Trong những năm qua, dòng vốn Hỗ trợ phát triển chính thức - ODA đã thể hiện rõ vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong đó Ngâ
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HÀ
QUẢN LÝ VỐN ODA TẠI SỞ GIAO DỊCH I - NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2016
Trang 2NGUYỄN THỊ THU HÀ
QUẢN LÝ VỐN ODA TẠI SỞ GIAO DỊCH I - NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐINH XUÂN HẠNG
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ CHẤM LUẬN VĂN
Hà Nội - 2016
Trang 3kể phương tiện truyền thông nào
Các số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy và được xử lý khách quan, trung thực Trong quá trình nghiên cứu tôi có tham khảo một số tài liệu
đã được liệt kê ở phần sau
Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Hà nội, ngày tháng năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 4Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Đinh Xuân Hạng đã tận tình chỉ
bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Xin chân thành cám ơn Ban Lãnh đạo, các Phòng nghiệp vụ tại Sở Giao dịch
I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp thông tin tư liệu, đóng góp ý kiến cho tôi trong việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những người thân trong gia
đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Học viên
Nguyễn Thi Thu Hà
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ VỐN ODA TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Các công trình đã công bố ở trong và ngoài nước 5
1.1.2 Những kết quả chủ yếu từ các công trình nghiên cứu trên 7
1.1.3 Những khoảng trống về lý luận và thực tiễn về quản lý vốn ODA 8
1.2 Khái quát chung về vốn ODA 9
1.2.1 Khái niệm nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) 9
1.2.2 Đặc điểm của nguồn vốn ODA 12
1.2.3 Các hình thức cung cấp nguồn vốn ODA 15
1.2.4 Vai trò của nguồn vốn ODA 16
1.3 Quản lý vốn ODA tại NHPT Việt Nam và các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý vốn ODA : 20
1.3.1 Quản lý vốn ODA tại NHPT Việt Nam: 20
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý vốn ODA 21
1.4 Cơ chế qu ản lý vốn ODA tại một số ngân hàng thương mại, Ngân hàng Phát triển ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm 27
1.4.1 Cơ chế cho vay lại 27
1.4.2 Thu hồi nợ cho vay lại 29
1.4.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nguồn vốn ODA 30
1.4.4 Kinh nghiệm quản lý vốn ODA ở một số nước trên thế giới 36
Trang 62.2 Quy trình nghiên cứu 44
2.3 Phương pháp nghiên cứu 45
2.3.1 Cơ sở phương pháp luận 45
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 45
2.3.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 45
2.3.4 Phương pháp phân tích thông tin 46
2.4 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý vốn ODA tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam 47
2.4.1 Về mặt định tính 47
2.4.2 Về mặt định lượng 49
Kết luận chương 2 51
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN ODA TẠI SỞ GIAO DỊCH I - NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 52
3.1 Tổng quan về Sở Giao dịch I- Ngân hàng Phát triển Việt Nam 52
3.1.1 Ngân hàng Phát triển Việt Nam - công cụ thực thi chính sách phát triển kinh tế- xã hội của đất nước 52
3.1.2 Tổ chức hoạt động tại Sở Giao dịch I - NHPT Việt Nam 54
3.1.3 Sơ bộ quản lý vốn ODA tại Sở Giao dịch I - NHPT Việt Nam 57
3.2 Thực trạng quản lý vốn ODA của Sở Giao dịch I - NHPT Việt Nam 58
3.2.1.Đánh giá chung kết quả hoạt động của Sở GD I - NHPT Việt Nam 58
3.2.2 Thực trạng quản lý ODA tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam 63
3.4 Đánh giá công tác quản lý vốn ODA tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam 83
Trang 74.1 Phương hướng phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Sở Giao dịch I
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam 94
4.1.1 Định hướng, chiến lược phát triển Ngân hàng phát triển Việt Nam giai đoạn 2010-2015, tầm nhìn 2020 94
4.1.2 Định hướng, chiến lược phát triển của Sở Giao dịch I 96
4.1.3 Quan điểm xây dựng giải pháp 98
4.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý vốn ODA tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam 99
4.2.1 Nâng cao chất lượng thẩm định dự án đối với các dự án ODA 99
4.2.2 Nâng cao chất lượng công tác quản lý cho vay 101
4.2.3 Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ và xử lý nợ của Sở giao dịch I 103
4.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ quản lý vốn ODA 106 4.2.5 Đầu tư đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của ngân hàng và của ngành 109
4.3 Một số điều kiện thực hiện các giải pháp 111
4.3.1 Kiến nghị với Chính Phủ 111
4.3.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính 112
4.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng phát triển Việt Nam 112
4.3.4 Kiến nghị đối với Chủ đầu tư 113
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
3 ĐTPT Đầu tư phát triển
4 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
5 JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
6 KFW Ngân hàng tái thiết Đức
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 3.1 Công tác huy động vốn tại Sở GD I- NHPT Việt Nam giai
2 Bảng 3.2 Số liệu hoạt động tín dụng của SGDI từ 2013-2015 51
3 Bảng 3.3 Công tác bảo đảm tiền vay các dự án cho vay ODA giai
4 Bảng 3.4 Kết quả hoạt động quản lý vốn nước ngoài tại Sở Giao
5 Bảng 3.5 Công tác kiểm soát chi giai đoạn 2013-2015 62
6 Bảng 3.6 Tình hình giải ngân qua tài khoản đặc biệt năm
7 Bảng 3.7 Tình hình phân loại nợ vốn ODA từ 2013-2015 66
8 Bảng 3.8 Nợ quá hạn vốn vay ODA giai đoạn 2013-2015 68
9 Bảng 3.9 Tình hình quản lý dự án cho vay ra nước ngoài 2013-
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 Tình hình cho vay thu nợ ODA từ năm 2013 đến 2015 52
2 Biểu đồ 3.2 Cơ cấu dư nợ nguồn vốn ODA tại Sở Giao dịch I giai
3 Biểu đồ 3.3 Cơ cấu vốn ODA cho vay lại theo ngành kinh tế 54
4 Biểu đồ 3.4 Cơ cấu các nguồn vốn ODA do Sở GD I quản lý 55
5 Biểu đồ 3.5 Tổng số chương trình, dự án ODA do Sở Giao dịch
6 Biểu đồ 3.6 Công tác đào tạo cán bộ chuyên ngành quản lý vốn
ODA tại SGDI trong giai đoạn từ năm 2013-2015 73
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
2 Sơ đồ 1.2 Mô hình hoạt động ngân hàng quản lý ODA tại Philipine 29
3 Sơ đồ 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy Sở Giao dịch I 46
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Vốn ODA là một phần của nguồn tài chính chính thức mà Chính phủ các nước phát triển và các tổ chức quốc tế dành cho các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội các quốc gia này Vốn ODA bao gồm tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại, có hoàn lại và vay ưu đãi; trong đó phần viện trợ không hoàn lại
và các yếu tố ưu đãi khác chiếm ít nhất 25% vốn cung ứng Quá trình cung cấp ODA đem lại lợi ích cho cả hai phía: bên các nước đang và kém phát triển có thêm khối lượng lớn vốn đầu tư từ bên ngoài để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế trong quy mô nền kinh
tế còn nhỏ bé của mình Phía còn lại cũng đạt được những lợi ích trong các điều kiện bắt buộc kèm theo các khoản viện trợ cho vay, đồng thời gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các công ty của mình khi thực hiện đầu tư tại các nước nhận viện trợ
Vì vậy kênh ODA đã và đang là một kênh dẫn vốn quan trọng Nhiều quốc gia đã thu hút, vận động và sử dụng vốn ODA khá hiệu quả Song không ít quốc gia lại là bài học không thành công về quản lý vốn ODA.Trong những năm qua, Việt Nam đã có được những thành công đáng kể trong lĩnh vực này.Nhưng đồng thời cũng nổi lên nhiều bất cập trong công tác quản lý nguồn vốn ODA đòi hỏi Chính phủ và Quốc hội phải quan tâm đúng mức để đạt hiệu quả tối đa nguồn vốn ODA
Trong những năm qua, dòng vốn Hỗ trợ phát triển chính thức - ODA đã thể hiện rõ vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong đó Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT) là Cơ quan được
ủy quyền Cho vay lại quan trọng của Chính phủ.Tuy nhiên, trong giai đoạn vừa qua
do tình hình kinh tế khó khăn chung vì khủng hoảng kinh tế, tỷ lệ nợ quá hạn ngày một tăng, số dự án bị nợ quá hạn cũng ngày càng nhiều , gây thất thu cho Ngân sách Nhà nước đã đặt ra cho Chính phủ và NHPT cần phải nâng cao chất lượng hơn nữa việc quản lý và sử dụng nguồn vốn quan trọng này Xuất phát từ những nội
dung như trên, Tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản lý vốn ODA tại Sở Giao dịch I -
Ngân hàng Phát triển Việt Nam” để nghiên cứu
Trang 132 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu:
* Mục Tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chính: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản nhất về nguồn vốn ODA Từ đó nêu ra được các chỉ tiêu đánh giá chất lượng công tác quản lý ODA, ý nghĩa của các chỉ tiêu Việc phân tích , đánh giá các nội dung về công tác quản lý vốn ODA ta ̣i Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Viê ̣t Nam để tìm ra những giải pháp hoàn thiê ̣n nhằm quản lý tốt hơn, có hiệu quả hơn đối với việc quản
lý, sử dụng, khai thác hiệu quả nguồn vốn ODA nói chung và nguồn vốn ODA qua
hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam nói riêng
- Mục tiêu cụ thể:
+ Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng Phát triển nói riêng , hoạt động quản lý vốn ODA của ngân hàng Phát triển Việt Nam và những rủi ro trong hoạt động quản lý vốn ODA , phân tích các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá những kết quả đa ̣t được , những ha ̣n chế c ần khắc phục và ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động cho vay vốn ODA của Ngân hàng Phát triển
+ Phân tích thực trạng hoạt động cho vay vốn ODA tại Sở Giao dịch I- Ngân hàng Phát triển, phân tích tình hình dư nợ qua các năm từ 2013 đến 2015, đánh giá những mặt đạt được và tồn tại trong hoạt động quản lý, cho vay vốn ODA tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Viê ̣t Nam nói riêng và trong toàn hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam nói chung
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao việc quản lý các dự án vay vốn ODA tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam Đồng thời hướng đến các giải pháp tăng cường quản lý vốn ODA tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
*Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong quản lý vốn ODA
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý vốn ODA tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong giai đoạn 2013-2015
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý vốn ODA tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam
- Gợi mở một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả quản lý vốn ODA tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong thời gian tới
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề chung về công tác quản lý các dự án vay vốn ODA của Ngân hàng Phát triển, trên cơ sở phân tích thực trạng để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý vốn ODA
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về hoạt động quản lý vốn ODA và thực trạng công tác quản lý vốn ODA của Sở Giao dịch I-Ngân hàng Phát triển Việt Nam trên địa bàn các tỉnh và thành phố Hà Nội, Hòa Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, các dự án liên tỉnh trải dài trên nhiều địa bàn, các dự án lớn, đặc biệt khác khác được Tổng Giám đốc giao
- Phạm vi về thời gian: Đề tài thực hiện nghiên cứu số liệu trong hoạt động cho vay vốn ODA tại Sở Giao dịch I-Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong các năm
từ 2013 đến 2015; đề xuất định hướng và giải pháp quản lý vốn ODA tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam đến năm 2020
- Phạm vi về nội dung : Do thời gian có hạn đề tài chỉ nghiên cứu tập trung , đánh giá thực trạng về việc quản lý các dự án vay la ̣i vốn ODA đặc biệt là phân tích đánh giá công tác kiểm soát chi tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn chủ yếu được sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa mác Lê-Nin, tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh số liệu hoạt động tại Sở Giao dịch I-Ngân hàng Phát triển giai đoạn từ 2013 đến 2015, đồng thời kết hợp những vấn đề lý luận và thực tiễn đề làm rõ các nội dung nghiên cứu
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề cơ bản về quản lý vốn ODA tại Ngân hàng phát triển
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu về quản lý vốn ODA tại Sở Giao dịch
I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Trang 15- Chương 3: Thực trạng quản lý vốn ODA tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam
- Chương 4: Những giải pháp Nâng cao hiệu quả quản lý vốn ODA tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Do hạn chế về mặt thời gian, nên mặc dù đã được sự hướng dẫn tận tình của Thầy
giáo hướng dẫn PGS.TS Đinh Xuân Hạng và nỗ lực của tác giả, nhưng luận văn vẫn
không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý từ phía Quý thầy cô, các chuyên gia và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN
VỀ QUẢN LÝ VỐN ODA TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các công trình đã công bố ở trong và ngoài nước
1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài về quản lý vốn ODA
Vốn ODA là một nguồn vốn quan trọng trên thị trường tài chính quốc tế Vì vậy các quốc gia, các tổ chức tài chính quốc tế rất quan tâm nghiên cứu về nguồn vốn này
The history of Official development Assitance,OECD (Lịch sử của tổ chức hỗ trợ phát triển chính thức, OECD) của Hemul Fuhrer (1996) là một công trình
nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của vốn ODA cùng với các hoạt động của Ủy ban Hỗ trợ phát triển ( DAC) Công trình này cho thấy ý nghĩa của của ODA trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội cho các nước nghèo và những nỗ lực của DAC trong trong nhiều qua
Về vốn ODA ở Việt Nam, Overview of Official development Assitance Vietnam (Tổng quan về phát triển chính thức thuộc diện hỗ trợ Việt Nam) của UNDP năm 1999 hay năm 2001 mô tả thực trạng thu hút và sử dụng vốn ODA ở
Việt Nam qua các năm một cách đầy đủ từ nguồn vốn, đối tác, ODA phân bổ cho ngành, lãnh thổ, những xu hướng và tồn tại ODA trong thời gian tiếp theo Những công trình này mang lại cái nhìn khách quan cho việc thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam từ phía các tổ chức quốc tế
Năm 2007 Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) qua công trình Hoạt động ODA của JBIC tại Việt Nam cũng giới thiệu tình hình vốn vay và các dự án ODA của JBIC ở Việt Nam Trong tổng vốn ODA mà ngân hàng này dành cho Việt Nam thì chủ yếu chảy vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật với nhiều dự án quan trọng ngành năng lượng và giao thông vận tải
WB cũng có nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ đối tác của Việt Nam - Chiến lược hỗ trợ quốc gia các nhóm Ngân hàng thế giới giai đoạn 2003-2006, hay
Trang 17Việt Nam - Chiến lược hợp tác quốc gia 2007-2011 Các ấn phẩm này cung cấp những đánh giá hoạt động của Nhóm các nhà tài trợ trong nhiều lĩnh vực khác nhau
1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước về quản lý vốn ODA
Nguồn vốn ODA có vai trò rất quan trong đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam Vốn ODA luôn nhận được sự quan tâm, cho nên nó đòi hỏi phải có các công trình nghiên cứu, những hội thảo chuyên
đề, các bài viết trên các báo, tạp chí
Bàn về Quản lý rủi ro trong cho vay lại ODA của Ngân hàng Phát triển Việt Nam tác giả Đặng Vũ Hùng trong Luận án Tiến sỹ chuyên ngành Kinh tế Tài chính
- Ngân hàng Nội dung nghiên cứu của Luận án đã mang lại cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam có cái nhìn tổng quan và thực tế hơn về Quản lý rủi ro trong cho vay lại vốn ODA của mình, qua đó cũng đã đưa ra các nhóm giải pháp hỗ trợ nâng cao hiệu quả Quản lý rủi ro trong cho vay lại của Ngân hàng Phát triển Việt Nam Theo nhận định, Luận án đã có một số đóng góp mới cho khoa học có thể áp dụng vào thực tế, đó là: Đã hệ thống hóa một số nhân tố ảnh hưởng, một số chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong cho vay lại vốn ODA, đặc biệt là đã đánh giá sát thực các tồn tại trong công tác quản lý rủi ro trong cho vay lại vốn ODA của Ngân hàng Phát triển Việt Nam: chưa xây dựng chiến lược quản trị; chưa phân định được 2 khâu quản lý tín dụng và thẩm định tín dụng; thẩm quyền của Ngân hàng Phát triển Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào Thủ tướng và Bộ Tài chính
Bàn về vấn đề quản lý vốn ODA ở Việt Nam của tác giả Hồ Hữu Tiến – Trường Đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng đăng trên Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng số (31).2009 Tác giả đề cập đến những kết quả đạt được, cũng như những khó khăn trong thực tiễn quản lý ODA, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn ODA
Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong việc huy động và
sử dụng vốn ODA tại Việt Nam của tác giả Nguyễn Ngọc Vũ – Đại học Đà Nẵng đăng trên Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 5(40).2010 Tác giả
đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác thu hút và sử dụng vốn ODA ở nước ta
Trang 18trong thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc huy động và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam
Một số kinh nghiệm về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA trên thế giới và Việt Nam được đăng trên tạp chí Xây dựng số 7/2006 Nâng cao hiệu quả quản lý
và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam, luận văn thạc sĩ kinh tế, 2009 của tác giả Lê Thanh Nghĩa, Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: Tìm ra các mặt hạn chế và đưa ra các kiến nghị nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam cho giai đoạn hiện tại cũng như giai đoạn tiếp theo
Giải pháp tăng cường quản lý vốn vay ưu đãi ở Việt Nam hiện nay của tác giả TS Phạm Thị Hồng Điệp, đăng trên tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị Thế giới số 10 (198) 2012 Tác giả đã nêu ra thực trạng nợ công của Chính phủ, yêu cầu đặt ra đối với việc quản lý vốn vay ưu đãi trong tình hình mới và giải pháp tăng cường quản lý vốn ưu đãi trong thời gian tới
Trong Hội thảo khoa học quốc tế" Đánh giá 20 năm huy động và sử dụng ODA của Việt Nam" tại Đà Nẵng vào ngày 7-8/8/2015 có một số bài tham luận có giá trị như Kết quả thu hút và sử dụng ODA giai đoạn 2006-2015; Thực trạng và một vài kiến nghị đề xuất của tác giả trịnh Ngọc Tuấn; Thu hút và sử dụng ODA trong bối cảnh Việt Nam là nước có thu nhập trung bình của Nguyễn Ngọc Sơn Đây là những bài viết mang tính tổng hợp, cung cấp cái nhìn bao quát về tình hình thu hút và sử dụng ODA 20 năm qua ở nước ta cũng như đưa ra định hướng trong thời gian tới
1.1.2 Những kết quả chủ yếu từ các công trình nghiên cứu trên
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới, có thể thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu về tình hình thu hút đầu tư và sử dụng vốn ODA như các báo cáo của các tổ chức quốc tế như WB, OECD ; các báo cáo của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đặt biệt là các ấn phẩm xuất bản nhân kỷ niệm 20 năm Việt Nam tiếp nhận vốn ODA từ các nhà tài trợ quốc tế, các sách chuyên khảo và các bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đánh giá tương đối đầy đủ và bao quát về thực trạng thu hút và sử dụng vốn ODA ở Việt Nam qua các năm một
Trang 19cách đầy đủ từ nguồn vốn, đối tác, cũng như công tác phân bổ vốn ODA cho các ngành, lãnh thổ, hay những xu hướng và tồn tại ODA trong thời gian tiếp theo Có thể thấy những công trình này đã mang lại cái nhìn khách quan từ phía các tổ chức quốc tế, từ các tổ chức tài trợ, cũng như những nhìn nhận chủ quan từ các nhà nghiên cứu trong nước cho việc thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam
Nhìn chung, các công trình đã có những đóng góp nhất định ở các khía cạnh khác nhau như: làm rõ tình hình thu út và sử dụng vốn ODA, kết cấu hạ tầng kinh tế , quản lý nhà nước và được các công trình nghiên cứu đề cập, đánh giá ở các mức độ, khía cạnh khác nhau nhưng cũng chưa giải quyết thấu đáo và cũng chưa xem xét đi sâu vào việc đánh giá công tác quản lý nguồn vốn ODA qua các ngân hàng, tổ chức tín dụng cũng như công tác ủy thác cho vạy lại từ hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng đối với vốn ODA đặc biệt là việc quản lý vốn ODA tại hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam- một công cụ hữu hiệu thực thi chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Chính Phủ Do vậy, việc nghiên cứu toàn diện mọi khía cạnh về quản lý vốn ODA tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam là một vấn đề còn bỏ ngỏ
1.1.3 Những khoảng trống về lý luận và thực tiễn về quản lý vốn ODA
Ở các mức độ khác nhau của các đề tài nghiên cứu cũng như các bài viết trên các Tạp chí đều khái quát các vấn đề lý luận cơ bản về ODA, tập trung đánh giá về tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn này, phân tích nguyên nhân của những hạn chế và nêu những giải pháp cụ thể để việc sử dụng ODA có hiệu quả hơn Tuy nhiên, thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA còn nhiều bất cập như: tiến độ giải ngân, hiệu quả sử dụng, chất lượng công trình…Trong các nguyên nhân của tình hình trên
có nguyên nhân từ khía cạnh quản lý nguồn vốn này
Nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về: “Theo dõi và giải quyết những vướng mắc đối với dự án ODA; Quy hoạch thu hút và sử dụng ODA phục vụ
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 1996-2000 và định hướng đến năm 2010”, Hà Nội, 1997 Công trình nghiên cứu này đã chỉ ra rõ các vướng mắc mà các
dự án ODA đầu tư vào Việt Nam thường mắc phải, như vấn đề thủ tục, tình hình giải ngân, kiểm tra và giám sát Qua đó cũng chỉ ra các giải pháp nhằm hoàn thiện
Trang 20các vướng mắc trên, làm sao cho các dự án ODA đầu tư vào Việt Nam trong tương lai được hiệu quả và nhiều hơn
Nghiên cứu của Bộ Tài chính, Vụ Tài chính đối ngoại về: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA ở Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Hà Nội, 2001 Công trình nghiên cứu này đã chỉ ra nguồn vốn ODA vẫn chưa được sử dụng đúng nơi, đúng chỗ, vẫn xảy ra tình trạng thất thoát, hiệu quả của dự án mang lại chưa cao Đề tài cũng giúp làm rõ hơn về cách quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA sao cho hợp lý và mang lại hiệu quả sử dụng cao nhất Nhiều tác giả đã chọn đề tài xung quanh vấn đề nguồn vốn ODA làm luận văn cao học
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập và giải quyết được những khía cạnh khác nhau về quản lý nguồn vốn ODA nói chung, quản lý nguồn vốn ODA tại các địa phương nói riêng Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
hệ thống trên phương diện lý luận và thực tiễn về công tác quản lý vốn ODA tại Ngân hàng phát triển ở Việt Nam đặc biệt là Sở Giao dịch I- Ngân hàng Phát triển Việt Nam Nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu như: hoạch định nguồn vốn, chính sách quản lý và vấn đề thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
1.2 Khái quát chung về vốn ODA
1.2.1 Khái niệm nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Để hiểu được đúng đắn bản chất của ODA và vận dụng nó có hiệu quả, chúng ta cần nghiên cứu kỹ hoàn cảnh ra đời và quá trình phát triển của nó ODA ra đời sau chiến tranh thế giới thứ II cùng với kế hoạch Marshall, để giúp các nước Châu Âu phục hồi các ngành công nghiệp bị chiến tranh tàn phá Để tiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall, các nước Châu Âu đã đưa ra một chương trình phục hồi kinh tế có sự phối hợp và thành lập một tổ chức hợp tác kinh tế Châu Âu, nay là (OECD)
Trong khuôn khổ hợp tác phát triển các nước OECD đã lập ra những uỷ ban chuyên môn, trong đó có Uỷ ban viện trợ phát triển (DAC) nhằm giúp các nước đang phát triển trong việc phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư ODA bao gồm viện trợ không hoàn lại là 25%, còn 75% là cho vay Lợi thế khi vay nguồn
Trang 21viện trợ ODA là nguồn vốn khá lớn, điều kiện vay thuận lợi, lãi suất thấp ODA là nguồn vốn rất quan trọng đối với các nước đang phát triển
Cho đến nay chưa có định nghĩa hoàn chỉnh về ODA, nhưng sự khác biệt giữa các định nghĩa không nhiều, có thể thấy điều này qua một số khái niệm sau:
Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ Official Development Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài, đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay
Năm 1972, lần đầu tiên Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) đã đưa
ra khái niệm về ODA như sau: "ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với
mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%"
Tuy nhiên, năm 1999 trong “Báo cáo đánh giá viện trợ khi nào có tác dụng, khi nào không và tại sao?” WB có đưa ra khái niệm về ODA như sau:
"ODA là một phần của Tài chính phát triển chính thức (ODF) trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA "
ODA là tất cả các nguồn tài chính mà Chính phủ các nước phát triển và Tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển
Theo chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP) trong "Báo cáo tổng quan viện trợ phát triển chính thức tại Việt Nam - tháng 12 năm 2002" có đưa ra khái niệm về ODA như sau:
"Viện trợ phát triển chính thức (ODA) bao gồm tất cả các khoản viện trợ
không hoàn lại và các khoản cho vay đối với các nước đang phát triển, cụ thể là do khu vực chính thức thực hiện, chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi,
Trang 22cung cấp với các điều khoản ưu đãi về mặt tài chính (nếu là vốn vay thì có phần không hoàn lại ít nhất là 25%)"
Tại nghị định 17/2001/NĐ-CP ngày 4/5/2001 về Quy chế quản lý và sử dụng Nguồn ODA, khái niệm ODA được xác định như sau:
"ODA (sau đây gọi tắt là ODA) trong quy chế này được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam với Nhà tài trợ bao gồm: Chính phủ nước ngoài, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia"
Tại Nghị định số 131/2009/ NĐ-CP ngày 9/11/2006 của Chính Phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức khái niệm ODA được xác định:
“Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA) trong Quy chế này được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các
tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ”
"Các hình thức cung cấp ODA bao gồm (a) ODA không hoàn lại, (b) ODA vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%"
Như vậy, các khái niệm ODA ở trên đều thông nhất ở 4 vấn đề cơ bản như sau: ODA là mối quan hệ hợp tác phát triển mang tính "Hỗ trợ" giữa quốc gia này với quốc gia khác nhằm thúc đẩy "Phát triển " kinh tế - xã hội thông qua con đường
"Chính thức " giữa cấp Nhà nước và Nhà nước, giữa Nhà nước và Chính phủ với các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia và mối quan hệ "ODA" này hình thành và phát triển dựa trên nền tảng của một phần cho không (phần không hoàn lại hay còn gọi là thành tố hỗ trợ) kết tinh trong tổng nguồn vốn ODA hàng năm mà nước này cam kết dành cho nước khác để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh
tế và xã hội đã định với giá trị ít nhất là 25% so với tổng giá trị viện trợ
Trang 231.2.2 Đặc điểm của nguồn vốn ODA
1.2.2.1 Vốn ODA có tính chất ưu đãi
Ngay trong các khái niệm về nguồn vốn ODA đã cho thấy nguồn vốn ODA mang nhiều yếu tố ưu đãi so với các nguồn vốn khác: Tính ưu đãi thể hiện ở phần viện trợ không hoàn lại khá lớn Còn phần cho vay chủ yếu là vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn các khoản vay thông thường rất nhiều (thường dưới 3%), thời gian ân hạn
và thời gian trả nợ dài Một khoản vay ODA thường có thời gian sử dụng vốn dài, thường 30-40 năm, gồm 2 phần: thời gian ân hạn (từ 5-10 năm) và thời gian trả nợ (gồm nhiều giai đoạn và những tỷ lệ trả nợ khác nhau ở trong từng giai đoạn)
Trong hình thức cung cấp nguồn vốn ODA tại Nghị định số 131/2009
NĐ-CP ngày 9/11/2006 của Chính Phủ cũng thể hiện rõ tính ưu đãi: ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ; ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố không hoàn lại” (còn gọi
là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc; ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính chung lại có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc
Sự ưu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển Có hai điều kiện cơ bản nhất để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:
Điều kiện thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người thấp Nước có GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn ưu đãi càng lớn
Điều kiện thứ hai: Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù hợp với chính sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp và bên nhận ODA Thông thường các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và
Trang 24ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng
kỹ thuật và tư vấn Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể Vì vậy, nắm bắt được xu hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong những điều kiện nhất định một phần tổng sản phẩm quốc dân từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển Do vậy, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp cũng như từ phía nước tiếp nhận ODA
1.2.2.2 ODA thường gắn với các điều kiện ràng buộc
Vốn ODA có thể ràng buộc (ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc) nước nhận về địa điểm chi tiêu Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này có mối liêu hệ rất chặt chẽ đối với nước nhận Ví dụ như Nhật Bản luôn quy định vốn ODA của Nhật đều được thực hiện bằng đồng Yên Nhật (JPY)
Hầu hết các nước viện trợ nói chung đều có mục đích và những ràng buộc nhất định áp đặt cho nước nhận vốn nhằm đạt được những ảnh hưởng về kinh tế, chính trị Như đã trình bày ở phần sự ra đời của ODA, lúc đầu, Mỹ viện trợ cho các nước Châu Âu (nước Tư bản chủ nghĩa) để ngăn chặn sự ảnh hưởng của Liên
Xô và các nước XHCH Tuy nhiên, kể từ đầu thập kỷ 90, khi mà các nước XHCN ở Đông Âu thay đổi thể chế chính trị thì các nước phương Tây cũng đã cung cấp ODA, tạo điều kiện cho các nước này chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Ví dụ, Nhật nặng về viện trợ cho các nước Châu á, Đức và Áo dành phần lớn viện trợ cho các nước Đông Âu và Liên Xô cũ, Mỹ lại rất quan tâm đến Trung Đông Như vậy là ngay từ khi sinh ra, ODA đã mang trong mình tính ràng buộc về chính trị
ODA gắn với điều kiện kinh tế: Các nước viện trợ nói chung đều muốn đạt được những ảnh hưởng về kinh tế, đem lại lợi nhuận cho hàng hoá, dịch vụ trong nước Họ gắn quỹ viện trợ với việc mua hàng hoá và dịch vụ trong nước của họ Việc này đã giúp cho việc tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ trong nước, làm chủ thị
Trang 25trường xuất khẩu Ngoài ra, ODA còn dọn đường cho nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chảy vào các nước nhận viện trợ
ODA gắn liền với nhân tố xã hội Uỷ ban Châu Âu chứng minh được rằng 90% dân chúng coi vấn đề phát triển là rất quan trọng 80% dân chúng Châu Âu cho rằng phải tăng ngân sách phát triển của liên minh Châu Âu (EU) Ở các nước có ODA dưới 0.7% GNP, hơn 70% dân chúng cho rằng Chính phủ nên tăng ngân sách viện trợ phát triển của nước mình Nhật Bản, một nước cấp viện trợ lớn nhất Thế giới, 47% số người được hỏi muốn duy trì mức viện trợ hiện tại và 33% muốn tăng hơn nữa
Điều kiện giải ngân
Việc quản lý nguồn vốn ODA có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc giải ngân ODA Giải ngân nhanh, thuận lợi và đúng mục tiêu luôn là yêu cầu các nhà tài trợ đặt ra cho các nước nhận tài trợ đặc biệt quan tâm Trên thực tế đối với các dự án do Chính phủ quản lý, điều hành thì điều kiện giải ngân thường là điều kiện khung và có nhiều hình thức giải ngân để bên tiếp nhận lựa chọn sao cho việc giải ngân nhanh chóng, thuận tiện Loại ODA do Nhà tài trợ trực tiếp quản lý thì điều kiện giải ngân thường là thanh toán trực tiếp từ người đại diện bên tài trợ cho đối tác liên quan đến dự án được tài trợ, cơ quan đại diện bên nhận tài trợ (cơ quan dự án) không được mở tài khoản để tiếp nhận tiền tài trợ, không trực tiếp thanh toán các khoản chi tiêu liên quan đến dự án
ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ
Thời gian đầu khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA các quốc gia không cảm nhận được các gánh nặng nợ, thời gian này vẫn nằm trong các điều khoản được
ưu đãi và tạo ra sự tăng trưởng nhất định Tuy nhiên, nếu quản lý, sử dụng hoặc cân đối nguồn vốn không hiệu quả sẽ dẫn tới gánh nặng rất lớn, không có nguồn để trả
nợ khi các khoản nợ đến hạn trả nợ Vấn đề nữa là nguồn vốn ODA thường không đầu tư trực tiếp cho hoạt động sản xuất mà phần lớn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, hỗ trợ
kỹ thuật,… Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu
Trang 261.2.3 Các hình thức cung cấp nguồn vốn ODA
Theo thông lệ quốc tế thì các khoản viện trợ có thể được cung cấp dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn: nếu phân theo tính chất tài trợ thì ODA gồm: viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, viện trợ hỗn hợp; Nếu theo điều kiện tài trợ, gồm: không ràng buộc, có ràng buộc, hỗn hợp; Nếu phân theo nguồn cung cấp, gồm: song phương và đa phương: Nếu phân theo hình thức thực hiện, gồm: hỗ trợ theo dự án, hỗ trợ phi dự án; Nếu theo mục đích sử dụng, gồm: hỗ trợ cơ bản, hỗ trợ
kỹ thuật Trong thực tiễn quản lý người ta chú ý đến 3 hình thức cung cấp ODA chủ yếu sau:
1.2.3.1 ODA không hoàn lại
Là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn lại cho nhà tài trợ (còn gọi là cho không với thành tố hỗ trợ 100%) ODA không hoàn lại hay còn gọi là Hỗ trợ kỹ thuật (TA) là một phần không tách rời của nguồn vốn ODA nói chung, chúng được
sử dụng chủ yếu cho các đầu vào hay còn gọi là “phần mềm” phục vụ phát triển, tức
là hỗ trợ để phát triển nguồn nhân lực và thể chế, chuyển giao tri thức, công nghệ và cho các đầu vào mang tính kỹ thuật cao khác mà các cơ quan quốc gia tiếp nhận viện trợ ODA không có khả năng tự thực hiện được ODA không hoàn lại hay TA khác với hỗ trợ vốn (cho vay ưu đãi) để giúp các nước đang phát triển thực hiện các đầu vào còn gọi là “Phần cứng” như xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế -xã hội,mua sắm thiết bị v.v phục vụ cho các Chương trình/ Dự án phát triển Tuy nhiên, trong thực tế sự phân biệt nói trên thường không rõ nét (loại trừ viện trợ khẩn cấp, nhân đạo phục vụ khắc phục thiên tai địch hoạ) vì hầu hết các dự án hỗ trợ kỹ thuật đều
có phần cứng ví dụ như mua xe ô tô, một số thiết bị nhất là thiết bị văn phòng, và đôi khi là dùng để nâng cấp trụ sở làm việc Đồng thời trong các dự án đầu tư cũng
có một khối lượng đáng kể hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp chuyên gia và các hoạt động tư vấn có liên quan
1.2.3.2 ODA cho vay ưu đãi
Hay còn gọi là tín dụng ưu đãi là các khoản vay mà yếu tố không hoàn lại (cho không hay thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất là 25% so với tổng giá trị khoản vay
Trang 271.2.3.3 ODA hỗn hợp
Là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại nhưng tính chung lại “yếu tố không hoàn lại hay thành tố hỗ trợ/cho không” phải đạt ít nhất trên 25% so với tổng giá trị của khoản vay đó
1.2.4 Vai trò của nguồn vốn ODA
1.2.4.1 Đối với nước cấp vốn ODA
Viện trợ ODA sẽ giúp các công ty của nước cung cấp ODA hoạt động thuận lợi tại các nước nhận viện trợ, được ưu tiên trong những cuộc đấu thầu, thực hiện dự
án, bán sản phẩm và hoạt động kinh doanh tại nước nhận viện trợ Cùng với sự gia tăng vốn ODA là sự gia tăng các dự án, gia tăng về thương mại giữa hai quốc gia Thị trường xuất khẩu của nước viện trợ được mở rộng…
Về chính trị nước cấp viện trợ sẽ đạt được một số mục đích chính trị nhất định, nâng mức ảnh hưởng của mình trên chính trường quốc tế Tạo được ảnh hưởng về văn hóa, kinh tế, chính trị đối với nước nhận viện trợ
Ngoài những tác động tích cực thì các khoản viện trợ thường chịu áp lực của công chúng trong nước Vì theo họ việc chính phủ cung cấp tài trợ ra nước ngoài làm giảm thu nhập và đời sống của nhân dân, ảnh hưởng tới ngân sách nhất là trong điều kiện kinh tế khó khăn và khủng hoảng kinh tế Việc cung cấp nguồn vốn ODA lớn ra nước ngoài cũng phần nào ảnh hưởng tới các chương trình, mục tiêu, dự án của nước cấp vốn…
1.2.4.2 Đối với nước nhận vốn ODA
a) Tác động tích cực:
- Nguồn vốn ODA được đánh giá là nguồn ngoại lực quan trọng giúp các nước đang phát triển thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình Vai trò của ODA thể hiện trên các giác độ cơ bản như:
Nguồn vốn ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi đầu tư phát triển, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước Vốn ODA với đặc tính ưu việt là thời hạn cho vay dài thường là 10 - 30 năm, lãi suất thấp khoảng từ
Trang 280,25% đến 2%/năm Chỉ có nguồn vốn lớn với điều kiện cho vay ưu đãi như vậy Chính phủ các nước đang phát triển mới có thể tập trung đầu tư cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như đường sá, điện, nước, thuỷ lợi và các hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế Những cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được xây dựng mới hoặc cải tạo nhờ nguồn vốn ODA là điều kiện quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh
tế của các nước nghèo Theo tính toán của các chuyên gia của WB, đối với các nước đang phát triển có thể chế và chính sách tốt, khi ODA tăng lên 1% GDP thì tốc độ tăng trưởng tăng thêm 0,5%
- Nguồn vốn ODA giúp các nước đang phát triển phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường Một lượng ODA lớn được các nhà tài trợ và các nước tiếp nhận
ưu tiên dành cho đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của lĩnh vực này, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy và học của các nước đang phát triển Bên cạnh đó, một lượng ODA khá lớn cũng được dành cho các chương trình hỗ trợ lĩnh vực y tế, đảm bảo sức khoẻ cộng đồng Nhờ có sự tài trợ của cộng đồng quốc tế, các nước đang phát triển đã gia tăng đáng kể chỉ số phát triển con người của quốc gia mình
- Nguồn vốn ODA giúp các nước đang phát triển xoá đói, giảm nghèo Xoá đói nghèo là một trong những tôn chỉ đầu tiên được các nhà tài trợ quốc tế đưa ra khi hình thành phương thức hỗ trợ phát triển chính thức Mục tiêu này biểu hiện tính nhân đạo của ODA Trong bối cảnh sử dụng có hiệu quả, tăng ODA một lượng bằng 1% GDP sẽ làm giảm 1% nghèo khổ, và giảm 0,9% tỷ lệ tỷ vong ở trẻ sơ sinh
Và nếu như các nước giầu tăng 10 tỷ USD viện trợ hằng năm sẽ cứu được 25 triệu người thoát khỏi cảnh đói nghèo
- Nguồn vốn ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế của các nước đang phát triển Đa phần các nước đang phát triển rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, gây bất lợi cho cán cân thanh toán quốc tế của các quốc gia này ODA, đặc biệt các khoản trợ giúp của IMF có chức năng làm lành mạnh hoá cán cân vãng lai cho các nước tiếp nhận, từ đó ổn định đồng bản tệ
Trang 29- Nguồn vốn ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn lực bổ sung cho đầu tư tư nhân Ở những quốc gia có cơ chế quản lý kinh tế tốt, ODA đóng vai trò như nam châm “hút” đầu tư tư nhân theo tỷ lệ xấp xỉ 2 USD trên 1 USD viện trợ Đối với những nước đang trong tiến trình cải cách thể chế, ODA còn góp phần củng cố niềm tin của khu vực tư nhân vào công cuộc đổi mới của Chính phủ Tuy nhiên, không phải lúc nào ODA cũng phát huy tác dụng đối với đầu tư tư nhân Ở những nền kinh tế có môi trường bị bóp méo nghiêm trọng thì viện trợ không những không bổ sung mà còn “loại trừ” đầu tư tư nhân Điều này giải thích tại sao các nước đang phát triển mắc nợ nhiều, mặc dù nhận được một lượng ODA lớn của cộng đồng quốc tế song lại không hoặc tiếp nhận được rất ít vốn FDI
- Nguồn vốn ODA là cầu nối giao lưu văn hoá, chính trị và con người giữa các nước tài trợ với nước tiếp nhận viện trợ Thông qua nguồn vốn ODA, các nước tiếp nhận ODA thường thiết lập và mở rộng được các mối quan hệ hợp tác phát triển đa phương và song phương với các nước tài trợ Ngoài việc khai thác được các thế mạnh về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý gắn kết trong các Chương trình/
dự án ODA mà các nước tài trợ dành cho nước tiếp nhận viện trợ Hoạt động chuyển giao nguồn vốn ODA còn tạo nên cầu nối giao lưu văn hoá và con người giữa nước tài trợ và nước tiếp nhận viện trợ thông qua các chương trình đào tạo, tập huấn, hội thảo, tham quan khảo sát, nghiên cứu,… Hơn nữa, việc các nhà tài trợ cam kết dành một phần vốn ODA hàng năm cho các nước đang phát triển đó cũng chính là “bức thông điệp” quan trọng về sự đồng tình ủng hộ đối với các chủ trương đường lối và chính sách phát triển kinh tế -xã hội mà các nước đang phát triển khởi xướng thực hiện, và đó cũng chính là “hậu thuẫn chính trị” quan trọng tạo nên cầu nối giao lưu giữa nước tiếp nhận ODA với các nước cung cấp ODA trên thế giới
- Nguồn vốn ODA giúp các nước đang phát triển tăng cường năng lực và thể chế thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế
b) Những hạn chế của nguồn vốn ODA:
Trang 30- Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, ODA cũng có không ít những mặt hạn chế Hạn chế rõ nhất của viện trợ phát triển chính thức ODA là các nước nếu muốn nhận được nguồn vốn này phải đáp ứng các yêu cầu của bên cấp viện trợ Mức độ đáp ứng càng cao thì viện trợ tăng lên càng nhiều Các yêu cầu này đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho
họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị
Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay
họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh
tế - chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới)
- Nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao
- Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới)
- Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất
- Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia
Trang 31- Ngoài ra, ngay ở trong một nước, tình trạng tập trung ODA vào các thành phố trọng điểm cũng tạo nên sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế xã hội của quốc gia đó, làm cho hố ngăn cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn càng trở nên cách biệt Bên cạnh đó, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần
1.3 Quản lý vốn ODA tại NHPT Việt Nam và các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý vốn ODA :
1.3.1 Quản lý vốn ODA tại NHPT Việt Nam:
Từ một vị thế là cơ quan cho vay lại một cách thụ động với nghiệp vụ chỉ dừng ở các dự án ODA thông thường, VDB đã nỗ lực không ngừng, cải tổ cơ cấu tổ chức, tranh thủ sự ủng hộ của các bộ, ngành, từng bước tổ chức lại và hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, nâng cao chất lượng quản lý, để trở thành đầu mối quan trọng nhất của Chính phủ thực hiện nhiệm vụ cho vay lại vốn ODA dưới nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là trong đó có hình thức ODA mà VDB tự chịu rủi ro tín dụng, nhằm đón đầu Luật Quản lý nợ công, cùng với những nhiệm vụ huy động vốn mới Nhiệm vụ cho vay lại ODA tại VDB đang được thực hiện theo các hình thức:
(1) Quản lý ODA cho vay lại thông thường (Bộ Tài chính ủy quyền VDB cho vay lại theo từng dự án);
(2) Quản lý các chương trình tín dụng ODA/Quỹ quay vòng có mục tiêu; (3) Quản lý, cho vay vốn ODA của Chính phủ Việt Nam ra nước ngoài Các chương trình, Quỹ quay vòng vốn ODA cho vay lại theo ủy quyền của
Bộ Tài chính, VDB chịu rủi ro tín dụng đang được VDB thực hiện như Quỹ đầu tư ngành giống vốn Đan Mạch; Quỹ Phà vốn Đan Mạch; Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn KfW Đức; Quỹ quay vòng cấp nước đô thị vay vốn WB;
Dự án đầu tư cấp nước Phần Lan; Chương trình cấp nước đồng bằng sông Cửu Long vốn AFD; Chương trình sử dụng hiệu quả, tiết kiệm năng lượng và phát triển
Trang 32năng lượng tái tạo vốn JICA và hạn mức tín dụng đầu tư dự án nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường do thay đổi khí hậu vốn EIB Các chương trình, dự án trên đã mang lại những đóng góp không nhỏ cho sự phát triển bền vững của Việt Nam, phù hợp với quan điểm phát triển kinh tế - xã hội hiện nay Những thành tựu nổi bật có thể dễ dàng nhận thấy là cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện; chất lượng y
tế, giáo dục được nâng cao; công tác bảo vệ môi trường, phát triển nông thôn, lĩnh vực tiết kiệm năng lượng và phát triển năng lượng tái tạo được quan tâm đáng kể Việc công nhận và đánh giá cao vai trò của VDB từ phía cộng đồng các nhà tài trợ
đã tạo bước đột phá trong công tác quản lý ODA, có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động, chức năng nhiệm vụ và tạo tiền đề cho xây dựng chiến lược phát triển lâu dài của hệ thống VDB Thứ nhất, với tư cách là cơ quan cho vay lại ODA lớn nhất, VDB đã được các nhà tài trợ cấp ODA viện trợ không hoàn lại để nâng cao năng lực thẩm định, phân tích và quản lý dự án thông qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật của Nhật Bản, WB Hỗ trợ kỹ thuật này không những nâng cao năng lực chuyên môn, ngoại ngữ cho cán bộ VDB, mà còn giới thiệu, bổ sung cho VDB kiến thức về phương thức quản lý tiên tiến, từng bước tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế Thứ hai, góp phần huy động vốn nước ngoài phục vụ đầu tư phát triển nói chung, nhằm đáp ứng mục tiêu đầu tư của quốc gia, đặc biệt là huy động vốn để phát triển những ngành mới mang tính chiến lược và đột phá vào các trọng tâm phát triển, tuy còn non trẻ, nhưng có những tác động tích cực đối với mục tiêu phát triển bền vững, như phát triển đường cao tốc, tiết kiệm năng lương, chống biến đổi khí hậu Thứ ba, khẳng định vai trò công cụ của Chính phủ trong việc huy động các nguồn lực trong và ngoài nước; thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế thế giới thông qua công tác cho vay lại vốn ODA
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý vốn ODA
Bên cạnh việc chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, Quy chế, quy trình của NHPT Việt Nam, các yêu cầu riêng của Nhà tài trợ Việc này đã được thực hiện đúng hay chưa, còn các tồn tại, thiếu sót gì, nguyên nhân từ phía nhà tài trợ, phía ngân hàng hay phía sử dụng vốn Việc đo lường hiệu quả quản lý nguồn vốn
Trang 33ODA xét trên phương diện tổng thể của nền kinh tế nói trên, các nhà phân tích còn dựa vào một tập hợp các chỉ tiêu định lượng trong từng chương trình, dự án ODA
để đánh giá Các chỉ tiêu đánh giá đưa ra đối với từng Chương trình/Dự án ODA thường tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực mà dự án triển khai Ví dụ đối với Dự án TCNT (thuộc ngành ngân hàng) do WB tài trợ thì tiêu chí đánh giá thường tập trung vào một số chỉ tiêu cụ thể và cơ bản như: Tốc độ giải ngân nguồn vốn của Dự án có đạt tiến độ đề ra không? chẳng hạn mục tiêu đề ra của dự án là trong vòng 4 năm phải giải ngân hết 100% số vốn vay tức là đạt hiệu quả cao trong quản lý mà dự án đã đề ra; Thực hiện các chính sách kinh tế mang lại tiếng vang (các chính sách kinh tế lành mạnh; Có tinh thần trách nhiệm trước công chúng và không có nạn tham nhũng Trách nhiệm ở đây chính là yêu cầu phải chịu trách nhiệm và giải thích về các hành động đã làm nhằm tiến hành phê bình và chịu trách nhiệm về thất bại của mình (nếu xảy ra) Trách nhiệm giải trình là lĩnh vực cơ quan chính phủ phải chịu trách nhiệm trước cử tri hoặc đông đảo quần chúng về các quyết định của mình; Tuân thủ pháp luật và các luật về nhân quyền hay như kêu gọi sự tham gia rộng rãi, công khai của các thành phần trong xã hội bao gồm cả những người nghèo và những người khó khăn trong tiến trình xây dựng các chính sách Dựa trên các quy định của Nhà nước và các yêu cầu riêng của Nhà tài trợ, quy chế quy trình của NHPT Việt Nam có các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng quản lý vốn ODA như sau:
- Kết quả hoạt động : Được thể hiện trên các số lượng , các chương trình , dự
án đang quản lý ; Dư nơ ̣ cho vay , doanh số cho vay tro ng kỳ, doanh số thu nợ trong
kỳ, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ lãi treo
- Công tác thẩm định dự án: Là việc rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học, khách quan và toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án nhằm khẳng định tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khi quyết định đầu
tư Nội dung của thẩm định dự án thường bao gồm: thẩm định kỹ thuật, thẩm định kinh tế xã hội và thẩm định tài chính, trong đó thẩm định tài chính dự án là một nội dung lớn và rất quan trọng trọng quá trình thẩm định dự án
Trang 34- Công tác ký kết hợp đồng tín dụng vay vốn nước ngoài Có bao nhiêu hợp đồng đã được ký, việc tuân thủ các quy định trong ký kết hợp đồng, có bao nhiêu hợp đồng đã được thực hiện
- Công tác ký kết hợp đồng bảo đảm tiền vay, đăng ký giao dịch bảo đảm đối với các dự án bắt buộc phải ký hợp đồng theo quy định của nhà tài trợ, của nhà nước và của NHPT Việt Nam
- Công tác kiểm soát chi (giải ngân) vốn ODA: Việc tuân thủ trong công tác kiểm soát chi về hồ sơ, về số liệu và chấp hành các quy định về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước
- Công tác thu nợ, xử lý nợ, phân loại nợ các dự án vay vốn ODA: Có bao nhiêu dự án trả nợ bình thường, bao nhiêu dự án có nợ quá hạn… việc thu nợ, xử lý
nợ, phân loại nợ có đúng quy định của Nhà nước, của NHPT Việt Nam hay không thông qua một số chỉ tiêu đánh giá cụ thể như:
Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đến hạn thanh toán đã thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng Tuy nhiên, NQH chưa phải là tổn thất của NHTM, đây vẫn là chỉ tiêu gián tiếp bởi không phải tất cả các khoản NQH này đều dẫn đến tổn thất Chỉ tiêu nợ quá hạn được phản ánh qua công thức sau:
- Tỷ lệ nợ quá hạn =
Nợ quá hạn
x 100 Tổng dư nợ cho vay
Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ chưa thanh toán bị quá hạn Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn là số tương đối và tuyệt đối phản ánh mức độ của khoản nợ quá hạn của ngân hàng Các chỉ tiêu này càng cao thì khả năng rủi ro tín dụng của ngân hàng càng lớn, phản ánh việc quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng là chưa tốt Ngân hàng phải xem xét lại khả năng, đánh giá quy trình, thủ tục cho vay, đặc biệt là xem xét lại khả năng thực hiện nhiệm vụ của cán bộ cho vay Nếu các chỉ tiêu này thấp hoặc bằng không không có nghĩa hoạt động tín dụng của ngân hàng không có mà khi đó số tiền rủi ro chính là tổng dư nợ của ngân hàng
Trang 35Theo quy định của NHNN Việt Nam tỷ lệ này trên 7% là ngân hàng hoạt động yếu kém c ̣òn dưới 3% là ngân hàng hoạt động tín dụng tốt
- Tỷ lệ nợ quá hạn khó thu =
Nợ quá hạn khó thu
x 100 Tổng dư nợ cho vay
Nợ quá hạn khó thu là các khoản nợ đã quá hạn một kỳ gia hạn nợ, không có tài sản bảo đảm hoặc tài sản bảo đảm không bán được, khách hàng thua lỗ triền miên, phá sản các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi trên tổng dư nợ cho biết trong 100 đồng cho vay thì có bao nhiêu đồng
nợ quá hạn khó đòi Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ khả năng mất vốn của ngân hàng càng cao, chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp
- Tỷ lệ xấu =
Nơ ̣ xấu
x 100 Tổng dự nợ quá ha ̣n
Nơ ̣ xấu tức là những khoản nợ thuô ̣c các nhóm nợ 3, 4, 5 Là các khoản nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ mất vốn và nợ có khả năng mất vốn Tỷ lệ này là một chỉ tiêu trực tiếp phản ánh rủi ro Nó cho thấy trong một đồng nợ quá hạn thì có bao nhiêu đồng bị tổn thất Nói cách khác, chỉ tiêu này phản ánh mức độ có thể gây ra rủi ro trong số nợ quá hạn của ngân hàng Nợ quá hạn có khả năng tổn thất thường bao gồm những khoản nợ quá hạn có thời gian quá hạn lớn (trên 360 ngày trở lên ) Đối với Ngân hàng việc duy trì các chỉ tiêu này với tỷ lệ cao trong báo cáo tài chính
là điều khó chấp nhận Ngân hàng luôn tìm cách giảm chỉ tiêu này xuống và biện pháp duy nhất là tích cực truy thu các khoản cho vay này Những khoản này thực sự không thu hồi được phải hoạch toán và chi phí hoạt động và lấy quỹ dự phòng rủi ro
để bù đắp tổn thất
- Tỷ lệ nơ ̣ xóa trong năm = Nơ ̣ được xóa trong năm x 100
Tổng dự nợ
Trang 36Các khoản cho vay được xoá nợ là những khoản cho vay được ngân hàng tuyên bố là không còn giá trị và được xoá khỏi sổ sách Tỷ lệ này phản ánh tổn thất thực tế của ngân hàng vì đây là những khoản nợ mà ngân hàng sẽ bị mất vốn vì không còn khả năng thu hồi Vì vậy, nếu chỉ tiêu này tăng thì rủi ro tín dụng của ngân hàng là rất lớn
Các khoản tín dụng có vấn đề: là những khoản vay chưa đến hạn, chưa được xem là nợ quá hạn nhưng trong quá trình theo dõi, ngân hàng phát hiện thấy khách hàng có dấu hiệu không trả được nợ Đây là chỉ tiêu định tính phản ánh rủi
ro tín dụng
- Kết quả phân loại nợ và chấm điểm khách hàng: Việc phân loại nợ và chấm điểm khách hàng dựa trên các quy định cụ thể của NHPT Việt Nam để từ đó đưa ra
05 nhóm nợ và các mức độ đánh giá khách hàng, khách hàng nào tốt, khách hàng nào trung bình, yếu, kém để có những giải pháp xử lý phù hợp với từng trường hợp trong từng khoảng thời gian nhất định Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước các
tổ chức tín dụng phải thực hiện phân loại nợ thành 5 nhóm nợ:
* Nhóm 1 - Nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm:
Các dự án (khoản vay) không có nợ (gốc và lãi) quá hạn và được Chi nhánh NHPT đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi theo đúng Hợp đồng tín dụng đã ký;
Các dự án (khoản vay) mà một phần hoặc toàn bộ nợ vay (gốc và/hoặc lãi)
đã quá hạn dưới 10 ngày và được Chi nhánh NHPT đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đã quá hạn, đồng thời có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi của số nợ còn lại theo đúng Hợp đồng tín dụng đã ký;
Các dự án (khoản vay) được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại điểm 1.2 Quyết định số 4426/NHPT-XLN
* Nhóm 2 - Nợ cần chú ý, bao gồm:
Các dự án (khoản vay) mà một phần hoặc toàn bộ nợ vay (gốc và/hoặc lãi)
đã quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
Trang 37Các dự án (khoản vay) mà một phần hoặc toàn bộ nợ vay (gốc và/hoặc lãi) đã được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu và được Chi nhánh NHPT đánh giá
là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi theo đúng Hợp đồng tín dụng điều chỉnh đã ký;
Các dự án (khoản vay) được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại điểm 1.3 Quyết định số 4426/NHPT-XLN
* Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm:
Các dự án (khoản vay) mà một phần hoặc toàn bộ nợ vay (gốc và/hoặc lãi)
đã quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
Các dự án (khoản vay) mà một phần hoặc toàn bộ nợ vay (gốc và/hoặc lãi)
Các dự án (khoản vay) mà một phần hoặc toàn bộ nợ vay (gốc và/hoặc lãi)
đã quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
Các dự án (khoản vay) mà một phần hoặc toàn bộ nợ vay (gốc và/hoặc lãi)
đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu nhưng đã quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Các dự án (khoản vay) mà một phần hoặc toàn bộ nợ vay (gốc và/hoặc lãi)
đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
Các dự án (khoản vay) được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại điểm 1.3 Quyết định số 4426/NHPT-XLN
* Nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn, bao gồm:
Trang 38Các dự án (khoản vay) mà một phần hoặc toàn bộ nợ vay (gốc và/hoặc lãi)
đã quá hạn trên 360 ngày;
Các dự án (khoản vay) mà một phần hoặc toàn bộ nợ vay (gốc và/hoặc lãi)
đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu nhưng đã quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Các dự án (khoản vay) mà một phần hoặc toàn bộ nợ vay (gốc và/hoặc lãi)
đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai nhưng đã quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
Các dự án (khoản vay) mà một phần hoặc toàn bộ nợ vay (gốc và/hoặc lãi)
đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả khi dự án (khoản vay) chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
Các dự án (khoản vay) mà một phần hoặc toàn bộ nợ vay (gốc và/hoặc lãi)
1.4.1 Cơ chế cho vay lại
- Mục đích kiểm soát chi nhằm đảm bảo chi tiêu từ nguồn vốn ODA, vốn vay
ưu đãi của dự án phù hợp với Hiệp định, văn kiện dự án, Hợp đồng sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi đã ký kết và tuân thủ các quy định về quản lý tài chính trong nước hiện hành
- Các hình thức giải ngân gồm có:
+ Hình thức thanh toán trực tiếp/ hoă ̣c chuyển tiền:
Thanh toán trực tiếp/ hoặc chuyển tiền là hình thức thanh toán mà theo đề nghị
Trang 39của bên vay, nhà tài trợ sẽ chuyển tiền thanh toán trực tiếp cho nhà thầu/nhà cung cấp hàng hoá/dịch vụ
Thanh toán trực tiếp theo Thư uỷ quyền rút vốn không huỷ ngang (thường áp dụng đối với các hợp đồng mua thiết bị trong một số các dự án của các nhà tài trợ song phương)
+ Hình thức thanh toán thư cam kết/cam kết đặc biệt: Thủ tục thanh toán bằng thư cam kết là hình thức thanh toán mà theo đề nghị của bên vay, nhà tài trợ phát hành một thư cam kết không huỷ ngang/hoặc cam kết đặc biệt đảm bảo trả tiền cho ngân hàng thương mại đối với khoản thanh toán đã thực hiện hoặc sẽ thực hiện cho nhà cung cấp theo một Thư tín dụng (L/C)
+ Thanh toán bằng L/C không cần thư cam kết : được áp dụng đối với một số trường hợp nhà tài trợ song phương uỷ quyền cho một ngân hàng thay mặt nhà tài trợ quản lý vốn ODA đồng thời thực hiện vai trò là ngân hàng người bán
+ Hình thức thanh toán hoàn vốn, hồi tố: Thủ tục hoàn vốn là phương thức mà nhà tài trợ thanh toán tiền từ tài khoản vốn vay vào tài khoản của bên vay chỉ định
để hoàn lại số tiền bên vay/cơ quan thực hiện dự án đã chi bằng nguồn vốn của mình cho các khoản chi hợp lệ được tài trợ bằng vốn vay
Trường hợp đặc biệt của thủ tục thanh toán hoàn vốn là thanh toán hồi tố Thanh toán hồi tố là hình thức thanh toán mà nhà tài trợ tài trợ cho các khoản chi hợp lệ của dự án đã phát sinh trước thời điểm hiệu lực của dự án, và đã được bên vay thanh toán bằng nguồn vốn của mình Thanh toán hồi tố chỉ được áp dụng khi
có thoả thuận với nhà tài trợ và được quy định trong hiệp định tài trợ, trong đó xác định khoảng thời gian và giới hạn số tiền được áp dụng thủ tục thanh toán hồi tố + Hình thức thanh toán Tài khoản tạm ứng/Tài khoản đặc biệt: Thủ tục TKTƯ
là hình thức nhà tài trợ ứng trước cho bên vay một khoản tiền vào TKTƯ mở tại ngân hàng phục vụ để bên vay chủ động trong thanh toán cho các khoản chi tiêu thường xuyên hợp lệ của dự án, giảm bớt số lần xin rút vốn từ nhà tài trợ và đẩy nhanh tốc độ thanh toán cho các hoạt động của dự án
Tuỳ thuộc yêu cầu của dự án và thoả thuận với nhà tài trợ, dự án có thể tổ
Trang 40chức theo mô hình nhiều cấp, có TKTƯ cấp 1 do ban quản lý dự án trung ương làm chủ tài khoản và TKTƯ cấp 2 do ban quản lý dự án địa phương/thành phần làm chủ tài khoản (đối với dự án có cấp trung ương và cấp địa phương/ngành quản lý thực hiện); hoặc TKTƯ cấp 1 do ban quản lý dự án tỉnh làm chủ tài khoản, TKTƯ cấp 2
do ban quản lý dự án huyện/xã làm chủ tài khoản (đối với dự án do cấp tỉnh và huyện/xã quản lý thực hiện)
Hạn mức số tiền nhà tài trợ ứng trước vào TKTƯ cấp 1 và/hoặc TKTƯ cấp 2 của dự án phụ thuộc vào quy mô, đặc điểm và nhu cầu chi tiêu cụ thể của từng dự
án Hạn mức TKTƯ thường được quy định cụ thể trong hiệp định tài trợ hoặc trong Thư giải ngân và có thể được điều chỉnh trong quá trình thực hiện dự án trên cơ sở tình hình thực hiện dự án và nhu cầu thanh toán
- Phương thức kiểm soát chi:
+ Kiểm soát chi sau: Là việc kiểm tra, xác nhận tính hợp lệ của các khoản chi sau khi Chủ đầu tư đã rút vốn nước ngoài để thanh toán cho người thụ hưởng + Kiểm soát chi trước: Là việc kiểm tra, xác nhận tính hợp lệ của khoản chi trước khi chủ đầu tư rút vốn nước ngoài
1.4.2 Thu hồi nợ cho vay lại
Người vay lại thực hiện trả nợ đúng hạn, đầy đủ theo nghĩa vụ trả nợ ghi trong Thoả thuận cho vay lại cho Cơ quan cho vay lại
Cơ quan cho vay lại thực hiện trả nợ đúng hạn, đầy đủ theo nghĩa vụ trả nợ ghi trong Hợp đồng ủy quyền cho vay lại vào Quỹ tích luỹ trả nợ nước ngoài do Bộ Tài chính quản lý theo hướng dẫn cụ thể của Bộ Tài chính Trường hợp Bộ Tài chính ủy quyền cho Cơ quan cho vay lại trả nợ trực tiếp cho nước ngoài, Ngân hàng được uỷ quyền cho vay lại vốn ODA chỉ chuyển cho Bộ Tài chính phần còn lại sau khi đã thực hiện trả cho nước ngoài
Trong trường hợp có thay đổi về chính sách hoặc điều chỉnh điều kiện cho vay lại, Cơ quan cho vay lại hoặc Bộ Tài chính không hoàn trả lại các khoản nợ cho vay lại đã được thu hồi trước đó
Ngoài ra, để quản lý nguồn ODA cho vay lại hiệu quả, Chính phủ cũng đã phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về cho vay lại từ nguồn vay, viện trợ nước ngoài của