Phát triển DLCĐ vừa bảo tồn tối đa các yếu tố nguyên gốc trong văn hóa truyền thống, gắn với bảo tồn môi trường sinh thái - nhân văn, đồng thời giữ gìn môi trường xã hội, vừa đáp ứng tối
Trang 3DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 8
1.1 Những vấn đề lý luận về du lịch 8
1.1.1 Khái niệm Du lịch 8
1.1.2 Sản phẩm du lịch 9
1.1.3 Thị trường du lịch và thị trường mục tiêu 10
1.1.4 Tài nguyên du lịch và môi trường du lịch 11
1.2 Lý thuyết về phát triển du lịch cộng đồng 13
1.2.1 Các vấn đề lý luận về du lịch cộng đồng 13
1.2.2 Nền tảng lý thuyết du lịch cộng đồng 14
1.3 Các nguyên tắc và điều kiện phát triển Du lịch cộng đồng 17
1.3.1 Các nguyên tắc phát triển Du lịch cộng đồng 17
1.3.2 Các điều kiện phát triển du lịch cộng đồng 19
1.4 Lý thuyết về xây dựng thương hiệu Du lịch cộng đồng 20
1.4.1 Thương hiệu 20
1.4.2 Đặc tính và các yếu tố của thương hiệu 21
1.4.3 Marketing du lịch địa phương 22
1.4.4 Marketing và đối tượng của Markteting DLCĐ 224
1.4.5 Gía trị cốt lõi của du lịch địa phương 25
Trang 42.1.2 Các yếu tố môi trường bên ngoài 35
2.1.3 Các yếu tố môi trường bên trong 40
2.1.4 Xây dựng mô hình SWOT 46
2.2 Đánh giá thực trạng xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng tại thành phố Hội An 48
2.2.1 Kết quả kinh doanh du lịch 48
2.2.2 Hoạt động quản lý và phát triển DLCĐ tại địa phương 50
2.2.3 Hiện trạng hoạt động Marketing du lịch cộng đồng của Tp Hội An từ năm 2007 đến nay 55
2.3 Xác định giá trị cốt lõi và thị trường mục tiêu của du lịch Hội An 58
2.3.1 Xác định các giá trị cốt lõi 58
2.3.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu cho Du lịch cộng đồng Tp Hội An 60
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI HỘI AN 67
3.1 Quan điểm, định hướng, chiến lược phát triển du lịch tỉnh Quảng Nam và Tp Hội An từ nay đến năm 2020 67
3.1.1 Quan điểm phát triển du lịch Quảng Nam đến năm 2020 67
3.1.2 Mục tiêu phát triển của ngành du lịch Quảng Nam đến năm 2020 68
3.2 Đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng thương hiệu Du lịch cộng đồng mang tính bền vững tại Tp Hội An 68
3.2.1 Nhóm giải pháp phát huy năng lực của cộng đồng du lịch 68
3.2.2 Nhóm giải pháp phát triển bền vững 70
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHẦN PHỤ LỤC 84
Trang 62 APEC Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
3 DLCĐ Du lịch cộng đồng
4 ITB Hội chợ du lịch và lữ hành quốc tế
5 IMF Qũy tiền tệ quốc tế
6 JAVA Hội chợ du lịch quốc tế do Hiệp hội du lịch Nhật Bản tổ chức
7 MICE Meeting (hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội
nghị) và Exhibition (triển lãm)
8 Maplecroft Tổ chức phân tích rủi ro toàn cầu
9 GDP Tổng sản phẩm nội địa
10 REST Trung tâm du lịch có trách nhiệm
11 Tripadvisor Công ty tìm kiếm thông tin du lịch trên mạng
12 SNV Tổ chức Phát triển Hà Lan
13 UN Habitat Chương trình Định cư Con người Liên Hợp Quốc
14 UNESCO Tổ chức giao dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc
15 USTOA Hiệp hội du lịch Mỹ
16 UNWTO United Nations -World Tourism Organization (Tổ chức Du
lịch Thế giới thuộc liên hợp quốc)
17 UBND Ủy ban nhân dân
18 WB Ngân hàng thế giới
19 WCED Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới
20 WEF Diễn đàn kinh tế thế giới
21 WTO Tổ chức thương mại thế giới
22 WTM Tổ chức giám sát du lịchthế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của Tp Hội An năm 2006
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
2.1 Thống kê khách du lịch quốc tế & nội địa đến Việt Nam 35 2.2 Tổng doanh thu du lịch Việt Nam từ năm 2006 - 2012 6 2.3 Thống kê % du khách quay lại các nước lần thứ 2 năm 2012 37
2.4 Biểu đồ Tổng lượng khách nước ngoài tham quan và lưu trú
tại Tp Hội An và các địa phương khác từ năm 2007 - 2012 39
2.5 Tổng lượng khách nội địa tham quan và lưu trú tại Tp Hội
An và các địa phương lân cận từ năm 2007 - 2012 49
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
1.1 Nền tảng lý thuyết của Du lịch cộng đồng 16 1.2 Hình Vòng đời của một điểm điến du lịch 23
1.3 Mô hình xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồngtừ năm
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhiều năm qua, Du lịch được xác định giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế ở Việt Nam Trong đó, Du lịch cộng đồng (DLCĐ) là một thuật ngữ mới được nhắc đến nhiều nhất trong thời gian gần đây DLCĐ là hình thức
du lịch do chính cộng đồng, người dân phối hợp, tổ chức, quản lý và làm chủ để đêm lại lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường thông qua việc mang đến cho du khách các nét đặc trưng của địa phương [13, tr 32] Phát triển DLCĐ vừa bảo tồn tối đa các yếu tố nguyên gốc trong văn hóa truyền thống, gắn với bảo tồn môi trường sinh thái - nhân văn, đồng thời giữ gìn môi trường xã hội, vừa đáp ứng tối
ưu các nhu cầu dân sinh của cư dân địa phương, vừa phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể để phục vụ, phát triển du lịch, cải thiện, nâng cao thu nhập đời sống của nhân dân
Trải qua 15 năm kể từ khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới (1999), đô thị cổ Hội An vẫn giữ được nét hoàn hảo điển hình của một cảng thị Châu Á truyền thống, những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc của Phố Hội giúp Hội An trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn nhất trên bản đồ du lịch Việt Nam Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Tp Hội An đang phải đối mặt với vấn đề rất khó khăn và cấp bách, đó là giải quyết mối mâu thuẩn giữa phát triển kinh tế với bảo tồn các giá trị nhân văn, nói cách khác là làm sao đảm bảo sự cân bằng, hài hòa trong việc duy trì, giữ gìn tài nguyên du lịch với việc khai thác tài nguyên phục vụ các lợi ích kinh tế mà không ảnh hưởng đến môi trường - xã hội Thêm vào đó, tính cạnh tranh giữa các điểm đến quốc tế ngày càng trở nên gay gắt, nhất là ở giai đoạn hiện nay, ngành du lịch vẫn bị tác động bởi suy thoái kinh tế toàn cầu tạo cho du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Hội An nói riêng đứng trước nhiều cơ hội và thách thức
Trong bối cảnh thị trường đang có những thay đổi đáng kể về hành vi và nhu cầu của khách du lịch, theo đó phát triển du lịch hướng về thiên nhiên, hướng về
Trang 11con người và cộng đồng đang trở thành xu thế nỗi trội, có ý nghĩa quan trọng không những về mặt kinh tế mà còn đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển bền vững
Do đó, việc xác định các giá trị cốt lõi của du lịch địa phương gắn liền với lợi ích của cộng đồng, duy trì và tiếp thị một cách có hiệu quả giá trị đó đến với thị trường mục tiêu trở thành phương thức hiệu quả cho xung đột trên Vì vậy, lựa chọn Đề tài:
“Xây dựng thương hiệu Du lịch cộng đồng tại đô thị cổ Hội An” có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Về lý luận, Đề tài đóng góp như một tư liệu để bổ sung, làm rõ các khái niệm về DLCĐ, tính bền vững trong phát triển du lịch Về thực tiễn,
Đề tài giữ vai trò như một phương án tham khảo trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động Marketing du lịch của địa phương và đề xuất một số giải pháp nhằm tạo dựng thương hiệu DLCĐ tại Tp Hội An trong thời gian đến
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập về phát triển DLCĐ, trong đó có một số tác phẩm tiêu biểu như sau:
Bộ công cụ quản lý và giám sát Du lịch cộng đồng được thực hiện bởi Tổ chức
Phát triển Hà Lan SNV phối hợp với Trường Đào tạo quản lý Du lịch thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hawaii, Hoa Kỳ được đăng trên website: www.snvworld.org với mục đích cung cấp các phương pháp tổ chức hoạt động, giám sát quá trình thực hiện tại các mô hình DLCĐ nhằm đêm lại kết quả tối ưu nhất cho cư dân bản địa và chính quyền địa phương
Tài liệu hướng dẫn phát triển Du lịch cộng đồng do tổ chức Quỹ Châu Á thực
hiện tháng 12/2012 nhằm chia sẽ các kinh nghiệm xây dựng mô hình Du lịch cộng đồng, nâng cao đời sống người dân ở các vùng miền trên cả nước
Báo cáo “Thực trạng, dự báo, các xu hướng phát triển của du lịch thế giới và khu
vực và tác động đến du lịch Việt Nam” do Tổng cục Du lịch tổ chức vào tháng 2/2013,
nội dung báo cáo đã phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của Du lịch Việt Nam, sự thay đổi của xu hướng du lịch thế giới tác động đến du lịch quốc gia và đưa ra các giải pháp để phát triển bền vững cho ngành Du lịch
Trang 12Đề tài nghiên cứu “Xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại
chùa Hương”, tác giả Ts Võ Quế (2008), thuộc Viện nghiên cứu và Phát triển du lịch
Đề tài “Nghiên cứu các mô hình Du lịch cộng đồng tại Việt Nam” do Th.S Bùi
Thanh Hương và Th.S Nguyễn Đức Hoa Cương dưới sự tài trợ của Tổ chức Phát triển Hà Lan SNV Tài liệu này cung cấp những tư liệu về các đặc thù và hoạt động của DLCĐ tại Việt Nam giúp cho việc triển khai các mô hình DLCĐ đạt hiệu quả
Đề tài khoa học “Nghiên cứu phát triển Du lịch dựa vào cộng đồng ở xã Mỹ
Hòa Hưng, Tp Long Xuyên, tỉnh An Giang” thực hiện bởi Th.S Phạm Xuân Phú và
các cộng sự nhằm tìm hiểu tiềm năng, thách thức và các yếu tố tác động đến DLCĐ tại xã Mỹ Hòa Hưng, Tp Long Xuyên, tỉnh An Giang
Ngoài ra, một số hội thảo về Du lịch trong và ngoài nước đã được tổ chức
trong vài năm qua, như Hội thảo“Marketing du lịch và Thương hiệu du lịch Việt
Nam” được tổ chức tháng 08/2012 dưới sự tài trợ của Liên minh Châu Âu hay Hội
thảo: “Phát triển DLBV nhằm tăng cường lợi ích cho các cộng đồng địa phương
của tỉnh Quảng Nam” với sự tham gia của UNESCO, ILO và FAO phối hợp với
UBND tỉnh Quảng Nam trong năm 2011
Qua sơ lược tổng quan lịch sử nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phát triển DLCĐ, có thể khái quát một số nhận xét sau:
- Trên thế giới, loại hình DLCĐ đã được nhiều nhà khoa học, các chuyên gia
và các tổ chức quốc tế quan tâm Những tài liệu trên cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn
về phát triển DLCĐ là nguồn thông tin bổ ích trong việc nghiên cứu và ứng dụng tại nhiều quốc gia mới đầu tư phát triển loại hình du lịch này
- Ở Việt Nam, DLCĐ là hình thức du lịch còn tương đối mới mẻ, nhiều vấn đề
về mặt lý luận cần phải được tiếp tục nghiên cứu làm rõ, thống nhất về mặt quan điểm, làm cơ sở trong việc nghiên cứu và vận dụng để đánh giá, phân tích các vấn
đề liên quan đến xây dựng thương hiệu DLCĐ tại Tp Hội An Cụ thể hơn, mối quan hệ giữa lợi ích vể mặt kinh tế và những rủi ro về mặt tài nguyên tự nhiên cũng như văn hóa - xã hội khi du lịch ngày càng phát triển sâu rộng sẽ tác động đến thế
hệ tuong lai như thế nào là những trọng tâm phải được quan tâm nghiên cứu
Trang 13- Đa số các công trình nghiên cứu đều tập trung chủ yếu vào việc phân tích, làm rõ các lý thuyết, các đặc điểm của các mô hình DLCĐ nhưng mang tầm vĩ mô, hướng vào những sản phẩm đã có sẵng mà chưa đi sâu vào việc triển khai các kế hoạch tiếp thị, xây dựng thương hiệu Ngoài ra, tầm quan trọng trong mối quan hệ giữa cư dân bản địa với việc xác định các giá trị được xem là sự khác biệt tạo nên lợi thế cạnh tranh của du lịch địa phương trong xây dựng, phát triển du lịch bền vững chưa được quan tâm Qua tìm hiểu, tác giả khẳng định tại Tp Hội An, vẫn chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu loại hình DLCĐ, không trùng lắp với các luận văn đã công bố trước đó Vì vậy, việc triển khai Đề tài nghiên cứu “xây dựng thương hiệu Du lịch cộng đồng tại
đô thị cổ Hội An” là cần thiết, khách quan, đáp ứng nhu cầu của ngành du lịch địa phương
3 Mục đích và nhiệm vụ của Đề tài
Mục đích:
Làm rõ một số vấn đề lý luận về thương hiệu và mối quan hệ giữa thương hiệu với việc phát triển DLCĐ, vận dụng vào thực tế hoạt động DLCĐ tại Tp Hội An Xác định các giá trị cốt lõi tạo nên sự khác biệt và thị trường mục tiêu của DLCĐ tại Tp Hội An, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng thương hiệu DLCĐ một cách có hiệu quả
ra các nhóm giải pháp cụ thể nhằm xây dựng thương hiệu DLCĐ tại Tp Hội An
4 Câu hỏi nghiên cứu
Trang 14Đề tài tập trung trả lời các câu hỏi sau:
4.1 Thực trạng các mô hình DLCĐ phát triển như thế nào tại Tp Hội An? 4.2 Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động DLCĐ tại Tp Hội An? Tại sao? 4.3 Làm thế nào để xác định giá trị cốt lõi của DLCĐ và thị trường mục tiêu cho Du lịch Tp Hội An?
4.4 Đâu là các giải pháp tiếp thị hiệu quả để xây dựng thương hiệu DLCĐ tại
đô thị cổ Hội An?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là những những hoạt động liên quan đến tổ chức,
thực hiện và tiếp thị nhằm xây dựng thương hiệu DLCĐ tại Tp Hội An Ngoài ra, các đơn vụ lữ hành, công ty du lịch, khách sạn, cư dân bản địa tham gia vào hoạt động du lịch cũng là những đối tượng được nghiên cứu bổ trợ để so sánh, đối chiếu
để làm rõ đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được giới hạn về mặt không gian thuộc Tp Hội
An, tỉnh Quảng Nam Về thời gian, Đề tài sử dụng những số liệu thống kê hoạt động của ngành du lịch Tp Hội An từ năm 2007 đến năm 2012
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Mục tiêu của phương pháp:
- Hệ thống hóa và làm rõ các lý thuyết phát triển DLCĐ, các khái niệm liên quan đến Marketing du lịch địa phương
- Những nghiên cứu, thông tin, đánh giá có được từ dữ liệu thứ cấp là cơ sở để
có được cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu
- Đảm bảo tính hợp pháp của Đề tài với các giải pháp đưa ra
Với các mục tiêu đó, Đề tài thu thập dữ liệu thứ cấp từ các nguồn:
+ Sách, giáo trình, các báo, tạp chí chuyên ngành, các thông tin từ Internet, các văn bản pháp luật có liên quan
+ Các công trình nghiên cứu của các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan hành chính Nhà nước, các báo cáo khoa học, luận văn…
+ Các cuộc Hội thảo khoa học trong và ngoài nước
Trang 15+ Các báo, tạp chí chuyên ngành, các thông tin từ Internet
+ Các số liệu thống kê từ: Tổng cục Thống kê, Tổng cục Du lịch, Viện nghiên cứu & Phát triển Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam, Phòng Văn hóa
- thông tin Tp Hội An,…
+ Các Nghị quyết, Nghị định, Thông tư, Chỉ thị của Tỉnh Quảng Nam và Tp Hội An Đề án Chiến lươ ̣c phát triển du li ̣ch Viê ̣t Nam đến năm 2020, tầm nhìn
2030 đã được Thủ tướng Chính phú phê duyệt
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
Đề tài sử dụng dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng các câu hỏi nghiên cứu, điều tra khảo sát trực tiếp từ các du khách nước ngoài Với 200 mẫu phiếu đã được sử dụng từ các ý kiến phản hồi của khách du lịch quốc tế, kết quả khảo sát và bảng câu hỏi được đề cập tại Phụ lục số 01 Sau đó, dựa trên các phép tính của Excel để tổng hợp số liệu, trên có sở đó đưa ra ra những nhận xét, đánh giá khách quan
Mục tiêu của phương pháp:
- Tìm hiểu, phân tích các ý kiến khách quan từ khách du lịch quốc tế để đánh giá hiệu quả của các sản phẩm DLCĐ và các yếu tố tác động đến hành vi du lịch
- Tham khảo những phản hồi, các đề xuất của các đối tượng được khảo sát để làm nền tảng cho các đề xuất giải pháp
Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu:
Sử du ̣ng nguồn dữ liê ̣u sẵn có để phân tích , thống kê, tổng hợp, so sánh đồng thời sử dụng phương pháp suy đoán để đưa ra các nhận định đánh giá làm cơ sở đề xuất các giải pháp thực hiê ̣n Sơ đồ phương pháp nghiên cứu:
Trang 16Như vậy các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp sẽ bổ sung và hỗ trợ cho nhau để đảm bảo tính khả thi và khách quan của việc thu thập và đánh giá thông tin
- Với nguồn dữ liệu thứ cấp, đề tài có thể thu thập dữ liệu với dạng rộng, đa nguồn tiết kiệm được thời gian
- Với nguồn dữ liệu sơ cấp, các vấn đề được rút ra từ nghiên cứu tại chỗ đã được kiểm chứng thông qua sự đánh giá và nhận định của người nghiên cứu trong khi các dữ liệu thứ cấp có thể có những lệch lạc do quá trình xử lý dữ liệu và cách nhìn nhận của các nguồn cung cấp dữ liệu
7 Kết cấu nội dung Đề tài
Nội dung chủ yếu của Đề tài được trình bày trong 3 chương, gồm có:
Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng
- Tổng quan tình hình du lịch Việt Nam
- Tiềm năng du lịch và tình hình phát triển DLCĐ tại Tp Hội An từ năm 2007
– 2012
- Thực trạng xây dựng thương hiệu DLCĐ tại Tp Hội An
- Xác định các giá trị cốt lõi của Du lịch Tp Hội An và lựa chọn thị trường du
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
Mục tiêu và nội dung chính của chương: Nội dung của chương này làm rõ
và bổ sung những vấn đề mang tính lý luận liên quan đến các khái niệm căn bản về
du lịch và du lịch bền vững, các lý thuyết về DLCĐ giúp có cái nhìn chi tiết về những đặc điểm, hiện trạng phát triển và các yếu tố môi trường tác động đến các
mô hình DLCĐ tại Tp Hội An sẽ được đề cập ở Chương 2
1.1 Những vấn đề lý luận về du lịch
1.1.1 Khái niệm Du lịch
Giáo sư -Tiến sĩ Berkener, một chuyên gia có uy tín về du lịch trên thế giới, đã
đưa ra nhận xét: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu
định nghĩa” Thông thường du lịch gắn liền với việc nghỉ ngơi giải trí nhằm hồi
phục, nâng cao sức khoẻ và khả năng lao động cho con người, nhưng trước hết liên quan mật thiết tới sự di chuyển chỗ ở của họ
Liên Hiệp Quốc (1963) định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là tổng hợp
các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.Theo Luật Du lịch Việt Nam ban hành tháng 06/2005: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham qua, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoản thời gian nhất định”
Vậy “du lịch” là gì? Đầu tiên “du lịch” được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh Ngày nay, người ta đã thống nhất rằng về cơ bản, tất cả các hoạt động di chuyển của con người ở trong hay ngoài nước trừ việc cư trú chính trị, tìm việc làm và xâm lược đều mang ý nghĩa du lịch
Trang 181.1.2 Sản phẩm du lịch
1.1.2.1 Khái niệm
Theo WTO: “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không
đồng nhất hữu hình và vô hình, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ nhân viên du lịch”
Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ
sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng Nói một cách đơn giản: sản phẩm du lịch = tài nguyên du lịch + các dịch vụ và hàng hoá du lịch Điểm chung nhất mà sản phẩm du lịch mang lại cho du khách chính là sự hài lòng Nhưng
đó không phải là sự hài lòng như khi mua sắm một hàng hoá mà ở đây sự hài lòng
là do được trải qua một khoảng thời gian thú vị, tồn tại trong ký ức của du khách khi kết thúc chuyến đi du lịch
1.1.2.2 Những đặc điểm của sản phẩm du lịch
- Sản phẩm du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng đặc biệt (nhu cầu hiểu biết kho tàng văn hoá lịch sử, nhu cầu thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên …) mặc dù trong cấu thành sản phẩm du lịch có những hàng hoá và dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu ăn ở, đi lại của con người nhưng mục đích chính của chuyến đi không phải để thoả mãn nhu cầu ấy mà là để giải trí, tìm hiểu, nâng cao tầm hiểu biết, nghiên cứu
- Sản phẩm du lịch chỉ thoả mãn những nhu cầu thứ yếu của con người Du lịch là nhu cầu phát sinh sau khi con người đã đủ ăn, đủ mặc Vì vậy nhu cầu du lịch chỉ đặt ra khi người ta có thời gian nhàn rỗi và có thu nhập cao
- Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể Thật ra sản phẩm du lịch là một kinh nghiệm du lịch hơn là một món hàng cụ thể mặc dù trong cấu thành sản phẩm
du lịch có cả hàng hoá, do đó không đặt ra vấn đề nhãn hiệu như là hàng hoá Vì vậy mà sản phẩm du lịch rất dễ bị bắt chước Do tính chất không cụ thể nên không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua, vì vậy nhiều người chưa từng đi
du lịch rất phân vân khi chọn sản phẩm du lịch
Trang 19- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùng một thời gian và địa điểm nơi sản xuất ra chúng nên sản phẩm du lịch không thể dự trữ được Như vậy, khách du lịch không thể thấy sản phẩm du lịch trước khi mua Thêm vào đó, không thể vận chuyển sản phẩm du lịch tới cho khách hàng mà khách hàng phải tự đến nơi sản xuất ra sản phẩm du lịch
- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch có tính thời vụ Đây là hiện tượng lúc thì cung không đáp ứng được cầu trong du lịch, lúc thì cầu quá thấp so với khả năng cung ứng Nguyên nhân chính là trong du lịch, lượng cung khá ổn định trong thời gian dài còn nhu cầu khách hàng thì thường xuyên thay đổi, dẫn tới có sự chênh lệch giữa cung và cầu
1.1.2.3 Cơ cấu của sản phẩm du lịch
- Những thành phần tạo lực hút gồm nhóm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên
nhân văn
- Cơ sở du lịch gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch
- Dịch vụ du lịch: là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa những
tổ chức cung ứng du lịch và khách du lịch, thông qua các hoạt động tương tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng du lịch
1.1.3 Thị trường du lịch và thị trường mục tiêu
1.1.3.1 Thị trường du lịch theo hướng cầu
Thị trường du lịch theo hướng cầu là một thị trường hoàn chỉnh, phản ánh nhu cầu của du khách về một loạt sản phẩm có liên quan đến du lịch Có ba loại du khách mà hầu hết các nước đều quan tâm, mỗi loại là một thành phần của thị trường
du lịch Đó là du khách quốc tế đến tham quan một nước (inbound tourism), cư dân trong nước đi du lịch ra nước ngoài (outbound tourism) và du khách nội địa (domestic tourism) Trong đó, du khách quốc tế được xem là thị trường quan trọng nhất của ngành du lịch So với du khách trong nước, họ tiêu dùng nhiều hơn, sử dụng nhiều phương tiện vận chuyển và nơi cú trú đắt tiền hơn, mang lại ngoại tệ, đóng góp vào cán cân thanh toán quốc tế của nước có điểm đến
Trang 201.1.3.2 Thị trường du lịch theo hướng cung
Thị trường du lịch theo hướng cung là ngành du lịch với nhiều thị trường con, nhiều sản phẩm do nhiều tổ chức thiết kế và cung cấp Ngành du lịch gồm nhiều bộ phận, nhiều tổ chức có liên quan, nếu nhận thức về Marketing cho ngành du lịch địa phương bị bó hẹp thì việc hoạch định và tổ chức các hoạt dộng Marketing du lịch không được nhiều tổ chức có liên quan quan tâm, liên kết và hổ trợ nhau một cách đồng bộ Qua đó, ngành du lịch sẽ khó có khả năng tạo ra sản phẩm du lịch thỏa mãn cao nhất những mong đợi của du khách, làm giảm hiệu quả Marketing
- Đặc điểm nhân khẩu học, kinh tế, địa lý
- Đặc điểm tâm lý
- Đánh giá mục đích đi du lịch của khách, nhu cầu và động cơ
1.1.4 Tài nguyên du lịch và môi trường du lịch
1.1.4.1 Tài nguyên du lịch
Theo Luật Du lịch (2005): “tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố
tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”
Tài nguyên du lịch còn được hiểu theo nghĩa thực tế: “là tất cả các nhân tố có
thể kích thích được động cơ du lịch của con người được ngành du lịch tận dụng kinh doanh để sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội đều gọi là tài nguyên du lịch”
Trang 21[2], hoặc: “bất kỳ nhân tố thiên nhiên, nhân văn và xã hội có thể thu hút được khách
du lịch đều gọi là tài nguyên du lịch” Điều này có nghĩa rằng không chỉ các tài
nguyên tự nhiên, các tài nguyên nhân văn mà cả các sự kiện xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hoá, thể thao, được tổ chức có khả năng thu hút khách du lịch được gọi là tài nguyên du lịch
Có hai loại tài nguyên du lịch:
- Tài nguyên du lịch thiên nhiên: bao gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
- Tài nguyên du lịch nhân văn: là nền văn hóa truyền thống, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể khác có thể dược sử ụng phục vụ mục đích du lịch
1.1.4.2 Môi trường du lịch
Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn, nơi diễn ra các hoạt động du lịch Khái niệm môi trường du lịch theo nghĩa rộng là “các nhân tố về tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn trong đó hoạt động du lịch tồn tại
và phát triển”
Hoạt động du lịch có mối quan hệ mật thiết với môi trường, khai thác đặc tính của môi trường để phục vụ mục đích phát triển và tác động trở lại góp phần làm thay đổi các đặc tính của môi trường Sự tồn tại và phát triển của du lịch với tư cách
là một ngành kinh tế gắn liền với khả năng khai thác tài nguyên, khai thác đặc tính của môi trường xung quanh Chính vì vậy hoạt động du lịch liên quan một cách chặt chẽ với môi trường hiểu theo nghĩa rộng Các cảnh đẹp của thiên nhiên như núi, sông, biển cả , các giá trị văn hoá như các di tích, công trình kiến trúc nghệ thuật hay những đặc điểm và tình trạng của môi trường xung quanh là những tiềm năng
và điều kiện cho phát triển du lịch Ngược lại, ở chừng mực nhất định, hoạt động du lịch tạo nên môi trường mới hay góp phần cải thiện môi trường như việc xây dựng các công viên vui chơi giải trí, các công viên cây xanh, hồ nước nhân tạo, các làng
Trang 22văn hoá du lịch Như vậy, hoạt động du lịch và môi trường có tác động qua lại, tương hỗ lẫn nhau và nếu khai thác, phát triển hoạt động du lịch không hợp lý có thể sẽ là nguyên nhân làm suy giảm giá trị của các nguồn tài nguyên, chất lượng môi trường và cũng có nghĩa là làm suy giảm hiệu quả của chính hoạt động du lịch
1.2 Lý thuyết về phát triển du lịch cộng đồng
1.2.1 Các vấn đề lý luận về du lịch cộng đồng
1.2.1.1 Các khái niệm du lịch cộng đồng
Theo SNV, một cộng đồng có thể được định nghĩa là “một nhóm người có
chung một đặc điểm, thường theo tiêu chí về địa lý” Các thành viên trong cộng
đồng đóng vai trò quyết định trong việc hoạch định, xây dựng, triển khai và quản lý các hoạt động du lịch Cộng đồng với tư cách là một khối tập thể được coi là một yếu tố chủ chốt liên quan đến sức hấp dẫn của hoạt động du lịch địa phương
Du lịch cộng đồng được Tổ chức REST định nghĩa: “DLCĐ là du lịch có tính
đến tính bền vững về mặt môi trường, văn hóa và xã hội, do chính cộng đồng quản
lý và làm chủ vì lợi ích của cộng đồng vì mục đích tạo cho du khách có khả năng nhận thức và tìm hiểu về cộng đồng và lối sống của cộng đồng.”
Theo Tiến sĩ Võ Quế, thuộc Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch: “DLCĐ là
phương thức phát triển du lịch mà trong đó cộng đồng là người tham gia phát triển
du lịch, tham gia bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường tại các điểm, khu có nhiều tiềm năng phát triển du lịch và đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất lẫn tinh thần từ du lịch”
Viện nghiên cứu và phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam phối hợp với
Qũy Châu Á đề cập về DLCĐ như sau: “DLCĐ là loại hình du lịch do chính cộng
đồng, người dân phối hợp, tổ chức, quản lý và làm chủ để đêm lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường thông qua việc mang đến du khách các nét đặc trưng của địa phương.”
DLCĐ được khởi xướng là mục tiêu cơ bản trong quá trình phát triển kinh tế địa phương Phát triển DLCĐ là một quá trình đúng hơn là một sản phẩm Tuy nhiên, sự bền vững về mặt kinh tế sau cùng lại có chính là bảo tồn nguồn tài nguyên
Trang 23một cách bền vững
1.2.1.2 Các hình thức Du lịch cộng đồng
Du lịch sinh thái: là một hình thức du lịch diễn ra trong khu vực tự nhiên (đặc
biệt là trong các khu vực cần được bảo vệ và môi trường xung quanh nó) và kết hợp tìm hiểu bản sắc văn hóa - xã hội của địa phương có sự quan tâm đến vấn đề môi trường Nó thúc đẩy một hệ sinh thái bền vững thông qua một quá trình quản lý môi trường có sự tham gia của các bên liên quan
Du lịch văn hóa: là một trong những thành phần quan trọng nhất của du lịch
dựa vào cộng đồng Yếu tố thu hút chủ yếu là dựa vào văn hóa, lịch sử, khảo cổ
Du lịch nông nghiệp: là hình thức du lịch tại các khu vực nông nghiệp như
vườn rau ăn trái, trang trại nông lâm kết hợp Khách du lịch xem, tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp mà không ảnh hưởng đến hệ sinh thái hay năng suất của gia đình
Du lịch bản địa: nơi đồng bào dân tộc thiểu số hoặc cư dân bản địa tham gia
trực tiếp vào hoạt động du lịch Nền văn hóa vốn có là yếu tố thu hút du khách
Du lịch làng: Du khách chia sẽ các hoạt động trong cuộc sống thôn bản Các
làng nghề sẽ thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động du lịch có liên quan
Nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ: Nghệ thuật và sản xuất thủ công mỹ
nghệ ở địa phương không phải là một hình thức độc lập của du lịch, mà chính
là một thành phần của các loại hình khác nhau của du lịch Du lịch không chỉ mang lại cơ hội kinh doanh tốt hơn cho ngành công nghiệp thủ công mỹ nghệ của khu vực, doanh số bán hàng của hàng thủ công mỹ nghệ cũng có thể giúp người dân địa phương để tìm hiểu thêm về di sản văn hóa và nghệ thuật phong phú và độc đáo của họ
1.2.2 Nền tảng lý thuyết du lịch cộng đồng
1.2.2.1 Phát triển bền vững
Thuật ngữ “Phát triển bền vững” được Uỷ Ban Môi trường và Phát triển thế
giới đề cập năm 1987 [15, tr 45]: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp
ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả
Trang 24năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ”
Theo World Conservation Union (1996): “Du lịch mang tính bền vững là việc
di chuyển và tham quan đến các cùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên và tất cả những điểm văn hóa kèm theo theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại lợi ích kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương”
Trọng tâm của phát triển du lịch mang tính bền vững là đấu tranh cho sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế xã hội, bảo tồn tài nguyên môi trường và văn hóa cộng đồng trong khi phải tăng cường sự thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của du khách Nói cách khác, đó là duy trì sự cân bằng giữa cung và cầu; giữa
số lượng và chất lượng; giữa phát triển du lịch quốc tế và du lịch nội địa; giữa khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch; cân đối giữa yêu cầu phát triển và khả năng quản lý, trong đó nguồn nhân lực du lịch đóng vai trò then chốt Sự cân bằng này có thể thay đổi theo thời gian, khi có sự thay đổi các quy tắc xã hội, các điều kiện bảo đảm môi trường sinh thái và sự phát triển của khoa học công nghệ Trong bối cảnh của DLCĐ, tính bền vững cần phải kể đến cả bền vững về du lịch lẫn bền vững về cộng đồng dân cư địa phương Tính bền vững cần phải dựa trên bốn trụ cột sau:
Kinh tế bền vững: Tạo thêm nguồn thu nhập cho cộng đồng dân cư địa
phương Tính bền vững về kinh tế chỉ có thể đạt được nếu như cộng đồng có thể tự tạo lập cuộc sống của mình dựa trên những công cụ và cơ sở vật chất được cung cấp Việc tạo ra thu nhập cần phải nằm ngay trong chính cộng đồng vì lợi ích của người dân địa phương
Văn hóa – xã hội bền vững: DLCĐ góp phần tái tạo văn hóa truyền thống,
khuyến khích lòng tự hào của người bản địa phương với chính tài sản văn hóa của địa phương, từ đó bảo tồn các giá trị văn hóa cho thế hệ mai sau Đây là vấn đề cần thiết không chỉ đối với cộng đồng dân cư mà còn với cả chiến lược phát triển du lịch bền vững
Môi trường bền vững: Duy trì và bảo vệ môi trường thông qua đào tạo, giáo
Trang 25dục nhận thức vì cả 2 mục đích du lịch và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương
Chống biến đổi khí hậu: Đó là việc giảm lượng khí thải Cacbon sinh ra mỗi
ngày, đặc biệt là từ những nước công nghiệp phát triển Qua đó, góp phần làm giảm những tác động của “hiệu ứng nhà kính”, hiện tượng trái đất nóng lên và băng tan
Cụ thể hơn, hình ảnh dưới đây chỉ ra những phương diện rộng mà thuật ngữ “du lịch bền vững” bao hàm theo:
(Nguồn: Theo kết quả nghiên cứu thị trường của Phocus Wright, 2008)
Hình 1.1 : Nền tảng lý thuyết của Du lịch cộng đồng
1.2.2.2 Tính tất yếu về sự tham gia của cộng đồng
Sự trải nghiệm của du khách tại điểm đến nhìn chung thường chịu ảnh hưởng của thái độ người dân địa phương đối với hoạt động DLCĐ và khách du lịch Sự tham gia của cộng đồng là một trong những đặc điểm quan trọng nhất trong quá trình phát triển DLCĐ Do đó, cần có những định hướng phù hợp nhằm nâng cao năng lực của cộng đồng địa phương và thúc đẩy sự tham gia của họ vào sự phát triển của DLCĐ Sự tham gia của cộng đồng địa phương rất cần thiết vì:
- Cư dân bản địa chính là người đầu tiên sử dụng, khai thác và có kinh nghiệm
Trang 26quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên hay nền văn hóa địa phương qua nhiều thế
hệ Vì vậy, nếu họ nhận được những lợi ích thiết thực từ việc tham gia vào các loại hình DLCĐ thì họ sẽ tự ý thức và cam kết mạnh mẽ hơn nữa đối với việc quản lý bền vững các nguồn tài nguyên này
- Kinh nghiệm và những hiểu biết từ nguồn tài nguyên du lịch bản địa của người dân góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm DLCĐ
- Cộng đồng địa phương là những người trực tiếp tiếp xúc với du khách hàng ngày, nên nếu người dân có thái độ tích cực đối với hoạt động DLCĐ thông qua việc cùng tham gia, hưởng lợi và quyết định thì điều này sẽ mang lại nguồn lợi đáng
kể cho chính họ, đồng thời góp phần thỏa mãn tối đa nhu cầu của du khách
1.2.2.3 Quy mô phát triển du lịch
Trọng phạm vi nghiên cứu của Đề tài này, khái niệm du lịch nói chung và DLCĐ đều được đề cập Du lịch nói chung thường được đánh giá là không bền vững Đặc trưng chủ yếu của khái niệm du lịch này là quy mô lớn, các gói du lịch
do các thành phần tư nhân ngoài địa phương điều hành và nhằm vào những điểm đến đã được thương mại hóa ở mức cao Để bù đắp lại yếu kém về tính không bền vững của du lịch nói chung, một khái niệm mới về DLCĐ mang tính bền vững được đưa ra nhằm đáp ứng xu hướng về nhóm du khách “mới” và có trách nhiệm DLCĐ được coi là sự lựa chọn tốt hơn cho chiến lược phát triển do nó có đặc thù về tổ chức riêng lẻ, quy mô nhỏ tại các vùng ven và có mức độ thương mại vừa phải, đồng thời do chính cộng đồng địa phương quản lý Tuy nhiên, du lịch tổng quát có thể là DLCĐ nếu nó thỏa mãn được tiêu chí quan trọng nhất là đặt cộng đồng ở vị trí trọng tâm
1.3 Các nguyên tắc và điều kiện phát triển Du lịch cộng đồng
1.3.1 Các nguyên tắc phát triển Du lịch cộng đồng
Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên một cách bền vững
Phát triển DLCĐ cần bảo đảm lưu lại cho các thế hệ tương lai nguồn tài nguyên không kém hơn so với những gì mà thế hệ trước được hưởng Vì vậy, trong quá trình khai thác hay sử dụng các nguồn tài nguyên cần phải tính đến sự mất đi những chức năng thiết yếu của hệ sinh thái, môi trường du lịch Ngăn chặn sự phá
Trang 27hoại các giá trị văn hóa, truyền thống dân tộc Giảm tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại của môi trường
và góp phần nâng cao chất lượng du lịch
Phát triển du lịch gắn liền với bảo việc tồn tính đa dạng
Tính đa dạng về thiên nhiên, về văn hóa – xã hội là nhân tố quan trọng tạo nên
sự hấp dẫn đặc biệt của du lịch, làm thỏa mãn nhu cầu phong phú của du khách, tăng cường sự đa dạng của sản phẩm du lịch Đa dạng là trụ cột chính của ngành du lịch, là điều kiện tiên quyết trong việc quyết định lựa chọn điểm đến của du khách,
là nguồn lợi của nhà điều hành du lịch Nơi nào có tính đa dạng cao về thiên nhiên, văn hóa – xã hội, nơi đó sẽ có khả nặng cạnh tranh cao về du lịch và có sức hấp dẫn, đảm bảo cho sự phát triển
Phát triển phù hợp với tổng thể quy hoạch kinh tế - xã hội
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng cao, vì vậy mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển phải phù hợp với các chuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội nói chung ở phạm vi quốc gia, vùng hay địa phương Đối với các phương án phát triển cần tiến hành đánh giá tác động đến môi trường nhằm hạn chế các tác động tiêu cực, góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch trong mối quan hệ với các ngành kinh tế khác cũng như việc
sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường
Chia sẽ lợi ích với cộng đồng địa phương
Thực tế cho thấy trên một địa bàn thành phố nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợi ích của mình mà không có sự hổ trợ về mặt kinh tế và chia sẽ quyền lợi với cộng đồng địa phương thì sẽ làm cho cuộc sống và kinh tế của cư dân bản địa gặp khó khăn, tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của ngành du lịch dịch cũng như nền kinh tế - xã hội Chia sẽ lợi ích với cộng đồng địa phương là một nguyên tắc quan trọng trong phát triển DLCĐ
Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương
Cư dân địa phương với nền văn hóa, lối sống và truyền thống là yếu tố trọng tâm thu hút du khách Khi cộng đồng được tham vào quá trình phát triển du lịch thì
sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch Cộng đồng là chủ thể, gắn
Trang 28liền với lợi ích của họ và là người có trách nhiệm chính đối với tài nguyên và môi trường du lịch
Thường xuyên trao đổi, tham khảo ý kiến của cộng đồng địa phương và các
bên liên quan
Trao đổi, tham khảo ý kiến người dân là một quá trình nhằm dung hòa giữa phát triển kinh tế với những mối quan tâm lớn hơn của cộng đồng địa phương, với những tác động tiềm ẩn lên môi trường tự nhiên, văn hóa – xã hội Đây là việc làm rất cần thiết nhằm tận dụng kiến thức, kỹ năng và nguồn lực địa phương để phát triển ngành du lịch theo hướng lâu dài, bền vững
Tăng cường quảng bá, tiếp thị một cách có trách nhiệm
Chiến lược tiếp thị du lịch bao gồm việc xác định, đánh giá và rà soát lại mặt cung của tài nguyên thiên nhiên và nhân văn Việc quảng cáo, tiếp thị không chỉ là phương pháp thu hút khách du lịch với điểm đến mà còn cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm để nâng cao nhận thức, hiểu biết, sự cảm kích, lòng tôn trọng của du khách đến với tài nguyên và môi trường du lịch, các giá trị nhân văn nơi tham quan
1.3.2 Các điều kiện phát triển du lịch cộng đồng
Xuất phát từ nguyên tắc và mục tiêu của DLCĐ, có thể tổng quát hóa các điều kiện để phát triển DLCĐ theo các nội dung sau:
Địa phương phải có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đủ sức hấp dẫn
du khách Tài nguyên du lịch bao gồm nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự đặc sắc về nền văn hóa truyền thống riêng có, các gía trị văn hóa vật thể và phi vật thể được lưu giữ từ đời này sang đời khác
Sự tham gia tích cực của cư dân bản địa vào các hoạt động DLCĐ Trong
đó, cộng đồng dân cư là trung tâm, là chủ thể, là phần không thể tách rời trong tất
Trang 29bản địa là một công việc rất phức tạp nhưng lại đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại lâu dài của DLCĐ
Lựa chọn thị trường khách du lịch phù hợp với các nguyên tắc và điều kiện phát triển DLCĐ Đó là những du khách thực sự quan tâm đến các giá trị nhân văn đặc sắc, tôn trọng và biết giữ gìn môi trường du lịch
1.4 Lý thuyết về xây dựng thương hiệu DLCĐ
1.4.1 Thương hiệu:
Trên thế giới, có khá nhiều định nghĩa về thương hiệu, tuy nhiên chủ yếu tập trung vào hai định nghĩa được đưa ra từ hiệp hội Marketing Hoa Kỳ là “Thương hiệu là một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng, hình vẽ thiết kế hoặc tập hợp các yếu tố nhằm xác định và phân biệt hàng hóa dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán với hàng hóa dịch vụ của đối thủ cạnh tranh” Một định nghĩa khác do Ambler & Styles đưa ra như sau: “Thương hiệu là một tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị lợi ích mà họ tìm kiếm”
Ở Việt Nam, khái niệm thương hiệu thường được hiểu đồng nghĩa với nhãn hiệu hàng hóa bao gồm ký hiệu về từ ngữ, biểu tượng hoặc kết hợp các yếu tố từ ngữ với biểu tượng được sử dụng trong trao đổi để xác định và phân biệt với hàng hóa cùng loại qua đó có thể biết được nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa Trên thực
tế, thương hiệu không đơn giản là nhãn hiệu hàng hóa mà thường được hiểu với nghĩa rộng hơn
Trước hết, thương hiệu là hình tượng về hàng hóa hoặc doanh nghiệp, nó chứa đựng các yếu tố “ẩn” quan trọng đảm bảo chất lượng hàng hóa, dịch vụ, văn hóa của doanh nghiệp, những lợi ích, sự hài lòng mà khách hàng cảm nhận được
Thứ hai, các yếu tố ẩn là sự biểu hiện ra bên ngoài của hình tượng nhằm làm cho chúng dễ dàng được nhận diện và khác biệt với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại Các dấu hiệu khác biệt đó là các yếu tố của thương hiệu, thông qua các dấu hiệu đó mà khách hàng phân biệt được hàng hóa của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác; đồng thời các dấu hiệu này còn là căn cứ để pháp luật bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp
Trang 30Như vậy, thương hiệu rõ ràng là đại diện của một tập hợp các thuộc tính hữu hình và các thuộc tính vô hình của sản phẩm và doanh nghiệp trên thị trường, trong
đó thuộc tính hữu hình thuộc về vật chất của sản phẩm và là những gì mà khách hàng có thể cảm nhận được bằng thị giác nhằm đáp ứng cho khách hàng loại nhu cầu về chức năng đó là cung cấp giá trị lợi ích cơ bản của sản phẩm, còn các thuộc tính vô hình của thương hiệu đáp ứng các loại nhu cầu tâm lý nhằm tạo cảm giác an
toàn, thích thú và tự hào về quyền sở hữu, sử dụng…
1.4.2 Đặc tính và các yếu tố của thương hiệu:
1.4.2.1 Đặc tính của thương hiệu: Đặc tính thương hiệu là một tập hợp duy
nhất các liên kết thuộc tính mà các nhà chiến lược thương hiệu mong muốn tạo ra
và duy trì Những sự liên kết này sẽ phản ánh cái mà thương hiệu hướng tới và là sự cam kết của doanh nghiệp đối với khách hàng Có thể nói đây là các đặc điểm nhận dạng, giúp ta phân biệt được các thương hiệu khác nhau
Để biết được thực chất đặc tính của một thương hiệu cụ thể thì cần phải trả lời các câu hỏi:
- Những nét riêng của nó là gì?
- Tham vọng và mục đích dài hạn của nó là gì?
- Chính kiến của nó là gì?
- Giá trị của nó là gì?
- Những dấu hiệu để nhận biết ra nó là gì?
Đặc tính của thương hiệu được đánh giá ở bốn khía cạnh:
+ Thương hiệu - như một sản phẩm (Phạm vi sản phẩm, đặc tính sản phẩm, giá trị/chất lượng, tính hữu dụng, người sử dụng, nước xuất xứ…)
+ Thương hiệu - với tư cách như một tổ chức tập trung vào đặc tính của tổ chức hơn là vào sản phẩm hay dịch vụ của họ
+ Thương hiệu - như một “con người” hay còn gọi là cá tính của thương hiệu + Thương hiệu – như một biểu tượng đó là một biểu tượng ấn tượng, sâu sắc
có thể làm cho nó dễ dàng được gợi nhớ và chấp nhận
Đặc tính thương hiệu có thể góp phần quan trọng trong việc thiết lập mối quan
hệ giữa thương hiệu và khách hàng bằng cách thương hiệu cam kết mang đến cho
Trang 31khách hàng những lợi ích có thể là lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần và là công cụ để khách hàng thể hiện giá trị bản thân
1.4.2.2 Các yếu tố của thương hiệu:
Các yếu tố của thương hiệu hay còn được gọi là đặc điểm của thương hiệu được sử dụng nhằm mục đích nhận diện và tạo nên sự khác biệt giữa các thương hiệu cạnh tranh, trong đó có một số yếu tố thương hiệu có thể đăng ký bảo hộ độc quyền Các yếu tố chính của một thương hiệu bao gồm tên thương hiệu hay còn gọi
là nhãn hiệu hàng hóa, logo, biểu tượng, câu khẩu hiệu, đoạn nhạc và kiểu dáng thiết kế bao bì và có thể được pháp luật bảo hộ dưới dạng là các đối tượng của sở hữu trí tuệ theo luật sở hữu trí tuệ
Việc sử dụng các yếu tố của thương hiệu cũng rất đa dạng, tùy thuộc vào chiến lược thương hiệu mà tổ chức đó thực hiện Một thương hiệu có thể bao gồm tất cả các yếu tố trên hoặc chỉ một vài yếu tố Thương hiệu thường được đặc trưng bởi tên gọi riêng, biểu trưng hay biểu tượng, song tính bao trùm của thương hiệu được khi
có thêm khẩu hiệu đi kèm, hay các yếu tố kiểu dáng bao bì hàng hóa
1.4.3 Marketing du lịch địa phương
1.4.3.1 Khái niệm
Tổ chức UNWTO cho rằng: “Marketing du lịch địa phương là một quá trình
quản lý thông qua đó, tổ chức du lịch quốc gia hay địa phương xác định khách du lịch thực tế và tiềm năng, sau đó lựa chọn và giao tiếp với họ để biết chắc và tác động đến những mong muốn, nhu cầu, động cơ, sở thích ở cấp địa phương, khu vực hay quốc gia, quốc tế, để hình thành và thay đổi những sản phẩm du lịch phù hợp nhằm đạt được sự hài lòng tối đa của khách du lịch, vì vậy mà đạt được các mục đích đã đề ra của địa phương” Trong trường hợp này, địa phương được xem như là
một "sản phẩm" và Marketing là một hoạt động quảng bá hình ảnh, xây dựng thương hiệu để mang sản phẩm này đến với công chúng Giống như Marketing sản phẩm, nhưng “sản phẩm” ở đây được hiểu là đất đai, khí hậu, vị trí, địa lý, lịch sử, văn hoá, kinh tế… và cả con người của vùng đất đó Sản phẩm địa phương có đặc tính là hiếm, không dịch chuyển, không trùng lặp và tính đặc thù rất cao Bởi vậy,
Trang 32nó đòi hỏi cách Marketing cũng phải độc đáo, linh hoạt và khác biệt Marketing du lịch địa phương chính là nắm vững nhu cầu của du khách và có những chiến lược lâu dài, phù hợp với điều kiện của địa phương
Xem xét “vòng đời” của một điểm đến du lịch Các điều kiện luôn thay đổi theo thời gian, tính hấp dẫn và chất lượng của một điểm đến cần phải được quản lý để duy trì bền vững những đặc tính mong muốn của điểm đến Hình 1.2 dưới đây minh họa diễn tiến của một điểm đến du lịch Ban đầu, một điểm đến trở nên tiềm năng, hấp dẫn với một nhóm nhỏ những du khách nhắm đến một vài đặc tính của điểm đến Những đặc tính đó có thể là di sản văn hóa của một điểm đến, hay di sản thiên nhiên hoặc vẻ đẹp cảnh quan, hoặc thuộc tính nào đó khác Dần dần theo thời gian, điểm đến trở nên nổi tiếng hơn Khi đạt được điều đó rồi, bản chất của điểm đến sẽ thay đổi cùng với sự phát triển và mở rộng số lượng dân cư và người đến Các hoạt động thương mại tăng dần để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách
Theo thời gian, điểm đến có thể thay đổi rất nhiều Nó đương nhiên sẽ đạt tới một điểm cần có các quyết định đúng đắn để ngăn chặn nguy cơ xuống cấp và duy trì mà ở đó các quyết định quản lý đúng đắn cần phải có để chặn đứng nguy cơ xuống cấp và duy trì đặc điểm cốt lõi của điểm đến mà nhờ đó sự nổi tiếng của điểm đến được tạo nên, hoặc cần có cũng như các quyết định chiến lược để đối phó với các đổi thay sâu sắc và lâu dài đối với điểm đến
Hình 1.2: Vòng đời của một điểm điến du lịch
(Nguồn: theo UNWTO)
Trang 331.4.3.2 Vai trò của Marketing du lịch địa phương
Xây dựng chiến lược Marketing du lịch địa phương là tìm cách phát huy những đặc thù riêng của địa phương, những giá trị khác biệt về tài nguyên du lịch nhằm hấp dẫn những thị trường khách du lịch mục tiêu, vì thế nó phải dựa trên tiêu chí coi nhà đầu tư du lịch và khách du lịch là trọng tâm Trong môi trường du lịch toàn cầu năng động và cạnh tranh, cần xây dựng một bản sắc hoặc một thương hiệu
rõ ràng, trên cơ sở thực tế, trong khi vẫn thể hiện những thế mạnh chủ chốt và “cá tính” của sản phẩm Như vậy, Marketing du lịch địa phương là nền móng cho sự phát triển của ngành du lịch, tạo ra những lợi thế so sánh vô cùng quan trọng để địa phương thu hút du khách và phát triển thêm nhiều thị trường tiềm năng khác
1.4.4 Mục tiêu và đối tượng của Marketing du lịch tại địa phương
Mục tiêu của Marketing du lịch địa phương là trả lời câu hỏi: làm thế nào
để một địa phương (tỉnh, thành phố, vùng, quốc gia, khu vực) thu hút, duy trì
và phát huy được các nguồn lực quan trọng như bản sắc văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, vốn đầu tư,…để đạt được các mục tiêu thu hút du khách, phát triển
du lịch trong môi trường toàn cầu hóa và địa phương hóa ngày càng trở nên cạnh tranh Một địa phương không chỉ là một không gian địa lý, một thị trường với một cộng đồng cư dân nhất định mà còn bao gồm các yếu tố “vô hình” như văn hóa, xã hội, lịch sử, dân tộc Hơn nữa, vì sự tồn tại và phát triển của một địa phương có liên quan với các địa phương xung quanh nên địa phương dưới góc nhìn Marketing không bị giới hạn bởi địa lý hành chính mà bao gồm cả những vùng ảnh hưởng xung quanh
Đối tượng của Marketing du lịch địa phương gồm:
- Du khách: là những người đến địa phương du lịch nhằm mục đích nghỉ ngơi, thư giãn, vui chơi giải trí hoặc thăm thân nhân hay bạn bè,…Để kích thích chi tiêu hoặc tăng thời gian lưu trú của du khách, các địa phương thường tìm cách thu hút họ bằng cách tạo ra nhiều loại hình du lịch hấp dẫn, chú trọng đến phương thức phục vụ, gia tăng lợi ích cho du khách khi trải nghiệm du lịch tại địa phương
Trang 34- Các nhà đầu tư du lịch: các địa phương tìm nhiều cách thức khác nhau để thu hút các hình thức đầu tư về địa phương mình như tổ chức hội thảo về thu hút đầu tư, xây dựng và quảng bá các chính sách, cải thiện hệ thống pháp lý
- Các chuyên gia về du lịch: Tạo ra cơ chế thu hút tài năng giỏi định cư tại địa phương, qua đó giúp cho địa phương cải thiện được hình ảnh, hoạt động một cách
có hiệu quả lâu dài và bền vững
1.4.5 Giá trị cốt lõi du lịch của một địa phương
Theo Viện quản trị doanh nghiệp: “Giá trị cốt lõi là các nguyên tắc, nguyên lý
nền tảng và bền vững của tổ chức” Những nguyên tắc này bao gồm: những nguyên
tắc tồn tại không phụ thuộc vào thời gian; Tự thân, không cần sự biện hộ bên ngoài;
Có giá trị và tầm quan trọng với bên trong tổ chức
Ông Ralph S Larson, Tổng giám đốc điều hành của công ty Johnson & Johnson, giải thích: “Những giá trị cốt lõi nằm sâu ẩn trong niềm tin của chúng tôi
có thể là một lợi thế cạnh tranh, nhưng đó không phải là lý do tại sao chúng tôi có những giá trị đó Chúng tôi có chúng vì chúng xác định chúng tôi đang đeo đuổi gì,
và chúng tôi sẽ lưu giữ chúng ngay cả khi chúng đã trở thành một bất lợi cạnh tranh trong một số tình huống nào đó”
Giá trị cốt lõi được phát hiện thông qua việc sàng lọc tính chân thực, có thể nhận diện nhờ xác định giá trị nào thực sự là trung tâm và mặt khác phải bền vững trước kiểm định của thời gian Một tổ chức hay địa phương cần xác định cho chính mình những giá trị được giữ làm cốt lõi, độc lập với môi trường hiện tại, với yêu cầu cạnh tranh và cách thức quản trị Nói cách khác giá trị cốt lõi chính là việc xác định giải pháp định vị hình ảnh mang tính chiến lược cho du lịch địa phương, bao hàm cả yếu tố lịch sử đến yếu tố đương đại; vai trò tiên phong quảng bá du lịch định hướng xúc tiến thương mại và đầu tư cùng những lĩnh vực khác như văn hóa và phát triển xã hội; xác định những giá trị dựa trên quan điểm phát triển bền vững, hội nhập và tôn vinh bản sắc thông qua những hình ảnh, biểu tượng hay thông điệp mang tính tượng trưng cao, độc đáo và gần gũi
Trang 35Điểm mấu chốt là địa phương phải tự quyết định về những giá trị nào mà mình cho là cốt lõi, đó có thể là nét văn hóa độc đáo khác biệt; là nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc sắc hoặc cũng có thể là sự hiện đại của cơ sở hạ tầng,… Như vậy rõ ràng
là không có một tập hợp giá trị cốt lõi đúng cho mọi lúc mọi nơi
Trang 361.4.6 Các bước cần thiết để xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng
Hình 1.3 Mô hình xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng
1.4.6.1 Phân tích vị thế, năng lực và các nguồn lực cần thiết để phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương
Đây là nền tảng cho mô hình xây dựng thương hiệu DLCĐ Nội dung chính của bước này bao gồm 02 phần quan trọng:
Đầu tiên là việc nhận diện những yếu tố cấu thành nên năng lực của địa phương Ở đây, chính quyền địa phương cần kiểm tra các điều kiện cơ bản và tiên quyết của khu vực địa phương xem có đáp ứng được nhu cầu của DLCĐ hay không, dựa trên một số tiêu chí căn bản sau:
- Tài nguyên văn hóa và tài nguyên môi trường
- Năng lực của cộng đồng
- Nguồn lực nhân sự
- Cơ sở hạ tầng du lịch, dịch vụ du lịch
- Xác định và phân loại đối thủ cạnh tranh (địa phương) trong phạm vi cụ thể
- Những xu hướng và phát triển du lịch chính ảnh hưởng đến đến địa phương
Trang 37- Nhận diện những cơ hội và đe dọa mà có thể địa phương phải đối mặt
Trên cơ sở các tiêu chí đã đề ra, phải xác định những yếu tố của du lịch địa phương tạo nên những yếu tố hấp dẫn mềm, sự khác biệt hóa đủ sức thu hút
du khách Ngoài ra, những giá trị tăng thêm cũng là thành tố quan trọng tạo nên diện mạo đặc sắc cho các sản phẩm du lịch
Thứ hai, ngành du lịch phải phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của các bên liên quan tại các điểm DLCĐ, trong đó bao gồm các hoạt động:
1.4.6.2 Xây dựng mục tiêu và tầm nhìn cho ngành du lịch địa phương
Việc xây dựng mục tiêu và tầm nhìn của ngành du lịch tại địa phương nhất thiết phải gắn liền với công tác xác định các giá trị du lịch cốt lõi và thị trường mục tiêu của loại hình DLCĐ tại Hội An Gía trị du lịch cốt lõi chính là những lợi thế về tài nguyên du lịch sẵng có của địa phương, tạo nên sự nhận biết từ khách du lịch mà nơi khác không có Căn cứ vào kết quả về những tiềm năng du lịch đã được tổng hợp tại Bước 1 để tiếp tục phân tích, làm rõ những giá trị này Xác định thị trường mục tiêu phù hợp với loại hình DLCĐ cũng phải dựa vào nguồn thông tin đã thu thập được có liên quan đến vị thế, các nguồn lực hiện có của địa phương, nói cách
Trang 38khác chính phần thực trạng phát triển DLCĐ tại Bước 1 là nền tảng để phân đoạn và nhận diện thị trường du lịch mục tiêu mà ngành du lịch phải nhắm đến
Bên cạnh đó, cộng đồng được khuyến khích chia sẻ thái độ và những mong đợi của họ đối với DLCĐ với nhau và với các bên liên quan khác Cộng đồng cần phải xác định: họ mong muốn gì từ DLCĐ - mục tiêu phát triển họ cần hướng tới và những mong muốn nào của họ có thể được chấp nhận và không thể được chấp nhận bởi các bên liên quan Có một tầm nhìn rõ ràng sẽ giúp các bên liên quan xem xét đánh giá được tình trạng hiện tại mà họ đang có, mục tiêu họ mong muốn đạt được trong tương lai và làm thế nào để đạt được mục tiêu đó Điều quan trọng mà cộng đồng nên hiểu là DLCĐ có thể phải mất một vài năm để đi vào ổn định phát triển
Để điều chỉnh các mục tiêu và duy trì đà hướng tới mục tiêu, cộng đồng cần xác định các mục tiêu ngắn hạn (ví dụ: hai năm, năm năm) và mục tiêu dài hạn cho mình (ví dụ: mười năm, hai mươi năm)
1.4.6.3 Xây dựng các kế hoạch, giải pháp tiếp thị hiệu quả:
- Phát triển năng lực địa phương nhằm xây dựng và duy trì DLCĐ một cách bền vững:
DLCĐ hoàn toàn phụ thuộc vào người dân Những trải nghiệm của khách du lịch phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ do người dân cung cấp – đây là những người
đã được đào tạo các kỹ năng và năng lực cần thiết để cung cấp các sản phẩm du lịch Đánh giá và thấu hiểu tầm quan trọng về nguồn nhân lực chính là chìa khóa xác định xem liệu cộng đồng đó có khả năng duy trì và phát triển DLCĐ một cách bền vững hay không
Xây dựng năng lực địa phương không chỉ dừng ở mức độ nâng cao kỹ năng và kiến thức mà còn nâng cao sự tự tin và động lực tham gia vào du lịch cộng đồng Đây là yếu tố quan trọng nhằm xây dựng niềm đam mê, niềm tin rằng bản thân họ
có thể triển khai kinh doanh du lịch cộng đồng
- Phát triển và tiếp thị các sản phẩm DLCĐ:
Khách du lịch luôn kỳ vọng một sản phẩm độc đáo của bất kỳ một điểm DLCĐ nào đó Không có một lý do nào mà họ lại ghé thăm một điểm du lịch khi
Trang 39điểm du lịch đó không có một sản phẩm khác biệt Một điểm du lịch có thể có một hoặc một vài sản phẩm như các phong cảnh tự nhiên, các di tích văn hóa, các làng nghề, đặc sản địa phương… nhưng cộng đồng địa phương cần thống nhất sản phẩm cần được tập trung thể hiện nét đặc sắc riêng cho địa phương mình
Xác dịnh thị trường khách hàng mục tiêu Có rất nhiều đối tượng khách du lịch với những mục đích đi du lịch khác nhau Cần xác định được đối tượng khách
du lịch là nhóm khách hàng mục tiêu (nhóm khách hàng chính) của mình để từ đó đưa ra các hoạt động marketing phù hợp
Mục tiêu của phát triển và tiếp thị sản phẩm DLCĐ:
- Phải làm cho thương hiệu du lịch của mình thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu hiệu quả hơn thương hiệu của các đối thủ cạnh tranh
- Mang lại sự hài lòng cho người dân bản địa, chủ thể kinh doanh cũng như đáp ứng được sự kỳ vọng của du khách và nhà đầu tư du lịch
Giải pháp tiếp thị du lịch bao gồm nhiều công cụ khác nhau nhưng các giải pháp luôn là hỗn hợp của tất cả các công cụ tiếp thị cần thiết trong mối liên kết chặt chẽ với nhau Hơn nữa, những giải pháp này chỉ có ý nghĩa khi được cụ thể hóa bằng một kế hoạch hành động chi tiết, kế hoạch hành động càng chi tiết càng giảm thiểu tối đa các rủi ro
1.4.6.4 Thực hiện và kiểm tra
Nội dung của bước cuối này có ý nghĩa không kém phần quan trọng, tác động đến hiệu quả của quy trình xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng Ngành du lịch địa phương phải triển khai các kế hoạch đã lựa chọn một cách khoa học và phù hợp với tình hình hiện nay của địa phương Bên cạnh đó, cần phải giám sát, quản lý chặt chẽ quá trình thực hiện, đảm bảo quy trình được thực hiện xuyên suốt, kịp thời
Trang 40NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Phát triển DLCĐ là một xu hướng tiến bộ của các quốc gia trong việc định hướng và thực hiện con đường phát triển du lịch bền vững Ngày nay, các nước đang phát triển lẫn các nước phát triển đều đưa ngành du lịch vào vị trí then chốt trong nền kinh tế của mình, vai trò của DLCĐ càng được quan tâm hơn bao giờ hết Phát triển DLCĐ trong bối cảnh toàn cầu hóa dựa trên cơ sở nền kinh tế tri thức Các quốc gia, địa phương đẩy mạnh phát triển DLCĐ để giải quyết mâu thuẫn đang diễn ra khá gay gắt giữa hoạt động của ngành du lịch đại chúng với việc bảo vệ tài nguyên và môi trường
DLCĐ là loại hình du lịch sáng tạo, được làm chủ bởi chính cộng đồng địa phương Hình thức du lịch này áp dụng 03 chiến lược chính: đưa thêm lợi ích kinh
tế đến với cộng đồng nghèo nhất; tăng thêm những tác động phi kinh tế và tạo điều kiện cho các cộng này tham gia vào các hoạt động du lịch Do đó, Phát triển DLCĐ được xem là một hình thức kinh doanh mang tính tích cực và đạo đức để tiến đến một nền thương mại công bằng và có trách nhiệm với thế hệ mai sau Cũng với loại
hình du lịch này sẽ mang đến cho chúng ta những sản phẩm “xanh – sạch – hàm
lượng công nghệ cao và mang tính nhân văn sâu sắc”; bảo đảm lợi ích cho mọi tầng
lớp cư dân trong xã hội DLCĐ đang được xem là một hình thức xóa đói giảm nghèo có hiệu quả ở nhiều nước đang phát triển
Như vậy, để phát triển DLCĐ một cách vững chắc và hiệu quả, trên cơ sở phát huy thế mạnh về tài nguyên vốn có của Tp Hội An, cần phải có chiến lược đồng bộ nhằm xác định các giá trị cốt lõi du lịch của địa phương, khai thác các nguồn tài nguyên quý giá và độc đáo ở đây thành những sản phẩm du lịch đa dạng
và hấp dẫn du khách Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu của du khách và tăng khả năng cạnh tranh trong hoạt động DLCĐ của Việt Nam nói chung, khu vực Nam trung bộ nói riêng với các nước trong khu vực, ngành du lịch cũng phải nhận dạng vùng thị trường du lịch mục tiêu trong dài hạn dựa trên những lợi thế, nguồn tại địa phương
và các xu hướng, thói quen tiêu dùng du lịch trên thế giới