổi nhu cầu cuối cùng Ad thể hiện ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp sử dụng các sản phẩm được sản xuất trong nước làm chi phí đầu vào Yd là sự thay đổi nhu cầu cuối cùng về hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước
1.1.1.2.2 Những ảnh hưởng ban đầu từ nhu cầu cuối cùng
Nhu cầu cuối cùng về hàng hoá và dịch vụ có tác động trở lại hay hiệu ứng nhân tử tới nền kinh tế Trong chu kỳ đầu tiên, nhu cầu tăng lên về một sản phẩm của một ngành nhất định đòi hỏi ngành đó cần phải sản xuất ra sản phẩm nhiều hơn Kéo theo đó là sự gia tăng chi phí đầu vào để sản xuất sản phẩm Kết
Trang 2016 quả là, nhu cầu tăng lên dẫn đến khối lượng sản xuất tăng theo và thu nhập của các ngành liên quan theo đó cũng gia tăng
1.1.1.2.3 Tính tổng ảnh hưởng
Tổng ảnh hưởng tới các chỉ tiêu kinh tế như giá trị tăng thêm, lao động, tổng giá trị tài sản và nhập khẩu là kết quả của việc tính toán toàn bộ những ảnh hưởng tới giá trị sản xuất
Tổng ảnh hưởng tới giá trị sản xuất:
ΔX được xem như tổng ảnh hưởng tới giá trị sản xuất xuất hiện do sự thay đổi về nhu cầu cuối cùng về hàng hóa và dịch vụ ΔX được tính toán theo phương trình (1)
Tổng ảnh hưởng tới giá trị tăng thêm:
ΔL là những thay đổi về số lao động được tạo ra do những thay đổi về nhu cầu cuối cùng (Y), l là vector hàng về hệ số lao động (ví dụ lao động, giờ làm việc bình quân của một đơn vị giá trị sản xuất của từng ngành kinh tế)
ΔK là những thay đổi về tổng giá trị tài sản cố định được đề xuất để thỏa mãn nhu cầu cuối cùng mới và k là vector hàng thể hiện tổng giá trị của tích sản xuất và tích tài sản không có nguồn gốc từ sản xuất (như đất đai) bình quân của một đơn vị giá trị sản xuất của từng ngành kinh tế nếu như tổng tích sản được gộp lại với nhau
Các vector v, l và k có thể được thay thế bằng ma trận nếu có giá trị tăng thêm, lao động và vốn có thể được tách ra theo loại (loại lao động, loại tài sản cố định) Ví dụ, giá trị tăng thêm bao gồm tiền công trả cho người lao động, thặng
dư sản xuất, khâu hao tài sản cố định, thuế sản xuất và thuế gián thu; Lao động
có thể được chia ra các loại: Lao động quản lý, lao động có kỹ năng tay nghề và lao động giản đơn Để nghiên cứu tích lũy tài sản thì rất cần phải có một sự điều chỉnh trong các khái niệm của SNA Trong SNA, giá trị tài sản được gắn liền với các hoạt động kinh tế hoặc ngành kinh tế có sở hữu vốn Chính vì nguyên
Trang 21nhân này, nên đầu tư về đường sá, bến cảnh, sân bay và mạng lưới tiêu dùng do nhà nước xây dựng và sở hữu gắn liền với các hoạt động sản xuất ra các dịch vụ của Chính phủ thay vì từ các hoạt động kinh tế mà có được nguồn lợi trực tiếp từ các ngành đó, ví dụ như ngành công nghiệp vận tải và ngành nông nghiệp
1.1.1.2.4 Phân tích qua các nhân tử vào - ra
Nói đến phân tích IO tức là nói đến các nhân tử IO, các nhân tử IO được
sử dụng cho các loại bảng IO từ bảng IO dạng cạnh tranh, không cạnh tranh đến bảng IO liên vùng
Với A là ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp; X là vector giá trị sản xuất; Y là vector sử dụng cuối cùng Quan hệ cơ bản của mô hình có dạng:
X = (I – A)-1Y (6)
Ma trận (I – A)-1 là ma trận nghịch đảo Leontief mở, ma trận này thể hiện
hệ số chi phí toàn phần của các ngành cho một đơn vị sử dụng cuối cùng tương ứng Mô hình IO “mở” bao gồm các hoạt động sản xuất và sử dụng cuối cùng (tiêu dùng cuối cùng hộ gia đình, tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước, tích lũy tài sản cố định, thay đổi tồn kho và xuất khẩu) Tuy nhiên, mô hình có thể được mở rộng với một cột và một dòng thêm ra cho ma trận hệ số chi phí trực tiếp A; cột thêm ra thể hiện tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình; dòng thêm ra thể hiện thu nhập của người lao động Ma trận A mở rộng ký hiệu là B và (I – B)-1 là ma trận nghịch đảo đóng Ma trận nghịch đảo đóng có cỡ lớn hơn ma trận nghịch đảo
mở (I – A)-1 một dòng và một cột
Trong phân tích IO, cột cuối cùng của ma trận (I – B)-1 là vector nhân tử tiêu dùng (Consumption multiplier) Ý nghĩa của vector này là khi tiêu dùng cuối cùng tăng thêm 1 đơn vị thì đòi hỏi giá trị sản xuất phải tăng thêm là bao nhiêu, điều này rất quan trọng trong việc định hướng các chính sách về kích cầu, xác định rõ khi tăng tiêu dùng cuối cùng của sản phẩm nào sẽ kích thích nhiều nhất đến nền kinh tế
Dòng cuối cùng của ma trận (I – B)-1 là vector nhân tử thu nhập của hộ gia đình (Household income multiplier) Vector này thể hiện khi tăng lên 1 đơn vị tiêu dùng cuối cùng thì thu nhập sẽ tăng lên bao nhiêu, vì khi tiêu dùng cuối cùng tăng sẽ kích thích sản xuất tăng, sản xuất tăng dẫn đến thu nhập tăng (một nhân tố của giá trị tăng thêm); điều này cũng có thể được hiểu khi có thu nhập là bao nhiêu sẽ tiêu dùng 1 đơn vị
Ma trận nghịch đảo đóng (I – B)-1 có (n+1) dòng và (n+1) cột Gọi B* là phần tử sản xuất của ma trận (I – B)-1, tức là ma trận (I – B)-1 nhưng không bao gồm dòng và cột cuối cùng B* được gọi là ma trận nghịch đảo Leontief mở rộng cho tiêu dùng cuối cùng và thu nhập Những phần tử của ma trận nghịch đảo
Trang 2218 Leontief mở rộng lớn hơn phần tử của ma trận nghịch đảo Leontief mở, bởi vì chúng bao gồm cả phần thêm ra của sản lượng để đáp ứng ảnh hưởng của sản lượng do tiêu dùng cuối cùng gây ra Ma trận B*
, A và (I – A)-1 là nền tảng cho các nhân tử vào ra (Input – Output multipliers)
Nhân tử đầu ra (Output Multipliers – OM)
Đây là chỉ tiêu quan trọng được sử dụng để các nhà phân tích hoặc hoạch định chính sách sử dụng để đưa ra những quyết định kinh tế vĩ mô Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
Ψj = n i ii
r
rij: Phần tử của ma trận nghịch đảo Leontief
Ψj : Nhân tử đầu ra của ngành j
Công thức này được hiểu là để đáp ứng cho một đơn vị nhu cầu sử dụng cuối cùng, tổng chi phí đầu vào (bao gồm chi phí trực tiếp và gián tiếp cho sản xuất) là bao nhiêu Nếu Ψj càng lớn tức là ngành j sẽ có tác dụng kích thích sản xuất của các ngành khác trong nền kinh tế càng nhiều, vì nó sử dụng nhiều chi phí đầu vào là sản phẩm của ngành khác
Hay ta có thể diễn giải cách khác là:
Ma trận nghịch đảo Leontief (I – A)-1 có thể được biểu diễn theo lý thuyết chuỗi như sau:
(I – A)-1 = A0 + A1 + … + An (với n→ ∞) (7) Điều này cho thấy quá trình sản xuất bao gồm một chuỗi những vòng tròn khép kín
Từ A0, …, An
Ký hiệu tổng theo cột của ma trận đơn vị A0, A, (I – A)-1 và B* là các vector V0, V1, V2, V3 Đặt V0‟, V1‟, V2‟, V3‟ là những vector chuyển vị của vector
V0, V1, V2, V3 từ những ảnh hưởngnhân tử khác nhau được biểu diễn như sau:
- V‟0 là vector đơn vị thể hiện ảnh hưởng ban đầu của quá trình sản xuất
- V‟1 thể hiện vòng tròn đầu tiên trong quá trình sản xuất và cũng là tổng chi phí trung gian trên một đơn vị sản phẩm trong quá trình sản xuất
- V‟2 là vector tổng chi phí toàn phần cho một đơn vị sản phẩm, bao gồm tổng tất cả các vòng tròn trong quá trình sản xuất – còn gọi là nhân tử đầu ra (Output multipliers)
Trang 23- V‟3 là vector cột thể hiện tổng đòi hỏi về đầu ra (sản lượng) khi sản xuất ảnh hưởng bởi sự gia tăng về tiêu dùng cuối cùng – còn gọi là tổng nhân tử đầu ra
- (V‟3 – V‟2) thể hiện ảnh hưởng về đầu ra khi có sự gia tăng về nhu cầu tiêu dùng cuối cùng
Nhân tử đầu vào (Input Multipliers – IM)
Vector này là tổng theo hàng của ma trận nghịch đạo Leontief Vector này thể hiện: Để tăng một đơn vị giá trị tăng thêm của ngành j thì nhu cầu sử dụng sản phẩm ngành j của các ngành khác trong nền kinh tế là bao nhiêu
Nhân tử thu nhập (Income Multipliers)
Gọi h là vector hệ số giữa thu nhập của người lao động và giá trị sản xuất Cũng như các vòng tròn liên tiếp trong quá trình sản xuất trong quan hệ (7), nhân hai vế của quan hệ (7) với h sẽ có:
h(I – A)-1 = h(A0 + A1 + … + An) = h + hA + … + hAn
(8) Đặt: V1*
= hA
V*2 = h(I – A)-1
V*3 = hB*Đặt h‟, V1*‟, V2*‟, V3*‟ là chuyển vị của vector h, V1*, V2*, V3*; h‟, V1*‟,
) là thu nhập gián tiếp từ sản xuất
- V3*‟ tổng thu nhập từ sản xuất tạo ra bao gồm cả sự kích thích của tiêu dùng cuối cùng đến quá trình sản xuất
Nhân tử nhập khẩu (Import Multipliers)
Gọi k là vector hệ số nhập khẩu giữa giá trị nhập khẩu và giá trị sản xuất đối với từng sản phẩm Ta có:
V1** = kA là vector ảnh hưởng nhập khẩu trực tiếp trong quá trình sản xuất
V2** = k(I – A)-1 đòi hỏi về nhập khẩu cho sản xuất một đơn vị sử dụng cuối cùng
Trang 2420
V3** = kB* phản ánh tổng nhu cầu về nhập khẩu bao gồm cả nhu cầu về nhập khẩu khi có sự kích thích của việc tăng tiêu dùng cuối cùng
Liên kết ngược (Backward linkage – BL)
Liên kết ngược dùng để đo mức độ quan trọng tương đối của một ngành với tư cách là bên sử dụng các sản phẩm vật chất và dịch vụ làm đầu vào từ toàn
bộ hệ thống sản xuất Liên kết ngược được xác định bằng tỷ lệ của tổng các phần tử theo cột của ma trận Leontief so với mức trung bình của toàn bộ hệ thống sản xuất Tỷ lệ này được gọi là hệ số lan toả (Index of the power of dispersion) và được xác định như sau:
j ij
n
i ij
k
r n
Liên kết xuôi ( Forward Linkage – FL)
Liên kết xuôi hàm ý mức độ quan trọng của một ngành như là nguồn cung sản phẩm vật chất và dịch vụ cho toàn bộ hệ thống sản xuất, liên kết này được xem như độ nhạy của nền kinh tế, được đo lường bằng tổng các phần tử theo hàng của ma trận nghịch đảo Leontief so với mức trung bình của toàn bộ hệ thống
Xét về độ nhậy và chỉ số lan tỏa có thể thấy mức độ thay đổi rõ rệt ở hầu hết các ngành (trong 22 ngành), đặc biệt là nhóm ngành nông nghiệp, suốt từ năm 1986 (dựa vào các bảng cân đối liên ngành 1989, 1996 và 2000) đến giai đoạn 2005 chỉ số lan tỏa của nhóm ngành nông nghiệp luôn nhỏ hơn 1, chỉ có độ nhậy là luôn lớn hơn 1; đến giai đoạn từ 2007 trở đi cả độ nhạy và độ lan tỏa của nhóm ngành nông nghiệp đều lớn hơn 1; tương tự là ngành thủy sản Đáng kể nhất là ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp có độ nhậy và độ lan tỏa mạnh nhất trong nền kinh tế Như vậy có thể thấy nhóm ngành nông nghiệp và công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp có sự ảnh hưởng kích thích rất mạnh đến nền kinh tế trong giai đoan hiện nay, như vậy, có thể thấy chính sách về tam nông đã phát huy hiệu quả tích cực đối với nền kinh tế; nhưng xét về cơ cấu của những nhóm ngành này trong giai đoạn hiện nay có xu hướng giảm xuống Chẳng hạn cơ cấu của nhóm ngành nông nghiệp từ 13,35% năm 2000 giảm
Trang 25xuống còn 8,27% trong năm 2007; cơ cấu nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm từ 12% xuống 10% …
Bảng thống kê: Liên kết ngược (LKN) và liên kết xuôi (LKX) trong nền kinh tế Việt Nam năm 2007 và 2000
12
Các kim loại cơ bản và các sản phẩm
Trang 2622 doanh bất động sản
1.1.2 Các bảng IO của Việt Nam
Ở Việt Nam một số mô hình kinh tế sử dụng phân tích bảng IO để đánh giá tác động trực tiếp, gián tiếp lên quá trình sản xuất bởi yếu tố ngoại sinh, tức
là thay đổi do yếu tố bên ngoài mang đến đối với nhu cầu cuối cùng Ở Việt Nam, đối với loại mô hình này ma trận ngành sản phẩm x ngành sản phẩm phù hợp hơn
Bảng IO ở Việt Nam được lập theo 3 loại giá: giá người dụng cuối cùng, giá sản xuất và giá cơ bản Bảng IO theo giá cơ bản dùng trong phân tích đầu vào-đầu ra Điều quan trọng nhất là:
- Bảng IO theo giá cơ bản cung cấp giá trị thuần khiết nhất theo hàng
- Bảng IO theo giá cơ bản phản ánh thu nhập từ người lao động và vốn góp
Bảng IO 1989: Đây là bảng IO đầu tiên được xây dựng và công bố Bảng
IO 1989 được lập với kích cỡ 54 x 54 ngành sản phẩm dưới sự giúp đỡ của Thống kê Liên Hợp Quốc
Bảng IO 1996: là bảng IO lần thứ 2 được xây dựng vào năm 1996 với kích cỡ 97 x 97 ngành sản phẩm với kinh phí của Nhà nước và một phần của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Bảng IO 2000: là Bảng IO thứ 3 được xây dựng vào năm 2000 với kích cỡ
Trang 27cung cấp bao nhiêu sản phẩm để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm của ngành khác Từ đó cho phép tính toán và phân tích được các mối liên hệ, đánh giá hiệu quả sản xuất, tính toán được các chỉ tiêu tổng hợp khác
Để thực hiện các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành công nghiệp chế tác đề tài sử dụng các bảng IO 1996, 2000 và 2007 mà không sử dụng bảng IO 1989 vì muốn làm rõ tác động của hội nhập kinh tế được thể hiện trong giai đoạn 1996-2008
1.2 Các ứng dụng mô hình IO
Nhu cầu về sản xuất khi thay đổi nhu cầu cuối cùng
Phân tích nhu cầu của sản phẩm (i nào đó) với giá trị tăng thêm của ngành
đó
Ảnh hưởng của từng nhân tố của tổng cầu đến sản lượng
Ảnh hưởng về giá cả nền kinh tế khi tăng lương hoặc thuế
Ảnh hưởng của cầu đối với VA
Tính toán và dự báo nhu cầu năng lượng
Ảnh hưởng của nền kinh tế đến môi trường
Nhu cầu về vốn, lao động và nhập khẩu
Quan hệ giữa tiêu dùng (theo nhóm) và thu nhập
1.3 Kết luận
Trong chương này tác giả đã trình bày phần tìm hiểu về mô hình IO trong phân tích và đánh giá kinh tế Dựa trên phần lý thuyết mô hình IO mà trọng tâm của mô hình này là các bảng IO Dựa trên bảng IO có thể phân tích và dự báo một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và lập các dự án kế hoạch cho sản xuất kinh doanh Trong đó tác giả tập trung tìm hiểu các vấn đề sau:
Thứ nhất, tác giả đã tìm hiểu về bảng IO bao gồm cấu trúc của một bảng
IO, cách lập một bảng IO, các nghành trong bảng IO và các loại bảng IO đang
sử dụng ở Việt Nam
Thứ hai, tác giả đã trình bày những ảnh hưởng kinh tế thông qua các nhân
tử vào – ra (IO multiplier) từ bảng IO để biết xem sự lan tỏa, kích thích sự phát triển giữa các ngành kinh tế với nhau như nào
Thứ ba, tác giả giới thiệu về các bảng IO của Việt Nam lập và công bố
Trang 2824
CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH IO VÀO CÁC NGÀNH CÔNG
NGHIỆP CHẾ TÁC GIAI ĐOẠN 1996-2008
Các nội dung của Chương I đã cho chúng ta những khái niệm cơ bản về
Mô hình IO Để hiểu rõ hơn Chương I, chương này sẽ tiến hành phân tích cụ thể vào ngành công nghiệp chế tác
Vận dụng các kỹ thuật phân tích mô hình IO, tất cả các nhân tố tác động đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế nói chung cũng như các ngành công nghiệp chế tác nói riêng đều được xem xét Chính nhờ đó mà chúng
ta có thể đánh giá được các động lực quyết định tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp chế tác
Để vận dụng với điều kiện số liệu cụ thể của Việt Nam, tác giả tiến hành theo trình tự như sau: (i) Thứ nhất, lựa chọn các ngành công nghiệp chế tác để đưa vào phân tích; (ii) Thứ hai, xem xét các tác động ở cấp vĩ mô, tổng thể nền kinh tế; (iii) Thứ ba, xem xét các tác động ở cấp ngành để rút ra các nhận định
về quá trình chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp chế tác
2.1 Phương pháp đánh giá tác động của nhân tố cầu đến tăng trưởng
2.1.1 Mô hình lý thuyết về phân tích tác động của các nhân tố cầu đến tăng trưởng
Để phân tích tác động của các nhân tố cầu đến tăng trưởng và chuyển dịch
cơ cấu các ngành công nghiệp chế tác, tác giả sử dụng phương pháp phân rã nguồn tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu do Kubo-Robinson-Syrquin (1986) phát triển Nội dung cụ thể của phương pháp này được luận văn trích dẫn từ nghiên cứu "Thay đổi cơ cấu kinh tế theo thời gian tiếp cận từ phía cầu và cung" của các tác giả Nguyễn Khắc Minh, Nguyễn Việt Hùng và Nguyễn thị Cẩm Vân,
cụ thể như sau:
a Phương trình cân đối vật chất của mô hình vào ra trong nền kinh tế đóng
Phương trình cân đối vật chất cho một nền kinh tế đóng được định nghĩa như sau:
Xij = luồng hàng hoá trung gian từ ngành i sang ngành j
Xi = sản xuất trong ngành i
Pi = giá đầu ra trong ngành i
Fi = cầu cuối cùng đối với ngành i
aij = đòi hỏi sản phẩm trung gian từ ngành i trên một đơn vị đầu ra ngành
j
Trang 29Tạm thời bỏ qua xuất khẩu và nhập khẩu, các hàng của các tài khoản vào
ra danh nghĩa có thể được viết là:
i i j
ij i i
i X P X P F
(1) Khi giả định công nghệ với hệ số cố định, các hệ số vào-ra là hằng số và được xác định bởi:
j
ij ij
X
X
(2) Với một năm cho trước, tỷ số của các luồng trung gian trên đầu ra được tính như sau:
j j
ij i
j
ij i
X P
X P P
a P
Nếu chọn một bảng vào-ra đại diện làm năm cơ sở, thì đơn vị của các luồng thực được định nghĩa sao cho tất cả các giá của nó bằng 1 Trong trường hợp này, các phương trình (2) và (3) là như nhau Các hệ số aij được định nghĩa
là giá tính bằng Việt Nam đồng của đầu vào từ ngành i cần thiết để sản xuất ra đầu ra trong ngành j theo giá năm cơ sở (trong nghiên cứu này năm cơ sở được chọn là năm 1994) và được tính trực tiếp từ bảng kế toán vào-ra danh nghĩa Lưu
ý rằng các hệ số tính từ phương trình (3) đối với những năm khác nhau trong đó giá tương đối là khác nhau không thể so sánh với nhau, bởi vì các đơn vị đầu ra thực khác nhau
Khi ta chia cả 2 vế của phương trình (1) cho mức giá, thì phương trình (1)
có thể viết lại như sau :
i j
j ij
b Phương trình cân đối vật chất của mô hình vào ra trong nền kinh tế mở
Khi xem xét ý nghĩa của thương mại trong hầu hết các nước đang phát triển hiện thời, quan trọng là đưa nhập khẩu và xuất khẩu vào mô hình vào-ra một cách tường minh Một cách tiếp cận chuẩn và có lẽ đơn giản nhất là giả định
Trang 3026 rằng hàng hoá nhập khẩu và trong nước là “như nhau”; nghĩa là, chúng là những sản phẩm thay thế hoàn hảo trong mọi công dụng Khi đó có thể viết lại phương trình cân đối vật chất, phân biệt các nhóm khác nhau của cung và cầu:
ở đây các biến mới là
M = véc tơ nhập khẩu
F = véc tơ cầu trong nước
E = véc tơ xuất khẩu Giải đối với X:
i i
d i d i i
V F
E X d
Xd = véc tơ sản xuất trong nước
V = véc tơ cầu trung gian (hỗn hợp của hàng nhập khẩu và trong nước)
F = véc tơ cầu cuối cùng trong nước (hỗn hợp của hàng nhập khẩu và trong nước)
Ed = véc tơ xuất khẩu hàng trong nước
Mm = véc tơ nhập khẩu
A = ma trận hệ số bảng vào - ra (I - O) với aij là cầu trung gian hỗn hợp của ngành i trên một đơn vị đầu ra trong nước trong ngành j Trong mô hình chuẩn thì V = A Xd
Bây giờ giả thiết rằng tỷ lệ của cầu trong nước đối với hàng hoá sản xuất trong nước trên tổng cầu trong nước là cố định theo ngành Các tỷ lệ cầu trong nước này được định nghĩa bằng ma trận Dˆ với các phần tử là các tham số di, phương trình cân đối vật chất đối với hàng hoá trong nước được viết như sau:
d d d d
E F V
ở đây: V d DˆV và F d DˆF, Vì V = AXd, do đó phương trình cân đối vật chất có thể viết là:
) ˆ
( ) ˆ
d
E F D A D I
hoặc:
) (
)
d
E F A I
Trang 31ở đây: A d DˆA
c Phương pháp phân rã xác định nguồn tăng trưởng của các ngành kinh tế
Từ phân tích ở trên ta có thể viết các phương trình cân đối vật chất đối với cung và cầu hàng hoá sản xuất trong nước là:
i i i i
i d F V E
ở đây (bỏ các chỉ số d)
Xi = sản xuất trong nước của ngành i
Di = tỷ lệ giữa cầu trong nước đối với hàng hoá sản xuất trong nước trên tổng cầu trong nước, như trong phương trình (8)
Fi = cầu cuối cùng
Vi = cầu trung gian
Ei = xuất khẩu Dưới dạng ma trận, phương trình cân đối vật chất được cho trong (11) có thể được viết lại như sau:
) ˆ ( ) ˆ (I D A 1 D F E
(13) Trong đó Dˆ là ma trận mà các phần tử của nó là các tham số di, A là ma trận hệ số vào- ra, và X, F, E là những véc tơ, Ma trận DˆA là ma trận hệ số vào-
ra hàng hoá trong nước Ký hiệu là trong một biến [X = X(t+1) – Xt)], có thể viết thay đổi tổng cầu trong nước (sau một số biến đổi đại số) như sau:
) (
1Dˆ ( A)X
ở đây R1 (IDˆ 1A1 ) 1 và các chỉ số 1 và 2 ký hiệu cho các thời kỳ Phương trình này cho ta công thức phân rã cơ bản của thay đổi đầu ra ngành thành các nguồn thay đổi khác nhau gồm F, E, D và A
Hai số hạng đầu ở vế phải là những thay đổi trong tổng đầu ra do đóng góp của sự mở rộng cầu trong nước và xuất khẩu Số hạng thứ ba đo ảnh hưởng của thay thế nhập khẩu đối với sản xuất, thâu tóm bởi những thay đổi trong các
tỷ lệ cung trong nước Số hạng cuối cùng cho thấy ảnh hưởng của những thay đổi trong các hệ số IO biểu diễn sự mở rộng và làm sâu thêm những mối quan hệ liên ngành qua thời gian do những thay đổi trong hỗn hợp đầu vào trung gian
Đó là do những thay đổi trong công nghệ sản xuất cũng như sự thay thế giữa các đầu vào khác nhau (do thay đổi trong giá tương đối), mặc dù ta không thể tách các ảnh hưởng này
Trang 3228 Phương trình (14) phân rã sai phân cấp một trong đầu ra thành các thành phần khác nhau có ý nghĩa hơn nhiều sự phân rã trực tiếp dựa trên phương trình (13), vì nó có thể giải thích cả tăng trưởng trong cầu trung gian mà cách phân rã trực tiếp đã bỏ qua Vì phương trình này phân rã tổng thay đổi trong đầu ra, nó được gọi là công thức sai phân cấp một và thích hợp nhất để nhận diện các “đầu máy” chính của tăng trưởng ngành
Có vài điểm đáng lưu ý về phương trình phân rã Thứ nhất, thay thế nhập khẩu được xác định theo ngành từ những thay đổi trong tỷ lệ nhập khẩu trên tổng cầu Chỉ định này ngầm giả định rằng hàng nhập khẩu là những hàng thay thế không hoàn hảo đối với hàng hoá trong nước Nó khác về quan niệm so với cách xử lý của Chenery và các tác giả khác (1962), trong đó hàng nhập khẩu được coi là thay thế hoàn hảo cho hàng trong nước và cả hai được cộng lại với nhau không có sự phân biệt trong cầu cuối cùng và trung gian Như đã trình bày
ở trên, cách tiếp cận trong nghiên cứu này cho phép chúng ta xử lý riêng rẽ hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước Theo định nghĩa sử dụng ở đây, tổng đóng góp của thay thế nhập khẩu vào tăng trưởng nhạy cảm với mức chi tiết hoá ngành Thí dụ, có thể có thay thế nhập khẩu dương trong mọi ngành nhưng lại
có tổng nhập khẩu trên tổng cầu tăng do những thay đổi trong cơ cấu theo ngành của cầu
Thứ hai, lưu ý rằng ảnh hưởng của những thay đổi trong các hệ số vào-ra bao gồm những thay đổi trong hệ số tổng và không phân biệt riêng rẽ giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá sản xuất trong nước Như vậy, các hệ số vào-ra có thể vẫn bằng hằng số (Aij = 0) và vì vậy số hạng cuối cùng trong (14) sẽ bằng
0, cho dù có những thay đổi trong các tỷ lệ cung trong nước (điều đó gây ra những thay đổi trong DˆA hoặc d
A ) Những thay đổi công nghệ được định nghĩa
là những thay đổi trong hệ số tổng, còn bất kỳ thay đổi trong các tỷ lệ cung trong nước trung gian được đưa vào trong số hạng thay thế nhập khẩu
Thứ ba, mỗi số hạng trong phân rã được nhân với các phần tử của ma trận nghịch đảo trong nước Leontief Do đó, nó thâu tóm cả những ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp của mỗi nhân tố tác động lên tổng đầu ra, có xét đến những liên kết qua cầu trung gian
Cuối cùng, lưu ý rằng có vấn đề chỉ số không tường minh trong phương trình phân rã vì phép phân rã có thể được định nghĩa hoặc sử dụng các hệ số cơ cấu năm cuối và các trọng số khối lượng năm khởi đầu, hoặc sử dụng các hệ số
cơ cấu năm khởi đầu và các trọng số khối lượng năm cuối [như trong (14)] Hai phiên bản tương tự với các chỉ số giá Paasche và Laspeyres Trong phân tích sau
Trang 33đây, tính toán riêng rẽ cả hai chỉ số đối với phép phân rã trong mỗi thời kỳ và trình bày trung bình của hai chỉ số
Để phân tích những nguyên nhân thay đổi trong cơ cấu đầu ra, cần xem xét những độ lệch so với tăng trưởng theo tỷ lệ Nếu định nghĩa độ lệch so với tăng trưởng theo tỷ lệ của đầu ra của ngành i là X i2 X i2 X i1, ở đây là tỷ số của tổng sản phẩm quốc gia (GNP) trong thời kỳ 2 trên GNP trong thời kỳ 1 Sau khi biểu diễn phương trình cân đối vật chất ở dạng độ lệch, ta có thể giải thích sự tăng trưởng không tỷ lệ trong đầu ra theo kiểu tương tự với (14) như sau:
F D R
1Dˆ ( A)X
Trong công thức này các độ lệch () thay thế các số gia (), còn hai số hạng cuối đo thay thế nhập khẩu và thay đổi công nghệ thì trùng với (14) Lưu ý rằng vì tổng các độ lệch so với tăng trưởng cầu là bằng 0, các số hạng cầu kết hợp các ảnh hưởng Engel và ảnh hưởng giá tương đối Hơn nữa, vì độ lớn của
Xi thường nhỏ hơn nhiều so với Xi, và vì những ảnh hưởng thay thế nhập khẩu và thay đổi kỹ thuật là vẫn như thế, tầm quan trọng tương đối của cầu trong nước trong công thức độ lệch giảm đi đáng kể Công thức này hữu ích để giải thích thay đổi cơ cấu trong sản xuất
Để mở rộng hơn phân tích, chúng ta có thể phân rã tiếp tục mở rộng cầu cuối cùng (F) trong nước thành 4 thành phần sau:
(1) F1= tiêu dùng của hộ gia đình;
(2) F2= chi tiêu của chính phủ;
(3) F3= hình thành vốn;
(4) F4= thay đổi trong hàng tồn kho
Sử dụng ký hiệu thay đổi tổng cầu trong nước là X; Mở rộng cầu trong nước ký hiệu là DD; Mở rộng xuất khẩu ký hiệu là EE; Thay thế nhập khẩu ký hiệu là IS; Thay đổi trong các hệ số vào-ra ký hiệu là IO Với ký hiệu đó phương trình (14) có thể viết lại như sau:
Trang 3430
Dữ liệu phục vụ cho đánh giá chính là các bảng IO do cục thống kê đưa
ra Hiện giờ tổng cục thống kê đưa ra 4 bảng IO đã có kết quả điều tra là:
- Bảng IO 1989: Đây là bảng IO đầu tiên được xây dựng và công bố Bảng IO 1989 được lập với kích cỡ 54 x 54 ngành sản phẩm dưới sự giúp đỡ của Thống kê Liên Hợp Quốc
- Bảng IO 1996: là bảng IO lần thứ 2 được xây dựng vào năm 1996 với kích cỡ 97 x 97 ngành sản phẩm với kinh phí của Nhà nước và một phần của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
- Bảng IO 2000: là Bảng IO thứ 3 được xây dựng vào năm 2000 với kích
Căn cứ vào các danh mục ngành sản phẩm của 3 bảng IO 1996, 2000 và
2007 và mục tiêu, phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả nghiên cứu đã tiến hành gộp các ngành sản phẩm trong 3 bảng IO thành 38 ngành sản phẩm Danh mục cụ thể của 38 ngành sản phẩm như sau:
Bảng: Danh mục 38 ngành sản phẩm đưa vào phân tích
su
N4 Chế biến bảo quản thịt và các
sản phẩm từ thịt; Dầu mỡ thực vật, động vật; Sản phẩm bơ sữa;
Bánh, mứt, kẹo, ca cao, sôcôla
N23 Chất dẻo, các sản phẩm làm từ
chất dẻo
loại (dụng cụ y tế, thiết bị chính xác quang học, đồng hồ các loại,
Trang 35Ngành Gộp ngành Ngành Gộp ngành
dụng cụ gia đình, mô tô xe máy,
xe đạp và các máy móc thông dụng khác)
chuyên dùng, ô tô các loại và thiết bị vận tải khác)
móc thiết bị điện, máy móc thiết
bị truyền thanh, truyền hình và thông tin)
bằng kim loại đen đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị)
N10 Chế biến thuỷ sản và sản phẩm
từ thuỷ sản
N29 Luyện kim màu và các sản phẩm
bằng kim loại màu đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị)
N11 Xay xát, chế biến lương thực và
thực phẩm khác
N30 Dệt vải, dệt kim
biến thức ăn gia súc, sản phẩm công nghiệp in, sản phẩm công nghiệp khác còn lại)
N18 Hóa chất hữu cơ và vô cơ căn
bản
N37 Các dịch vụ thị trường
Nguồn: Tính toán của tác giả
Theo bảng "Danh mục 38 ngành sản phẩm đưa vào phân tích", khối ngành nông lâm ngư nghiệp được nhóm thành 2 ngành sản phẩm, khối ngành dịch vụ cũng được nhóm thành 2 ngành sản phẩm Còn lại, 34 ngành là các ngành sản phẩm của khu vực công nghiệp và xây dựng, trong đó 32 ngành sản phẩm của
Trang 3632 công nghiệp chế tác Việc lựa chọn 38 ngành sản phẩm này được dựa vào hai tiêu chí sau:
1 Đảm bảo nhiều nhất có thể được các ngành công nghiệp chế tác trong các bảng IO 1996, 2000 và 2007
2 Các ngành không nằm trong phạm vi nghiên cứu được ghép lại tối đa
để đảm bảo sai số trong quá trình phân rã tăng trưởng là thấp nhất có thể được Thực tế vận dụng các phương pháp phân rã tăng trưởng đã cho thấy số lượng ngành sản phẩm đưa vào phân tích tăng lên thì sai số cũng tăng lên tương ứng
Việc lựa chọn nhóm ngành này có một số ưu nhược điểm sau:
2.2.1.2 Một số ưu điểm
Nhóm 38 ngành sản phẩm gộp kể trên bao quát được tất cả các ngành sản phẩm công nghiệp chế tác của 3 bảng IO 1996, 2000 và 2007, tạo điều kiện cho việc phân tích động lực thúc đẩy tăng trưởng của các ngành cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu giai đoạn 1996-2007
Việc nhóm, gộp các ngành sản phẩm trong bảng IO nhưng vẫn đảm bảo
số lượng tối đa có thể có các sản phẩm công nghiệp chế tác sẽ cho phép phân tích chi tiết nhất về các động lực của tăng trưởng cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu nội bộ nhóm ngành công nghiệp chế tác
Các nhóm ngành sản phẩm được lựa chọn là khá tương thích với các ngành công nghiệp trong các niên giám thống kê Điều này sẽ cho phép dễ dàng tìm kiếm các số liệu thống kê để đối chứng, bổ sung cho các phân tích bằng mô hình IO trong chương này
2.2.1.3 Một số nhược điểm
Nhằm đảm bảo tính thống nhất về phân ngành giữa các bảng IO, chúng tôi đã phải gộp chung một số ngành sản phẩm công nghiệp quan trọng với một
số ngành sản phẩm khác Ví dụ như sản phẩm gạo được ghép với các sản phẩm xay xát và chế biến lương thực và thực phẩm khác
Một số ngành sản phẩm có tỉ trọng trong VA tương đối thấp đã được gộp chung nhưng lại không đồng nhất về công nghệ sản xuất, về tiêu hao vật chất Ví
dụ như sản phẩm điện được ghép với sản phẩm nước và gas Do đó, các kết quả phân tích từ nhóm 38 ngành sản phẩm này chỉ nên xem là gần đúng
Như trên đã đề cập, các bảng IO được sử dụng trong Đề tài này là các bảng IO theo giá hiện hành Do đó, việc phân tích các nhân tố tác động đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp chế tác đã không được loại
bỏ các yếu tố về giá Nhằm hạn chế nhược điểm này, Đề tài sẽ chú trọng phân
Trang 37tích, đánh giá các khía cạnh về chuyển dịch cơ cấu phía cung, phía cầu của các ngành sản phẩm giữa hai giai đoạn 1996-2000 và 2000-2007
2.2.2 Quá trình phân tích bằng phần mềm Excel
2.2.2.1 Một số phương pháp phân tích cơ bản
Minh họa quá trình tính toán là bảng IO 2000 đã gộp thành 3 ngành: Công nghiệp – Xây dựng, Nông nghiệp và Dịch vụ
Kết quả gộp bảng IO như sau:
Trang 38Mô tả bảng IO:
Ký hiệu bảng IO Ý nghĩa ký hiệu Ký hiệu bảng IO Ý nghĩa ký hiệu
Mã ngành: 1 Ngành Công nghiệp – Xây dựng T Thuế nhập khẩu
Mã ngành: 2 Ngành Nông nghiệp GO j Tổng giá trị sản xuất theo hàng
Mã ngành: 3 Ngành Dịch vụ IC i Giá trị tiêu dùng trung gian của ngành
IC j Giá trị tiêu dùng trung gian của ngành Thuế SX Thuế sản xuất
CG Tiêu dùng chính phủ của ngành Lương Lương cho người lao động
CP Tiêu dùng tư nhân của ngành Khấu hao Khấu hao sản xuất
I Tích lũy tài sản Lợi nhuận Lợi nhuận cho sản xuất
X Xuất khẩu VA Giá trị gia tăng
M Nhập khẩu GO i Tổng giá trị sản xuất theo cột
Trang 392.2.2.1.1 Tính tỷ lệ VA/GO
Đo lường tỉ lệ giá trị gia tăng thu được từ tổng giá trị sản xuất của ngành
Tỷ lệ này tính theo công thức như sau:
j
j
GO
VA GO
V1j: Đo lường tỉ lệ chi phí nhân công trong tổng giá trị sản xuất của ngành
j (Tỷ lệ này chính là phép chia của hàng "Lương"j cho tổng giá trị sản xuất GOj của ngành j)
V2j: Đo lường tỉ lệ lợi nhuận trong tổng giá trị sản xuất của ngành j (Tỷ lệ này chính là phép chia của hàng "Khấu hao"j cho tổng giá trị sản xuất GOj của ngành j)
V3j: Đo lường tỉ lệ khấu hao tài sản cố định trong tổng giá trị sản xuất của ngành j (Tỷ lệ này chính là phép chia của hàng "Lợi nhuận"j cho tổng giá trị sản xuất GOj của ngành j)
V4j: Đo lường tỉ lệ thuế gián thu trong tổng giá trị sản xuất của ngành j (Tỷ lệ này chính là phép chia của hàng "Thuế"j cho tổng giá trị sản xuất GOj của ngành j)
V5j: Đo lường tỉ lệ chi phí vốn trong tổng giá trị sản xuất của ngành j (Tỷ
lệ này chính là phép chia của hàng "Khấu hao + Lợi nhuận"j cho tổng giá trị sản xuất GOj của ngành j)
Trang 4036 Alpha (L)j: Đo lường đóng góp của nhân tố lao động vào giá trị gia tăng của ngành j (Tỷ lệ này chính là phép chia của hàng "Lương"j cho giá trị gia tăng
VAj của ngành j)
Bảng 3: Kết quả tính từ bảng IO 2000 gộp thành 3 ngành
2.2.2.1.4 Tỉ trọng đóng góp của các ngành vào giá trị gia tăng (VA)
VAj: Tỷ trọng đóng góp của các ngành vào giá trị gia tăng của ngành j (Tỷ lệ này chính là phép chia của hàng "VA"j cho tổng tiêu dùng trung gian của hàng giá trị gia tăng ICi)
GO
N N
Với i là hàng và j là cột của bảng IO và ma trận trận Aij Bảng 5: Kết quả tính từ bảng IO 2000 gộp thành 3 ngành
2.2.2.1.6 Tỉ lệ chi phí trung gian của ngành
Đo lường tổng tiêu hao vật chất trong ngành kinh tế (Aij được tính là tổng giá trị các cột của ma trận hệ số kỹ thuậ A(ij)
Bảng 7: Ma trận đơn vị I